1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hợp đồng dân sự vô hiệu do lừa dối theo bộ luật dân sự 2015

79 396 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 785,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay hạn chế này thể hiện rõ nét nhất qua giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tập trung tại Chương VIII Bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm các trườn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG HOÀI TRANG

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO LỪA DỐI THEO

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế

Mã số : 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Ngô Huy Cương

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn là kết quả quá trình tìm tòi nghiên cứu!

Người cam đoan

Trương Hoài Trang

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO LỪA DỐI5 1.1 Khái quát về hợp đồng và hợp đồng vô hiệu 5

1.2 Những nội dung pháp lý cơ bản của hợp đồng vô hiệu do lừa dối 23

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO LỪA DỐI……….30

2.1 Tổng quan các quy định của BLDS về hợp đồng 31

2.2 Vấn đề áp dụng các quy định của BLDS 2015 đối với việc tuyên hợp đồng vô hiệu do lừa dối 42

2.3 Bất cập và nguyên nhân của BLDS 2015 về hợp đồng vô hiệu do lừa dối 60

Chương 3 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO LỪA DỐI ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG BLDS 2015 64

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện chế định hợp đồng vô hiệu do lừa dối được quy định trong BLDS 2015 64

3.2 Các định hướng hoàn thiện 66

3.3 Giải pháp 67

KẾT LUẬN………70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 4

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội luôn vận động, phát triển và thay đổi không ngừng, để tồn tại và phát triển con người phải thích ứng với đầy đủ sự thay đổi trên để phù hợp và thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của bản thân Các quan hệ xã hội chính là phương thức giúp con người khi tham gia sẽ đáp ứng mọi nhu cầu Khi tham gia các quan hệ xã hội việc các bên trao đổi, bày tỏ ý chí của mình và cùng thống nhất ý chí để đạt được mục đích đề ra được coi là Hợp đồng Hợp đồng là một phương tiện quan trọng để tạo lập nên đời sống của con người, giúp con người đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình thông qua việc trao đổi các tài sản, sản phẩm, dịch

vụ và các lợi ích vật chất khác Hợp đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành của nền kinh tế, nó là một phương thức quan trọng để tổ chức đời sống chung và thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển Ở Việt Nam, các bộ cổ luật đã từng tồn tại trước đây như Luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long không có quy định riêng về hợp đồng dân sự mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau Qua quá trình phát triển, cùng với sự phát triển của pháp luật dân sự nói chung, chế định về hợp đồng dân sự ngày càng được xem

là một chế định cơ bản trong pháp luật dân sự, chiếm một vị trí trung tâm và được chế định với dung lượng lớn nhất so với các chế định khác do vai trò trung tâm của nó đối với trật tự thị trường Các quy định về hợp đồng luôn luôn chiếm đa phần trong các đạo luật thuộc lĩnh vực luật tư

Thực tế cho thấy, những quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu có vai trò quan trọng trong điều chỉnh những quan hệ giao lưu dân sự trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay Mặt khác, những quy định này không tồn tại độc lập mà có sự liên hệ chặt chẽ với những quy định khác trong tổng thể nội dung BLDS năm 2005 Bởi vậy những nghiên cứu về hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu đã có những đóng góp đáng kể trong việc nâng cao nhận thức

Trang 6

2

của các bên chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng, góp phần làm sáng tỏ những quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu trong các văn bản pháp luật trong từng thời kỳ Những nghiên cứu này là những tài liệu tham khảo có giá trị trong công tác áp dụng, thực thi pháp luật cũng

như công tác phổ biến pháp luật Chính vì vậy, em xin lựa chọn đề tài: “Hợp đồng dân sự vô hiệu do lừa dối theo Bộ luật dân sự 2015” làm đề tài nghiên cứu cho

luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thời gian qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý ở nước ta đã quan tâm, nghiên cứu về hợp đồng vô hiệu chung và hợp đồng vô hiệu do lừa dối nói riêng

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như Luận án tiến sỹ luật học của các Tác giả :Lê Thị Bích Thọ: “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó”; Nguyễn Văn Cường: “Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”; Luận án thạc sỹ luật học của các tác giả: Nguyễn Phương Thúy, “Giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”; Phạm Ngọc Minh: “Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu”; Phạm Bá Đông: “Một số vấn đề về hợp đồng dân sự vô hiệu - thực trạng và hướng hoàn thiện” Tuy nhiên, các công trình nói trên chỉ nghiên cứu chung về giao dịch dân sự; hợp đồng vô hiệu, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hoặc các trường hợp vô hiệu của hợp đồng mà chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn về trường hợp cụ thể là Hợp đồng vô hiệu do lừa dối Đặc biệt kể từ ngày 01/01/2017 là ngày BLDS 2015 chính thức có hiệu lực với nhiều chế định được sửa đổi, bổ sung quan trọng thì chưa có một công trình nào nghiên cứu các vấn đề trên theo hướng tiếp cận của BLDS 2015 Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu về hợp đồng vô hiệu đã được công bố của giới khoa học pháp lý trong nước, Tác giả quyết tâm nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Hợp đồng vô hiệu do lừa dối để có cái nhìn khách quan và toàn diện nhất, góp phần áp dụng pháp luật được chính xác và hiệu quả

Trang 7

3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là:

- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm pháp lý chế định hợp đồng vô hiệu nói chung và Hợp đồng vô hiệu do lừa dối nói riêng, qua đó làm rõ hậu quả pháp lý của Hợp đồng vô hiệu do lừa dối

- Phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng pháp luật về Hợp đồng dân sự do lừa dối thông qua các vụ án cụ thể

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện tại TAND góp phần nâng cao chất lượng, áp dụng thống nhất trong việc giải quyết các loại tranh chấp về hợp đồng vô hiệu do lừa dối

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung làm rõ những vấn đề sau:

- Phân tích và lý giải nhằm làm rõ Nhận thức chung về hợp đồng vô hiệu do lừa dối và các vấn đề có liên quan

- Nghiên cứu thực trạng quy định BLDS 2015 về hợp đồng vô hiệu do lừa dối, hậu quả pháp lý khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối

- Thực tiễn áp dụng quy định về hợp đồng vô hiệu do lừa dối và đánh giá về hiệu quả của những quy định pháp luật hiện hành thông qua việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước

- Đề xuất định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật và các giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Tác giả tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn xét xử về hợp đồng vô hiệu do lừa dối Vấn đề này được tiếp cận theo chiều sâu và toàn diện trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam và đặc biệt là quy định của BLDS 2015 về nội dugn này từ đó tác giả có sự so sánh với luật nước ngoài về một số vấn đề nghiên cứu có liên quan

Trang 8

4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài là phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và Pháp quyền Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường và thực tiễn áp dụng

Bên cạnh đó, Tác giả còn đặc biệt coi trọng sử dụng các phương pháp phân tích quy phạm; điển hình hoá, mô hình hóa các quan hệ xã hội, tổng hợp, hệ thống, điều tra xã hội học, phương pháp lịch sử, so sánh, phân tích, đánh giá để giải quyết các vấn đề của đề tài đặt ra

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở kế thừa các công trình khoa học đã được công bố, Tác giả tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống về những vấn đề lý luận và thực tiễn làm rõ quy định về hợp đồng vô hiệu do lừa dối một cách thống nhất và thực sự khoa học Luận văn có những điểm mới sau đây:

- Là công trình nghiên cứu đầu tiên về chế định hợp đồng vô hiệu do lừa dối theo quy định của BLDS 2015

- Bổ sung vào cơ sở dữ liệu nghiên cứu về chế định hợp đồng vô hiệu

- Làm sáng tỏ vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng quy định về hợp đồng

vô hiệu do lừa dối, góp phần giúp các cơ quan áp dụng pháp luật đặc biệt là Tòa

án, Viện Kiểm sát và nhân dân có cái nhìn một cách tổng quát và toàn diện chế định này

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Nhận thức chung về hợp đồng vô hiệu do lừa dối

Chương 2 Thực trạng các quy định của BLDS 2015 về hợp đồng vô hiệu

do lừa dối

Chương 3 Kiến nghị hoàn thiện chế định hợp đồng vô hiệu do lừa dối được quy định trong BLDS 2015

Trang 9

5

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO LỪA DỐI

1.1 Khái quát về hợp đồng và hợp đồng vô hiệu

1.1.1 Khái niệm, bản chất, đặc điểm của hợp đồng

1.1.1.1 Khái niệm về hợp đồng

Hợp đồng là loại giao dịch phổ biến nhất, thông dụng nhất nó phát sinh thường xuyên trong đời sống hàng ngày, trong các quan hệ, giao lưu, buôn bán của chúng ta hàng ngày và giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều tiết các quan

hệ trong nền kinh tế thị trường hiện nay Hợp đồng là một hình thức pháp lý ghi nhận sự thỏa thuận của các chủ thể để bảo đảm quá trình vận động của hàng hóa tiền tệ trong sự thống nhất rằng buộc chung, chính vì lẽ đó mà chế định hợp đồng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật các quốc gia

Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà lập pháp tiếp cận khái niệm về hợp đồng dưới nhiều góc độ, khía cạnh pháp lý khác nhau Tuy nhiên có thể thấy được pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều khẳng định sự thỏa thuận là yếu tố cốt lõi của hợp đồng, Cụ thể:

Bộ luật dân sự Québec (Canada) 1994 đưa ra khái niệm: “Hợp đồng là một

sự thỏa thuận của các ý chí mà bởi nó một hoặc một số người tự ràng buộc mình với một hoặc một số người khác để thực hiện một cam kết” (Điều 1378)

Theo Bộ luật dân sự Pháp 1804: “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó” (Điều 1101)

Bộ luật dân sự Liên bang Nga 1994 đưa ra khái niệm: “Hợp đồng được thừa nhận như một thỏa thuận được giao kết bởi hai hay nhiều người về việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 420, khoản 1)

Bộ luật dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: “Hơp đồng trong luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ

Trang 10

6

dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, pháp nhân và các tổ chức khác” Như vậy, Bộ dân luật Bắc Kì nhìn nhận hợp

Ở Việt Nam, bắt đầu từ khái niệm khế ước được quy định tại Điều 644 đoạn

2 Bộ dân luật Bắc Kì 1931: “Khế ước là hợp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển hữu, tác động hay bất tác động” Như vậy, Bộ dân luật Bắc Kì nhìn nhận hợp đồng là một hợp ước giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa một nhóm người với nhau nhằm mục đích chuyển giao quyền sở hữu, thực hiện một công việc hay không được thực hiện một công việc nào đó Cho đến khái niệm pháp lí tổng quát về khế ước quy định ở Điều 680 Bộ dân luật Trung Kì (1936): “khế ước là hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì” thì khái niệm về hợp đồng cũng chỉ là sự thay thế về ngôn từ sử dụng sao cho mang tính chất thuần việt hơn Tiếp đến là khái niệm “hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kinh tế về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch” (Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989) thì khái niệm hợp đồng được xem xét dưới góc độ là hợp đồng kinh tế Theo đó, hợp đồng là sự thoả thuận nhưng phải được thể hiện dưới hình thức nhất định bằng văn bản hay tài liệu giao dịch Nội dung thoả thuận của hợp đồng về các lĩnh vực

đã được liệt kê một cách cụ thể trong điều luật và mục đích của hợp đồng là mục đích kinh doanh Sau đó là sự thay đổi bằng khái niệm “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua, bán, thuê, vay mượn, tặng cho tài sản, làm hay không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng” (Điều 1- Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991) Đây

là một khái niệm về hợp đồng rộng hơn so với khái niệm về hợp đồng kinh tế

Trang 11

7

được quy định trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 Hợp đồng dân sự theo đó được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên và từ sự thoả thuận đó sẽ làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng vay mượn tài sản, hợp đồng tặng cho,… đã được điều luật liệt kê Mục đích của hợp đồng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng Hiện nay, chế định về hợp đồng được quy định tại mục 7, Chương XV, Phần thứ

ba của Bộ luật dân sự năm 2015 Theo đó, Điều 385 BLDS 2015 đưa ra khái niệm:

“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Đã có sự thay đổi tư duy lập pháp so với Điều 394 Bộ luật dân sự 1995 và Điều 388 BLDS 2005 khi quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Với định nghĩa này, dường như các nhà làm luật đã quá cẩn trọng khi sử

dụng thêm từ “dân sự” theo nghĩa rộng gắn vào phía trước thuật ngữ “Hợp đồng”

để chỉ tất cả các loại hợp đồng được điều chỉnh bởi luật tư Error! Reference source not found. Việc bổ sung từ “dân sự” dường như không cần thiết bởi chỉ riêng thuật ngữ “hợp đồng” đã bao hàm và thể hiện rõ nội dung BLDS 2015 đã loại bỏ

từ “dân sự” theo đó chỉ đưa ra khái niệm về hợp đồng, thiết nghĩ việc thay đổi này

là phù hợp và không ảnh hưởng đến bản chất nội hàm của hợp đồng Như vậy,

Hợp đồng theo BLDS 2015 được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, cho thuê, mượn tài sản hoặc về việc thực hiện một công việc theo đó làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

1.1.1.2 Bản chất của hợp đồng

Theo Điều 385 BLDS 2015 có thể thấy được bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với ít nhất hai bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng Như vậy, hợp đồng là loại quan hệ pháp luật dân sự hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên tham gia trong quan hệ đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhau; điều đó giúp chúng ta nhận định được hợp đồng

Trang 12

8

dân sự là một bộ phận cấu thành giao dịch dân sự hay nói cách khác hợp đồng dân

sự là một tập hợp con của giao dịch dân sự Tuy nhiên, một giao dịch dân sự có thể không phải là hợp đồng mà là một hành vi pháp lý đơn phương Ví dụ: Di chúc

là sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể giao kết giao dịch (bên để lại di sản) nhưng tại thời điểm lập di chúc chưa thể hiện được ý chí của một bên còn lại trong giao dịch (bên được hưởng di sản), bên được hưởng di sản này có thể đồng ý hoặc không đồng ý đối với ý chí của người để lại di sản nên đây không thể là hợp đồng

mà là hành vi pháp lý đơn phương Mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận, tuy nhiên không phải bất kỳ sự thỏa thuận nào cũng là hợp đồng Error! Reference source not found. Chỉ những thỏa thuận được xác lập, thực hiện trên cơ sở đồng thuận, nhất trí đích thực, thống nhất ý chí của các bên phù hợp với nguyện vọng, mục đích giao kết hợp đồng của các bên mới được coi là hợp đồng Đây cũng chính là một trong những đặc điểm để phân biệt về giá trị pháp lý của nội dung hợp đồng so với quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định được hình thành dựa trên ý chí của nhà cầm quyền chứ không phải do ý chí của các bên tham gia quan hệ

Như vậy, về bản chất pháp lý của hợp đồng là việc tự do, tự nguyện, thỏa thuận và cam kết thực hiện thỏa thuận của các bên, tạo giá trị pháp lý ràng buộc các bên, buộc các bên phải thực hiện nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định

1.1.1.3 Đặc điểm của hợp đồng

Hợp đồng có các đặc điểm sau:

* Chủ thể của hợp đồng: Khái niệm hợp đồng trong BLDS 2015 đã xác

định đặc trưng chủ thể trong hợp đồng, theo đó hợp đồng phải gồm ít nhất hai chủ thể trở lên Mỗi bên trong quan hệ hợp đồng dân sự có thể có hai hay nhiều chủ thể tham gia Chủ thể của hợp đồng có thể là một trong các chủ thể được quy định trong Phần thứ nhất của BLDS 2015, bên cạnh đó ngoài việc đáp ứng yêu cầu là chủ thể được quy định trong BLDS 2015 thì tùy từng chủ thể riêng biệt sẽ phải

Trang 13

9

đáp ứng các yêu cầu luật định khi tham gia giao kết hợp đồng nói riêng và quan hệ dân sự nói chung (sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau) bao gồm:

- Cá nhân

- Pháp nhân: + Pháp nhân thương mại;

+ Pháp nhân phi thương mại

- Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương

- Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

* Hợp đồng thể hiện sự tự do ý chí của các chủ thể trong hợp đồng: Thuật

ngữ “tự do ý chí” được viết bằng tiếng Anh là “will autonomy” mà trong đó từ

“autonomy” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại bao gồm từ “nomos” có nghĩa là luật (một người định ra luật cho bản thân anh ta) Vì vậy “autonomy” thường được hiểu là quyền của một người tự điều chỉnh bản thân mình Error! Reference source not found. Tự do ý chí là đặc điểm quan trọng, đặc trưng, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với hợp đồng Nó được xem là cực kỳ quan trọng bởi nó là yếu tố cơ bản, không thể thiếu được để hình thành hợp đồng từ đó làm phát sinh ra các nghĩa

vụ pháp lý Trong giao dịch dân sự nếu thiếu yếu tố này thì không thể coi là hợp đồng được Bởi lẽ khi tham gia quan hệ hợp đồng các bên chủ thể hướng tới một mục đích nhất định có thể là lợi ích về vật chất hoặc lợi ích về tinh thần Nếu vì lý

do nào đó do giả tạo, do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng bức… mà hợp đồng được giao kết nhưng không thể hiện được ý chí đích thực của một hoặc các chủ thể giao kết thì hợp đồng đó không được pháp luật thừa nhận và không có giá trị pháp lý rằng buộc các bên tham gia Ngày nay ý chí được hiểu là sự tự do và ý chí của các bên là yếu tố duy nhất hình thành hợp đồng và phát sinh các hậu quả pháp lý Ở Việt Nam nguyên tắc này được ghi nhận ở hầu hết các văn bản quy

phạm pháp luật như: Khoản 2 Điều 3 BLDS quy định nguyên tắc cơ bản: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi

Trang 14

và bảo hộ các quyền đó”; Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”… Qua

các quy định này, có thể nhận thấy tự do ý chí trong giao kết hợp đồng là một đặc điểm, nguyên tắc hết sức quan trọng tuy nhiên nguyên tắc tự do ý chí bị hạn chế dưới một số phương diện như:

Hạn chế tự do giao kết hợp đồng: Sự hạn chế thường được nghiên cứu trong

phạm vi của các hành vi pháp lý (hay còn gọi là giao dịch dân sự) bao gồm hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay hạn chế này thể hiện rõ nét nhất qua giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tập trung tại Chương VIII Bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm các trường hợp: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123 BLDS); Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124 BLDS); Giao dịch dân sự

vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự xác lập, thực hiện (Điều 125 BLDS); Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 BLDS); Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều

127 BLDS); Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128 BLDS); Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129 BLDS) Ngoài ra, việc hạn chế này còn nằm ở rải rác trong các chương khác của BLDS và các văn bản pháp luật khác có liên quan

Trang 15

11

Hạn chế tự do không giao kết hợp đồng: Tự do hợp đồng được xem xét ở

hai khía cạnh khác nhau là chủ thể có quyền lựa chọn, quyết định việc giao kết hợp đồng hoặc từ chối, không giao kết hợp đồng Việc từ chối giao kết hợp đồng bị hạn chế trong nhiều trường hợp Ví dụ trong trường hợp chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, theo Điều 52, 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014 theo đó khi thành viên công ty khi có ý định chuyển nhượng phần vốn góp mà công ty có yêu cầu mua lại thì thành viên không được từ chối lời đề nghị giao kết hợp đồng này mà phải giao kết hợp đồng này

Hạn chế tự do ấn định nội dung của hợp đồng: Một khía cạnh thể hiện

quyền tự do ý chí trong việc tự do soạn thảo, ấn định, xây dựng nội dung của hợp đồng và tự do thay đổi các điều kiện của hợp đồng Muốn có được sự thỏa thuận, các chủ thể tham gia phải bày tỏ ý chí của mình dưới một hình thức nhất định, qua

đó các bên có thể nhận biết được ý chí của nhau để cùng ngồi lại bàn bạc thống nhất nhằm cân bằng, hài hòa lợi ích giữa các bên nhằm đi đến tiếng nói chung trong việc giao kết Thực tiễn hiện nay nội dung này bị hạn chế rõ rệt Thể hiện trong các hợp đồng dịch vụ khi các giao dịch được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần giữa một bên chủ thể nhất định (bên cung ứng dịch vụ) và nhiều chủ thể thay đổi (bên nhận dịch vụ) với đối tượng dịch vụ như nhau khi đó để giảm thiểu thời gian công sức bên cung ứng dịch vụ thường soạn thảo sẵn hợp đồng (gọi là hợp đồng theo mẫu) bên nhận dịch vụ chỉ có quyền chấp nhận hay không chấp nhận giao kết hợp đồng mà không thể trình bày, bổ sung, nêu ý kiến của mình trong hợp đồng Có ý kiến cho rằng việc đồng thuận giao kết vào hợp đồng theo mẫu này đã thể hiện được quyền tự do ý chí của chủ thể còn lại, bởi chỉ có đồng thuận thì chủ thể này mới thực hiện giao kết Thực tế chứng minh quan điểm trên là hoàn toàn sai lầm, khi việc xây dựng nội dung hợp đồng chỉ được thực hiện đơn phương giữa một bên chủ thể thì không thể đảm bảo rằng nội dung này được bình đẳng, bên xây dựng chắc chắn sẽ xây dựng những nội dung có lơi cho mình đồng nghĩa với việc gây bất lợi cho bên còn lại Bên chủ thể còn lại vì những lý do nhất định mà

Trang 16

12

bắt buộc phải giao kết hợp đồng Điều này còn được thể hiện rất rõ trong hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động với người lao động khi hợp đồng được bên chủ sử dụng lao động soạn thảo sẵn và người lao động chỉ có thể ký hoặc không

ký kết hợp đồng

* Phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia giao kết: Hợp

đồng luôn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia giao kết Không phải mọi thỏa thuận nào thể hiện ý chí của các chủ thể giao kết đều là hợp đồng; Một thỏa thuận, giao kết chỉ được coi là hợp đồng khi làm phát sinh quyền

và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia giao kết Ví dụ: A nhờ bạn mình là B ngày mai qua đèo mình đi học, B đồng ý; Trường hợp này không thể nói giữa A và B đã phát sinh một hợp đồng vận chuyển hành khách và người bạn là B kia có quyền qua đón hay không hoàn toàn phụ thuộc vào mối quan hệ, sự nhiệt tình, chữ tín của B Trong trường hợp vì quên hay vì lý do khác mà B không qua đón được thì

A cũng không thể yêu cầu B bồi thường thiệt hại Do vậy, nếu như sự tự do thể hiện ý chí là điều kiện cần thì yếu tố phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia giao dịch là điều kiện đủ để coi một giao dịch là hợp đồng

1.1.2 Nền tảng triết học về hợp đồng

Lịch sử cổ đại loài người đã từng trải qua giai đoạn không cần đến hợp đồng, đó là giai đoạn chưa có sự phân công của lao động, chưa có sự trao đổi của sản phẩm lao động hay nói cách khác các quan hệ xã hội chưa hình thành Khi có

sự phân công lao động xã hội tạo nên sự trao đổi sản phẩm của lao động, như mác đã viết: “Tự chúng không thể đi đến thị trường mà trao đổi với nhau được”

Các-mà đòi hỏi có sự thỏa thuận thống nhất về ý chí của những người có sản phẩm hàng hóa về việc trao đổi sản phảm của hàng hóa đó Đó là mối quan hệ ý chí phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa những người có sản phẩm hàng hóa được thiết lập trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên mà hình thức thể hiện của nó là bản giao kèo Bản giao kèo này chính là hợp đồng Hợp đồng được ra đời và hình thành dựa trên nhu cầu vận động, quy luật tất yếu của xã hội để đáp ứng các yêu

Trang 17

13

cầu đòi hỏi của con người, thúc đẩy sự phát triển kinh tế Quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hóa trở thành quan hệ Pháp Luật khi được Pháp Luật điều chỉnh và hợp đồng trở thành hình thức pháp lý của nó sự ra đời của hợp đồng đòi hỏi khách quan của nền sản xuất hàng hóa Đã có sản xuất hàng hóa thì đến một giai đoạn nào đó dẫn đến sự dưa thừa tất yếu phải có hợp đồng để trao đổi sản phẩm hàng hóa, bán đi những thứ mình có nhiều, dư thừa để đổi lại những hàng hóa, sản phẩm mà mình thiếu, cần Sau đó, cùng với sự phát triển của xã hội Hợp đồng phát triển cả ngoài phạm vi trao đổi sản phẩm hàng hóa, người ta có thể thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau về việc làm một việc gì và không làm việc gì thì đó chính là hợp đồng

Triết học và phương pháp luận khoa học góp phần giúp các ngành khoa học

cụ thể giải quyết các vấn đề của chúng, qua đó triết học thúc đẩy tiến bộ khoa học trong đó có khoa học pháp lý phát triển Triết học xã hội tham gia và giải quyết những vấn đề chính trị, kinh tế xã hội đóng góp đáng kể vào mọi thành tựu của loài người Pháp luật về hợp đồng là một trong những thành tựu đáng được nhắc đến, nó ghi nhận nguyên tắc tự do ý chí của con người Vũ Văn Mẫu cho rằng: “về phương diện triết học, các lý thuyết tự do sở dĩ coi ý chí là căn bản của các nghĩa

vụ, là vì tin tưởng rằng khi các cá nhân được tự do thương thuyết không vướng mắc một trở ngại nào thì sự quyết định của họ phản chiếu sự công bằng”

Về phương diện triết học, hợp đồng luôn tồn tại hiện hữu ở hai dạng là hợp đồng có hiệu lực và hợp đồng vô hiệu Hợp đồng có hiệu lực được hiểu là hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện – tự do ý chí, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không chống lại lợi ích công cộng Hợp đồng vô hiệu là thỏa thuận không có hiệu lực pháp luật kể từ khi giao kết hoặc không phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm giao kết, do một hoặc các bên chủ thể không có thẩm quyền xác lập hoặc các bên chủ thể không có sự thống nhất về mặt ý chí đích thực hoặc hành vi giao kết và thực hiện thỏa thuận bị pháp luật cấm hoặc xâm phạm trật tự công hoặc thỏa thuận không được pháp luật thừa nhận do vi phạm

Trang 18

14

điều kiện về hình thức hợp đồng Như vậy pháp luật hợp đồng phải luôn tồn tại dưới dạng có hiệu lực và vô hiệu

1.1.3 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và ý nghĩa

1.1.3.1 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Theo Điều 116 BLDS 2015 quy định Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành

vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Như vậy, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự nên chịu sự điều chỉnh của quy định chung về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Theo đó, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng khi có đủ các điều kiện sau (Điều 117 BLDS 2015):

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập: Như đã nêu bên trên, Chủ thể của hợp đồng là

một trong các chủ thể được quy định trong Phần thứ nhất của BLDS 2015, bên cạnh đó ngoài việc đáp ứng yêu cầu là chủ thể được quy định trong BLDS 2015 thì tùy từng chủ thể riêng biệt sẽ phải đáp ứng các yêu cầu luật định khi tham gia giao kết hợp đồng phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập Cụ thể:

Một là Cá nhân: Đây là chủ thể chủ yếu tham gia vào quan hệ hợp đồng và

tham gia thường xuyên bao gồm: công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch sống ở Việt Nam được quy định tại Chương III BLDS Để có

tư cách chủ thể thì cá nhân phải có các điều kiện đầy đủ năng lực pháp luật dân sự

(Điều 16 BLDS) “1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự

2 Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau

3 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.” và năng lực hành vi dân sự (Điều 19 BLDS) “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Năng lực hành vi dân sự của cá nhân

chỉ có được khi đạt độ tuổi nhất định:

Trang 19

15

Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Theo quy định tại Điều 20 BLDS người có

năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên (người đủ 18 tuổi trở lên) và không thuộc trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và không bị khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi

Năng lực hành vi một phần: Điều 21 BLDS quy định Năng lực hành vi dân

sự của người chưa thành niên (người chưa đủ 18 tuổi) cụ thể: Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện; Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân

sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi; Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý

Mất năng lực hành vi dân sự là một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc

bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi và bị Tòa án quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện

Hạn chế năng lực hành vi dân sự là một người nghiện ma túy, nghiện các

chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình bị Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác

Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là Người thành niên

do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ

Trang 20

16

hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự và bị Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ

Hai là, pháp nhân: Để được công nhận và tham gia giao dịch thì pháp nhân

phải có đủ các điều kiện sau:

+ Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; + Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

+ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

+ Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

Pháp nhân tham gia giao dịch có thể là pháp nhân thương mại (Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên) hoặc pháp nhân phi thương mại (Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên)

Ba là, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự: BLDS 2005 không hề đề cập đến

nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong các chủ thể trong quan hệ dân sự Đây là một chủ thể đặc biệt trong quan hệ dân sự được BLDS 2015 đề cập đến Theo quy định tại Điều 2 Hiến

pháp năm 2013 quy định: “1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân

2 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất

cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

3 Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,

Trang 21

17

tư pháp” Mặc dù là chủ thể đặc biệt, nhưng trong một số quan hệ pháp luật dân sự

nhất định vẫn có sự tham gia của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương với tư cách là chủ thể trong quan hệ dân sự có thể kể đến các quan hệ phổ biến như: Trong quan hệ bồi thường thiệt hại của nhà nước theo quy định tại Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước năm 2009; Trong quan hệ hợp đồng về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất của các cơ quan nhà nước theo quy định tại Luật đất đai năm 2013; Trong quan hệ Nhà nước là đại diện chủ sở hữu tài sản là đất đai theo quy định tại Hiến pháp 2013 và Luật đất đai năm 2013; Trong quan hệ là chủ sở hữu của một

số tài sản không xac định được chủ sở hữu theo quy định của BLDS 2015…

Từ phân tích trên, có thể thấy thực tiễn Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự

Bốn là, hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự: Chủ thể trong pháp luật dân sự ngoài Hộ gia đình và tổ hợp tác

như theo quy định của BLDS 2005; BLDS 2015 đã mở rộng thêm chủ thể là tổ chức khác không có tư các pháp nhân trong quan hệ dân sự; đây là chủ thể mở nhằm hạn chế những lỗ hổng trong pháp luật dân sự khi không có các quy định pháp luật điều chỉnh các chủ thể này tham gia trong quan hệ dân sự, các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự được kể đến ở đây có thể kể đến như: thôn, làng, bản; khu nhà chung cư Khi tham gia quan hệ dân sự thì các chủ thể này phải

ủy quyền bằng văn bản cho một cá nhân đại diện hoặc Ban lãnh đạo thôn hay Ban quản trị nhà chung cư làm đại diện để tham gia quan hệ dân sự

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện: Chủ thể tham

gia giao dịch dân sự nhằm với mục đích hướng tới những lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định, do đó việc lựa chọn một giao dịch dân sự nào đó để tham gia cũng như xác định nội dung thỏa thuận quyền và lợi ích hợp pháp trong giao dịch dân

sự là hoàn toàn phụ thuộc vào chủ thể tham gia giao dịch Ý chí là nguyện vọng

Trang 22

18

mong muốn chủ quan bên trong của chủ thể và phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định, việc thể hiện này phải đúng như ý chí, mong muốn thực sự của chủ thể tham gia giao kết không bị tác động bởi bất kỳ yếu tố chủ quan hay khách quan nào dẫn đến việc không thể hiện được ý chí hoặc việc thể hiện ý chí không đúng như mong muốn Hay nói cách khác, giữa ý chí đích thực của chủ thể (bên trong với sự biểu hiện ý chí (sự biểu hiện ra bên ngoài) phải có sự thống nhất, nếu không có sự thống nhất ý chí thì chủ thể không có sự tự nguyện

Error! Reference source not found. và giao dịch dân sự không phát sinh hiệu lực Những trường hợp sau đây, chủ thể không có sự tự nguyện khi tham gia giao dịch dân sự:

+ Sự giả tạo: Điều 124 BLDS 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo: “1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân

sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan

2 Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu”

Sự thể hiện ý chí của mỗi cá nhân được ghi nhận và nhận biết dưới một hình thức nhất định; tuy nhiên có những trường hợp chủ thể hoàn toàn mong muốn thể hiện được ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định nhưng mặc dù hoàn toàn kiểm soát được ý chí, hành vi của bản thân, không bị tác động bởi bất kỳ yếu

tố nào nhưng việc thể hiện đó vẫn không phải là ý chí đích thực đó được coi là sự giả tạo Điều 124 BLDS 2015 dựa trên mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự giả tạo để chia thành hai trường hợp là Giao dịch dân sự được xác lập nhằm mục đích che giấu một giao dịch khác và Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Hậu quả pháp lý của các giao dịch dân

sự này đều bị vô hiệu

Trang 23

19

+ Sự nhầm lẫn: Việc nhận thức hay đánh giá về đối tượng, mục đích, nội

dung của giao dịch dân sự hoàn toàn chủ động thuộc về chủ thể tham gia giao dịch Việc nhìn nhận đánh giá không đúng về đối tượng, mục đích, nội dung của giao dịch mà mình hướng tới xác lập cũng là căn cứ dẫn tới việc hủy bỏ hợp

đồng Điều 236 BLDS 2015 quy định: “1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

2 Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được” Bộ luật dân sự 2015 không định nghĩa cụ thể về

nhầm lẫn mà chỉ xác định một trường hợp nhầm lẫn dẫn đến hợp đồng vô hiệu là trường hợp một bên hoặc các bên nhầm lẫn về nội dung của giao dịch do lỗi vô ý của bên kia dẫn đến không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu

+ Sự lừa dối: Trong giao kết hợp đồng, lừa dối nhiều khi được xem như

nhầm lẫn của một bên do bị bên kia hoặc người thứ ba cố ý gây ra Error! Reference source not found. Vậy nên Điều 127 BLDS 2015 giải thích: “Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” Như vậy theo nội hàm điều

luật thì phạm vi lừa dối được xác định rộng hơn nhầm lẫn bao gồm cả sự nhầm lẫn của một bên trong trong giao dịch nhưng có thể được thực hiện bởi cả người thứ

ba nhằm tạo ra sự nhầm lẫn về chủ thể, đối tượng và nội dung của hợp đồng với lỗi cố ý Khi có yêu cầu của bên chủ thể bị lừa dối thì Tòa án sẽ tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu

Trang 24

20

+ Sự đe dọa, cưỡng bức: Khác biệt so với sự nhầm lẫn và lừa dối bởi nếu

như nhầm lẫn và lừa dối thì chủ thể thực hiện việc ý chí ra bên ngoài một phần nào

đó đúng với mong muốn nhưng ý chí này bị tác động hoặc do nhận thức của bản thân dẫn đến không phù hợp với ý nguyện của chủ thể, tuy nhiên trong trường hợp đe dọa, cưỡng bước việc thể hiện ý chí ra bên ngoài của chủ thể tham gia bị

ép buộc, chống lại ý chí của bản thân mình, sự biểu hiện ý chí này là khác biệt so

với ý chí Điều 127 BLDS 2015 quy định: “Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân

sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình” Sự đe dọa,

cưỡng bức được thực hiện với lỗi cố ý, với mục đích là tác động vào ý chí của chủ thể còn lại, ép buộc chủ thể này phải xác định giao dịch dân sự trái với ý muốn của

họ Hành vi này phải đạt đến mức độ khiến chủ thể bên kia “sợ hãi” không còn sự lựa chọn nào khác nếu không sẽ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc người thân thích của mình Một điểm cần lưu ý là chủ thể thực hiện hành vi đe dọa hay cưỡng bước là bất kể ai có thể là chủ thể tham

giao giao kết hợp đồng hoặc bất cứ cá nhân nào khác Khi có yêu cầu của bên chủ thể bị đe dọa, cưỡng bức thì Tòa án sẽ tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu

+ Sự thiệt thòi, bất lợi: Pháp luật Việt Nam nói chung và BLDS 2015 nói

riêng không xem xét tới vấn đề thiệt thòi, bất lợi của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng, tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định pháp luật vẫn đề cập và điều chỉnh Ví dụ: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Điều 201 Bộ luật Hình

sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 Thiệt thòi có thể được hiểu là việc một bên trong giao kết hợp đồng không nhận được những lợi ích tương đương với những gì mà bên này phải thực hiện cho bên kia Error! Reference source not found.

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội: Nếu như điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS

Trang 25

21

2005 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là “Mục đích và nội

dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã

hội”; thì tại điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 đã thu hẹp phạm vi, giới hạn ràng buộc của điều kiện này theo đó “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” Quy định này thể hiện nguyên tắc cơ bản của BLDS đó là công dân có quyền thực hiện, làm những

gì mà luật không cấm được ghi nhận tại khoản 2 Điều 3 BLDS 2015: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ

sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên

và phải được chủ thể khác tôn trọng”

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó (Điều 118 BLDS) Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản, các cam kết xác định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể,

có tính chất rằng buộc các chủ thể khi tham gia giao kết Error! Reference source not found.

Trong giao dịch dân sự thì yếu tố tự do ý chí là một trong những nguyên tắc

cơ bản, đặc trưng của giao dịch dân sự Tuy nhiên sự tự do này không mang tính tuyệt đối mà bị ràng buộc trong khuôn khổ luật định Nếu chủ thể tham gia giao dịch không thực hiện, tuân theo sự ràng buộc này thì giao dịch dân sự không được pháp luật công nhận và không có giá trị ràng buộc các bên, khuôn khổ này được thể hiện:

+ Thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của luật:

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định (Điều 123 BLDS 2015) Nội dung này xuất phát từ lợi ích công cộng mà pháp luật sẽ có các quy định cụ thể liên quan đến việc cấm chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định Trong khoa học pháp lý trên thế giới coi đây là sự hạn chế tự do của chủ thể, bởi lẽ về bản chất pháp luật là công cụ bảo vệ

Trang 26

22

cho giai cấp thống trị và lợi ích chung của cộng đồng.Ví dụ: khoản 6 Điều 12 Luật đất đai năm 2014 quy định cấm hành vi: “Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền

sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

+ Thỏa thuận không được trái đạo đức xã hội: Bất kỳ điều khoản nào của

giao dịch dân sự trái đạo đức xã hội thì giao dịch dân sự đó cũng bị coi là vô hiệu

Để giao dịch dân sự có hiệu lực thì mục đích của giao dịch dân sự ngoài việc không vi phạm điều cấm cũng cần phải thỏa mãn điều kiện không trái đạo đức xã hội Mỗi xã hội có quan niệm của mình về đạo đức, nên không có đạo đức chung

mà chỉ có đạo đức xã hội Mặc dù khái niệm “đạo đức xã hội” đã được định nghĩa

cụ thể, rõ ràng trong BLDS 2015 có nội dung: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”.Tuy nhiên phạm trù “đạo đức” vẫn khá trừu tượng và không phải là bất biến, đôi khi phụ thuộc rất lớn vào nhận thức chủ quan của mỗi người Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, vấn đề như thế nào là hợp đồng trái “đạo đức xã hội”, hiện vẫn còn nhiều tranh cãi Có quan điểm cho rằng, qui phạm đạo đức là loại qui phạm vừa mang tính chủ quan của mỗi người, vừa mang tính xã hội và tính giai chấp sâu sắc Bên cạnh đó, đạo đức còn mang tính dân tộc và tính hiện đại Trong xã hội hiện đại, quan niệm xã hội về đạo đức đã được nâng lên một tầm cao mới Hơn nữa, thực tế vận dụng qui định này để tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong từng trường hợp cụ thể, là điều không đơn giản Cái khó nhất của việc xác định tính trái “đạo đức xã hội” là do khái niệm vừa không cụ thể về “định lượng”, vừa không rõ ràng về “định tính” Đây cũng là một vấn đề của thực tiễn cần được nghiên cứu và bổ sung cụ thể Error! Reference source not found.

- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định: Trước đây, BLDS 1995 coi hình thức

của giao dịch dân sự là điều kiện bắt buộc có hiệu lực của giao dịch dân sự, theo

đó tại khoản 4 Điều 131 BLDS 1995 quy định về các điều kiện có hiệu: “Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật” Điểm mới của BLDS 2005

Trang 27

23

khi quy định về hình thức của giao dịch chỉ xác định hình thức của giao dịch dân

sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nếu pháp luật có quy định Kế thừa nguyên tinh thần nội dung của BLDS 2005, BLDS 2015 ghi nhận Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định (khoản 2 Điều 117 BLDS 2015) Như vậy, về nguyên tắc nếu pháp luật không quy định hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 117 BLDS 2015

1.2 Những nội dung pháp lý cơ bản của hợp đồng vô hiệu do lừa dối

1.2.1 Khái niệm của hợp đồng vô hiệu do lừa dối

1.2.1.1 Khái niệm về lừa dối

Lừa dối là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày Theo cách nói thông thường, lừa dối là lừa bằng thủ đoạn nói dối, gian lận để làm cho người ta nhầm tưởng mà nghe theo, tin theo, ví dụ: thủ đoạn lừa dối của con buôn Error! Reference source not found. Theo ngôn ngữ pháp luật, lừa dối là một xảo thuật dùng để lừa gạt người khác Từ những lời lẽ gian dối đến mánh khóe xảo trá dùng để khiến người ta giao kết hợp đồng đều là lừa dối Error! Reference source not found. Cũng có cách hiểu: “Lừa dối là hành vi cố ý đưa thông tin sai không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật Nếu không có các thủ đoạn ấy thì bên kia sẽ không giao kết hợp đồng” Error! Reference source not found..Điều 127 BLDS 2015 quy định: “Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi

cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” Có thể hiểu, trong giao kết hợp đồng, lừa dối nhiều khi được

xem như nhầm lẫn của một bên do bị bên kia hoặc bên thứ ba cố ý gây nên Đối chiếu với quy định về nhầm lẫn tại Điều 126 BLDS 2015 thì phạm vi của lừa dối được xác định rộng hơn bao gồm cả sự nhầm lẫn của một bên về chủ thể, đối tượng và nội dung của hợp đồng do bên kia cố ý gây nên Vấn đề này, trước đây

Trang 28

24

đã được giải thích: “Đối với lừa dối vì là một sự nhầm lẫn do đối phương gây nên,

do đó nhà làm luật chấp nhận tì ố này một cách không hạn chế bởi cần bảo vệ ý chí của người bị người khác lừa hơn là ý chí của người tự làm mình nhầm lẫn”

Error! Reference source not found.

So sánh quy định của Điều 126 BLDS 2015 của Việt Nam có sự khác biệt

về quan niệm lừa dối với các quy định của Bộ luật dân sự Pháp 1804 và của các

Bộ luật dân sự của Việt Nam ở các chế độ cũ Điều 1116 Bộ luật dân sự Pháp

1804 quy định: “Sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nếu không có các thủ đoạn đó thì bên kia đã không ký kết hợp đồng

Sự lừa dối không được suy đoán mà phải được chứng minh”

Cũng có quan niệm như trên, Điều thứ 659 Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931 quy định: “Khi nào có một bên lập mưu đánh lừa bên kia, đến nỗi giá không có mưu

đó bên kia không giao – ước, thì sự đánh lừa đó là một duyên – cớ làm cho hiệp – ước vô hiệu” Quy định này được nhắc lại nguyên văn tại Điều thứ 695 Bộ luật Trung kỳ 1936 Nhưng Điều thứ 668 Bộ luật dân sự 1972 của chính quyền Sài Gòn cũ được diễn giải lại với nội dung tương tự nhau: “Sự gian trá chỉ là một nguyên nhân làm cho khế ước vô hiệu nếu những mưu gian, chước dối của một bên là nguyên nhân chính đã thúc đẩy bên kia kết ước”

Như vậy có thể thấy, có sự khác biệt theo hướng tiếp cận giữa quy định của BLDS 2015 của Việt Nam so với hướng tiếp cận các quy định của Bộ luật dân sự Pháp 1804 và của các Bộ luật dân sự của Việt Nam dưới các chế độ cũ khi các bộ luật này không xác định phạm vi của lừa dối và thu hẹp điều kiện liên quan tới người trong việc xác định lừa dối Nguyên nhân của việc thu hẹp các điều kiện của lừa dối có thể được lý giải do Luật La Mã coi tố quyền về sự lừa dối là một tố quyền phụ, chỉ có thể hành xử khi sự lừa dối xuất phát từ người đối ước, chứ không do một người thứ ba và các quan niệm này đã được Bộ luật dân sự Pháp

1804 kế thừa Error! Reference source not found

Trang 29

25

1.2.1.2 Khái niệm hợp đồng vô hiệu do lừa dối

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó (Điều 127 BLDS 2015)

Như vậy hợp đồng vô hiệu do lừa dối có thể được hiểu là việc Một bên trong hợp đồng hoặc người thứ ba dùng các mánh khóe, thủ đoạn làm cho đối phương hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tường hoặc nội dung và tham gia vào sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự thì sự thỏa thuận này không có giá trị

1.2.2 Cơ sở pháp lý để tuyên hợp đồng vô hiệu do lừa dối

Khi tham gia giao kết hợp đồng các chủ thể đều mong muốn, hướng tới một mục đích nhất định và pháp luật bảo hộ, hỗ trợ, tạo điều kiện để những mục đích này trở thành hiện thực Vì thế, để được pháp luật công nhận và bảo hộ, chủ thể giao kết hợp đồng phải tuân theo những điều kiện pháp lý nhất định mà pháp luật quy định Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi bảo vệ quyền và lơi ích hợp pháp tham gia giao dịch, những nội dung nào được bảo vệ những nội dung nào không được chấp nhận bảo vệ

Hợp đồng bị vô hiệu do lừa dối do vi phạm nguyên tắc cơ bản trong giao kết hợp đồng là nguyên tắc tự do ý chí Sự tự do ý chí được thể hiện bằng việc tự do suy nghĩ và thực hiện ý chí của mình ra bên ngoài dưới những hình thức nhất định theo đúng mong muốn, mục đích hướng tới Tự do ý chí là một yếu tố cơ bản không thể thiếu được trong hợp đồng Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối là giao dịch phát sinh từ hành vi cố ý, mục đích cố ý và động cơ không rõ ràng của bên lừa dối nhằm đạt được mục đích nhất định Lừa dối là thủ đoạn có tính toán trước của người lừa dối đối với người bị lừa dối nhằm làm cho người bị lừa dối hiểu sai vấn đề, dẫn đến quyết định một việc gì đó theo mục đích đã định sẵn của người lừa dối Thủ đoạn của người lừa dối có thể bằng lời nói, có thể bằng hành vi hoặc những mánh khóe, người lừa dối đưa ra thông tin sai lệch để làm cho

Trang 30

26

đối phương nhầm tưởng mà tin theo, tham gia vào giao dịch mà lẽ ra bình thường

họ không tham gia Bản thân chủ thể xác lập giao dịch có sự nhận thức không đúng về giao dịch dân sự bởi sự định hướng ý chí của chủ thể đến một nội dung khác có lợi cho người lừa dối Yếu tố lừa dối chính là nguyên nhân thúc đẩy dẫn đến đối phương tin và giao kết hợp đồng Theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, có thể đưa ra 5 tiêu chí để xác định một hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng “i) đưa ra thông tin sai lệch về một sự việc; ii) đưa ra thông tin biết rõ rằng thông tin đó sai lệch sự thật; iii) với chủ ý làm cho người nghe tin vào thông tin đó; iiii) nhận được thông tin đã tin tưởng vào thông tin đó và giao kết hợp đồng; iiiii) và qua việc giao kết hợp đồng đã xẩy ra thiệt hại cho người bị lừa dối” Lừa dối trong quan hệ hợp đồng là một yếu tố có thể làm cho hợp đồng vô hiệu, nhưng không phải mọi sự lừa dối đều dẫn đến hệ lụy này

1.2.3 Hậu quả pháp lý của việc tuyên hợp đồng vô hiệu do lừa dối

Theo từ điển Tiếng Việt thì hậu quả theo nghĩa thông thường là “kết quả không hay về sau” Error! Reference source not found. Như vậy, hậu quả trước hết phải là một kết quả và kết quả đó phải xảy ra từ một sự kiện, một hành vi nào đó, tức là hành vi, sự kiện và kết quả phải có mối quan hệ nhân quả với nhau, hành vi hay sự kiện là nguyên nhân dẫn tới kết quả Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì hành vi hay sự kiện với tính cách là nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả theo một trình tự thời gian và trong một không gian xác định Nói cách khác, hậu quả phải xuất hiện sau nguyên nhân Tuy nhiên, không phải tất cả kết quả đều

là hậu quả, mà ở đây chỉ có kết quả không hay mới được coi là hậu quả, kết quả này gây bất lợi cho cá nhân, tổ chức, hay cho cả nhân loại

Trong khoa học pháp lý chỉ những hành vi, sự kiện (mà nguyên nhân cũng

là do hành vi của con người) gây ra bất lợi cho cá nhân, tổ chức, hay cho cả nhân loại… và họ phải chịu hậu quả pháp lý nhất định nhưng phải được các nhà làm luật xác định hay dự liệu mới làm phát sinh hậu quả pháp lý Với cách tiếp cận trên thì hậu quả pháp lý có thể được hiểu là Kết cục tất yếu sẽ dẫn đến mà cá nhân, tổ chức

Trang 31

27

phải gánh chịu trong trường hợp vi phạm pháp luật Hậu quả pháp lý phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử nhất định và cũng phụ thuộc vào chế độ chính trị xã hội nhất định Vì pháp luật trong mọi thời đại về bản chất là một hiện tượng mang tính giai cấp sâu sắc Pháp luật là hình thức pháp lý của chuyên chính giai cấp, là công cụ duy trì xã hội trong sự phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị Nên có những trường hợp cùng một sự kiện hay một hành vi, nếu xảy ra ở thời điểm này thì hậu quả xảy ra không coi là hậu quả pháp lý, nhưng ở thời điểm khác coi là hậu quả pháp lý hoặc với cùng một sự kiện gây hậu quả như nhau ở nơi này coi là hậu quả pháp lý, nhưng ở nơi khác lại không coi là hậu quả pháp lý

Với mỗi chuyên ngành luật khác nhau (dân sự, hình sự, hành chính ) mà các nhà làm luật đặt ra những hậu quả pháp lý khác nhau Đối với ngành luật hình

sự khi chủ thể tham gia thực hiện những hành vi mà Bộ luật hình sự coi đó là tội phạm và được quy định trong luật hình thì chủ thể đó bị coi là tội phạm và phải gánh chịu hậu quả pháp lý mới những mức độ khác nhau tùy theo tính chất mức

độ, sự nguy hiểm và hậu quả của hành vi gây ra, có thể là phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân và mức cao nhất có thể bị tử hình Như vậy, nhà làm luật xây dựng mức chế tài đối với ngành luật là cao nhất có thể tước

đi những quyền cơ bản của công dân là quyền tự do làm việc, đi lại và thậm chí cả tính mạng mỗi cá nhân

Khác biệt so với ngành hình sự, trong ngành dân sự thì khi thực hiện hành

vi mà pháp luật dự liệu dẫn đên xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác thì chủ thể xâm phạm phải gánh chịu hậu quả gây bất lợi, thiệt hại về tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của chủ thể gây thiệt hại

Trong trường hợp cụ thể, hành vi lừa dối trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì hậu quả pháp lý có thể chỉ tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu; hậu quả của việc tuyên hợp đồng vô hiệu là đưa các bên trong quan hệ này về trạng thái ban đầu khi họ chưa bao giờ giao kết một hợp đồng như vậy Error! Reference source not found.

Trang 32

28

Nhưng cũng có thể người có hành vi lừa dối vừa phải chịu hậu quả pháp lý do luật dân sự điều chỉnh và vừa phải chịu hậu quả pháp lý do luật hình sự điều chỉnh bằng hình phạt tù

Các nhà làm luật hiện nay đều thống nhất và nhất quán trong quan điểm quy định nội dung hậu quả pháp lý của tuyên hợp đồng vô hiệu nói chung và hợp đồng

vô hiệu do lừa dối nói riêng là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự đối với các bên từ thời điểm xác lập Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu nói chung và của giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối nói riêng

có thể được hiểu là những hệ quả pháp lý phát sinh theo quy định của pháp luật trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu Hậu quả pháp lý này đối với trường hợp hợp đồng vô hiệu do lừa dối chỉ phát sinh khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trên cơ sở một quyết định, bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật Cơ sở để xác định hậu quả pháp lý có thể được pháp luật dân sự quy định trước hoặc do các bên tham gia giao dịch thỏa thuận Khi xảy ra hành vi vi phạm, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ra quyết định áp dụng biện pháp chế tài, thậm chí không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch, nếu các bên không thỏa thuận được Quyết định của Tòa án là cơ sở làm cho hợp đồng trở nên vô hiệu Quyết định của Toà án mang tính chất quyết định sự có hiệu lực hay không có hiệu lực của hợp đồng Tòa án tiến hành giải quyết các vụ việc khi có đơn yêu cầu của các bên (hoặc đại diện hợp pháp của họ) bên yêu cầu phải

có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa các cơ sở yêu cầu Dựa trên những minh chứng

đó, Tòa án mới cân nhắc để ra quyết định hợp đồng có bị vô hiệu hay không chỉ khi Tòa án tuyên bố thì một hợp đồng mới bị xác định là vô hiệu, và tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu của Tòa án khiến hợp đồng ấy trở nên vô hiệu, có nghĩa là:

- Chấm dứt thực hiện hợp đồng: Khi một hợp đồng vô hiệu do lừa dối,

không có giá trị pháp lý tại thời điểm ký kết Do vậy, không có giá trị bắt buộc đối với các bên tham gia giao dịch, nghĩa là các bên không còn ràng buộc bởi quyền

và nghĩa vụ với nhau Nói cách khác, khi hợp đồng vô hiệu do lừa dối thì quyền và

Trang 33

29

nghĩa vụ của mỗi bên không được pháp luật bảo vệ Nếu mới xác lập chưa thực hiện thì các bên không được thực hiện, còn trong trường hợp đang thực hiện thì các bên không được thực hiện nữa Quan điểm này của các nhà làm luật Việt Nam được ghi nhận tại khoản 1 Điều 131 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập”

- Xác định thiệt hại, bồi thường thiệt hại: Đây cũng là vấn đề quan trọng mà

hậu quả của hợp đồng vô hiệu do lừa dối mang lại đó là vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên có lỗi gây ra hợp đồng vô hiệu, hay nói cách khác chủ thể thực hiện hành vi lừa dối có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với thiệt hại thực tế, bởi điều đó bảo vệ trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên tham gia giao dịch, bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba Trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải dựa vào yếu tố lỗi của các chủ thể tham gia giao dịch Thông thường đối với tât cả các hợp đồng vô hiệu, pháp luật quy định bên nào có lỗi thì phải bồi thường cho bên không có lỗi, nếu cả hai bên cùng

có lỗi thì mỗi bên tự chịu phần thiệt hại của mình nên quy định này cũng được áp dụng trong trường hợp hợp đồng vô hiệu do lừa dối

- Hậu quả pháp lý theo thỏa thuận của các chủ thể được tòa án công nhận:

Trong pháp luật dân sự nguyên tắc tự do cam kết, tự do thỏa thuận là nguyên tắc đặc trưng, xuất phát từ tính độc lập về sở hữu, tính tự chủ và độc lập về tài sản, tự chịu trách nhiêm về tài sản của các chủ thể Do vậy nguyên tắc tự thỏa thuận trở thành nguyên tắc cơ bản và bao trùm toàn bộ ngành luật dân sự, được quy định cụ thể tại Điều 3 BLDS 2015 Sự thỏa thuận của các đương sự có ý nghĩa rất lớn không chỉ có ý nghĩa đối với nội dung kết quả giải quyết vụ án, giúp vụ án được giải quyết triệt để, hiệu quả, tiết kiệm chi phí ngoài ra kết quả hòa giải thành góp phần hàn gắn những rạn nứt tình cảm, giữ gìn mối quan hệ đại đoàn kết trong nhân dân Vì thế mà trong việc giải quyết các hậu quả pháp lý do các giao dịch dân sự

Trang 34

30

vô hiệu mang lại rất cần sự thỏa thuận của các bên đương sự và việc hòa giải, thỏa thuận này được khuyến khích thực hiện trong mọi quá trình, giai đoạn tố tụng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua sự phân tích trên, có thể thấy quy định về hợp đồng vô hiệu do lừa dối

và các quy định có liên quan trong BLDS 2015 có khá nhiều điểm mới quan trọng

so với BLDS 2005 Sự thay đổi này phù hợp trong giai đoạn có nhiều sự thay đổi

về chính sách pháp luật như hiện nay, nhằm đáp ứng nhu cầu vận động và thay đổi không ngừng của các giao lưu dân sự, kịp thời điều chỉnh, tạo khuôn khổ pháp lý, thúc đẩy quá trình áp dụng pháp luật được chính xác, hiệu quả

Trang 35

31

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO LỪA DỐI

2.1 Thực trạng quy định của BLDS 2015 về hợp đồng vô hiệu do lừa dối

Theo xu hướng chung, hiện nay các nước trên thế giới đều xây dựng BLDS theo chuẩn mực là Đạo luật gốc, đạo luật làm nên nền tảng chung cho hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ mang yếu tố “thỏa thuận – tự nguyện” hay nói các khác các quan hệ mang tính dân sự BLDS 2015 với phạm vi điều chỉnh rộng quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (Điều 1 BLDS 2015) Theo đó quy định về giao dịch dân sự là quy định chung và áp dụng cho cả chương quy định về hợp đồng

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật Dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân

sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó, ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các

Trang 36

32

quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng Pháp luật hợp đồng trong BLDS 2015 hiện nay tập trung vào các nội dung:

Thứ nhất, về khái niệm hợp đồng: Như đã phân tích ở phần trên, Điều 385

BLDS 2015 đưa ra khái niệm hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Thứ hai, về hình thức hợp đồng: Về nguyên tắc, các bên có quyền tự do

quyết định hình thức của hợp đồng Hình thức hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản (văn bản không công chứng, chứng thực hoặc văn bản có công chứng, chứng thực) hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ một số trường hợp pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được thể hiện bằng hình thức nhất định nhằm đảm bảo trật tự công, ví dụ như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực

Bên cạnh các hình thức truyền thống, để đáp ứng nhu cầu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các quan hệ xã hội, pháp luật cũng ghi nhận hình thức của hợp đồng có thể được thể hiện thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu và hình thức này được coi là hợp đồng bằng văn bản Trong trường hợp pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác thì nhìn chung, hợp đồng không bị coi là vô hiệu nếu có vi phạm về hình thức

Thứ ba, về hiệu lực của hợp đồng: Theo quy định của Điều 401 BLDS thì

hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết trừ trường

có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Tuy nhiên, BLDS lại không quy định thế nào là "hợp đồng được giao kết hợp pháp", do đó phải áp dụng Điều

117 BLDS về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự để xác định hợp đồng được giao kết hợp pháp, chỉ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực này thì hợp đồng mới được coi là được giao kết hợp pháp Từ thời điểm hợp đồng có hiệu

Trang 37

33

lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy

định của pháp luật

Thứ tư, về nội dung hợp đồng: Hợp đồng được hình thành dựa trên quyền tự

do ý chí, tự do thỏa thuận của các bên về nội dung hợp đồng Việc xây dựng các tiêu chí, nội dung do các bên quyết định dựa trên mục đích và đối tượng của hợp đồng Điều 398 BLDS 2015 đã gợi mở các nội dung có thể có trong hợp đồng bao gồm các nội dung:

- Đối tượng của hợp đồng;

- Số lượng, chất lượng;

- Giá, phương thức thanh toán;

- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

- Quyền, nghĩa vụ của các bên;

- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

- Phương thức giải quyết tranh chấp

Thứ năm, về chấm dứt hợp đồng và trách nhiệm của bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng: Theo quy định của BLDS thì hợp đồng chấm dứt trong các trường

hợp sau:

- Hợp đồng đã được hoàn thành: đó là khi các bên đã thực hiện xong các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, khi đó hợp đồng chấm dứt

- Theo thỏa thuận của các bên: Các chủ thể trong hợp đồng có toàn quyền tự

do trong thỏa thuận việc giao kết, thay đổi, sửa đổi, bổ sung và chấm dứt hợp đồng Khi hợp đồng rơi vào các trường hợp dự liệu được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là chấm dứt thì hợp đồng chấm dứt

- Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện: Đây là loại hợp đồng mà người có nghĩa vụ, do tính chất đặc thù, phải tự họ thực hiện mà không thể chuyển giao cho người khác

Trang 38

34

- Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện: Một bên trong hợp đồng có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại cho bên kia khi Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận; Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng và các trường hợp khác do luật quy định (các trường hợp khác do luật quy định có thể là trường hợp: Hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ (Điều 424 BLDS); Hủy bỏ hợp đồng do không

có khả năng thực hiện (Điều 425 BLDS); Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng (Điều 426 BLDS)) Tuy nhiên, bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

Thứ sáu, Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng: Điều 429 BLDS 2015 quy định:

“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm,

kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” Bên cạnh việc kéo dài thời hiệu khởi kiện về hợp đồng từ

02 năm lên 03 năm; BLDS 2015 đã sửa đổi ngày bắt đầu tính thời hiệu là kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (BLDS 2005 quy định ngày bắt đầu tính thời hiệu là kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm) việc thay đổi này là phù hợp góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các

cá nhân, pháp nhân một cách toàn diện

Trong Pháp luật hợp đồng hiện hành, các quy định về hợp đồng vô hiệu chủ yếu là trong BLDS 2015 và được điều chỉnh trực tiếp bởi các điều 117; các điều từ

122 đến 133 Ngoài ra, có một số quy định về hợp đồng vô hiệu mang tính giải

Trang 39

35

pháp như điều 408 BLDS 2015 Các quy định ở phần này đã thể hiện khá chi tiết các nội dung liên quan hợp đồng vô hiệu, các quy định này thể hiện các nội dung chính sau:

Thứ nhất, về Hợp đồng vô hiệu: Do hợp đồng là một hình thức của giao dịch

dân sự nên theo quy định tại Điều 407 BLDS 2015 về hợp đồng vô hiệu đã liên hệ

áp dụng các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu quy định từ Điều 123 đến Điều

133 Bộ luật dân sự Các trường hợp hợp đồng vô hiệu:

- Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều

123 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do giả tạo (Điều 124 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129 BLDS);

Ngoài các quy định trên, BLDS còn có quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 408 BLDS 2015), đó là trong trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được Quy định trên cũng được áp

Ngày đăng: 19/06/2018, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Tuấn Anh (2007), Phân loại hợp đồng vô hiệu, Luận Văn Thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại hợp đồng vô hiệu
Tác giả: Hoàng Tuấn Anh
Năm: 2007
2. Nguyễn Mạnh Bách (2004), Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bách
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
4. Bộ Dân luật Sài Gòn (1972) 5. Bộ Dân luật Trung Kỳ (1936) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Dân luật Sài Gòn "(1972) 5. "Bộ Dân luật Trung Kỳ
7. Bộ luật hình sự Việt Nam (2015 sửa đổi bổ sung năm 2017) 8. Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Việt Nam (2015 sửa đổi bổ sung năm 2017) "8
9. PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình luật hợp đồng phần chung, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hợp đồng phần chung
Nhà XB: nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội
10. Nguyễn Văn Cường (2005), Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2005
12. TS. Đỗ Văn Đại (2010), Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án
Tác giả: TS. Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
13. Phạm Bá Đông (2013), Một số vấn đề về hợp đồng dân sự vô hiệu - thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận Văn Thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hợp đồng dân sự vô hiệu - thực trạng và hướng hoàn thiện
Tác giả: Phạm Bá Đông
Năm: 2013
16. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, in lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước
17. Phạm Ngọc Minh (2006), Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu, Luận Văn Thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu
Tác giả: Phạm Ngọc Minh
Năm: 2006
18. TS. Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập một, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập một
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
19. Lê Thị Bích Thọ(2001), Lừa dối – Yếu tố vô hiệu hợp đồng kinh tế, Tạp chí khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lừa dối – Yếu tố vô hiệu hợp đồng kinh tế
Tác giả: Lê Thị Bích Thọ
Năm: 2001
20. TS. Nguyễn Minh Tuấn, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
23. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
24. Unidroit (2005), Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, (Bản dịch tiếng Việt với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ), Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế
Tác giả: Unidroit
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
25. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2001), Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2001
26. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2001), Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2001
27. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2002), Bộ luật Dân sự Quebec (Canada), (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự Quebec (Canada)
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2002
28. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
29. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin 30. http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=270. 26/07/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin 30. http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=270. 26/07/2016
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w