1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm ngôn ngữ pháp luật qua bộ luật dân sự bằng tiếng hán của trung quốc và bằng tiếng việt của việt nam tt

28 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 501,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây chính là lý do chúng tôi chọn “Đặc điểm ngôn ngữ pháp luật qua Bộ luật Dân sự bằng tiếng Hán của Trung Quốc và bằng tiếng Việt của Việt Nam” làm đề tài luận án.. 2.2 Nhiệm vụ nghiên

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI

VIỆNAM

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Nguyễn Văn K an

Phản biện 1: GS.TS Lê Quang Thiêm

Phản biện 2: GS.TS Đỗ Việt Hùng

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2017

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

D H C C C CÔ G T H KH HỌC CỦ T C GI

LIÊ U ĐẾ UẬ

1 Vũ Thị Minh Huyền (2017), "Một số vấn đề về Ngôn ngữ học pháp

luật", Tạp chí Ngôn Ngữ và đời sống số 2 (256) -2017, Tr 40-43

2 Vũ Thị Minh Huyền (2017), “Đặc điểm của câu đƣợc sử dụng trong

Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 và Bộ luật Dân sự Trung Quốc 2012,

xét theo mục đích phát ngôn”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư

số 2 (46), tháng 3-2017, Tr 98 -104

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI

Văn bản pháp luật có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và pháp luật là một trong những nội dung đang nhận đƣợc sự quan tâm của Ngôn ngữ học xã hội Trong đó có nội dung quan trọng là ngôn ngữ sử dụng trong các bộ luật Việt Nam chƣa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Việc đối chiếu với các ngôn ngữ khác lại càng ít, đặc biệt là đối chiếu ngôn ngữ pháp luật giữa tiếng Hán và tiếng Việt hầu nhƣ chƣa có Đây chính là lý do chúng tôi chọn “Đặc điểm ngôn ngữ pháp luật qua Bộ luật Dân sự bằng tiếng Hán của Trung Quốc và bằng tiếng Việt của Việt Nam” làm đề tài luận án

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

dựng luật

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học pháp luật ở Việt Nam và Trung Quốc; (2) Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết liên quan đến

đề tài, cụ thể là lý thuyết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và pháp luật, lý thuyết về từ và câu trong ngôn ngữ pháp luật giữa tiếng Hán và tiếng Việt; (3) Chỉ ra các đặc điểm về cấu trúc văn bản, về từ vựng, ngữ pháp và ngữ nghĩa trong hai bộ luật; (4) Chỉ ra các đặc điểm giống nhau và khác nhau về ngôn ngữ trong bộ luật dân sự bằng tiếng Hán của Trung Quốc và bằng tiếng Việt của Việt Nam

3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

-Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong luật Luận án giới hạn ở hai bộ luật: (1) “Bộ luật Dân sự”của Trung Quốc: nguyên văn là中华人民共和国民事法典 (Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc dân

Trang 5

sự pháp điển), 1986; (2) Bộ luật Dân sự Việt Nam: nguyên văn là “Bộ luật Dân sự, 2005”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

-Phạm vi nghiên cứu là từ và câu trong Bộ luật Dân sự Trung Quốc và Bộ

luật Dân sự Việt Nam

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

-Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: phương pháp

phân tích văn bản, phương pháp phân tích diễn ngôn, phương pháp định lượng, phương pháp miêu tả, phương pháp đối chiếu ngôn ngữ, thủ pháp so

sánh Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như thủ pháp thống kê, diễn dịch, quy nạp… để phân tích, miêu tả đặc điểm của ngôn ngữ

sử dụng trong hai bộ luật

5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

Luận án sẽ góp phần cung cấp lý luận về ngôn ngữ học pháp luật, về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản pháp luật tiếng Hán và tiếng Việt, cụ thể là trong

Bộ luật Dân sự bằng tiếng Hán của Trung Quốc và bằng tiếng Việt của Việt

-Góp phần vào việc xây dựng những vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học pháp luật, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và pháp luật, chỉ ra các đặc điểm chung

và đặc điểm riêng của ngôn ngữ trong Bộ luật Dân sự Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1986 và Bộ luật Dân sự Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005

Trang 6

Chương 3: Đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật về mặt câu qua Bộ luật Dân sự bằng tiếng Hán của Trung Quốc và bằng tiếng Việt của Việt Nam

C ươn 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật trên thế giới

1.1.1.1 Nghiên cứu từ trước những năm 70 của thế kỷ 20

-Trước những năm 70, chủ yếu tập trung nghiên cứu ngôn ngữ lập pháp và văn bản pháp luật, chú trọng nhất vẫn là nghiên cứu đặc điểm sử dụng từ, kết cấu cú pháp và đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật Đại diện tiêu biểu cho cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật trước năm 70 là David Mellinkoff Ngoài David Mellinkoff ra, còn có Crystal và Daly (1969)

1.1.1.2 Nghiên cứu sau những năm 70 của thế ký 20

-Nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật trên thế giới có rất nhiều điểm đạt được thành tựu đáng kể đó là: (1) Chú trọng điều tra điền dã; (2) Chú trọng ngữ liệu ngữ âm tại hiện trường thực tế; (3) Chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ và quyền lợi pháp luật; (4) Chú trọng nghiên cứu đứng từ nhiều góc độ khác nhau; (5) Chú trọng nghiên cứu ứng dụng

1.1.1.3 Xu thế phát triển của ngôn ngữ học pháp luật trên thế giới

-Tập trung vào các lĩnh vực: xây dựng lý luận; phương pháp luận; thực tiễn

và ứng dụng

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật ở Việt Nam

-Lê Hùng Tiến (1999) với luận án "Một số đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật

tiếng Việt", có thể được coi là người đầu tiên nghiên cứu về ngôn ngữ pháp

luật với tư cách là một thể loại diễn ngôn độc lập Tiếp theo đó là các công trình của Dương Thị Hiền (2008), Nguyễn Thị Hà (2011), Nguyễn Văn Khang (2012), Nguyễn Thị Ly Na (2012, 2013) Năm 2014, Lương Thị Hiền

đã chuyển sang một khía cạnh nghiên cứu khác về ngôn ngữ pháp luật, đó là

sự biểu thị quyền lực của các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp pháp đình - hoạt động xét xử của tòa án Tuy nhiên, tác giả cũng chưa mạnh dạn khẳng định ngôn ngữ học pháp luật là một ngành khoa học độc lập,

có đối tượng và đặc điểm riêng biệt mà vẫn xếp chúng trong phạm vi của ngôn ngữ giao tiếp hành chính (hiểu theo nghĩa rộng) Năm 2014, Nguyễn Văn Khang đã khẳng định:Ngôn ngữ học pháp luật ở Việt Nam là một ngành khoa học độc lập, có đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu riêng "Ngôn ngữ pháp luật thuộc nội dung nghiên cứu của ngôn ngữ học pháp luật Ngôn ngữ học pháp luật là một phân ngành khoa học liên ngành giữa khoa học pháp lí

và ngôn ngữ học Đối tượng nghiên cứu của nó là ngôn ngữ được sử dụng trong pháp luật Chúng tôi nhận thấy rằng Ngôn ngữ học pháp luật có đối

Trang 7

tượng nghiên cứu riêng, mục đích nghiên cứu riêng; tiếp thu quan điểm của các nhà Ngôn ngữ học trên thế giới, của Nguyễn Văn Khang khẳng định đề tài là một hướng nghiên cứu của Ngôn ngữ học pháp luật - một phân ngành

đã và đang có nhiều hướng nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.3 Nhận xét và hướng nghiên cứu của luận án

-Tiến hành khảo sát, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong Bộ luật Dân sự Trung Quốc và Bộ Luật Dân sự Việt Nam, nhằm chỉ ra đặc điểm khái quát cũng như đặc điểm riêng về ngôn ngữ pháp luật; chỉ ra các đặc điểm giống nhau, khác nhau về đặc điểm ngôn ngữ trong hai bộ luật bằng tiếng Hán và tiếng Việt Thông qua đó, luận án góp phần vào xây dựng những vấn đề lý thuyết về Ngôn ngữ học pháp luật, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và pháp luật, chỉ ra các đặc điểm chung và riêng của mỗi ngôn ngữ được dùng để xây

dựng luật

1.2 Cơ sở lý thuyết của luận án

1.2.1 Những vấn đề chung của Ngôn ngữ h c pháp luật

1.2.1.1 Khái niệm Pháp luật và Ngôn ngữ pháp luật

a Khái niệm Pháp luật

-Với nghĩa hẹp, Pháp luật dùng để chỉ “Tổng thể những quy tắc hành vi do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được thực hiện bởi

sự đảm bảo của nhà nước” Với nghĩa rộng, khái niệm pháp luật tương đối khó xác định Theo 梁治平 (Lương Trị Bình): “Về nghĩa rộng nói chung mà nói, mỗi một định nghĩa về pháp luật đều là một cách giải thích về pháp luật”

“Pháp luật được sáng tạo ra trong một thời gian, địa điểm và trường hợp khác nhau, do các nhóm người khác nhau sáng tạo ra dựa trên những ý tưởng khác nhau Con người khi biên soạn luật của riêng mình, gửi gắm cả trí tưởng tượng, tín ngưỡng, yêu ghét, cảm xúc và định kiến của mình vào trong đó…Pháp luật do con người lập ra cũng đồng thời thể hiện sự lựa chọn và mục đích văn hóa cụ thể, nó giới hạn sự tăng trưởng của pháp luật nói chung, quy định hướng phát triển của pháp luật”

b Khái niệm Ngôn ngữ pháp luật

-Theo 宋北平 (Tống Bắc Bình): “Ngôn ngữ pháp luật là hệ thống ký hiệu biểu đạt ý nghĩa pháp luật Ngôn ngữ tức là ký hiệu, như vậy bao gồm cả ba loại ký hiệu là tần số âm thanh, thị tần và hành vi.” 孙懿华(Tôn Ý Hoa ) khi

đề cập đến khái niệm “Ngôn ngữ pháp luật” đã cho rằng: “Để đáp ứng nhu cầu giao tiếp đặc biệt trong phạm vi pháp luật, từ ngôn ngữ chung của toàn dân sẽ phân chia ra “Biến thể cộng đồng”

c Mối quan hệ giữa Ngôn ngữ và Pháp luật

-Pháp luật được thể hiện bằng Ngôn ngữ

Trang 8

-Hệ thống pháp luật giống như hệ thống ngôn ngữ

-Thực tiễn pháp luật chính là thực tiễn thuyết phục mọi người thông qua ngôn ngữ

-Tư duy pháp luật bằng ngôn ngữ

1.2.2 Những vấn đề cụ thể của Ngôn ngữ h c pháp luật

1.2.2.1 Lý do hình thành của bộ môn Ngôn ngữ học pháp luật

Thứ nhất là sự phát triển của ngữ dụng học

Thứ hai là sự phát triển của Ngôn ngữ học tâm lý và Ngôn ngữ học xã hội Thứ ba là sự phát triển của ngôn ngữ học

1.2.2.2 Sự phát triển của bộ môn Ngôn ngữ học pháp luật

-Sự phát triển của bộ môn Ngôn ngữ học pháp luật được thể hiện ở ba phương diện: chương trình học có liên quan đến ngôn ngữ và pháp luật của các trường đại học trên thế giới; hướng nghiên cứu bộ môn Ngôn ngữ học

pháp luật; trọng tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ trên thế giới

1.2.2.3 Phân loại bộ môn Ngôn ngữ học pháp luật

-Theo Levi, Ngôn ngữ học pháp luật được chia thành sáu lĩnh vực lớn: (1) Ngôn ngữ học tâm lý; (2) Ngôn ngữ học xã hội; (3) Ngữ dụng học và phân tích kết cấu; (4) Ngữ nghĩa học; (5) Từ ngữ và cú pháp; (6) Ngữ âm học

và âm vị học Theo 吴伟平 (Ngô Vĩ Bình), Ngôn ngữ học pháp luật được chia thành ba lĩnh vực lớn là: nghiên cứu văn nói, nghiên cứu văn viết và nghiên cứu song ngữ

1.2.2.4 Đặc điểm của Ngôn ngữ học pháp luật

(1) Tính khái quát và chuẩn xác; (2) Tính nhất quán và tính linh hoạt; (3) Tính rõ ràng và hàm ẩn; (4) Tính chuyên môn và thông dụng; (5) Tính đơn giản và tính phức tạp; (6) Tính chủ quan và khách quan

1.3 Giới thiệu khái quát về “Bộ luật Dân sự Trung Quốc, 1986” và “Bộ luật Dân sự Việt Nam, 2005”

1.3.1 Giới thiệu khái quát về “Bộ luật Dân sự Trung Quốc (中华人民共和国民事法典Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc dân sự

pháp điển), 1986”

Bộ luật gồm các phần sau:

Chương 1: nguyên tắc cơ bản

Chương 2: công dân

Chương 3: pháp nhân

Chương 4: hành vi pháp luật dân sự và đại diện

Chương 5: quyền lợi dân sự

Chương 6: trách nhiệm dân sự

Chương 7: thời hiệu tố tụng

Chương 8: quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Trang 9

Chương 9: điều khoản bổ sung

1.3.2 Giới thiệu khái quát về “Bộ luật Dân sự Việt Nam, 2005”

Bộ luật gồm các phần sau:

+Phần những quy định chung

+Phần thứ hai: tài sản và quyền sở hữu

+Phần thứ ba: nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự

+Phần thứ tư: thừa kế

+Phần thứ năm: quy định về chuyển quyền sử dụng đất

+Phần thứ sáu: quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ+Phần thứ bẩy: quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

1.4 TIỂU KẾT CHƯƠ G 1

Chương này trình bày ba nội dung Một là, trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu, trong đó khái quát tình hình nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật trên thế giới và Việt Nam Từ đó, nhận xét và nêu ra hướng nghiên cứu của luận án Hai là, trình bày cơ sở lý luận của luận án gồm những vấn đề chung

và những vấn đề cụ thể của ngôn ngữ học pháp luật Ba là, giới thiệu khái quát “Bộ luật Dân sự Trung Quốc, 1986” và “Bộ luật Dân sự Việt Nam, 2005”

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và pháp luật trở thành một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ pháp luật, là một vấn đề cần giải quyết đầu tiên khi nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật Sự vật mà không được định nghĩa bằng ngôn ngữ thì sẽ không thể tưởng tượng ra được, không thể tồn tại được vì ngôn ngữ có khả năng biểu đạt cả thế giới Pháp luật là quy tắc trật tự cho sinh hoạt xã hội, cần phải dùng ngôn ngữ để ghi chép lại cho đời sau và truyền đạt lại các yêu cầu của quy phạm pháp luật Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và pháp luật là một thể thống nhất được hình thành từ chính sự hòa hợp và mâu thuẫn Nghiên cứu ngôn ngữ và pháp luật cuối cùng cũng chính là vì mong muốn mang đến nhiều lợi ích cho việc vận dụng pháp luật trong cuộc sống Dựa trên các lý thuyết về khái niệm ngôn ngữ và khái niệm pháp luật, mối quan

hệ giữa ngôn ngữ và pháp luật, đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật, chúng tôi

sẽ tiếp tục làm rõ đặc điểm từ và câu trong Bộ luật Dân sự bằng tiếng Hán của Trung Quốc và bằng tiếng Việt của Việt Nam ở các chương tiếp theo của luận án

C ươn 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ PHÁP LUẬT VỀ MẶT TỪ QUA BỘ LUẬT DÂN SỰ BẰNG TIẾNG HÁN CỦA

TRUNG QUỐC VÀ BẰNG TIẾNG VIỆT CỦA VIỆT NAM

2.1 Một số vấn đề về từ

Trang 10

2.1.1 Những đặc điểm chung về từ

2.1.1.1 Khái niệm từ

Trang 11

-Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, có ý nghĩa định danh, dùng để tạo câu

Hay nói một cách khác, từ chính là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách

khỏi chuỗi âm thanh lời nói, có cấu trúc chặt chẽ và ý nghĩa đầy đủ

2.1.1.2 Đặc điểm của từ

-Cấu trúc âm thanh của từ khá ổn định, có thể tách cấu trúc âm thanh ra khỏi chuỗi lời nói nhờ vào các yếu tố siêu đoạn tính.Cấu trúc hình thức của từ tương đối chặt chẽ, không dễ dàng bị phá vỡ bởi các cách thức như chêm xen các yếu tố khác vào giữa các bộ phận của chúng Từ là một loại đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ Tính có sẵn của từ thể hiện ở chỗ chúng được tạo ra, được chấp nhận và được lưu giữ trong toàn thể cộng đồng ngôn ngữ Con người cần phải ghi nhớ các từ và sử dụng chúng đúng như ý nghĩa mà chúng tồn tại trong toàn thể cộng đồng

2.1.1.3 Phương thức cấu tạo từ

a Phương thức cấu tạo từ đơn

-Từ góc độ ngữ pháp, từ đơn được cấu tạo bằng ngữ tố Tức là, sử dụng phương thức tác động vào ngữ tố để tạo thành từ

b Phương thức cấu tạo từ phức

-Phương thức phụ gia: là phương thức kết hợp một căn tố hoặc một phức thể căn tố với phụ tố để tạo ra từ mới

-Phương thức ghép: là phương thức kết hợp các ngữ tố cùng tính chất với nhau (mà chủ yếu là căn tố với nhau) theo một trật tự nhất định để tạo ra từ mới-từ ghép

-Phương thức láy: là phương thức lặp lại toàn bộ hay một bộ phận từ gốc để

tạo ra từ mới

2.1.1.4 Đặc điểm vể nguồn gốc của từ

a Từ bản ngữ

-Xét về nguồn gốc, từ được chia làm hai loại là từ bản ngữ và từ ngoại lai

Có thể khẳng định, từ bản ngữ là từ của chính ngôn ngữ đó, không chịu ảnh

hưởng của các yếu tố ngôn ngữ khác Từ bản ngữ được chia làm hai loại:

+Từ bản ngữ có nguồn gốc từ xa xưa, gồm các đơn vị từ vựng đã được tạo ra trong thời kì hình thành dân tộc hoặc trước đó Loại này gồm các từ ngữ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm gắn liền với đời sống hàng ngày +Từ bản ngữ mới được tạo ra, gồm các từ ngữ được tạo ra bằng các yếu tố thuần tuý bản ngữ theo quy tắc cấu tạo của bản ngữ

b Từ ngoại lai

-Từ ngoại lai là những từ mượn từ ngôn ngữ khác Các yếu tố nước ngoài khi nhập vào một ngôn ngữ phải tuân thủ hàng loạt các nguyên tắc của hệ thống ngôn ngữ đó Đó là sự đồng hoá Một số cách vay mượn từ: dịch nghĩa, phiên

âm, chuyển tự, mượn nguyên dạng của nguyên ngữ

2.1.2 Những đặc điểm chung của từ tiếng Hán

Trang 12

2.1.2.1 Khái niệm của từ tiếng Hán

-Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng sử dụng độc lập, là đơn vị ngôn ngữ cao hơn so với ngữ tố Từ do ngữ tố cấu tạo nên, có từ do một ngữ tố cấu tạo nên

2.1.2.2 Đặc điểm của từ tiếng Hán

-Hình thức ngữ âm của từ là cố định và duy nhất

-Ý nghĩa của từ rõ ràng và hòa hợp

2.1.2.3 Phương thức cấu tạo từ tiếng Hán

-Từ được cấu tạo bởi các ngữ tố Từ do một ngữ tố cấu tạo được gọi là từ đơn, từ do hai hoặc hơn hai ngữ tố cấu tạo nên được gọi là từ ghép

a.Từ đơn

-Từ láy: là từ được tạo bởi 2 âm tiết khác nhau, giống nhau về vần để biểu thị một ý nghĩa mà không thể tách rời thành từ có 2 ngữ tố Trong đó, có từ lặp lại âm đầu

-Từ điệp vần: được cấu tạo bởi các âm tiết không cấu tạo ngữ tố trùng lặp, nó chỉ là từ do một ngữ tố cấu tạo nên

-Từ mượn dịch âm

b Từ ghép

(1) Kiểu phức hợp; (2) Kiểu trùng lặp; (3) Kiểu phụ thêm

2.1.2.4 Đặc điểm vể nguồn gốc của từ tiếng Hán

a Từ bản ngữ

-Từ bản ngữ là từ của chính ngôn ngữ đó, không chịu ảnh hưởng của các yếu

tố ngôn ngữ khác Từ bản ngữ được chia làm hai loại:

+Từ bản ngữ có nguồn gốc từ xa xưa, gồm các đơn vị từ vựng đã được tạo ra trong thời kì hình thành dân tộc hoặc trước đó Loại này gồm các từ ngữ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm gắn liền với đời sống hàng ngày +Từ bản ngữ mới được tạo ra, gồm các từ ngữ được tạo ra bằng các yếu tố thuần tuý bản ngữ theo quy tắc cấu tạo của bản ngữ

b Từ ngoại lai

-Từ ngoại lai là những từ mượn từ ngôn ngữ khác Phương thức vay mượn từ của từ tiếng Hán rất đa dạng, về cơ bản có thể chia thành 3 loại gồm: dịch âm, dịch nghĩa, mượn nguyên dạng của nguyên ngữ

2.1.3 Những đặc điểm chung của từ tiếng Việt

2.1.3.1 Khái niệm của từ tiếng Việt

-Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất đi theo quan điểm về từ của Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo)cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn

nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu”

2.1.3.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt

Trang 13

-Về mặt ngữ âm: từ tiếng Việt không thay đổi hình thức trong bất kỳ trường hợp nào ở bất kỳ vị trí nào trong lời nói, giữa bất kỳ đơn vị ngữ pháp nào trong câu thì hình thức ngữ âm của từ không hề biến đổi Về mặt ngữ pháp:

từ không biểu thị đặc điểm ngữ pháp của mình mà thể hiện chủ yếu ở ngoài

từ trong mối quan hệ với các từ khác Khả năng kết hợp với từ khác và khả năng đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong câu

2.1.3.3 Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt

-Đơn vị cơ bản để cấu tạo từ trong tiếng Việt là tiếng (hình vị) Theo Đỗ Hữu Châu: “trong tiếng Việt có những phương thức cấu tạo từ như: Phương thức

từ hóa hình vị; phương thức phức hóa hình vị (phương thức này lại chia thành phương thức phức hóa bằng sự kết hợp các hình vị; phương thức phức hóa bằng cách lặp lại hình vị còn gọi là phương thức láy); phương thức tương liên hóa”

2.1.3.4 Đặc điểm vể nguồn gốc của từ tiếng Việt

- Lớp từ bản ngữ (còn gọi là lớp từ thuần Việt); lớp từ có nguồn gốc khác, xa

lạ (còn gọi là lớp từ ngoại lai) Ở từ vựng tiếng Việt, lớp từ ngoại lai được phân thành hai lớp nhỏ hơn: lớp các từ ngữ gốc Hán; lớp các từ ngữ gốc Ấn-

Âu (chủ yếu là gốc Pháp)

2.2 Đặ điểm từ tron “Bộ luật Dân sự” Trun uố và “Bộ luật Dân sự” Việt Nam về cấu tạo

2.2.1 Đặc điểm từ trong “Bộ luật Dân sự” Trung Quốc về cấu tạo

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát từ trong Bộ luật Dân sự Trung Quốc

Trang 14

-Từ đơn trong tiếng Hán là từ được cấu tạo từ ngữ tố Số lượng từ đơn xuất

hiện trong Bộ luật Dân sự Trung Quốc không nhiều Từ đơn xuất hiện 2.202 lần trên tổng số 6.637 lần khảo sát được, chiếm tỷ lệ 33,18%

2.2.1.2 Từ ghép

-Theo Từ điển tiếng Hán hiện đại năm 2002: “Từ ghép trong tiếng Hán là từ

do 2 căn tố hoặc 2 căn tố trở lên ghép lại mà thành”.Trong Bộ luật Dân sự Trung Quốc, từ ghép xuất hiện với mật độ dày đặc 4.435 lần trên tổng số 6.637 lần khảo sát được, chiếm tỷ lệ 66,82% Trong đó, sử dụng cả từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập Để biểu hiện tính khái quát của văn bản, nên trong Bộ luật Dân sự Trung Quốc sử dụng nhiều từ ghép đẳng lập

2.2.2 Đặc điểm từ trong “Bộ luật Dân sự” Việt Nam về cấu tạo

Bảng 2.2 Kết quả khảo sát từ trong Bộ luật Dân sự Việt Nam

2.2.3 Nhận xét

2.2.3.1 Những đặc điểm chung

-Về mặt cấu tạo, từ trong hai bộ luật đều được chia thành từ đơn và từ ghép -Từ đơn trong tiếng Hán và tiếng Việt là từ được cấu tạo từ ngữ tố Tiếng Hán và tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, nên biểu hiện quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp bằng phương thức trật tự từ và

hư từ Số lượng từ đơn là thực từ cũng rất ít, chủ yếu Bộ luật Dân sự sử dụng từ đơn là các hư từ Số lượng từ đơn xuất hiện nhiều trong hai bộ luật chủ yếu là các từ chỉ lượng.Từ đơn ít được sử dụng, từ ghép xuất hiện với mật độ dày đặc Hai bộ luật đều sử dụng từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng

Ngày đăng: 16/10/2017, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w