Nước sạch và vệ sinh môi trường Khánh Hoà là một trong 10 tỉnh được Chính phủ chọn làm thí điểm thực hiện Quyết định 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 về tín dụng thực hiện Chiến lược quố
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNGTỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
DỰ ÁN ĐIỀU TRA, THỐNG KÊ, ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỚI SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM
THIỂU VÀ KHUYẾN CÁO TỚI CỘNG ĐỒNG
GIAI ĐOẠN NĂM 2008
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
Hồ sơ Sức khỏe môi trường tóm tắt
tỉnh Khánh Hòa
Hà Nội, 2008
Trang 2I.Giới thiệu chung:
Khánh Hòa là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có phần lãnh thổ trên đất liền nhô
ra xa nhất về phía biển Đông Phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực bắc: 12052'15''
vĩ độ bắc Phía nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực nam: 11042' 50'' vĩ độ bắc Phíatây giáp tỉnh Đăk Lắk, Lâm đồng, điểm cực tây: 108040’33'' kinh độ đông Phíađông giáp biển đông, điểm cực đông: 109027’55'' kinh độ đông;
Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềmlục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa Bên trên phần đất liền và vùng lãnhhải là không phận của tỉnh Khánh Hòa
Khánh Hòa có thành phố thuộc tỉnh, một thị xã và 6 huyện Tỉnh lỵ của KhánhHòa là thành phố Nha Trang Diện tích tự nhiên của tỉnh hiện nay là 5198,2km2,
II Tổng quan phát triển kinh tế - xã hội:
Tổng sản phẩm tỉnh Khánh Hòa năm 2007 đạt 18.469 nghì tỷ đồng, tăng gấpkhoảng 3 lần so với năm 2000
Những năm gần đây, Khánh Hòa đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế thành dịch vụ,
du lịch - công nghiệp - nông nghiệp, tăng dầng tỷ trọng công nghiệp- Xây dựng vàdịch vụ lần lượt từ 35,3% và 37,8% năm 2000 lêm 42,4% và 41,5% năm 2007, tỷtrọng ngành Nông-Lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 26,9% năm 2000 xuốngcòn16,1% năm 2007
Trang 3tăng 11,8%, giá trị sản xuất công nghiệp thành phần kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài 4.282 tỷ đồng giảm 2,39% So năm trước, một số sản phẩm tăng cao hơn mứctăng chung như: đường mật các loại 90,7 ngàn tấn tăng 81,8%, bia các loại 17.768ngàn lít tăng 23,4%, sợi các loại 13 ngàn tấn tăng 18,7%, cát xuất khẩu 511 ngàn m3tăng 24%, thuốc viên các loại 140 triệu viên tăng 18,6%
Trong năm 2007 UBND tỉnh đã chủ động điều chỉnh quy hoạch sản xuất côngnghiệp, phê duyệt mức hỗ trợ khuyến công và công bố danh mục các ngành côngnghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch vàxây dựng cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp, kiên quyết xử lý tình trạng ô nhiễmmôi trường do hạt nix, tích cực kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài
Hình 3: Tăng trưởng GTSX công nghiệp
Nguồn: Tổng Cục thống kê Hình 4: 5 ngành CN có GTSX cao nhất
Nguồn: Tổng Cục thống kê
2.2 Nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2007 đạt 2.138 tỷ đồng tăng 16,67% so năm
2006, trong đó giá trị sản xuất ngành trồng trọt 1.603 tỷ đồng, tăng 29,25%, chănnuôi đạt 4.067 tỷ đồng, giảm 12% Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm được77.933 ha bằng 100,4% kế hoạch; trong đó diện tích cây lương thực 46.953 ha bằng97,3%, cây chất bột có củ 5.342 ha bằng 128,3%, cây thực phẩm 6.289 ha bằng90,4%, cây công nghiệp hàng năm 18.408 ha bằng 101,1% So năm trước, tổng diệntích gieo trồng giảm 4,71%, trong đó diện tích cây lương thực giảm 10,7%; sảnlượng các loại cây công nghiệp, cây chất bột tăng lên nhưng sản lượng các loại câythực phẩm cây lương thực giảm; riêng lương thực 200 ngàn tấn giảm 6,5%, trong đólúa được 188.409 tấn giảm 7,7% Các địa phương có sản lượng lương thực giảm sonăm trước là huyện Ninh Hòa, Vạn Ninh, Tx Cam Ranh và Tp Nha Trang
Trang 4Hiện nay, Khánh Hòa là trung tâm cung cấp tôm post giống cho cả nước Toàntỉnh có hơn 1.000 trại sản xuất tôm giống, mỗi năm sản xuất 3,5 tỷ con tôm giống;gần 5.000 ha đìa nuôi tôm sú, năng suất bình quân đạt 1,5 tấn/ha Những năm gầnđây, ngư dân Khánh Hòa đã khai thác triệt để vùng mặt nước ven biển để phát triềnnghề nuôi tôm hùm lồng, cá mú, vẹm xanh, ốc hương…
Hình 7: Tăng trưởng GTSX Thủy sản
Nguồn: Tổng cục Thống kê Hình 8: Diện tích mặt nước nuôi thủy sản
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 52.4 Dân số và lao động
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, dân số Khánh Hòa phát triển khá nhanhtrong những năm gần đây Năm 2001, dân số Khánh Hòa 1.066.327 người tăng lên7,74% vào năm 2007, đạt 1.148.881 người, mật độ dân số 221 người/km2, tỷ lệ tăngdân số tự nhiên 11,4% Tỷ lệ dân số thành thị chiếm khá cao trong cơ cấu dân số sovới mặt bằng chung của cả nước, chiếm 40,6% tổng dân số, tương ứng với 467.248người, tăng 16,94% so với năm 2000
Hình 9: Diễn biến dân số qua các năm
tế thôn bản hoạt động, 132 xã có trang thiết bị y tế cơ bản do các tổ chức tài trợ, 44 xãđạt chuẩn quốc gia y tế xã, 73/137 xã phường thị trấn có bác sĩ
Năm 2007 ngành y tế đã khám chữa bệnh cho 3.775 ngàn lượt người tăng 2,6%,điều trị nội trú cho 134.500 lượt bệnh nhân tăng 16%, phẫu thuật 16.200 ca tăng7,5%; các dịch đã có biểu hiện giảm như: bệnh tiêu chảy 15.500 ca mắc giảm 4,3%,1.150 ca ngộ độc thực phẩm chỉ có biểu hiện tiêu chảy nhẹ giảm 6% Bên cạnh cácbệnh truyền nhiễm gây dịch không xảy ra như: hạch, tả, viêm phổi do virut cúm A(H5N1), viêm màng não do não mô cầu, vẫn có một số bệnh có nguy cơ tăng cao hoặcxảy ra trên diện rộng thành dịch như: sốt xuất huyết 3.290 ca mắc gấp 3,1 lần; viêmgan virut (A83 - A89) ghi nhận 35 ca không có tử vong tăng 16,7% Có 8.400 ca điềutrị sốt rét giảm 24,9%, trong đó 2.900 ca sốt rét ác tính giảm 13,1%, không có trườnghợp tử vong do sốt rét ác tính; khám phát hiện lao cho 57.912 lượt người tăng 13%, số
Trang 6ca phát hiện lao mới 1.368 ca tăng 4% Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ emluôn được chú trọng, thực hiện tốt các chương trình chăm sóc sức khoẻ trẻ em nhưuống Vitamin A đợt I cho trẻ từ 6 - 36 tháng tuổi, triển khai chương trình ARI & CDDtại các xã, công tác nha học đường tại các trường trên địa bàn toàn tỉnh Có 20.250 trẻ
em dưới 1 tuổi được tiêm đủ liều bằng 97% KH, 16.000 trẻ em dưới 1 tuổi tiêm viêmgan B chỉ đạt 76,9% do ảnh hưởng sau vụ tai biến tiêm vắc xin ở Tp HCM, 20.560phụ nữ có thai tiêm UV2+, 9.600 phụ nữ 15 - 35 tuổi tiêm UV3+ Triển khai thực hiệnchương trình phòng chống suy dinh dưỡng tại 100% xã phường trong tỉnh, đến cuốinăm 2007 tỷ lệ SDD của trẻ em dưới 5 tuổi còn 18,3% giảm 0,87% so năm trước.Tính đến cuối năm 2007, toàn tỉnh có 2.088 người nhiễm HIV, trong đó có 966 ngườichuyển sang AIDS và 747 ca chết do AIDS; ngành đã đẩy mạnh giám sát, tổ chứctuyên truyền giáo dục phòng chống AIDS, triển khai các dự án phòng chốngHIV/AIDS do các tổ chức quốc tế tài trợ Tiếp tục chỉ đạo, giám sát kịp thời các biệnpháp phòng chống dịch bệnh SARS, dịch cúm A (H5N1), kiểm soát và phòng chốngcác dịch: sốt xuất huyết, hội chứng tay - chân - miệng, viêm màng não do não mô cầunhằm khống chế không để dịch lan rộng, ngăn chặn nguy cơ tái bùng phát; phổ biếncác kiến thức phổ thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên các phương tiện thông tinđại chúng cho nhân dân
Trang 7trước, tỷ lệ thi tốt nghiệp THPT là 90,97%; bổ túc THPT có 1.418 học sinh tốt nghiệp
đạt tỷ lệ 50,95%
Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa hiện có 1 trường đại học, 5 trường cao đẳng và 1
trường trung học chuyên nghiệp Năm học 2007-2008 theo kế hoạch các trường tuyển
mới hệ dài hạn 4.000 sinh viên đại học, 3.000 sinh viên cao đẳng, 2.340 học sinh
trung cấp chuyên nghiệp và 1.115 học sinh công nhân kỹ thuật So với số tuyển sinh
năm trước, bậc đại học tăng 19%, cao đẳng tăng 7,95%, trung cấp chuyên nghiệp
giảm 28% và công nhân kỹ thuật tăng 21,86%
Hình 13: Tỉ lệ lớp học và giáo viên/1000 học sinh
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Hình 14: Số sinh viên, học sinh các cấp
Nguồn: Tổng cục Thống kê
2.6 Nước sạch và vệ sinh môi trường
Khánh Hoà là một trong 10 tỉnh được
Chính phủ chọn làm thí điểm thực hiện
Quyết định 62/2004/QĐ-TTg ngày
16/4/2004 về tín dụng thực hiện Chiến
lược quốc gia về cấp NS&VSMTNT
Trong những năm qua, Tỉnh ủy,
UBND tỉnh và các ngành chức năng của
Khánh Hòa đã quan tâm đầu tư hàng trăm
tỷ đồng để xây dựng các công trình đầu
mối dẫn nước sạch về khu dân cư tập trung
với sức chứa một công trình đảm bảo đáp
ứng nhu cầu nước tối thiểu cho khoảng 50
hộ dân một công trình Đến nay toàn tỉnh
đã có hơn 70% hộ dân được sử dụng nước
sạch
Hình 15: Tỉ lệ dân nông thôn được tiếp cận nước sạch
và tỉ lệ hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh
Nguồn: kết quả điều tra Chương trình Mục tiêu quốc gia
về Nước sạch và VSMT nông thôn giai đoạn 2000-2005
Trang 8III Các vấn đề môi trường và tình hình bệnh tật liên quan.
3.1 Các vấn đề môi trường
3.1.
1 Ô nhiễm môi trường nước tại Vịnh Nha Trang
Những nguy cơ xâm hại và gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường vịnh Nha Trang vẫnthường trực, tiềm tàng từ nhiều nguồn khác nhau
Hiện nay ở khu vực Vịnh Nha Trang, hầu hết tàu du lịch, thuyền đánh cá xả trựctiếp ra vịnh Nha Trang rác, phân, nước hút khô hầm tàu Khoảng 7.000 lồng, bè nuôihải sản đã thải ra vịnh thức ăn thừa của tôm, cá, ảnh hưởng đến sự phát triển của san
hô và môi trường biển Mỗi ngày, hơn 5.000 người sống trên các đảo, lồng bè nuôi đãthải ra khoảng 10 tấn rác sinh hoạt và hầu như không được thu gom, xử lý Nguồnnước từ sông Cái, sông Tắc, cống thoát (ở các đường Dã Tượng, Trần Phú, Đặng Tất,Đoàn Trần Nghiệp của thành phố Nha Trang) với nhiều chất thải sinh hoạt, chất thảicông nghiệp, nông nghiệp và chế biến thủy sản chưa được xử lý đổ trực tiếp ra vịnhNha Trang
Diện tích khu vực nội ô TP.Nha Trang xấp xỉ 35,764km2, dân số dao động trongkhoảng 275.000 người, cộng thêm khoảng 5.000 cư dân sinh sống trên các đảo; đó làchưa kể mỗi năm đón khoảng 1,2 triệu lượt khách du lịch lưu trú và nhiều triệu lượtkhách vãng lai Theo thống kê của Ban Quản lý KBTB vịnh Nha Trang, mỗi ngày cókhoảng 10 tấn rác thải du lịch, cộng với rác thải sinh hoạt của dân cư trên 6 khóm đảo
đổ xuống biển; ngoài ra, còn không biết cơ man nào thức ăn thừa của hàng ngàn lồng,
bè nuôi hải sản và chất thải từ vô số nhà vệ sinh không có hầm chứa trên mặt nước.Vùng lõi Hòn Mun là khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt, tuy nhiên mùa du lịch caođiểm, mỗi ngày có khoảng 40 tàu thuyền du lịch cùng với 500-600 khách qua lại, lặnngắm san hô và tắm biển Công ty Cấp thoát nước Khánh Hòa cho biết, toàn TP.NhaTrang chỉ có 55,54km cống nước ngầm thoát mưa Chiều dài hệ thống cống thoátnước mưa chỉ bằng 1/3 tổng chiều dài đường phố, vậy nên Nha Trang áp sát biển mà
hễ mưa là ngập Theo thiết kế, tất cả các tuyến cống chính ở khu vực trung tâm đềuchạy theo hướng bắc-nam, xả xuống sông Cái và sông Quán Trường Riêng khu dân
cư phía bắc sông Cái và phía nam sân bay Nha Trang, chủ yếu lắp đặt cống theohướng đông-tây, xả thẳng ra biển hoặc ruộng đồng
Sông Cái là con sông lớn nhất của tỉnh Khánh Hòa, chảy qua các huyện KhánhSơn, Khánh Vĩnh, Diên Khánh và thành phố biển Nha Trang nên còn gọi là sông NhaTrang Đây là nơi nơi tập trung của cư dân nghèo chuyên sống bằng nghề đánh bắt vàchế biến thủy hải sản, hơn nữa nơi đây là khu vực có hạ tầng đô thị kém phát triển.Đặc biệt tại khu vực Xóm Cồn (sát cửa sông Cái) hiện có vài nghìn người cư ngụ trênmột diện tích nhỏ, nhà cửa lụp xụp, chen chúc nên vấn đề vệ sinh, ô nhiễm môitrường ở đây rất đáng báo động Sông Cái cũng là nơi các loại tàu đánh bắt hải sản
Trang 9neo đậu, mọi sinh họat, ăn ở của ngư dân đều diễn ra trên con sông này và tất yếu cácchất thải của con người cũng “hồn nhiên” được trút xuống lòng sông Mặt khác, sựphát triển đô thị một cách tự phát đang có xu hướng lan nhanh lên thượng lưu làm chotình trạng ô nhiễm sông nước ngày càng phức tạp, có nguy cơ đe dọa nghiêm trọngđến cảnh quan môi trường ở Vịnh Nha Trang.
Dự kiến, dự án xây dựng BCLR mới và đóng cửa bãi rác Rù Rì sẽ hoàn thiệnvào năm 2011 Trong giai đoạn hiện tại, bãi rác Rù Rì vẫn phải tiếp tục “gồng mình”chứa rác, còn những người dân sống xung quanh sẽ tiếp tục chịu ô nhiễm
3.1.3 Ô nhiễm môi trường do dùng thuốc trừ sâu và hoá chất độc hại
Theo Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Khánh Hoà, hiện nay hầu hết nông dân trongtỉnh đều sử dụng rất nhiều các loại phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật để tăngnăng suất cây trồng Trong đó, có một số loại thuốc bảo vệ thực vật đã được khuyếncáo hạn chế sử dụng những vẫn được một số bà con chạy theo lợi nhuận dùng bừa Ước tính hàng năm, đã có hơn 150 tấn thuốc trừ sâu và hóa chất bảo vệ thực vật,trên 7.000 tấn phân hoá học các loại được sử dụng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệptrong tỉnh Đây là một trong những tác nhân quan trọng dẫn đến ô nhiễm môi trường
và nguy cơ độc hại tiềm ẩn cho con người
Việc mua bán các loại thuốc trừ sâu, hóa chất bảo vệ thực vật và phân hoá họcđộc hại vẫn còn bị thả nổi trên thị trường, sự hiểu biết của người dân về tác hại củaphân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật còn rất nhiều hạn chế Theo thống kê, toàn tỉnhKhánh Hoà hiện có tới gần 150 cửa hàng, điểm, quầy buôn bán phân bón và thuốc bảo
vệ thực vật các loại Nguy hiểm hơn, trên 90% các chủ cửa hàng này không có bằng
kỹ thuật trồng trọt hoặc kiến thức bảo vệ thực vật nên không thể hướng dẫn cho kháchhàng sử dụng các loại phân bón và thuốc trừ sâu một các hợp lý khoa học và hiệu quả
Trang 10Không những thế, các loại thuốc bảo vệ thực vật có mặt trên thị trường hiện nay cónhiều loại với nhiều tên hiệu khác nhau làm cho nông dân không biết đâu là loại tốt,đâu là gây tác hại nhiều, không nắm vững được tính năng tác dụng và kỹ thuật sửdụng thuốc Do vậy, việc sử dụng các loại thuốc, phân bón và hóa chất trên đã ảnhhưởng rất lớn đến môi trường sinh thái, môi trường sống ở nông thôn.
3.1.4 Ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi
Hiện nay, ngành chăn nuôi của Khánh Hoà tập trung theo từng cụm từ 3 đếnhàng chục trại, chủ yếu ở huyện Diên Khánh, thị xã Cam Ranh Một số trang trại cóqui mô chăn nuôi khá lớn với hàng chục trâu bò/trại; 300 - 2.000 con heo/trại; 3.000 -10.000 con gà/trại Tuy nhiên, do điều kiện đất đai chật hẹp, chuồng trại chăn nuôi giasúc, gia cầm ở các hộ gia đình nằm ngay trong khuôn viên thổ cư, phần lớn che chắntạm thời, lại không có hố xử lý phân đảm bảo vệ sinh nên đã gây ô nhiễm môi trườngnước và không khí xung quanh khu vực dân cư
Theo kết quả giám sát mới đây của HĐND tỉnh Khánh Hòa, hiện nay ở thànhphố Nha Trang, nổi cộm về tình trạng ô nhiễm môi trường bởi nhiều cơ sở chế biếnthuỷ sản và giết mổ gia súc gây ra Trong đó, 48 cơ sở giết mổ gia súc hoạt động ngaytrong các khu dân cư, đặc biệt là 12 cơ sở thuộc phường Phước Hải
Mặc dù từ năm 1999, tỉnh Khánh Hoà đã có kế hoạch xây dựng cho thành phốNha Trang một khu giết mổ gia súc tập trung, nhưng đến thời điểm này dự án vẫnchưa triển khai được do không tìm được mặt bằng và địa điểm thích hợp Đồng thời,
Dự án cơ sở hạ tầng khu dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc Hòn Ông tại xã Phước Đồng cótổng mức đầu tư 166 tỷ đồng, được UBND tỉnh Khánh Hoà phê duyệt từ năm 2001,nhằm di dời các cơ sở chế biến thuỷ sản gây ô nhiễm trong nội thị về đây, nhưng tiến
độ thực hiện quá chậm, hiện chỉ mới đầu tư 15 tỷ đồng cho công tác giải phòng mặtbằng và sản ủi, xây dựng bước đầu
3.1.5 Quản lý chất thải đô thị và nông thôn
Thành phố Nha Trang là đô thị loại 2, có 01 đơn vị hành chính là Thành phố NhaTrang với dân số 400.000 người (số liệu thống kê 2006) Bình quân lượng CTRSHphát sinh trên đầu người là 0,675kg/ngày.đêm, do vậy lượng chất thải rắn phát sinhhằng ngày là rất lớn khoảng 270tấn/ ngày.đêm (Theo nguồn số liệu của Công ty Đôthị Nha Trang - Năm 2006)
Trang 11Bảng 1 Khối lượng CTRSH phát sinh trong toàn thành phố năm 2000 -2006
(Đơn vị: tấn/ ngày.đêm) Năm
* Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Tình hình thải rác tại TP.Nha Trang trong những năm gần đây có nhiều chuyểnbiến phức tạp, thành phần rác thải ra cũng rất đa dạng và ngày càng gia tăng về mặtkhối lượng Theo kết quả điều tra, nguồn phát sinh CTRSHĐT gồm:
- Rác hộ dân: Phát sinh từ các hộ gia đình, các biệt thự và căn hộ chung cư.Thành phần rác thải này bao gồm: thực phẩm, giấy, các tông, plastis, gỗ, thủy tinh,can thiếc, nhôm, các kim loại khác, tro, đồ điện tử gia dụng, rác vườn, vỏ xe Ngoài
ra rác từ các hộ dân có thể chứa một phần chất thải độc hại
- Rác quét đường: phát sinh từ hoạt động vệ sinh đường phố, khu vui chơi giải trí
và làm đẹp cảnh quan Nguồn gốc của loại rác này từ những người đi đường và cảnhững hộ dân sống dọc hai ven đường vứt thải, đổ xả bừa bãi Thành phần loại rácnày chủ yếu gồm các loại như: cành cây, lá cây, giấy vụn, bao nylon, xác động vậtchết Diện tích vỉa hè, lòng đường quét thu gom rác 6.327,25ha/tháng
- Rác khu thương mại: phát sinh từ các hoạt động buôn bán của các cửa hàngbách hóa, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, văn phòng giao dịch, nhà máy in, cửa hàngsửa chữa xe máy, ô tô Các loại chất thải của khu thương mại chủ yếu là: giấy, cáctông, plastic, gỗ, thực phẩm, thủy tinh, kim loại, vỏ xe, đồ điện gia dụng ; ngoài racòn có thể có một số loại chứa thành phần chất thải độc hại
- Rác cơ quan, công sở: phát sinh từ các cơ quan, xí nghiệp, trường học, vănphòng làm việc Thành phần rác loại này cũng giống với rác khu thương mại
- Rác chợ: phát sinh từ các hoạt động mua bán từ các chợ Thành phần rác chủyếu là rác hữu cơ như: rau, củ, quả hỏng, thối
Bảng 2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt:
Trang 12Nguồn: Công ty Tư vấn Xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam, năm 2004
Theo số liệu chưa đầy đủ từ các địa phương trong tỉnh, tỷ lệ thu gom rác sinhhoạt đô thị ở các địa phương trong tỉnh Khánh Hoà tương đối cao Tuy nhiên, tỷ lệ thugom rác thải sinh hoạt ở vùng nông thôn còn thấp, có địa phương không có số liệuthống kê
3.1.7 Ô nhiễm từ sản xuất gạch thủ công
Từ nhiều năm nay, nghề sản xuất gạch ở xã Ninh Xuân, huyện Ninh Hòa, tỉnhKhánh Hòa được biết đến như một làng nghề làm ăn có hiệu quả, nhiều gia đình nhờlàm gạch đã vươn lên thoát khỏi đói nghèo Đến giờ này, nguồn nguyên liệu bắt đầucạn kiệt, thêm vào đó là việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đang khiến chocác lò gạch ở đây lâm vào cảnh khó khăn
Xã Ninh Xuân có gần 100 lò gạch, tập trung chủ yếu ở 2 thôn Phước Lâm vàVân Thạch Người làm nghề sản xuất gạch là 840 người, chiếm 70% số người ở độtuổi lao động của 2 thôn này Hầu hết các lò gạch đều được xây dựng ven Quốc lộ 26,nơi tập trung khu dân cư đông đúc nên môi trường bị ô nhiễm Ngày lẫn đêm, khóibụi từ các lò gạch cùng với sức nóng hầm hập tỏa ra không khí với nồng độ chất CO2rất cao, đem theo mùi hăng rất khó chịu UBND xã đã nhận được rất nhiều đơn tố cáo,khiếu nại về tình trạng này nhưng vẫn chưa có hướng giải quyết cụ thể Hiện tại,ngoài thải khói gây ô nhiễm môi trường còn có tình trạng các lò gạch thường đổ trohoặc gạch vụn ra đường gây bụi Ngoài ra, các xe chở đất thường làm vương vãi đấttrên mặt đường đang là vấn đề gây bức xúc
3.1.8 Ô nhiễm từ các cơ sở sản xuất công nghiệp
Theo kết quả giám sát trong lĩnh vực môi trường của HĐND tỉnh Khánh Hòa,trên địa bàn tỉnh có 4 cơ sở sản xuất công nghiệp, kinh doanh được xác định thuộcloại ô nhiễm nghiêm trọng, phải được xử lý dứt điểm trong giai đoạn 2003- 2005 theoQuyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Thế nhưng đến nay tìnhtrạng gây ô nhiễm của cả 4 cơ sở này vẫn chưa thể khắc phục triệt để, mà tiếp tục tồntại
Trang 13Đó là tại Công ty TNHH Nhà máy Sửa chữa tàu biển Huyndai- Vinashin (thuộcđịa bàn huyện Ninh Hòa), một số lượng lớn hạt nix đã qua sử dụng gây tình trạng ônhiễm môi trường nghiêm trọng, đến thời điểm này lượng hạt nix thải đã lên đến700.000 tấn Thời gian gần đây, nhà máy đã tích cực hơn trong việc xử lý ô nhiễm, tuynhiên các biện pháp đã triển khai vẫn mang tính chất tạm thời, cục bộ Việc di đời dân
cư của hai thôn Ninh Giang và Ninh Yểng bị ảnh hưởng bởi tình trạng ô nhiễm nóitrên, vốn được đặt ra từ mấy năm qua, nhưng đến nay chưa thực hiện được
Nhà máy điện Chụt (thuộc phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang) với hìnhthức xử lý được xác định là di chuyển đến nơi khác Nhưng theo báo cáo của Sở Tàinguyên và Môi trường Khánh Hòa, hiện nhà máy chỉ đóng cửa tạm thời và những lúccao điểm về nhu cầu cung cấp điện, nhà máy vẫn phải hoạt động
Bãi rác thải phía Bắc thành phố Nha Trang, còn gọi bãi rác Rù Rì (thuộc địa bàn
xã Vĩnh Lương) đã nằm trong kế hoạch đóng cửa Nhưng theo dự án cải thiện môitrường thành phố Nha Trang thì đến năm 2010 bãi rác Lương Hòa mới được xây dựnghoàn thiện và đi vào hoạt động để thay thế bãi rác Rù Rì, do vậy thành phố Nha Trangvẫn còn phải sử dụng bãi rác này đến năm 2010 Ngoài ra, bãi kinh doanh than TânBình (thành phố Nha Trang) sẽ phải di dời đến đến xã Phước Đồng, nhưng đã quá thờihạn buộc phải di dời mà địa điểm mới chưa giải quyết xong vấn đề đền bù giải tỏa để
có đất thực hiện
3.1.9 Ước tính tải lượng ô nhiễm do hoạt động sản xuất công nghiệp
Để tính toán tải lượng ô nhiễm do các ngành công nghiệp, nhóm nghiên cứuthuộc Dự án “Điều tra, thống kê, đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sứckhỏe cộng đồng và đề xuất các biện pháp giảm thiểu, khuyến cáo tới cộng đồng” củaCục Bảo vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Dự án Sức khỏe môi trường) đã áp dụngphương pháp IPPS được phát triển bởi Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Cơ quanBảo vệ Môi trường Mỹ (USEPA) Một số nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (năm
1997 và năm 2006) đã thực hiện ước tính và lượng hóa mức độ gây ô nhiễm của cácngành công nghiệp ở Việt Nam bằng mô hình IPPS Khi so sánh các kết quả nghiêncứu này với thực tế ô nhiễm môi trường trong nước thấy có nhiều sự trùng lắp và khátương thích
Nằm ở phía nam miền Trung, Khánh Hòa là một trong những trung tâm côngnghiệp phát triển của vùng với các ngành công nghiệp mũi nhọn như sản xuất giường
tủ, bàn ghế, công nghiệp chế biến khoáng sản phi kim, công nghiệp thực phẩm và đồuống, gỗ và lâm sản, công nghiệp hóa chất Theo kết quả ước tính, năm 2000, tổnglượng các chất phát thải gây ô nhiễm môi trường của 19 ngành công nghiệp trên địabàn tỉnh là 25,73 triệu tấn, đến năm 2006 con số này là 52,63 triệu tấn Kết quả tínhtoán chi tiết tải lượng ô nhiễm do hoạt động sản xuất công nghiệp của 19 ngành nghềkhác nhau trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa được thể hiện ở Bảng 3
Trang 14Bảng 3: Tổng lượng chất gây ô nhiễm môi trường từ 19 ngành công nghiệp của Khánh Hòa giai đoạn 2000 – 2006
Đơn vị: Triệu tấn
STT Ngành công nghiệp Năm 2000 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Xếp hạng 2006
10 Sản xuất máy móc thiết bị đãphân loại 0,0003 0,0003 0,0003 0,0002 0,0002 18
11 Máy móc và thiết bị điện chưa phân loại 0,001 0,001 0,002 0,005 0,042 14
12 In và sản xuất các sản phẩm
13 Sản xuất các thiết bị truyền thông 0,002 0,024 0,031 0,035 0,040 15
14 Sản xuất, sửa chữa xe có động cơ 0,001 0,001 0,001 0,0001 0,0001 19
15 Sản xuất, sửa chữa phương tiên vân tải khác 1,409 1,504 1,724 2,413 3,539 4
Trang 15Trong bảng xếp hạng mức độ gây ô nhiễm của các ngành năm 2006, 5 ngànhcông nghiệp gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất là: công nghiệp thuốc lá; công nghiệpsản xuất, sửa chữa các phương tiện vận tải khác; công nghiệp sản xuất giường tủ, bàn-ghế; công nghiệp thực phẩm và đồ uống; gỗ và lâm sản Trong đó ngành công nghiệpthực phẩm và đồ uống có tỷ lệ gây ô nhiễm nhiều nhất trong công nghiệp, chiếm 55%tổng lượng gây ô nhiễm năm 2006 (Hình 16)
Hình 16: 5 ngành CN gây ô nhiễm nhiều nhất Khánh Hòa giai đoạn 2000-2006.
Nguồn: Dự án Sức khỏe môi trường, Cục BVMT
Tải lượng ô nhiễm do các hoạt động sản xuất công nghiệp được tính toán theocác yếu tố môi trường sau: tải lượng ô nhiễm không khí, tải lượng ô nhiễm nước vàlượng phát sinh các hóa chất độc hại do SXCN Có thể nói, kinh tế càng phát triển thìcác vấn đề về môi trường càng gia tăng
Từ năm 2000 đến 2006, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Khánh Hòatăng 2,1 lần (7,3 nghìn tỷ đồng năm 2002, và 15,6 nghìn tỷ đồng năm 2006) Cũngtrong giai đoạn này, tổng lượng các chất thải gây ô nhiễm không khí từ hoạt động sảnxuất công nghiệp đã tăng gấp đôi (từ 22,2 triệu tấn năm 2002 lên tới 44,7 triệu tấnnăm 2006 (Hình 17) Như vậy, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm không khí có tốc độbiến thiên tương đương với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp tại địa bàn tỉnhKhánh Hòa Với con số này tỉnh Khánh Hòa xếp thứ 21 của cả nước về lượng phátthải gây ô nhiễm không khí nhiều nhất năm 2006
Trong số 5 loại chất gây ô nhiễm không khí chính là SO2, NO2, CO, VOC vàTSP, lượng phát thải của VOC và TSP có giá trị cao nhất với các giá trị năm 2006 lầnlượt là 11 triệu tấn và 11,9 triệu tấn, tăng gấp đôi so với năm 2002 (Hình 18)
Trang 16Hình 17: Mối tương quan giữa tổng giá trị sản
xuất công nghiệp và tổng lượng phát thải các
chất gây ô nhiễm môi trường không khí của tỉnh
Khánh Hòa giai đoạn 2000-2006
Nguồn: Dự án Sức khỏe môi trường, Cục BVMT
và Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hòa, 2006
Hình 18: Các chất gây ÔNKK do hoạt động SXCN tại
Khánh Hòa giai đoạn 2000-2006
Nguồn: Dự án Sức khỏe môi trường, Cục BVMT
Bên cạnh các chất gây ô nhiễm không khí, các hoạt động sản xuất công nghiệp
còn gây góp phần gia tăng lượng phát thải BOD, TSS vào môi trường nước và sinh ra
các loại hóa chất độc hại có ảnh hưởng trực tiếp đến cả môi trường nước, môi trường
đất và môi trường không khí
Khánh Hòa đứng đầu trong khu vực miền Trung và đứng thứ 10 của cả nước về
mức độ ô nhiễm nước thải công nghiệp trong bảng xếp loại ô nhiễm năm 2006 Năm
2002, tổng lượng BOD và TSS thải ra môi trường là 1,9 triệu tấn, và con số này tăng
gấp 2,3 lần vào năm 2006 (tức 4,3 triệu tấn) (Hình 19)
Hình 19: Mức độ gia tăng chỉ số BOD và TSS do
SXCN tại Khánh Hòa giai đoạn 2000-2006
Nguồn: Dự án Sức khỏe môi trường, Cục BVMT
Hình 20: Tổng lượng các chất ô nhiễm do hoá
chất độc hại từ hoạt động sản xuất công nghiệp của Khánh Hòa giai đoạn 2000-2006
Nguồn: Dự án Sức khỏe môi trường, Cục BVMT
Trang 17Tỉnh Khánh Hòa còn bị ô nhiễm nặng nề bởi các hóa chất độc hại thải ra từ sản
xuất công nghiệp, với tổng lượng hóa chất thải ra môi trường năm 2002 là 1,7 triệu
tấn hóa chất độc hại, trong đó có khoảng 1,17 triệu tấn hóa chất độc hại thải vào môi
trường không khí Đến năm 2006, tổng lượng ô nhiễm môi trường do hóa chất độc hại
lên tới 3,7 triệu tấn và lượng thải vào môi trường không khí là 2,7 triệu tấn, chiếm
73% (Hình 20)
3.2 Tình hình bệnh tật liên quan
Trong những năm qua, theo số liệu từ Báo cáo thống kê bệnh viện các năm từ
Cục quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế, đối với các bệnh liên quan đến ô nhiễm không
khí: thì số ca mắc các bệnh đường hô hấp có xu hướng gia tăng, năm 2007 toàn tỉnh
có 198.201 ca mắc bệnh, tăng 11,04 lần so với năm 2006 khi chỉ với 17.944 ca mắc
Ngược lại, tính đến cuối năm 2007, các bệnh về hệ tuần hoàn lại có xu hướng giảm,
năm 2007 thống kê được có 76.963 ca mắc, giảm 1,5% so với một năm trước đó
Ngoài ra, trong năm 2007 cũng có 45 ca mắc bệnh ung thư khí quản, phế quản phổi;
125 ca mắc bệnh hen và 869 ca mắc bệnh lao (Hình 21).
Hình 21: Số ca mắc các bệnh liên quan tới ô nhiễm
không khí tại Khánh Hòa
Nguồn: Báo cáo thống kê bệnh viện các năm - Cục
quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế
Hình 22: Số ca mắc các bệnh liên quan tới ô nhiễm
nước tại Khánh Hòa
Nguồn: Báo cáo thống kê bệnh viện các năm - Cục quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế
Tại Khánh Hòa những năm gần đây, trong những bệnh liên quan đến ô nhiễm
nước tại thì tiêu chảy là bệnh đáng lo ngại nhất, đặt biệt vào năm 2006 toàn tỉnh có tới
14.559 ca mắc, cao nhất trong 3 năm thống kê được là 2002, 2006 và 2007, năm 2002
toàn tỉnh có 6890 ca mắc, và năm 2007 có 13.129 ca mắc Đứng thứ hai là bệnh sốt
xuất huyết 1362 ca mắc vào năm 2007, tuy nhiên, số ca mắc này đã là giảm so với
năm 2006 với 1503 ca mắc Hiện trạng bệnh nhiễm khuẩn đường trong năm 2007
cũng đã được cải thiện rõ rệt, giảm từ 4709 ca mắc năm 2006 xuống còn 694 ca mắc
vào năm 2007 (Hình 22).