1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận cao học môn quan hệ quốc tế

23 284 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 106,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Đối ngoại là một lĩnh vực rất cơ bản của một quốc gia, là chiếc cầu nối giữa dân tộc và nhân loại, giữa đất nước và thế giới. Hoạt động đối ngoại không chỉ thể hiện ở tài năng, vị thế của một quốc gia trên trường quốc tế, mà còn hàm chứa trong đó cả yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc. Ngày nay, trước xu thế khách quan của toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng, hoạt động đối ngoại ngày càng được mở rộng, vai trò và vị trí của nó càng trở nên quan trọng trong chiến lược quan hệ quốc tế giữa các quốc gia. Không có một quốc gia nào không quan tâm đến chiến lược đối ngoại. Đối với nước ta, trong thời chiến cũng như trong thời bình, Đảng ta đều coi trọng công tác đối ngoại, xem chính sách đối ngoại là một bộ phận không thể thiếu trong đường lối cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 121986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng, công tác đối ngoại của Việt Nam đã mở ra một bước ngoặt mới, hoạt động đối ngoại được tăng cường và mở rộng hơn. Với đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng, hoạt động đối ngoại của Việt Nam có hiệu quả hơn, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới, bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về đất nước và con người Việt Nam. Vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Để góp phần vào việc nghiên cứu đường lối đối ngoại của Đảng nói chung, trong phạm vi tiểu luận này sẽ đi sâu nghiên cứu: Nội dung đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1986 – 2004.

Trang 1

Đối ngoại là một lĩnh vực rất cơ bản của một quốc gia, là chiếc cầunối giữa dân tộc và nhân loại, giữa đất nước và thế giới Hoạt động đốingoại không chỉ thể hiện ở tài năng, vị thế của một quốc gia trên trườngquốc tế, mà còn hàm chứa trong đó cả yếu tố văn hóa truyền thống củadân tộc.

Ngày nay, trước xu thế khách quan của toàn cầu hóa diễn ra mạnh

mẽ và nhanh chóng, hoạt động đối ngoại ngày càng được mở rộng, vai trò

và vị trí của nó càng trở nên quan trọng trong chiến lược quan hệ quốc tếgiữa các quốc gia Không có một quốc gia nào không quan tâm đến chiếnlược đối ngoại

Đối với nước ta, trong thời chiến cũng như trong thời bình, Đảng tađều coi trọng công tác đối ngoại, xem chính sách đối ngoại là một bộ phậnkhông thể thiếu trong đường lối cách mạng Việt Nam Đặc biệt, từ sau Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), Đảng ta đã

đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới đường lối đốingoại của Đảng, công tác đối ngoại của Việt Nam đã mở ra một bướcngoặt mới, hoạt động đối ngoại được tăng cường và mở rộng hơn Vớiđường lối đối ngoại đổi mới của Đảng, hoạt động đối ngoại của Việt Nam

có hiệu quả hơn, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thếgiới, bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về đất nước và con người Việt Nam Vịthế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế

Để góp phần vào việc nghiên cứu đường lối đối ngoại của Đảng nói

chung, trong phạm vi tiểu luận này sẽ đi sâu nghiên cứu: Nội dung đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1986 – 2004.

Trang 2

NỘI DUNG

I ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ĐỔI MỚI ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.

1- Đặc điểm tình hình thế giới:

Từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn biếnnhanh chóng, phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố biến động khó lường.Đặc biệt, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông

Âu đã tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi cục diện thế giới và quan hệquốc tế Trật tự thế giới mới được hình thành với xu hướng đa cực hóachính trị thay cho trật tự thế giới hai cực đối lập (hai phe xã hội chủ nghĩa

và tư bản chủ nghĩa) do Liên Xô và Mỹ đứng đầu bị tan rã Thế giới xuấthiện những đặc điểm mới đòi hỏi các quốc gia, nhất là các nước vừa vànhỏ phải điều chỉnh chính sách đối ngoại để tìm kiếm con đường pháttriển và hội nhập quốc tế có lợi nhất cho quốc gia, dân tộc mình Nhữngđặc điểm mới của tình hình thế giới, đó là:

Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát

triển mạnh mẽ, có bước tiến nhảy vọt đã tác động đến tất cả các quốc gia,dân tộc Với những bước tiến khổng lồ của điện tử, tin học, mạng Internettrong lĩnh vực công nghệ thông tin, sự đột biến về gien trong công nghệsinh học, những thành tựu của công nghệ vật liệu mới… đã đưa loài người

từ nền văn minh công nghiệp chuyển sang thời kỳ mới của nền văn minhtin học Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới đã tạo rathời cơ và thách thức đối với mỗi quốc gia trong việc tiếp cận, áp dụngnhững thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại để phát triển vươnlên, hay bị tụt hậu về kinh tế

Thứ hai, toàn càu hóa kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn

ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển

và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu

Trang 3

thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa cóđấu tranh.

Xu thế toàn cầu hóa hình thành từ đầu thế kỷ XX và được đẩy mạnhtrong hai thập kỷ cuối của thế kỷ này Chắc chắn nó sẽ tiếp tục diễn ramạnh mẽ hơn nữa trong thế kỷ XXI Toàn cầu hóa là một quá trình màthông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngàycàng trở nên phụ thuộc lẫn nhau

Toàn cầu hóa là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuấthiện đại, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin Toàn cầu hóatrước hết là sự biểu hiện của xã hội hóa cao độ lực lượng sản xuất Toàncầu hóa đồng thời là sự phát triển tất yếu theo chiều rộng và chiều sâu củaquan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mặc dù không phải tất cả các nướctham gia toàn cầu hóa đều là những nước tư bản Do vậy, chấn tâm củatoàn cầu hóa là các nước tư bản phát triển, xứ sở của phần lớn các công tyxuyên quốc gia trên thế giới

Mặt khác, để tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia đều quan tâm đếnlợi ích dân tộc mình và kịp thời nắm bắt chiều hướng phát triển của thếgiới trong bối cảnh kết thúc chiến tranh lạnh, không còn hai phe (xã hộichủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa ) trong quan hệ quốc tế Xu thế hợp tác vàđấu tranh vì mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển trong quan hệ quốc

tế được đặt ra Các quốc gia đều coi chiến lược mở cửa với bên ngoài làmột trong những động lực chủ yếu để phát triển kinh tế Nhu cầu liên kết,hợp tác để phát triển ngày càng gia tăng Điều đó đã thúc đẩy nhanhchóng và mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa

Tuy nhiên, toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp đầy mâu thuẩn,chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đốivới các quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển, chậm phát triểnchịu nhiều thách thức gay gắt hơn cả

Trang 4

Toàn cầu hóa có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy xu thế hòabình, hợp tác để phát triển, tháo dỡ các rào cản đối với nền kinh tế thịtrường, tự do hóa thương mại, làm cho giao lưu kinh tế diễn ra mạnh mẽnhanh chóng Toàn cầu hóa tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng quyếtliệt buộc các nước phải có tư duy năng động, có cơ chế quản lý, bộ máyquản lý hoạt động có hiệu quả Toàn cầu hóa và cách mạng thông tin tạođiều kiện thuận lợi để các quốc gia tiếp cận nhanh chóng những thành tựuvăn hoá, khoa học, công nghệ của loài người, đồng thời có điều kiện đónggóp tích cực vào sự phát triển của văn minh nhân loại Toàn cầu hóa cònlàm cho các quốc gia quan tâm hơn các vấn đề toàn cầu, đòi hỏi phải có

sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị đểgiải quyết Nó cũng tạo ra một chủ thể quốc tế mới chống mặt trái củatoàn cầu hóa và lôi kéo đông đảo các quốc gia, dân tộc chống lại sự phânhóa giàu nghèo, chống sự áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế và cáccông ty xuyên quốc gia

Song, bên cạnh những tác dụng tích cực, toàn cầu hóa đã tạo ranhững thành tựu và nguy cơ không nhỏ đối với các nước, nhất là các nướcđang phát triển Toàn cầu hóa làm tăng tính phụ thuộc của các nước đangphát triển vào các nước lớn về vốn, công nghệ và thị trường Toàn cầu hóakinh tế có tác động trực tiếp đến lĩnh vực chính trị, đến an ninh quốc gia

Nó tạo ra nguy cơ các nước đang phát triển bị lệ thuộc về kinh tế, từ đó sẽdẫn đến lệ thuộc về chính trị, làm nguy hại đến chủ quyền và an ninh quốcgia

Nghiêm trọng nhất trong các vấn đề toàn cầu là nguy cơ khủnghoảng toàn cầu về môi trường, sinh thái đe doạ sự sống trên trái đất đangđến gần Hiểm họa môi trường gia tăng với sự bùng nổ về dân số đang làvấn đề xã hội của toàn nhân loại chứ không phải chỉ một quốc gia nào

Trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay, ở các nước đang phát triển diễn

ra ba xu hướng: một là, cường điệu hóa mặt tích cực của toàn cầu hóa, coi

Trang 5

nó là liều thuôc vạn năng cho sự phát triển của quốc gia Hai là, chỉ nhìnthấy mặt tiêu cực, khó khăn, thách thức, từ đó tìm cách né tránh, quaylưng lại với toàn cầu hóa Ba là, chủ động hội nhập trên cơ sở nhận thứcsâu sắc những tác động tích cực của toàn cầu hóa cùng những tác độngtiêu cực của nó để tìm cách hạn chế.

Thực tế cho thấy, các nước muốn tránh khỏi nguy cơ bị biệt lập, tụthậu, kém phát triển thì phải tích cực, chủ động tham gia hội nhập khu vực

và quốc tế, đồng thời phải có bản lĩnh cân nhắc một cách cẩn trọng cácyếu tố bất lợi để vượt qua

Thứ ba, tình hình thế giới còn nhiều biến động, các cuộc đấu tranh

giai cấp, đấu tranh dân tộc vẫn liên tiếp xãy ra Tuy có giảm hơn so vớithời kỳ chiến tranh lạnh (nếu như trong thời kỳ chiến tranh lạnh mỗi nămtrung bình có 43 cuộc xung đột trên toàn thế giới thì từ khi kết thúc chiếntranh lạnh mỗi năm trên thế giới có khoảng 13 cuộc xung đột), nhưng cáccuộc xung đột về dân tộc, về sắc tộc vẫn tiếp tục diễn ra mang tính chấtgay gắt, quyết liệt và sâu sắc hơn Các nước lớn lợi dụng cái gọi là “tự do,dân chủ, nhân quyền”, đứng đầu là Mỹ đã trực tiếp hoặc gián tiếp canthiệp vào công việc nội bộ của nhiều quốc gia Tình trạng bạo loạn lật đổvẫn là mối đe dọa của các quốc gia, dân tộc Nguy cơ bùng nổ chiến tranhthế giới bị đẩy lùi, song chủ nghĩa đế quốc vẫn chưa từ bỏ chạy đua vũtrang

Tuy nhiên, sau chiến tranh lạnh, các nước đã đổi mới tư duy vềquan niệm sức mạnh và vị thế của quốc gia Thay thế cách đánh giá cũ,chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự là chính bằng cách đánh giá tổng hợp,toàn diện hơn, trong đó nhấn mạnh sức mạnh kinh tế và khoa học, côngnghệ là yếu tố hàng đầu Từ đó, đã biến cuộc chạy đua vũ trang giữa cácquốc gia thành cuộc cạnh tranh về kinh tế, hình thành xu thế hòa bình, hợptác và phát triển giữa các quốc gia

Trang 6

Thứ tư, các nước lớn đóng vai trò chi phối các mối quan hệ trên thế

giới Quan hệ giữa các nước lớn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển củaquan hệ quốc tế đương đại Đó là các cường quốc về kinh tế, khoa học –công nghệ, quân sự và là Ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liênhiệp quốc, bao gồm các nước: Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức,Italia, Nhật Bản, Ấn Độ Các nước này có một số điểm chung trong chốngkhủng bố, chống sản xuất vũ khí hủy diệt, chống đói nghèo, bệnh tật vàsuy thoái kinh tế; nhưng cũng có những điểm bất đồng trong quan hệ kinh

tế thương mại, bảo vệ môi trường sinh thái… Các nước vừa và nhỏ quan

hệ với các nước lớn sẽ mở ra triển vọng quan hệ với các nước khác trênthế giới

Với những đặc điểm mới của tình hình thế giới đòi hỏi các quốc giaphải hết sức tỉnh táo khi lựa chọn con đường mở cửa, hội nhập quốc tế.Phải bảo đảm những vấn đề có tính nguyên tắc, có tính chiến lược, songlại phải hết sức mềm dẻo, uyển chuyển trong sách lược khi xây dựngđường lối đối ngoại đổi mới vì một thế giới hòa bình, vì sự ổn định vàphát triển bền vững

2- Đặc điểm tình hình trong nước:

Sau khi đất nước được hòa bình thống nhất, cả nước tiến hành cáchmạng xã hội chủ nghĩa, định hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thìcác thế lực thù địch, đứng đầu là đế quốc Mỹ thực hiện việc bao vây, cấmvận đối với nước ta Khi sự kiện Campuchia xảy ra, chúng lợi dụng cáigọi là “vấn đề Campuchia” để cô lập Việt Nam với thế giới và khu vực.Một số nước vốn có quan hệ với Việt Nam từ trước cũng ngừng quan hệvới Việt Nam Trong khi đó, bọn phản động lưu vong chạy ra nước ngoài

âm mưu câu kết với các thế lực đế quốc thực hiện chủ trương “chuyểnlửa” về quê nhà, kích động chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, xung đột vũtrang, gây mất ổn định tình hình chính trị – xã hội

Trang 7

Mặt khác, từ sau năm 1975, do hậu quả chiến tranh chống Pháp và

Mỹ rất nặng nề chưa khắc phục được, lại xảy ra hai cuộc chiến tranh biêngiới phía Tây Nam và phía Bắc Cùng với khuyết điểm chủ quan do duytrì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp đã làm chođất nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng.Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với thế giớivăn minh Trong khi nhân loại đã chuyển sang thời đại của nền văn minhtri thức thì Việt Nam vẫn còn ở trong thời kỳ tiền công nghiệp hoá, hiệnđại hoá (tức là chưa có công nghiệp hiện đại) Việt Nam vẫn là một nước

có nền kinh tế phát triển thấp, tăng trưởng không ổn định, cơ sở hạ tầng vàdịch vụ thấp kém, bình quân thu nhập quốc dân trên đầu người ở dạng cácnước nghèo, trong khi các quốc gia cùng khu vực như Thái Lan, Brunây,Singapore, Indonesia… phát triển kinh tế rất nhanh

Để phá vỡ thế bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc, tiến tới hộinhập quốc tế và khu vực, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảngkinh tế – xã hội và tụt hậu xa hơn về kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, giữ vững ổn định chính trị trong tình hình mới, mộtyêu cầu tất yếu khách quan và cấp bách được đặt ra là phải đổi mới toàndiện, trong đó có đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng

Phát huy truyền thống hòa bình, nhân ái, hữu nghị, hợp tác vănminh của nền ngoại giao Việt Nam và tư tưởng ngoại giao của Hồ ChíMinh thể hiện trong tuyên bố của Người: “Chính sách đối ngoại là thânthiện với tất cả các nước… mà không thù gì với nước nào” (Hồ Chí Minh:Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 5, tr.169) Đảng tachủ trương đổi mới đường lối đối ngoại là mở cửa, hội nhập vì mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

II NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ 1986 – 2004.

Trang 8

Đường lối đối ngoại là một bộ phận quan trọng, hợp thành đườnglối chính trị của Đảng Đường lối đối ngoại của Đảng nhằm khai thác tốtnhất các nhân tố quốc tế phuc vụ cho nhu cầu phát triển đất nước, đồngthời mở rộng và phát huy ảnh hưởng của dân tộc ta, đóng góp với cộngđồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dânchủ và tiến bộ xã hội Đảng ta coi đối ngoại là một mặt trận và hết sứcquan tâm đến mặt trận này.

Từ việc nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của mặt trận đối ngoại,đặc biệt là đối ngoại trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã từ thực tiễn củacông tác đối ngoại dần dần hoàn thiện đường lối đối ngoại đổi mới củaĐảng

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) - Đạihội mở đầu thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương về đối ngoại là mở cửa vàhội nhập quốc tế, quan hệ với tất cả các nước có chế độ chính trị - xã hộikhác nhau trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau

Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và xu thế quốc tế, Đại hội đãphác họa những đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học– kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt củalực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sảnxuất Cuộc cách mạng này là nhân tố cơ bản thúc đẩy sự hình thành thịtrường thế giới, trong đó, hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủnghĩa vì yêu cầu phát triển phải hợp tác với nhau trong trạng thái đấutranh, cạnh tranh quyết liệt Đại hội VI nhấn mạnh: Cuộc đấu tranh trênlĩnh vực kinh tế có ý nghĩa chính trị ngày càng quan trọng đối với kết cụccuộc đấu tranh giữa hai hệ thống…, giữa các nước có chế độ xã hội khácnhau, sự lựa chọn duy nhất đúng đắn là thi đua về kinh tế, về lối sống…

và cuộc thi đua này chỉ có thể được thực hiện trong hoàn cảnh hòa bìnhđược đảm bảo vững chắc

Trang 9

Quan điểm trên đây của Đại hội VI thể hiện bước tiến mới về tư duychính trị quốc tế của Đảng Sự đổi mới tư duy này đã đặt cơ sở cho việcxây dựng chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước phù hợp hơn, thíchứng hơn với tình hình thế giới.

Đại hội VI nhận thức rõ sự cần thiết phải đổi mới phương cách tậphợp lực lượng, một trong những bài học kinh nghiệm mà Đại hội rút ra là

“phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiệnmới” và “xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả cácnước có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rấtquan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta”.Những nhận thức mới này đã đặt nền móng cho việc hình thành các chủtrương mở rộng quan hệ quốc tế của Đảng

Về nội dung của chính sách đối ngoại, Đảng ta xác định: nội dung

cơ bản của chính sách đối ngoại hiện nay là lấy kinh tế đối ngoại làm ưutiên hàng đầu Kinh tế đối ngoại có vai trò to lớn đối với quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước như: góp phần tạo vốn; thúc đẩyquá trình đổi mới kỹ thuật – công nghệ theo hướng hiện đại hóa; thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tạođiều kiện khai thác tốt lợi thế so sánh của đất nước, thúc đẩy phát triển vàtăng trưởng kinh tế – xã hội Đại hội VI nhấn mạnh: Nhiệm vụ ổn định vàphát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự nghiệp pháttriển khoa học – kỹ thuật và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa của nước tatiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vàoviệc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Từ đó, Đảng chủtrương: sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp táckinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội

Bước vào thời kỳ mới, Đảng ta đặt vấn đề cần phải có quan điểmmới về an ninh và phát triển kinh tế, phải xử lý mối quan hệ này cho phù

Trang 10

hợp với thời đại An ninh và phát triển kinh tế là hai mục tiêu cơ bản trongcác mục tiêu của hoạt động đối ngoại Hai mục tiêu này có mối quan hệchặt chẽ và tác động qua lại với nhau Tuy nhiên trong từng điều kiện cụthể, vị trí, vai trò của từng mục tiêu có thể thay đổi cho phù hợp với yêucầu của nhiệm vụ cách mạng Trong một thế giới mà sự hợp tác, liên kết

về kinh tế, sự đan xen lợi ích và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng,thì vấn đề an ninh của một quốc gia phải gắn với an ninh khu vực, thậmchí an ninh của cả thế giới Việc Việt Nam tham gia tích cực vào quá trìnhliên kết, hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế sẽ là một bảo đảm quan trọngcho an ninh của Việt Nam Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5/1988) vềnhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, đã chỉ ra những cơhội và thách thức đối với cách mạng nước ta và khẳng định “lợi ích caonhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tậptrung sức xây dựng và phát triển kinh tế Đó là nhân tố quyết định củng

cố, giữ vững an ninh và độc lập… Cần phải có quan điểm mới về an ninh

và phát triển trong thời đại ngày nay để khẳng định mạnh mẽ phươnghướng ưu tiên tập trung cho sự nghiệp giữ vững hòa bình và phát triểnkinh tế” Nghị quyết còn chỉ rõ: “với một nền kinh tế mạnh, một nền quốcphòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế chúng

ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội hơn”

Trong tình hình mới, để tạo điều kiện và cơ hội giữ vững hòa bình,phát triển kinh tế, Nghị quyết 13 Bộ Chính trị xác định quan điểm: trongquan hệ quốc tế, chúng ta phải “thêm bạn, bớt thù”, ra sức tranh thủ cácnước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, phân hóa hàng ngũđối phương, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập ta về kinh tế, chính trị;kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đốithoại, đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình; lợi dụng sự pháttriển của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế

Trang 11

thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế;kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa VI (3/1989), tiếp tục quán triệt chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế,tham gia tích cực vào phân công lao động quốc tế, chuyển mạnh hoạtđộng ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị –kinh tế, mở rộng quan hệ kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ đất nước

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI(3/1990), coi việc mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm “thêmbạn, bớt thù” là một trong những nhiệm vụ cấp bách và quán triệt không

để các vấn đề cục bộ, tạm thời, thứ yếu cản trở việc thực hiện nhiệm vụchiến lược của ta; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế phùhợp với tình hình mới; đa dạng hóa quan hệ quốc tế; đẩy lùi từng bướcchính sách bao vây, cấm vận đối với nước ta

Có thể nói, nội dung đổi mới tư duy về đối ngoại của Đảng ta đượckhởi xướng từ Đại hội VI, sau đó được Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị vàcác Nghị quyết tiếp theo của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương ( khóa

VI ) phát triển, đã thể hiện rõ sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của nước

ta trước tình hình mới Sự điều chỉnh này đã đặt nền móng cho chiến lượcđối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệquốc tế của Đảng và Nhà nước ta

Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới tiếp tục diễnbiến phức tạp Mô hình chủ nghĩa xã hội bị sụp đổ ở Liên Xô và ĐôngÂu; các thế lực đế quốc tăng cường sử dụng chiến lược "diễn biến hòabình" chống phá nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.Trước những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, Đảng ta nhấnmạnh yêu cầu của công tác đối ngoại là phải nhận thức kịp thời và dự báo

Ngày đăng: 09/07/2018, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w