1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học, môn quan hệ quốc tế, quan điểm của hồ chí minh về xử lý mối quan hệ giữa nước ta với các nước lớn và vận dụng trong bối cảnh quốc tế hiện nay

27 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của Hồ Chí Minh về xử lý mối quan hệ giữa nước ta với các nước lớn và vận dụng trong bối cảnh quốc tế hiện nay
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Tiểu luận cao học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 48,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, một nhà yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào giải phóng dân tộc. Người tượng trưng cho sự kết hợp hài hoà tinh hoa của dân tộc Việt Nam với tinh hoa văn hoá của nhân loại, tượng trưng cho sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Người suốt đời hy sinh phấn đấu không chỉ cho độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, mà còn đấu tranh không mệt mỏi cho sự đoàn kết, tình hữu nghị giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới. Những giá trị tư tưởng của Người là những cống hiến lớn lao cho cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Người được tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn”. Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 đã đánh giá: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội... và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. Tiếp thu truyền thống đấu tranh vẻ vang của dân tộc kết hợp với phương pháp khoa học biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, tinh hoa văn hoá của phương Đông, phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới, Hồ Chí Minh đã dẫn dắt sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam lần lượt vượt qua thử thách của các cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ xâm lược, đi đến thắng lợi hoàn toàn và để lại cho nền ngoại giao hiện đại Việt Nam một di sản vô cùng quý báu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao. Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là một khoa học, vừa là một “cẩm nang” cho hoạt động thực tiễn. Việc nghiên cứu, tổng kết rút ra những bài học và hệ thống những quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng vào thực tiễn nước ta hôm nay là vô cùng cần thiết. Trong khuôn khổ bài tiều luận, em xin phép trình bày nội dung chuyên đề “Quan điểm của Hồ Chí Minh về xử lý mối quan hệ giữa nước ta với các nước lớn và vận dụng trong bối cảnh quốc tế hiện nay”.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 4

I BỐI CẢNH LỊCH SỬ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU TK XX 4

II TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO ĐẢM LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ VIỆC XỬ LÝ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LỚN 6 2.1 Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế 6 2.2 Coi trọng và xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn và đánh giá tác động của cục diện giữa các nước lớn đến nước ta 13 2.3 Coi trọng việc đánh giá cục diện quan hệ giữa các nước lớn và tác động của cục diện đó đến nước ta 16 2.4 Kết hợp sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh của thời đại, dân tộc với quốc tế, tập hợp lực lượng nhiều tầng nấc khác nhau, tạo thế đứng vững chắc cho ta trong quan hệ với các nước lớn 17 III VIỆC THỰC HIỆN TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 19 3.1.Phát huy tinh thần độc lập tự chủ, xử lý hài hoà lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế 21 3.2 Vận dụng sức mạnh tổng hợp của đất nước và của quốc tế trong quan

hệ với các nước lớn 23 3.3 Tăng cường các hình thức liên kết khu vực và hợp tác quốc tế, tạo thế đứng cho ta trong quan hệ với các nước lớn 25 3.4 Tăng cường thực lực, chuẩn bị cho các tình huống xấu 26

C KẾT LUẬN 27

Trang 2

tế trong sáng Người suốt đời hy sinh phấn đấu không chỉ cho độc lập, tự do vàhạnh phúc của nhân dân Việt Nam, mà còn đấu tranh không mệt mỏi cho sựđoàn kết, tình hữu nghị giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới Những giá trị tưtưởng của Người là những cống hiến lớn lao cho cách mạng Việt Nam và cáchmạng thế giới Người được tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà vănhoá lớn” Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 đã đánh giá: “Chủ tịch Hồ Chí Minh

là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọnđời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phầnvào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng củacác dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việcthúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”

Tiếp thu truyền thống đấu tranh vẻ vang của dân tộc kết hợp với phươngpháp khoa học biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh hoa văn hoá củaphương Đông, phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới, Hồ Chí Minh đãdẫn dắt sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam lần lượt vượt qua thử thách củacác cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ xâm lược, đi đến thắng lợi hoàn toàn và

để lại cho nền ngoại giao hiện đại Việt Nam một di sản vô cùng quý báu: Tưtưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là một khoa học,

Trang 3

vừa là một “cẩm nang” cho hoạt động thực tiễn Việc nghiên cứu, tổng kết rút ranhững bài học và hệ thống những quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh để vậndụng vào thực tiễn nước ta hôm nay là vô cùng cần thiết Trong khuôn khổ bài

tiều luận, em xin phép trình bày nội dung chuyên đề “Quan điểm của Hồ Chí

Minh về xử lý mối quan hệ giữa nước ta với các nước lớn và vận dụng trong bối cảnh quốc tế hiện nay”.

Trang 4

B NỘI DUNG

I BỐI CẢNH LỊCH SỬ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU TK XX

Bảo vệ lợi ích dân tộc trước các cường quốc từ xa xưa đã là mối quan tâmhàng đầu của mỗi quốc gia Từ khi giao thương quốc tế phát triển, thế giới trởthành một thị trường thống nhất, và nhất là từ khi các cường quốc đế quốc đánhchiếm thuộc địa, tranh giành ảnh hưởng ở các nước chậm phát triển thì vấn đềbảo vệ lợi ích quốc gia trở nên gay gắt và phức tạp hơn Nhân tố quốc tế trởthành nhân tố chi phối sự phát triển, thậm chí sự tồn vong của một dân tộc

Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp và các cuộc cách mạng tư sản nhânquyền và dân quyền, từ nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản Âu - Mỹ pháttriển nhanh chóng và chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Tại chính quốc,chúng tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân lao động, đặc biệt là giai cấp côngnhân; ở bên ngoài, tiến hành chiến tranh đánh chiếm thuộc địa ở khắp các châulục Á, Phi và Mỹ Latinh Giữa các nước đế quốc nổ ra cuộc tranh đua quyền lực

và giành giật ảnh hưởng trên thế giới Một loạt mâu thuẫn nảy sinh: mâu thuẫngiữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và cácdân tộc bị áp bức, mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc

Trong bối cảnh đó, vấn đề giải phóng con người khỏi sự áp bức, bóc lộttrên được đặt ra: ở chính quốc, vấn đề chính nổi lên là giải phóng giai cấp vô sảnkhỏi sự bóc lột của giai cấp tư sản, ở các nước kém phát triển, vấn đề là bảo vệđộc lập dân tộc hoặc giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa đế quốc

Dưới giác độ dân tộc, sự phát triển không đều tạo ra những biến động lớntrong tương quan lực lượng giữa các quốc gia Đây là điều kiện cho các nước đếquốc gây chiến tranh chinh phục thuộc địa hoặc tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau

Trang 5

ở các nước chậm phát triển Đối với các nước chậm phát triển, bên cạnh vấn đềđấu tranh giai cấp là vấn đề phát triển đất nước để có đủ sức chống lại các nguy

cơ từ bên ngoài do sự mất cân đối quá lớn về tương quan lực lượng nói trên tạo

ra

Ở khu vực châu Á lúc đó, hầu hết các nước còn chìm đắm trong lạc hậu,không đọ nổi sức mạnh của các cường quốc đế quốc, đã lần lượt rơi vào ách đô

hộ của chúng, trừ hai nước Nhật Bản và Thái Lan:

Tại Việt Nam, từ đầu thế kỷ XIX, chế độ phong kiến ở trong tình trạngkhủng hoảng và suy tàn; bên trong duy trì đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phongkiến, kìm hãm những lực lượng sản xuất mới manh nha phát triển, đối với bênngoài thực hiện bế quan tỏa cảng, làm cho sản xuất, giao thương đình trệ, đingược với xu thế tiến hoá của xã hội loài người Đất nước nghèo nàn, lạc hậu, lạikhông có được sự đoàn kết nhất trí của đông đảo nhân dân, không có được chuẩn

bị cả về vật chất và tinh thần để đương đầu với cuộc xâm lược của chủ nghĩathực dân đang bành trướng mạnh mẽ, cuối cùng đã rơi vào tay Pháp

Với truyền thống yêu nước, bất khuất của nhân dân ta, nhiều cuộc khởinghĩa, nhiều phong trào yêu nước: Đông du, Đông kinh nghĩa thục, Duy tânhội… đã nổi lên chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, nhưng đều thất bại Mộttrong những nguyên nhân chính là trong lúc chế độ phong kiến ở Việt Nam đãthối nát, hầu hết những người lãnh đạo vẫn chủ trương duy trì chế độ phong kiếnlạc hậu, không gắn vấn đề giải phóng đất nước với giải phóng con người, khôngđúng với xu thế của thời đại , vì vậy chưa tập hợp được đông đảo lực lượng quầnchúng nhân dân thành một mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc

Trang 6

Khác với các nhà yêu nước đương thời, Hồ Chí Minh chủ trương giảiphóng dân tộc bằng con đường cách mạng: đấu tranh để giải phóng cả dân tộc vàgiai cấp Song đấu tranh giai cấp ở đây là đấu tranh giai cấp ở điều kiện cụ thểcủa nước Việt Nam lúc bấy giờ, không phải ở trình độ phát triển của các nước

Âu, Mỹ; nghĩa là tập hợp tất cả các tầng lớp nhân dân lao động, những người yêunước đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi cả hai tầng áp bức thực dân và phongkiến phản động, giành chính quyền về tay nhân dân ; đồng thời gắn cách mạngViệt Nam với cách mạng thế giới và dẫn dắt cách mạng Việt Nam tiến theo dòngchảy của cách mạng thế giới Lợi ích dân tộc tối thượng trong suốt thời kỳ nàycho đến khi đất nước ta được hoàn toàn giải phóng năm 1975 là giành lại độclập, tự do, thống nhất cho dân tộc Việt Nam Chính nhờ cách tiếp cận cách mạngnày của Bác mà sự nghiệp giải phóng dân tộc của ta đã tập hợp được đông đảolực lượng quần chúng nhân dân lao động trong cả nước và sự ủng hộ của cácphong trào cách mạng trên thế giới, tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn,chiến thắng được lực lượng vật chất to lớn của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

II TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO ĐẢM LỢI ÍCH DÂN TỘC

VÀ VIỆC XỬ LÝ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LỚN.

2.1 Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế

2.1.1 Độc lập, sáng tạo trong tư duy

Một trong những điểm nổi bật nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là cách tưduy độc lập, sáng tạo, không giáo điều, rập khuôn, luôn tìm tòi suy nghĩ hướng

đi, cách luận giải mới để bảo đảm lợi ích của dân tộc Việt Nam Người thườngnói: muốn làm gì cũng cần vì lợi ích dân tộc mà làm

Trang 7

Thông thường, các nước lớn hay các đảng lớn là xuất phát điểm của cácdòng chủ lưu về tư duy chính trị cũng như chiến lược đối ngoại Các dòng chủlưu này phần nhiều xuất phát từ lợi ích hoặc từ thực tế của các nước lớn, cácđảng lớn và không phải lúc nào cũng phù hợp với lợi ích hoặc thực tế của cáchmạng Việt Nam Với tư duy độc lập và sáng tạo, đứng trên góc nhìn cụ thể củacách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tìm ra cách luận giải mới bảo đảm lợi íchcủa dân tộc ta mà không đối lập với dòng chủ lưu của các đảng lớn và các nướclớn anh em Có thể nêu hai ví dụ:

Một là , vào đầu thế kỷ XX, đứng trên giác độ đấu tranh giai cấp ở mộtnước phát triển, các đảng lớn, đại biểu cho quan điểm chính thống của Quốc tếCộng sản chủ trương giải quyết vấn đề giai cấp trước rồi mới giải quyết vấn đềdân tộc và cho rằng chỉ có làm cách mạng thành công ở chính quốc thì mới cóthể làm được cách mạng ở các nước thuộc địa Tuyên ngôn thành lập Quốc tếCộng sản (năm 1919) viết: “Sự giải phóng các thuộc địa chỉ có thể có được cùngvới sự giải phóng giai cấp công nhân ở chính quốc Công nhân và nông dânkhông những ở An Nam, Angiêri, Bengalia mà cả ở Ba Tư hay Ácmênia, chỉ cóthể giành được độc lập khi mà công nhân các nước Anh và nước Pháp lật đổđược Lôit Gioócgiơ và Clêmăngxô, giành chính quyền nhà nước trong taymình”

Hồ Chí Minh vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin tronghoàn cảnh cụ thể của các dân tộc nhược tiểu bị áp bức xâm lược Người chỉ rõphải giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp Ở Việt Nam, quyền lợigiai cấp và quyền lợi của dân tộc là nhất trí, đấu tranh giải phóng dân tộc là mộtphần của đấu tranh giải phóng giai cấp Các nước thuộc địa cần đấu tranh để tự

Trang 8

giải phóng mà không đợi cách mạng vô sản thành công ở chính quốc; làm cáchmạng ở các nước thuộc địa chính là giúp cho cách mạng ở chính quốc.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh quan điểm của Mác là trong mỗi giai đoạn lịch

sử tiến hoá của xã hội loài người, đấu tranh giai cấp có khác nhau Ở Việt Nam một nước thuộc địa nửa phong kiến - mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủnghĩa đế quốc và tay sai nổi trội hơn mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giaicấp địa chủ phong kiến, giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản Do đó, chỉ

-có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp Giải phóng dân tộc đã baohàm một phần giải phóng giai cấp và tạo tiền đề cho giải phóng giai cấp Quanđiểm trên sau này được chính thức hoá trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ támBan Chấp hành Trung ương tháng 5 năm 1941 do Hồ Chí Minh chủ trì: “Tronglúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi đượcđộc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộccòn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn nămcũng không đòi lại được”

Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có mộtcái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giaicấp vô sản ở các thuộc địa” Bằng thắng lợi của mình, hàng trăm triệu nhân dânchâu Á có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụgiải phóng hoàn toàn Người kêu gọi công nhân và các đảng cộng sản ở các nướcphương Tây tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa

Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước và chiếnlược của cách mạng Việt Nam là đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh côngnhân, nông dân, trí thức là một Chủ nghĩa yêu nước chân chính là một bộ phậncủa chủ nghĩa quốc tế vô sản Trong Quốc tế Cộng sản cũng như trong Đảng

Trang 9

Cộng sản ở Đông Dương, Bác đã kiên quyết bảo vệ quan điểm này dù có lúc bịphê phán và hạn chế hoạt động.Như vậy Bác Hồ đã bảo vệ lợi ích của dân tộc ta

mà không đối lập với phong trào cách mạng chung trên thế giới

Hai là , cũng với trí độc lập, sáng tạo như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãthuyết phục được các đảng và các nước anh em ủng hộ cuộc đấu tranh chống

Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trong bối cảnh hoà hoãn Xô - Mỹ

Vào đầu những năm 1960, Liên Xô chủ trương hoà hoãn, thi đua hoà bình,

lo ngại một tia lửa nhỏ cũng có thể đốt cháy cả đồng cỏ và cuộc chiến tranh ởViệt Nam có thể dẫn đến chiến tranh thế giới Đảng ta và Bác Hồ đã lý giải:Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống xâm lược của đế quốc Mỹ hiếuchiến là nhằm giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của thời đại; phù hợp với xu thếcủa thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Cuộc đấutranh này góp phần bảo vệ hoà bình thế giới, bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa, sẽkhông dẫn đến chiến tranh thế giới và cũng không phá hỏng hòa hoãn giữa Liên

Xô và Mỹ Do đó chúng ta đã giành được sự đồng tình, ủng hộ của Liên Xô vàcác nước trên thế giới

Tư tưởng độc lập, tự chủ, sáng tạo về tư duy này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đãkhông được quán triệt và thực hiện trong thời kỳ cuối những năm 1970 và đầu nhữngnăm 1980, nên chúng ta đã mắc phải những sai lầm nặng nề, giáo điều, rập khuôndẫn đến tình trạng khủng hoảng kéo dài cho đến khi ta tiến hành đổi mới sâu rộng

2.1.2 Độc lập, tự chủ trong hành động

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta thường chịu tác động nhiều chiềucủa các nước lớn Đối với kẻ thù là sự đe dọa, đối với đồng minh là tác độngdưới nhiều hình thức Để vững lái con thuyền cách mạng Việt Nam trong bối

Trang 10

cảnh đó, trong ý chí cũng như phương pháp hành động, Bác Hồ thể hiện một tinhthần độc lập tự chủ mẫu mực, kiên định trong ý chí, tự chủ trong hành động ; đốivới kẻ thù phải kiên quyết, khôn khéo; đối với đồng minh vừa đoàn kết vừa đấutranh Điểm bất biến trong tư tưởng của Bác chính là lợi ích của dân tộc ViệtNam.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam đứng trướcthử thách to lớn, phải đối mặt với Mỹ là nước đế quốc hùng mạnh nhất thế giới,hung hăng nhất thế giới trong khi phong trào cộng sản và công nhân quốc tếđang có bất đồng lớn, Hồ Chí Minh lại một lần nữa khẳng định tư tưởng độc lập

tự chủ, chủ động tiến công Người nói: không nên đặt câu hỏi Mỹ mạnh, canthiệp vào Việt Nam thì ta thế nào? Mỹ giúp Pháp mạnh hơn, ta thế nào? Mỹ giúp

bù nhìn tổ chức quân đội mạnh hơn, ta thế nào? Hỏi như vậy là bị động, “phảiđặt ngược lại là: ta chủ động, Mỹ đến ta cũng đánh; Pháp mạnh, ta cũng đánh; bùnhìn tổ chức thêm quân, ta cũng đánh”

Không chỉ độc lập, tự chủ trong hành động trước kẻ thù, Hồ Chí Minhluôn giữ độc lập, tự chủ trong hành động phối hợp với các nước lớn xã hội chủnghĩa anh em Trong khi giúp đỡ ta, các nước lớn anh em đều muốn sử dụng vấn

đề Việt Nam làm con bài mặc cả với Mỹ, thúc ta đánh hoặc đàm theo ý họ, vì lợiích của họ Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta đã khéo léo

xử lý quan hệ, chủ động đánh theo chiến lược của ta, chủ động trong việc chọnthời điểm, phương thức, nội dung, giải pháp đàm phán với Mỹ và kết thúc chiếntranh, độc lập với Liên Xô và Trung Quốc, nhằm mục đích cao nhất là giànhthắng lợi hoàn toàn cho cách mạng Việt Nam Cả đối với Liên Xô và TrungQuốc, ta đều tạo điều kiện để họ có tiếng nói và vị trí trong vấn đề Việt Nam,nhưng đều không nhận quân tình nguyện chiến đấu ở Việt Nam và cố vấn bên

Trang 11

cạnh Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Đối với Liên Xô, ta kiêntrì đấu tranh trên ba mặt trận, không đi vào giải pháp sớm như Liên Xô thúc ép

và không để Liên Xô làm trung gian giữa ta và Mỹ Đối với Trung Quốc, ta từchối đề nghị của Trung Quốc đưa bộ đội làm đường vào miền Nam hoặc đưa cán

bộ Trung Quốc vào miền Nam “nghiên cứu” Mặc dù Trung Quốc phản đối tavừa đánh vừa đàm và khuyên ta phải trường kỳ kháng chiến, nhưng ta vẫn tiếnhành nói chuyện với Mỹ và kết thúc đàm phán thắng lợi Do đó ta đã tránh đượcthỏa hiệp giữa Liên Xô hoặc Trung Quốc với Mỹ gây bất lợi cho ta

2.1.3 Tự lực, tự cường dân tộc đi đôi với đoàn kết, hợp tác quốc tế

Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Bác Hồ đã kêu gọi nhân dân ta “lấy sức

ta giải phóng cho ta” và sau đó là “nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳkháng chiến” chống thực dân Pháp Quan điểm của Người là muốn người ta giúpcho thì trước hết tự mình phải cứu mình đã Như trên đã nêu, con đường Bác chỉ racho dân tộc Việt Nam không phải là làm cách mạng thế giới rồi nhờ thắng lợi hay

sự giúp đỡ của thế giới để giải phóng Việt Nam Con đường của Bác là con đườngcách mạng bằng sự nỗ lực và sức mạnh của chính mình, là tranh thủ thời cơ và sựgiúp đỡ bên ngoài để dân tộc ta và sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta lớn mạnh,chủ động vươn lên tự giải phóng cho mình, qua đó góp phần vào cách mạng thếgiới

Trong giai đoạn 1941-1945, Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống phátxít, Đảng Cộng sản Đông Dương xác định mối quan hệ này thực chất là quan hệvới các nước lớn, đã nhấn mạnh: “Chú ý rằng: Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếmxỉa đến” Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể

là bạn đồng minh của ta vậy” Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, năm

Trang 12

1949 trả lời các nhà báo nước ngoài, Bác Hồ khẳng định: “Thắng lợi của ViệtNam sẽ là độc lập và thống nhất thực sự”, bởi vì “Chúng tôi bao giờ cũng trông ởsức mình Chúng tôi không sợ ai cả Không nước nào có thể thống trị được chúngtôi” Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như chống đế quốc

Mỹ, Bác luôn kêu gọi nhân dân ta kháng chiến - kiến quốc và xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc - đấu tranh giải phóng miền Nam; nghĩa là trong bất kỳ hoàncảnh nào việc xây dựng thực lực cũng luôn là một nhiệm vụ trung tâm Năm 1948,Bác Hồ căn dặn: “Mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tựcường mới tự do”

Hồ Chí Minh luôn ý thức rằng cách mạng Việt Nam là một bộ phận củacách mạng thế giới Vì vậy, chủ trương độc lập tự chủ nhằm bảo đảm lợi ích dântộc chính đáng, thực hiện các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, nhưngkhông rơi vào xu hướng biệt lập, chủ nghĩa biệt phái hay ích kỷ, hẹp hòi Đểchiến thắng những kẻ thù mạnh hơn mình nhiều lần trong bối cảnh thời đại mới,

Hồ Chí Minh luôn chủ trương đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của cácnước, trước hết là của các nước lớn anh em là Liên Xô và Trung Quốc Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn độc lập tự chủ với đoàn kết quốc tế, vừatranh thủ, vừa đấu tranh để thực hiện mục tiêu của cách mạng, bảo vệ quyền lợicủa dân tộc Đây là một nguyên lý cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ

đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động quốc tế và ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta

Ngày 3 tháng 8 năm 1956, giữa lúc các đảng cộng sản và công nhân quốc

tế có bất đồng về vấn đề độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, Chủ tịch Hồ ChíMinh viết trên báo Sự thật (Liên Xô) nêu bật mối quan hệ biện chứng giữa haiyếu tố đó: Trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và nhữngđiều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong

Trang 13

việc vạch ra chính sách của mỗi đảng cộng sản và mỗi đảng công nhân… nhưngđồng thời Đảng chúng tôi cũng hiểu rõ rằng không thể nào hạn chế những hoạtđộng hiện nay và tương lai của chúng tôi trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý,rằng những hoạt động đó có muôn vàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chungcủa thế giới tiến bộ

2.2 Coi trọng và xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn và đánh giá tác động của cục diện giữa các nước lớn đến nước ta.

Trong lịch sử thế giới, chiến lược của các nước lớn và quan hệ đấu tranh,thoả hiệp giữa họ với nhau thường chi phối tình hình thế giới và quan hệ quốc tế.Các cuộc chiến tranh thế giới nổ ra trong thế kỷ XX đều bắt nguồn từ những mâuthuẫn không thể điều hoà được giữa các nước lớn, lôi kéo các nước khác vàodòng xoáy của cuộc chiến Sự dàn xếp, thoả hiệp giữa họ với nhau thường đượctiến hành trên lưng các nước nhỏ yếu, vì lợi ích của riêng họ, dễ dàng hy sinhquyền lợi của các nước nhỏ yếu, kể cả đồng minh Tuy nhiên, nếu các nước nhỏ

có đối sách đúng đắn, biết khai thác những mối quan hệ tuỳ thuộc, biết ứng xửkhôn khéo, linh hoạt và kịp thời thì có thể hạn chế được những thoả hiệp giữacác nước lớn bất lợi cho mình Phương pháp xử lý của Bác là “dĩ bất biến, ứngvạn biến” Điểm “bất biến” của Bác là bảo đảm lợi ích cơ bản của dân tộc

2.2.1.Coi trọng quan hệ với các nước lớn và xử lý đúng đắn mối quan hệ với các nước lớn, vừa hợp tác, vừa đấu tranh.

Sớm thấy rõ tầm quan trọng của các nước lớn trong quan hệ quốc tế cũngnhư đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước củanhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ với các nước lớn và việc

xử lý đúng đắn quan hệ của Việt Nam với các nước lớn Và điều đó diễn ra trong

Ngày đăng: 21/12/2022, 11:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w