Xem xét trênthực tiễn, việc vận dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hạicủa chủ phương tiện được xem xét như thế nào trong một số vụ tai nạn giao thôngđường bộ, hạ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
-HUỲNH PHƯƠNG THẢO
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CHỦ SỞ HỮU PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ GIỚI
THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
-HUỲNH PHƯƠNG THẢO
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CHỦ SỞ HỮU PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ GIỚI
THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, nhu cầu di chuyển, sử dụng nhữngphương tiện giao thông vận tải của con người ngày càng nhiều mà chính yếu là nhucầu đi lại, nhu cầu này đòi hỏi sự thuận tiện, tốc độ và không tốn sức Chính vì thếcác phương tiện giao thông vận tải cơ giới ngày càng được cải tiến, được sản xuấtcàng nhiều để phục vụ những nhu cầu thiết yếu của con người Đi cùng với sự pháttriển đó thì nhận thức của con người về việc chiếm hữu, sử dụng chúng ngày càngphát sinh nhiều vấn đề và trong quá trình sử dụng, điều khiển các phương tiện giaothông vận tải cơ giới gây ra thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác.Lúc đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh và đòi hỏi ai làngười phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp đó? Chủ sở hữu hay người chiếmhữu, sử dụng phương tiện giao thông vận tải? Sau khi xác định được chủ thể cótrách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải xác minh các điều kiện để phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại, loại thiệt hại phải bồi thường, mức thiệt hại phải bồithường như thế nào? Rất nhiều vấn đề phát sinh khi phương tiện giao thông vận tải
cơ giới gây ra thiệt hại Qua đó phân tích các quy định của pháp luật hiện hành vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơgiới, trường hợp nào chủ sở hữu phải bồi thường khi phương tiện của mình gây rathiệt hại, trường hợp nào được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại Xem xét trênthực tiễn, việc vận dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hạicủa chủ phương tiện được xem xét như thế nào trong một số vụ tai nạn giao thôngđường bộ, hạn chế, bất cập gì để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị, giải pháp đểnâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại của chủ phương tiệngiao thông vận tải cơ giới mục đích cuối cùng là để góp phần bảo vệ quyền và lợiích của các bên bao gồm chủ sở hữu phương tiện, người bị thiệt hại trong một vụviệc do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng,
sức khỏe của con người Từ những lập luận trên, tác giả lựa chọn đề tài “Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới theo bộ luật dân sự 2015” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình.
Trang 52 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, trách nhiệm bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay trách nhiệm bồi thường thiệthại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ nói riêng được nhiều nhà khoa họcnghiên cứu pháp luật quan tâm nhưng vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hạicủa chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới theo bộ luật dân sự 2015 vẫn chưađược nhiều công trình khoa học nghiên cứu Mặc dù chưa có công trình riêng nhưng
đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề liên quan về trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồnnguy hiểm cao độ gây ra hoặc những vấn đề gần gũi như trách nhiệm bồi thườngthiệt hại do vi phạm pháp luật giao thông đường bộ hay trách nhiệm bồi thườngthiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và có những phân tích liên quanđến trách nhiệm của chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Nhóm các khóa luận, luận văn: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong
nhóm này có:
- Hoàng Văn Cán (2015), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp
luật giao thông đường bộ - Qua thực tiễn xét xử tại tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ.
- Lê Đình Thắng (2018), Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra theo Bộ luật dân sự 2015, Luận văn thạc sĩ.
- Lê Văn Châu (2010), Vấn đề lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, Luận văn thạc sĩ.
- Nguyễn Ngọc Đại (2016), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ.
- Nguyễn Thị Thanh Nga (2018), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản là
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ.
-Phạm Thị Phương Anh (2009), Cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do sản phẩm có khuyết tật, Luận văn thạc sĩ.
-Trần Trà Giang (2011), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Luận văn thạc sĩ.
Trang 6Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này có thể kể đến
một số công trình tiêu biểu như:
- Đỗ Văn Đại (2016), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam –
Bản án và bình luận bản án, Sách chuyên khảo, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam,
NXB Công an nhân dân;
- Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Dân sự,
NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu
trong nhóm này có:
- Hồ Quân – Đình Thắng (2018), Những điểm mới về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, https://kiemsat.vn/nhung-diem-moi-ve-boi-thuong-thiet-hai-ngoaihopdong49869.html
- Nguyễn Văn Dũng – Phó Chánh án TAND thành phố Tam Kỳ(2018), Bàn về
chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định tại Bộ luật dân
sự năm 2015, thiet-hai-ngoai-hop-dong-quy-dinh-tai-bo-luat-dan-su-nam-2015.html
http://toaantamky.gov.vn/ban-ve-che-dinh-trach-nhiem-boi-thuong ThS Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng theo pháp luật dân sự, doi.aspx?ItemID=2426
https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao ThS Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra, thuong-thiet-hai-do-nguon-nguy-hiem-cao-do-gay-ra
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/trach-nhiem-boi ThS Ngô Thu Trang (2019), Vướng mắc trong áp dụng pháp luật về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, mac-trong ap-dung-phap-luat-ve-boi-thuong-thiet-hai-ngoai-hop-dong
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/vuong TS Lê Đình Nghị (2008), Bàn về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra, Tạp chí Nghề luật số 6/2008.
Trang 7Những công trình nghiên cứu đã được liệt kê tập trung vào một số nội dungchủ yếu về phân tích pháp lý về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cơ sở phát sinhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ thể nào phải chịu trách nhiệmbồi thường thiệt hại khi có thiệt hại xảy ra nhưng chưa có công trình nào nghiên cứuchi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải
cơ giới Những công trình liên quan chỉ nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độgây ra hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm trong lĩnh vực giao thôngđường bộ Mặc dù phương tiện giao thông vận tải cơ giới là một trong những nguồnnguy hiểm cao độ, khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thì phải xem xét đến quyđịnh chung về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhưng sau đóvẫn phải xem xét đến yếu tố riêng biệt của phương tiện giao thông vận tải bởi lẽphương tiện giao thông vận tải nào cũng có chủ sở hữu, khi có phát sinh vấn đề liênquan đến bồi thường thiệt hại do phương tiện gây ra thì trước tiên phải xem xét đếnchủ thể sở hữu có trách nhiệm liên quan hay không, nếu có thì liên quan như thế nào
để từ đó xác định trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu chứ không phải trong mọitrường hợp phương tiện của mình gây ra thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường.Chính vì thế tác giả chọn đề tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phươngtiện giao thông vận tải cơ giới theo Bộ luật dân sự 2015 để qua đó có thể nghiên cứuthêm về vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hơn trách nhiệm của chủ sở hữuphương tiện giao thông vận tải cơ giới, cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường, thựctiễn giải quyết vụ việc của Tòa án về trách nhiệm của chủ sở hữu phương tiện giaothông vận tải, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện pháp luật về vấn
Trang 8bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới qua đó tìm ramột số hạn chế, bất cập và vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về bồithường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ Từ đó đưa ra một số kiếnnghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồithường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới, đưa ra các giải phápnâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phươngtiện giao thông vận tải cơ giới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng nói chung, khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủphương tiện giao thông vận tải cơ giới qua đó phân loại trách nhiệm bồi thườngthiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới;
- Phân tích một số quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới;
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới và một số kiến nghị hoàn thiện;
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới theo quyđịnh BLDS 2015 Từ đó phân tích khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại củachủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới, cơ sở phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại, quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệthại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới Qua cơ sở lý thuyết, liên hệ thựctiễn thực hiện pháp luật, nguyên nhân dẫn đến những điểm bất hợp lý của pháp luật,đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giớitheo quy định BLDS 2015, trong đó làm rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủphương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ với những nội dung chính như sau:
Trang 9Một là, nghiên cứu các vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ
sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới thông qua các nhóm tài liệu nghiên cứutrong các luận văn, luận án, giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo, tạp chí
Hai là, làm rõ những quy định của pháp luật dân sự hiện hành của Việt Nam
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải
cơ giới thông qua Bộ luật dân sự 2015, các văn bản pháp lý có liên quan như Nghịquyết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Ba là, tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về việc bồi thường thiệt hại của chủ
sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ ở Việt Nam hiện nay thôngqua những cơ quan giải quyết khi xảy ra tai nạn giao thông đường bộ như cơ quancông an, Viện kiểm sát; thực tiễn xét xử của Tòa án trên lãnh thổ Việt Nam khingười bị hại nộp đơn yêu cầu Toàn án giải quyết các vấn đề về bồi thường thiệt hại
để từ đó làm cơ sở so sánh việc áp dụng pháp luật của các cơ quan công quyền
Bốn là, từ thực tiễn đã phân tích, từ những tài liệu đã nghiên cứu, tác giả tìm ra
những bất cập rồi từ đó dựa trên những bất cập đề xuất các giải pháp nâng cao hiệuquả áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiện giaothông vận tải cơ giới
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác– Lênin, lý luận Nhà nước và pháp luật và những quan điểm của Đảng trong quátrình phát triển và đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, để hoàn thành đề tài luận văn tác giả sử dụng cácphương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất
cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, phân tích quy định của phápluật, các vụ án được xét xử trên thực tế có bản án của Tòa án,…
Trang 10- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Được sử dụng trong luận văn để phân tíchlịch sử sự phát triển quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới.
- Phương pháp phỏng đoán khoa học được sử dụng chủ yếu trong Chương 3 để
đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn góp phần cung cấp cho khoahọc pháp lý những nền tảng lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hạicủa chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới Đề tài sẽ là một tài liệu khoahọc hữu ích cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu pháp luật dân sự Đối vớicác cơ quan nhà nước, kết quả của đề tài này có thể sử dụng để tham khảo trong quátrình xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại củachủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới tại Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CHỦ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ GIỚI
1.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong đời sống hàng ngày thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm của công dân; tài sản, danh dự, nhân phẩm của các tổ chức có thể xảy radưới nhiều tác động khác nhau, mà những tác động đó nằm ngoài những ràng buộcgiữa hai bên hay còn có thể nói nằm ngoài hợp đồng giữa hai bên Nó có thể lànhững tác động khác quan hoặc là những tác động do các hành vi vi phạm pháp luậtcủa các cá nhân mang lại Nhằm ngăn chặn, khắc phục những thiệt hại, hậu quả xảy
ra, Nhà nước đưa ra những quy định pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa người bị thiệt hại Theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì căn cứphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được qui định tại Khoản 1, Điều 584 Bộluật Dân sự 2015, “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, uy tín tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệthại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy địnhkhác.” Như vậy một người gây thiệt hại cho người khác thì giữa người gây thiệt hại
và người bị thiệt hại phát sinh một quan hệ pháp luật, trong đó người bị thiệt hại cóquyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường, còn bên gây thiệt hại thì cónghĩa vụ phải bồi thường những thiệt hại đã gây ra Quan hệ pháp luật đó gọi làtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, có tínhcưỡng chế của nhà nước buộc người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại chongười khác phải bồi thường, là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gâythiệt hại mà giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại không có quan hệ hợpđồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc nội dungthực hiện hợp đồng Căn cứ tại Điều 584 BLDS 2015 thì trách nhiệm BTTH ngoàihợp đồng phát sinh khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định, các điều kiện đó là:
Trang 12có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệnhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây ra thiệthại (trong đó hành vi có thể có lỗi, có thể không có lỗi) Hậu quả: Trách nhiệm bồithường thiệt hại luôn mang đến hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại.Khi một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác thì thiệt hại đó được tínhtoán rõ ràng, cụ thể nếu không sẽ không thực hiện được việc bồi thường, vì thế cho
dù thiệt hại là tinh thần hay vật chất thì thiệt hại đó cũng được pháp luật qui định cụthể để bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại Vì vậy, việc thực hiện trách nhiệm bồithường sẽ giúp khôi phục một phần hay toàn bộ thiệt hại đã xảy ra cho người bịthiệt hại Chủ thể bị áp dụng: Là người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại; là cha, là
mẹ người chưa thành niên gây thiệt hại, là người giám hộ, là pháp nhân của ngườicủa pháp nhân gây thiệt hại
Như vậy, có thể nói “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã ký kết” [1,trang 436]
1.1.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm phát sinh dưới tác độngtrực tiếp của các quy phạm pháp luật, khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại
Là loại trách nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài và không phụ thuộc vào hợp đồng,
có các đặc điểm đặc trưng như sau:
Thứ nhất, trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm dân sự, chịu sự điều
chỉnh của pháp luật dân sự và phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định Khi mộtngười gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thườngthiệt hại chính là một quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh và được quyđịnh trong BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành, không thể phát sinh trên cơ sởthỏa thuận giữa các bên như BTTH trong hợp đồng
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi thoả
mãn các điều kiện nhất định do pháp luật quy định Các điều kiện đó là: phải cóthiệt hại xảy ra trên thực tế: Thiệt hại đó gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn
Trang 13thất tinh thần; có hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: những xử sự cụ thểcủa con người được thể hiện thông qua hành động trái với các quy định của phápluật, xâm phạm tới các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của chủ thể khác được phápluật bảo vệ; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra:Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành
vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại; phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý củangười gây thiệt hại, ngoài ra pháp luật quy định trường hợp người gây thiệt hạikhông có lỗi vẫn phải bồi thường chịu trách nhiệm bồi thường
Thứ ba, ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật thì trách
nhiệm bồi thường thiệt hại còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó làcha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, phápnhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trongtrường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hạihoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…
Thứ tư, đặc điểm để phân biệt giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng với các trách nhiệm bồi thường thiệt hại khác là giữa người bị thiệt hại vàngười gây ra thiệt hại không có việc giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưnghành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi thực hiện hợp đồng Ngoài ra mức bồithường cũng được xem xét bởi lẽ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc
là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra Thiệt hại chỉ có thểđược giảm trong một trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại có lỗi vô ý vàthiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ
1.2 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới
1.2.1.1 Khái niệm phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Nói đến chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giaothông vận tải cơ giới, trước tiên phải làm rõ khái niệm phương tiện giao thông vậntải cơ giới Bởi vì khi xác định được công cụ, phương tiện gây ra thiệt hại thì từ đó
Trang 14mới có cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai, người nào, làchủ sở hữu hay người chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông vận tải cơ giới.Đối với khái niệm phương tiện vận tải cơ giới, tại khoản 1 điều 601 Bộ luậtDân sự 2015 chỉ mới đề cập phương tiện vận tải cơ giới là một trong số các nguồnnguy hiểm cao độ và cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào đưa ra nội dung hoàn
chỉnh về khái niệm “phương tiện giao thông vận tải cơ giới” Tuy nhiên, chúng ta
cũng có thể hình dung được phương tiện giao thông vận tải cơ giới bao gồm phươngtiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường sắt,phương tiện giao thông cơ giới đường thủy hoặc phương tiện giao thông cơ giớiđường hàng không Nhưng liệu có phải tất cả các phương tiện giao thông vận tải cơgiới đều được coi là nguồn nguy hiểm cao độ? Pháp luật nước ta vẫn chưa có quyđịnh cụ thể về vấn đề này Tuy nhiên để xác định những phương tiện giao thông cơgiới nào là nguồn nguy hiểm cao độ cần dựa trên các quy định cụ thể tại các văn bảnpháp luật có liên quan khác như Luật Giao thông đường bộ 2008
Luật Giao thông đường bộ năm 2008 tại Khoản 17 Điều 3 quy định phươngtiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phươngtiện giao thông thô sơ đường bộ Theo đó tại Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thôngđường bộ năm 2008 và điểm b, mục 1, phần III Nghị quyết 03/2006 quy định:Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ bao gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc
sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh;
xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự, kể cả xe cơ giới dùng chongười tàn tật. Nhìn chung các loại xe này đều được gắn động cơ, chịu sự điều khiểncủa con người và vận hành bằng nguồn năng lượng chứ không phải dùng sức người
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa chung về phương tiện giao thôngvận tải cơ giới chính là các loại phương tiện hoạt động bằng động cơ, có tốc độ, cókhả năng vận chuyển được khối lượng lớn con người, tài sản, hàng hóa,… và chịu
sự điều khiển của con người
1.2.1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Trang 15Theo quy định của pháp luật để sử dụng được các phương tiện giao thông vậntải cơ giới thì người sử dụng phải đảm bảo các yêu cầu về an toàn kỹ thuật, điềukiện về trình độ sử dụng, được cấp giấy phép sử dụng, cấp giấy phép chủ quyền đốivới phương tiện hay nói đơn giản phương tiện giao thông vận tải cơ giới phải có chủ
sở hữu và chủ sở hữu phải phù hợp theo các điều kiện, yêu cầu của pháp luật theotừng loại phương tiện Bên cạnh đó chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơgiới phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao
độ theo đúng quy định của pháp luật và nếu có thiệt hại xảy ra do phương tiện giaothông vận tải cơ giới gây ra thì phải xem xét trước hết là trách nhiệm của chủ sởhữu, sau đó mới xem xét đến trách nhiệm của những đối tượng khác như ngườiđang chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Bản thân các phương tiện giao thông vận tải cơ giới khi không có sự tác độngcủa con người làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản cho những ngườixung quanh thì việc gây thiệt hại chủ yếu do chính sự hoạt động “tự thân” củachúng, độc lập và nằm ngoài sự quản lý, kiểm soát của con người Ví dụ như xe mấtphanh hay nổ lốp khi đang chạy trên đường hoặc xe lửa bị lật bánh khỏi đường ray,
… Khi đó phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể là do tàisản gây ra Còn nếu có thiệt hại xảy ra do sự tác động của con người gây ảnh hưởngđến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác như lái xe gây ra tai nạn giao thông
do vượt quá nồng độ cồn hoặc cố tình lái thuyền đâm vào thuyền khác,… thì khi đó
sẽ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi vi phạm củacon người
Mặc dù pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tài sản,quyền được hưởng các lợi ích hợp pháp từ tài sản của các chủ sở hữu, nhưng phápluật đồng thời cũng đặt ra cho chủ sở hữu những nghĩa vụ pháp lý nhất định Hiến
Pháp 2013, Điều 32, Khoản 2 quy định rõ “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế
được pháp luật bảo vệ” Vấn đề này là một trong những nguyên tắc được quy định
trong Khoản 2, Điều 160, BLDS 2015 về quyền của chủ sở hữu “Chủ sở hữu được
thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc,
Trang 16lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.” Như vậy, pháp luật
quy định chủ sở hữu tài sản có thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình có thể làchiếm hữu, sử dụng, định đoạt theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, nếu tàisản đó gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác thì chủ sở hữu có tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của mình gây ra Điều này cũng được quy định
tại Khoản 2, Điều 601, BLDS 2015, cụ thể như sau “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm
cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Theo như đã phân tích ở trên phương tiện giao
thông vận tải cơ giới là một trong các nguồn nguy hiểm cao độ nên khi có thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ nói chung và phương tiện giao thông vận tải cơ giới nóiriêng gây ra thì chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ, chủ sở hữu phương tiện giaothông cơ giới phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ hoặc phươngtiện của mình gây ra hoặc nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sửdụng thì chủ sở hữu không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ thỏathuận của hai bên hoặc nếu trong trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụngnguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu,
sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại Điều này cũng hoàntoàn hợp lý và phù hợp với lẽ công bằng trong cuộc sống
Pháp luật nước ta chưa có bất cứ một khái niệm cụ thể nào về trách nhiệm bồithường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới nhưng từ nhữngphân tích trên có thể định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phươngtiện giao thông vận tải cơ giới là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thườngthiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và chỉ xét đến trách nhiệm bồi thườngthiệt hại có thể là toàn bộ hoặc liên đới chịu trách nhiệm của chủ sở hữu phươngtiện khi phương tiện của mình tự thân hoặc do hành vi vi phạm của con người gây rathiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần của con người, tài sản của người khác dolỗi vô ý hay cố ý hoặc khi không có lỗi trừ mốt số trường hợp theo quy định củapháp luật về việc chủ sở hữu không phải bồi thường thiệt hại do phương tiện củamình gây ra
Trang 17Từ những nội dung đã nêu, có thể định nghĩa “Trách nhiệm bồi thường thiệt
hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ sở hữu phương tiện chỉ phải chịu trách nhiệm toàn bộ hoặc liên đới khi phương tiện giao thông vận tải cơ giới của mình tự thân hoặc do hành vi vi phạm của con người gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người khác do lỗi vô ý hay cố ý hoặc khi không có lỗi”.
1.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơgiới là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên tráchnhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới cũngmang những đặc điểm cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngnói chung
Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải
cơ giới có những dấu hiệu đặc thù của nó, chẳng hạn nguyên nhân để chủ sở hữuphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi phương tiện gây ra thiệt hại ngoàiviệc do hành vi vi phạm của con người tác động dẫn đến gây ra thiệt hại thì còn dobản thân tài sản (là phương tiện giao thông vận tải cơ giới) gây ra Hay nói cáchkhác, chỉ có thể là do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra thiệt hại thìchúng ta mới xem xét áp dụng quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và xemxét đến trách nhiệm của chủ sở hữu
Do đó, ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơgiới còn có những điểm đặc thù sau đây:
Thứ nhất, điểm đặc trưng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sởhữu phương tiện giao thông vận tải luôn gắn liền với quá trình hoạt động, vận hànhcủa phương tiện giao thông vận tải Có hai dạng phương tiện giao thông vận tải cơgiới gây thiệt hại:
Dạng thứ nhất là trường hợp phương tiện gây thiệt hại đến tài sản, tính mạng, sứckhỏe cho những người xung quanh do hành vi vi phạm của con người trong quá
Trang 18trình vận hành phương tiện giao thông vận tải mà con người ở đây có thể là chủ sởhữu hoặc người được chủ sở hữu giao cho chiếm hữu, sử dụng hoặc người đangchiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật hoặc một trường hợpkhác là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng phương tiện có lỗi trong việc đểnguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.
Dạng thứ hai là phương tiện trong quá trình hoạt động gây thiệt hại đến tài sản, sứckhỏe, tính mạng của những người xung quanh ngoài sự kiểm soát hoặc ý thức củacon người hay nói cách khác là tự thân của phương tiện gây ra thiệt hại và nguyênnhân, hậu quả của việc gây ra thiệt hại đó nằm ngoài sự quản lý của chủ sở hữu vàchính bản thân chủ sở hữu cũng không mong muốn sự việc đó xảy ra ví dụ như 1chiếc ô tô đang đậu ngoài lề đường đúng quy định nhưng lại nổ lốp và lùi về sau cántrúng 1 đứa bé đang chơi ở lề đường dẫn đến đứa bé bị thương tật
Thứ hai, về đối tượng bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi thường thiệt hạiphương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra có những sự khác biệt so với đối tượngcủa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Nếu đối tượng bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngnói chung có thể là sức khoẻ, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín, thì đốitượng bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi thường do phương tiện giao thông vận tải
cơ giới gây ra chỉ bao gồm thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe
Điều này có thể được lý giải rằng phương tiện giao thông vận tải cơ giới là một dạngmáy móc thiết bị được vận hành mới có thể hoạt động được và khi vận hành thì tựthân hoặc do hành vi trái pháp luật của người điều khiển tác động vào những tài sảnkhác như cây cối, nhà cửa, phương tiện khác hoặc tác động vào con người dẫn đếnthiệt hại đến sức khỏe hoặc tính mạng của người khác Còn danh dự, nhân phẩm, uytín là những giá trị nhân thân gắn liền với từng cá nhân, từng tổ chức nhất định, làyếu tố vô hình chỉ có hành vi của con người dùng lời nói, hành động hoặc các công
cụ phương tiện truyền thông tác động đến làm ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm
uy tín của các cá nhân, tổ chức chứ không thể bằng việc sử dụng phương tiện giaothông vận tải mà gây thiệt hại đến các yếu tố gắn liền với nhân thân đó
Trang 19Thứ ba, việc xác định chủ thể trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại dophương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra cũng có những điểm khác biệt so vớiviệc xác định chủ thể trong quy định chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng.
Chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phương tiện giao thông vậntải cơ giới gây ra theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại do phương tiện của mình gây ra ngay cả khi không có lỗi trừ một số trường hợptheo quy định của pháp luật, không phải chịu trách nhiệm trong tất cả các trườnghợp
Tuy nhiên bản thân chủ sở hữu phương tiện phải bồi thường thiệt hại do phươngtiện gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì ngườinày phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc khi chủ sở hữu có lỗitrong việc để phương tiện bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồithường thiệt hại
Thứ tư, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngcủa chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới có điểm khác so với bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng Ngoài ba điều kiện cần có như: Có thiệt hại thực tế xảy ra; cóhoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của phương tiện; có mối quan hệ nhân quảgiữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra thì yếu tố lỗicủa bên gây thiệt hại không phải là yếu tố bắt buộc mà trong nhiều trường hợp bồithường thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra không cần yếu tốlỗi
Bởi lẽ trong nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra do hoạt động nội tại của phương tiện,hoàn toàn độc lập và nằm ngoài sự quản lý, kiểm soát của con người như: xe ô tôđang chạy với tốc độ cao đột nhiên mất phanh, mất lái hoặc nổ lốp gây ra thiệt hại;
ô tô đang đậu trong bãi tự nhiên bốc cháy mà nguyên nhân không phải do con ngườitác động vào gây ra Vì vậy, khi có thiệt hại xảy ra, người bị thiệt hại được bảo đảmbồi thường ngay cả trong trường hợp chủ sở hữu không có lỗi Điều này có thể xem
là một loại “trách nhiệm dân sự nâng cao” đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp
pháp và được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 601 BLDS 2015 “Chủ sở hữu,
Trang 20người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
1.3 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới
1.3.1 Căn cứ vào nguyên nhân dẫn đến thiệt hại
Căn cứ vào nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hạicủa chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới được phân chia thành trách nhiệmbồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của con người gây ra và tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do tự thân phương tiện gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của con người– con người ở đây có thể là chủ sở hữu trực tiếp sử dụng, vận hành phương tiệnhoặc chủ sở hữu có lỗi trong việc để phương tiện bị chiếm hữu, sử dụng trái phápluật gây ra thiệt hại và kết quả tất yếu có thiệt hại xảy ra trên thực tế Trường hợpnày người gây thiệt hại đã thực hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hànhđộng và hành vi đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tự thân phương tiện gây ra nằm ngoài sựkiểm soát, vận hành của con người là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khibản thân phương tiện chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại, không chịu sựtác động của con người bằng hành vi như xe ô tô đang chạy với tốc độ cao đột nhiênmất phanh, mất lái hoặc nổ lốp gây ra thiệt hại
Việc phân loại hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc xác định căn cứlàm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại : Đối với trường hợp bồi thường thiệthại do hành vi gây ra thì một điều kiện không thể thiếu là hành vi gây thiệt hại phải
là hành vi trái pháp luật Trong khi đó, bồi thường thiệt hại do tự thân phương tiệngây ra vì không có hành vi nên điều kiện này không thể được xem xét đến
Ngoài ra, việc phân loại này còn có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể chịutrách nhiệm bồi thường: Về nguyên tắc thì người nào có hành vi trái pháp luật gây
Trang 21ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra còn đối với bồithường thiệt hại do tài sản gây ra thì về nguyên tắc trách nhiệm lại thuộc về chủ sởhữu hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý tài sản đó chứ không phải thuộc về tất
cả mọi người đang chiếm giữ tài sản đó
1.3.2 Căn cứ vào đối tượng bị xâm phạm
Căn cứ vào đối tượng bị xâm phạm mà chủ sở hữu phương tiện giao thôngvận tải cơ giới có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì có thể có thể được phân chiathành trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất hay còn gọi trách nhiệm bồithường thiệt hại đối với tài sản và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng,sức khỏe
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bồi thường thiệthại những tổn thất xảy ra trên thực tế do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây
ra mà chủ sở hữu phương tiện là người chịu trách nhiệm thì phải bồi thường thiệthại với mức bồi thường được quy đổi thành tiền hoặc tài sản khác có giá trị tươngđương nhằm bù đắp lại các tổn thất đã xảy ra bao gồm tổn thất về tài sản, chi phíhợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặcgiảm sút cho người bị thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe được hiểu là việcphương tiện giao thông vận tải cơ giới bằng các hình thức nào mà gây thiệt hại đếntính mạng, sức khỏe của người khác thì ngoài việc phải chấm dứt hành vi vi phạmthì chủ sở hữu phương tiện là người chịu trách nhiệm còn phải bồi thường mộtkhoản tiền hoặc tài sản khác có giá trị tương đương để bù đắp những tổn thất về sứckhỏe và tính mạng của người bị thiệt hại, chưa kể đến việc nếu người bị thiệt hại bịxâm phạm đến tính mạng thì chủ sở hữu phương tiện là người chịu trách nhiệm phải
bù đắp về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất củangười bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đãtrực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởngkhoản tiền này
Việc phân biệt hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa
vụ chứng minh và mức bồi thường: Về nguyên tắc, người bị thiệt hại phải có nghĩa
Trang 22vụ chứng minh thiệt hại xảy ra và mức bồi thường sẽ bằng mức thiệt hại Tuy nhiên,nguyên tắc này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp đó là trách nhiệm bồi thườngthiệt hại về vật chất còn trong trường hợp bồi thường thiệt hại về tính mạng, sứckhỏe thì rõ ràng những tổn thất này là những tổn thất khó có thể bù đắp vì hậu quảxảy ra không thể nào khắc phục lại như ban đầu được.
1.3.3 Căn cứ chủ sở hữu chịu trách nhiệm bồi thường
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiện giao thông vậntải cơ giới được phân loại thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu là
cá nhân, pháp nhân, các tổ chức khác và cơ quan Nhà nước
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu là cá nhân được hiểu làtrách nhiệm dân sự mà theo đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhânngười gây thiệt hại hoặc đại diện theo pháp luật của người đó như cha mẹ là ngườiđại diện cho con chưa thành niên (dưới 15 tuổi, từ 15 đến dưới 18 tuổi)
Nếu trong trường hợp con chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha,
mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ
để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó
để bồi thường phần còn thiếu
Nếu trong trường hợp con chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gâythiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồithường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình, ngườigiám hộ Ngoài ra, người giám hộ chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợpngười chưa thành niên không còn cha lẫn mẹ, không xác định được cha, mẹ, hoặccha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặccòn cha mẹ, nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưathành niên hoặc người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không làm chủđược hành vi của mình thì khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà nhữngngười gây ra thiệt hại đó có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sảncủa người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sảnhoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản
Trang 23của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám
hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường
Trách nhiệm BTTH của chủ sở hữu là pháp nhân và các tổ chức khác đượchiểu là trách nhiệm dân sự phát sinh cho pháp nhân hoặc các tổ chức khác trongtrường hợp người của pháp nhân và các tổ chức gây thiệt hại trong khi thực hiệnnhiệm vụ pháp nhân hoặc tổ chức giao cho
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu là Nhà nước được hiểu là khi cán
bộ, công chức sử dụng phương tiện do Nhà nước là chủ sở hữu mà gây thiệt hạithuộc phạm vi bồi thường Nhà nước thì Nhà nước phải bồi thường thiệt hại chongười bị thiệt hại chứ không phải chính cán bộ công chức hay cơ quan quản lý cán
bộ công chức phải bồi thường
Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể phải bồi thường vàviệc xác định nghĩa vụ hoàn lại trong trường hợp chủ sở hữu không trực tiếp gâythiệt hại mà chủ sở hữu có trách nhiệm liên đới hoặc chủ sở hữu phải có trách nhiệmbồi thường khi giao phương tiện giao thông vận tải cơ giới cho người khác chiếmhữu, sử dụng mà gây thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sở hữu
1.4 Quá trình hình thành và phát triển của những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới theo pháp luật Việt Nam
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung đã được ghi nhận trongpháp luật Việt Nam khá lâu đời và đã trải qua một thời gian dài hình thành và pháttriển Từ thời Hoàng Việt luật lệ, bộ luật chính thức của Việt Nam thời đầu nhàNguyễn đã quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại của phương tiện di chuyển, tuynhiên thời đó chưa có phương tiện giao thông vận tải cơ giới mà súc vật được sửdụng làm phương tiện di chuyển là ngựa, nhưng có thể thấy rằng đã có những manhnha chú trọng đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên quan đến phương tiệnvận chuyển gây ra
Đến thời Pháp thuộc, pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại được mởrộng hơn nhưng vẫn chưa xem xét đến trách nhiệm của chủ sở hữu mà chỉ xem xétđến trách nhiệm của người gây ra và người trong coi gây ra, không phụ thuộc vật đó
Trang 24có sự tác động của con người hay không, cụ thể tại điều 711 Dân luật Bắc Kỳ và
Điều 763 Dân luật Trung Kỳ có quy định:“Người ta phải chịu trách nhiệm không
những tổn hại tự mình làm ra mà cả về sự tổn hại do những người mà mình phải bảo lãnh hay do những vật mà mình phải trông coi nữa.
Phàm vật vô hồn mà làm nên tổn hại thì người trông coi vật ấy cho là có lỗi vào đó, không phân biệt vật đó có tay người động đến hay không, muốn phá sự phỏng đoán đó thì phải có bằng chứng trái lại mới được Bấy nhiêu trường hợp như trên để có trách nhiệm cả, trừ khi người chịu trách nhiệm đó có bằng chứng rằng cái việc sinh ra trách nhiệm ấy mình không thể ngăn cấm được”.
Trong thời kì Pháp thuộc, thực dân Pháp đã xây dựng hàng ngàn cây số đườngliên huyện, liên tỉnh, liên vùng, liên miền và cho nhập về rất nhiều các loại xe ôtô,
cơ giới phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa Chính vì thế, pháp luật thời kì đó
đã dự liệu trước khả năng gây thiệt hại của những “vật vô hồn” này và đã quy địnhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại do những vật này gây ra cho những người trôngcoi, sử dụng chúng nhưng lại không quy định đến trách nhiệm bồi thường thiệt hạicủa chủ sở hữu phương tiện, điều này cũng có một phần liên quan đến yếu tố giaicấp bởi vì chủ sở hữu đa phần đều là những người có địa vị trong xã hội thời ấy.Đến năm 1972, văn bản mang tính quy phạm pháp luật đầu tiên của Nhà nước
ta quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ra đời Đó là Thông tư
số 173- UBTP "Hướng dẫn xét xử về BTTH ngoài hợp đồng" Tòa án nhân dân tốicao ban hành ngày 23-3-1972 Trong thông tư đã bắt đầu nhắc đến khái niệm nguồnnguy hiểm cao độ nhưng không liệt kê ra các trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ lànhững nguồn nào mà trong phần đưa ra các trường hợp bồi thường thiệt hại thì cónhắc đến phương tiện ô tô, xe lửa Như vậy có thể nói trách nhiệm bồi thường thiệthại do phương tiện giao thông vận tải, chủ yếu là phương tiện giao thông vận tảiđường bộ, đường sắt gây ra được manh nha quy định từ thông tư này Tuy nhiêntrong thông tư này quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại chủ yếu thuộc về cơquan quản lý, nếu người được giao trách nhiệm sử dụng phương tiện có lỗi thì cơquan quản lý chúng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, rồi sau đó, cóquyền đòi người được giao trách nhiệm sử dụng phương tiện, có lỗi, hoàn trả việc
Trang 25bồi thường đó Khái niệm chủ sở hữu phương tiện vẫn chưa được đưa vào trongthông tư này vì vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiệnvẫn chưa được nhắc đến.
Sau khi ban hành Thông tư 173-UBTP, tại Việt Nam các loại phương tiện giaothông vận tải cơ giới đã phổ biến hơn và bước đầu nhà nước ta mở cửa, hội nhập, xe
ô tô ngày càng được sử dụng rộng rãi và thời bấy giờ ô tô không chỉ thuộc sở hữunhà nước mà còn cả thuộc sở hữu tư nhân, cùng với đó là số lượng xe ô tô ngày mộtgia tăng dẫn đến các quan hệ phát sinh ngày càng phức tạp, nhiều vấn đề cần đượchướng dẫn cụ thể hơn Nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết này, sau khi rút kinh nghiệm
và trao đổi thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Giao thông vận tải,ngày 5/4/1983 Thông tư số 03-TATC của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giảiquyết một số vấn đề về bồi thường thiệt hại trong tai nạn ô tô được ban hành
Trong nội dung thông tư này, phương tiện giao thông vận tải cơ giới được nhắc đến
là ô tô và trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về người chiếm hữu phương tiện vàtheo quy định tại văn bản này, người chiếm hữu chính là người chủ xe Như vậy,thông tư này là bước đệm đầu tiên để chủ sở hữu phương tiện phải chịu trách nhiệmbồi thường thiệt hại gây ra cho người xung quanh Việc xác định trách nhiệm bồithường của chủ sở hữu phương tiện bảo đảm được một yêu cầu rất quan trọng làquyền lợi của người bị thiệt hại và có tác dụng làm cho người chiếm hữu phươngtiện phải giáo dục và quản lý chặt chẽ những người lái xe (người sử dụng phươngtiện)
Năm 1995, Quốc hội ban hành BLDS, văn bản hoàn thiện bước đầu các nộidung trong hệ thống pháp luật dân sự trong đó có nội dung bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng và nội dung bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguyhiểm cao độ gây ra Tại nội dung này nguồn nguy hiểm cao độ cũng được liệt kê cụthể hơn, nó không còn là ô tô, xe lửa nữa mà khái niệm phương tiện giao thông vậntải cơ giới đã được nhắc đến là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ Cũngtrong bộ luật này, không còn khái niệm chủ xe, người chiếm hữu mà khái niệm chủ
sở hữu đã được nhắc đến Theo đó, Điều 627, BLDS 1995 quy định “Chủ sở hữu
Trang 26nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.”,
vậy chủ sở hữu phải có trách nhiệm bảo quản, trong giữ, vận chuyển, sử dụng nguồnnguy hiểm cao độ nói chung, phương tiện giao thông vận tải cơ giới nói riêng Nếutrong trường hợp chủ sở hữu có lỗi hay không có lỗi để phương tiện giao thông vậntải cơ giới gây ra thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại hoặc trong trườnghợp chủ sở hữu có lỗi trong việc để phương tiện bị chiếm hữu, sử dụng trái phápluật, thì phải liên đới bồi thường thiệt hại ngoại trừ trường hợp chủ sở hữu đã giaocho người khác chiếm hữu, sử dụng, thì những người này phải bồi thường hoặc cóthỏa thuận khác Mặc dù cụm từ “phương tiện giao thông vận tải cơ giới”, “chủ sởhữu” được nhắc đến khá nhiều trong BLDS 1995 nhưng không có bất cứ định nghĩanào về 2 cụm từ này nên việc thi hành cũng gặp nhiều khó khăn Ngày 28/4/2004Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDSnăm 1995 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Hội đồng thẩm phán Toà ánnhân dân tối cao được ban hành Đây có thể coi là một trong những điểm bổ sunggóp phần hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thôngvận tải nói riêng Theo đó, phương tiện giao thông vận tải cơ giới được hướng dẫn
rõ hơn để những người sử dụng pháp luật dễ dàng nhận diện ví dụ điểm b khoản 1mục III Nghị quyết 01/2004 hướng dẫn việc xác định phương tiện giao thông vận tải
cơ giới phải căn cứ vào khoản 1 Điều 627 Bộ Luật Dân sự và văn bản quy phạmpháp luật khác có liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vềlĩnh vực cụ thể đó Tương tự, trên tinh thần khoản 2 mục III Nghị quyết 01/2004,chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải phải bồi thường trong trường hợp phảiđang chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông vận tải cơ giới và phương tiện gây
ra thiệt hại mới phải bồi thường thiệt hại; chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm liên đớibồi thường khi giữa chủ sở hữu và người chiếm hữu, sử dụng có thỏa thuận vớinhau; hoặc chủ sở hữu có lỗi trong việc để phương tiện bị chiếm hữu, sử dụng tráipháp luật (không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định về bảo quản,trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quy
Trang 27định của pháp luật) thì phải liên đới cùng với người chiếm hữu, sử dụng trái phápluật bồi thường thiệt hại do phương tiện gây ra.
Mặc dù vậy, Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP vẫn còn bộc lộ nhiều thiếusót, ví dụ như tại quy định về cách tính thiệt hại tinh thần của nghị quyết còn nhiềubất cập
Ngày 14/6/2005 Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành thay thế cho BLDS
1995 đã bị lạc hậu so với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế và cácgiao lưu trong đời sống xã hội Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồnnguy hiểm cao độ gây ra cũng được bổ sung một số điểm để hoàn thiện hơn Theo
đó, ngày 8/7/2006 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà
án dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 vềbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được ban hành với những sửa đổi bổ sung nhấtđịnh góp phần hoàn thiện chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nói chung ngoài hợp đồng nói chung vàtrách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới nóiriêng Theo đó, hướng dẫn xác định phương tiện giao thông vận tải cơ giới, tráchnhiệm bồi thường của chủ sở hữu vẫn tương tự Nghị quyết 01/2004 nhưng việc xácđịnh thiệt hại để chủ sở hữu thực hiện việc bồi thường được thống nhất quy địnhchặt chẽ, rõ ràng hơn
Hơn 10 năm thực hiện quy định về pháp luật dân sự, trong đó có quy định vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, mặc dù có văn bản hướng dẫnnhưng cũng không tránh khỏi những bất cập, lỗi thời không phù hợp với sự pháttriển của xã hội Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua vào ngày24/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 ra đời và thay thế cho BLDS năm 2005.Vấn đề bồi thường thiệt hại được quy định tại Chương XX của BLDS 2015,các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã tiếp tục được
bổ sung, hoàn thiện hơn nhằm giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn 10năm thi hành của BLDS năm 2005 Trong số các quy định được thay đổi so vớiBLDS năm 2005 phải kể đến các quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, năng lực chịu trách nhiệm bồi
Trang 28thường thiệt hại của cá nhân, thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khoẻ bịxâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại dotính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm, sự thay đổi của các quy định này sẽ liên quan trựctiếp đến việc giải quyết bồi thường thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải cơ giớigây ra Còn việc người nào phải bồi thường thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải
cơ giới gây ra thì về cơ bản không có gì thay đổi so với BLDS 2005, chủ sở phươngtiện giao thông vận tải phải bồi thường trong trường hợp đang chiếm hữu, sử dụngphương tiện giao thông vận tải cơ giới và phương tiện gây ra thiệt hại mới phải bồithường thiệt hại; chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường khi giữa chủ sởhữu và người chiếm hữu, sử dụng có thỏa thuận với nhau; hoặc chủ sở hữu có lỗi trongviệc để phương tiện bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (không tuân thủ hoặc tuân thủkhông đầy đủ các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguyhiểm cao độ theo quy định của pháp luật) thì phải liên đới cùng với người chiếm hữu,
sử dụng trái pháp luật bồi thường thiệt hại do phương tiện gây ra Với những bổ sung,thay đổi này, việc giải quyết bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vậntải cơ giới sẽ dễ dàng hơn vì có nhiều căn cứ để xác định việc bồi thường thiệt hại, kếtquả giải quyết vụ việc đạt hiệu quả hơn, đảm bảo hơn tốt quyền và lợi ích của các bêntham gia vào vụ việc
Trang 29Tiểu kết chương 1
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung là một khái niệmkhông hề mới trong pháp luật dân sự cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại donguồn nguy hiểm cao độ gây ra cũng đã được nhắc đến khá lâu Tuy nhiên đến thờiđiểm hiện tại, nguồn nguy hiểm cao độ vẫn chưa có khái niệm cụ thể mà chỉ dừnglại ở dạng liệt kê các nguồn nguy hiểm cao độ trong đó có phương tiện giao thôngvận tải cơ giới Đến pháp luật dân sự 2015, phương tiện giao thông vận tải cơ giớicũng chưa có một khái niệm chung nhất mà vẫn phải căn cứ vào từng pháp luậtchuyên ngành như luật giao thông đường bộ, luật hàng hải, luật hàng không dândụng, luật đường sắt,… chính vì vậy việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra cũng là một vấn đề còn nhiều điểmcần khai thác Qua Chương 1, tác giả muốn đưa ra các khái niệm về phương tiệngiao thông vận tải cơ giới qua đó xác định trách nhiệm của chủ sở hữu phương tiệngiao thông vận tải cơ giới phải bồi thường như thế nào khi phương tiện của mìnhgây ra thiệt hại Đồng thời làm rõ đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiệngiao thông vận tải cơ giới nói riêng, đi sâu hơn trách nhiệm bồi thường thiệt hại củachủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới được phân loại dựa trên nhữngyếu tố nào như dựa vào nguyên nhân gây thiệt hại, đối tượng bị xâm phạm hoặc chủthể chịu trách nhiệm bồi thường để từ đó có cơ sở để tìm hiểu pháp luật hiện hànhquy định về bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơgiới, lãm rõ hơn đề tài của mình Ngoài ra, cũng trong Chương 1, tác giả cũng phântích sơ lược về lịch sử hình thành chế định bồi thường thiệt hại của chủ phương tiệngiao thông vận tải cơ giới từ thời cổ xưa khi chưa có hệ thống pháp luật, trải qua cáclần thay đổi pháp luật dân sự cho đến bộ luật dân sự 2015 đang có hiệu lực thi hành
để thấy rõ hơn quá trình phát triển của hệ thống pháp luật nước ta và tư duy của nhàlàm luật thay đổi theo thời gian để dần hoàn thiện hơn chế định trách nhiệm bồithường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Trang 30Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
CỦA CHỦ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ GIỚI
2.1 Quy định của pháp luật về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới
2.1.1 Có thiệt hại xảy ra
Như tên gọi của mình, trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi được áp dụng lànhằm khôi phục những lợi ích (bị thiệt hại) cho người bị thiệt hại nên thiệt hại làyếu tố không thể thiếu được trong việc áp dụng trách nhiệm này Điều đó có nghĩa
là để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải
cơ giới gây ra thì phải tồn tại yếu tố “có thiệt hại xảy ra” và “thiệt hại này phải dophương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra”
Thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra BLDS hiện nay đề cập đến “thiệt hại”
nhưng không định nghĩa thiệt hại là gì Có quan điểm cho rằng: “thiệt hại là sự biến
thiên theo chiều xấu đi của tài sản, của các giá trị nhân thân được pháp luật bảo vệ” [3, trang 471] hay “thiệt hại là sự giảm sút về lợi ích vật chất của người bị thiệt hại mà họ đã có hoặc sự mất mát lợi ích vật chất mà chắc chắn họ sẽ có” [4, trang
703] Quan điểm khác cho rằng: “Thiệt hại được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích
vật chất của một người xác định trên thực tế và những thiệt hại gián tiếp chắc chắn xảy ra” [5, trang 261] Nhìn chung, thiệt hại phải xác định được trên cơ sở khách
quan, do vậy khi xác định thiệt hại phải đặt thiệt hại đó trong mối quan hệ về mặtkhông gian và thời gian của thiệt hại Hay nói cách khác, thiệt hại sẽ được hiểu là sựgiảm sút về lợi ích vật chất, giá trị nhân thân của người bị thiệt hại, đây là những lợiích mà người bị thiệt hại đang có hoặc chắc chắn có
Thứ hai, “thiệt hại xảy ra phải là thiệt hại liên quan đến phương tiện giaothông vận tải cơ giới” thì mới được xem là một điều kiện áp dụng Điều 601 để giảiquyết Ở đây BLDS 2015 không cho biết loại thiệt hại này bao gồm những thiệt hạinào Do đó, chúng ta xem xét dưới góc độ những quy định chung về thiệt hại (thiệt
Trang 31hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm…) Thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra có những đặc điểm cụ thể sau:
- Thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra “có thể phát sinh
độc lập không liên quan đến hành vi cụ thể của con người”[6, trang 385] mà do tự
thân phương tiện gây ra thiệt hại Ví dụ: xe ô tô đang đậu trên dốc bị trượt dốc lùitrúng phương tiện khác hoặc trúng người hay xe đang đi bị mất phanh dẫn đến tainạn Hậu quả từ các nguyên nhân xảy ra trên đều không có yếu tố tác động bởi hành
vi vi phạm của con người
- Thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra ngoại trừ nguyênnhân trên thì còn có nguyên nhân do sự tác động của con người, con người bằnghành vi của mình gây vi phạm dẫn đến hậu quả xảy ra gây thiệt hại Sự tác động tíchcực của con người vào phương tiện dẫn đến việc phương tiện gây thiệt hại có thểxem xét ở khía cạnh: Con người (chủ sở hữu hoặc người được giao chiếm hữu, sửdụng đúng pháp luật hoặc trái pháp luật) khi sử dụng phương tiện họ kiểm soátphương tiện, điều khiển và sử dụng nó để thực hiện hành vi vi phạm gây thiệt hại.Việc thực hiện hành vi vi phạm có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như sử dụngrượu bia, chất kích thích gây tai nạn; điều khiển phương tiện vượt quá tốc độ quyđịnh gây tai nạn hoặc không tuân thủ nguyên tắc an toàn trong quá trình điều khiển,
sử dụng phương tiện,…
2.1.2 Có hành vi trái pháp luật của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới hoặc có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Mọi công dân đều có quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe,tài sản, những người khác đều có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền đó, không đượcxâm phạm các quyền đó Việc xâm phạm đến các quyền mà con người được bảo vệnêu trên đều là hành vi vi phạm pháp luật Tuỳ theo mức độ, tính chất của vi phạm
mà sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc trách nhiệm hình sự
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới là một loại phương tiện đặc thù đượcxếp vào nguồn nguy hiểm cao độ nên chúng phải được kiểm soát chặt chẽ ngay cảkhi không vận hành Khi vận hành các phương tiện giao thông vận tải cơ giới người
Trang 32sử dụng bao gồm chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao cho chiếm hữu sửdụng phải có trách nhiệm trong việc sử dụng phương tiện để đảm bảo an toàn chongười khác, bảo đảm không gây thiệt hại với các tài sản khác Nếu việc vận hành, sửdụng phương tiện có những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể là các hành vi
vi phạm một trong những quy định của các luật về giao thông vận tải như Luật Giaothông đường bộ, Luật Hàng hải, Luật Đường sắt, Luật Hàng không dân dụng,… Ví
dụ như hành vi trong lĩnh vực giao thông đường bộ các hành vi vi phạm thườngthấy như đi quá tốc độ; chở quá trọng tải quy định; tránh, vượt trái phép; không điđúng tuyến đường hoặc phần đường và các hành vi khác vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ do cơ quan có thẩm quyền ban hành; tronglĩnh vực đường sắt thì hành vi vi phạm về chạy tàu, quy định về chấp hành tín hiệugiao thông đường sắt hoặc trong lĩnh vực hàng hải thì vi phạm quy định về cho tàuthuyền cập cầu cảng khi cầu cảng chưa được phép đưa vào khai thác, sử dụng, đingược chiều trong luồng quy định một chiều Các hành vi vi phạm pháp luật gâythiệt hại có thể là việc người điều khiển phương tiện không tuân thủ các quy định vềbảo quản phương tiện vận tải dẫn đến việc phương tiện bị chiếm hữu một cách bấthợp pháp thì chủ sở hữu vẫn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Đôi khi, chủ sởhữu phương tiện, người điều khiển phương tiện không có hành vi trái pháp luậtnhưng vẫn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bởi lẽ như đã phân tích ở trên,phương tiện giao thông vận tải cơ giới mang bản chất của nguồn nguy hiểm cao độnên khi chủ sở hữu quyết định đăng ký quyền sở hữu nghĩa là họ đã chấp nhận rủi
ro có thể xảy đến với phương tiện của mình Tất nhiên, khi họ đã chấp nhận điều đóđồng nghĩa với việc họ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi họ không có hành vigây thiệt hại
2.1.3 Có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới hoặc có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của phương tiện giao thông vận tải cơ giới với thiệt hại xảy ra
Dưới góc độ triết học, mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, là mối liên
hệ phổ biến giữa các vật và hiện tượng Hay nói cách khác, “Nguyên nhân và kết
quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng
Trang 33vào một trường hợp riêng biệt nhất định Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau”.
Theo Mục 1.3, khoản 1, Phần I, NQ 03/2006/NQ-HĐTP thì mối quan hệ nhân
quả được diễn giải là: “Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp
luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại” Dựa vào
mối liên hệ này, khoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp luật dân sự nói riêng
xác định rằng: Chỉ những thiệt hại nào được coi là hậu quả tất yếu, không thể tránh khỏi của hành vi trái pháp luật thì người gây thiệt hại đó mới phải chịu trách nhiệm
bồi thường Như vậy, “trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi xác định chính xác hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại Hay nói cách khác thiệt hại là hậu quả của hành vi trái pháp luật” [8, trang 449]
Mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của phươngtiện giao thông vận tải cơ giới với thiệt hại xảy ra được hiểu là thiệt hại về tínhmạng, sức khoẻ, tài sản của người khác phải là kết quả tất yếu của hành vi vi phạmcác quy định về an toàn giao thông do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gâythiệt hại và ngược lại hành vi trái pháp luật do phương tiện giao thông vận tải cơgiới gây ra phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại mớiphải BTTH cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn.Xác định đúng quan hệ nhân quả tuy rất khó khăn, phức tạp nhưng ý nghĩa rất quan
Trang 34trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Khi đánh giá, xác địnhnguyên nhân của các vụ việc do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây thiệt hạicần lưu ý một số vấn đề sau:
- Cần phải phân biệt nguyên nhân với điều kiện Nguyên nhân giữ vai trò cótính chất quyết định trong việc phát sinh ra kết quả, còn điều kiện chỉ là sự xúc tác
để thúc đẩy kết quả xảy ra Ví dụ: A điều khiển xe chạy quá tốc độ Khi xe đi qua “ổgà” thì bị mất lái đâm vào B làm B thiệt mạng Trong trường hợp này hành vi điềukhiển xe quá tốc độ mới là nguyên nhân, việc đi xe chạy vào “ổ gà” mất lái chỉ làxúc tác làm cho hậu quả là B bị thiệt mạng xảy ra
- Cần phải phân biệt nguyên nhân chủ yếu với nguyên nhân thứ yếu dẫn đếnthiệt hại xảy ra Sự thiệt hại không phải chỉ đơn thuần do một nguyên nhân gây ra,
mà thường là do nhiều nguyên nhân Các nguyên nhân này không tồn tại độc lập màkết hợp với nhau quyết định phát sinh ra thiệt hại, nếu thiếu một trong các nguyênnhân đó thì kết quả sẽ không xảy ra Sự tác động của từng nguyên nhân đối với kếtquả xảy ra có thể khác nhau về mức độ tuy nhiên cần xác định nguyên nhân nào lànguyên nhân chủ, nguyên nhân nào là thứ yếu để làm căn cứ xác định trách nhiệmbồi thường thiệt hại Ví dụ: A điều khiển xe máy chở B, A đội mũ bảo hiểm còn Bthì không đội A điều khiển xe máy chạy với tốc độ cao đi lấn làn nên đâm vào xeôtô đang chạy ngược chiều Hậu quả, B tử vong do “nứt vỡ hộp sọ, đa chấn thương”còn A do đội mũ bảo hiểm nên dù bị thương rất nặng nhưng vẫn giữ được tínhmạng Trong trường hợp này, hành vi “không đội mũ bảo hiểm” của B tuy là hành
vi vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông nhưng đây chỉ là nguyên nhânthứ yếu, không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cái chết của B, nguyên nhânchủ yếu dẫn đến việc B bị thiệt mạng là hành vi “điều khiển xe máy chạy quá tốc
độ, lấn làn” của A
Như vậy, mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật củaphương tiện giao thông vận tải cơ giới với thiệt hại xảy ra phải xác định được đúngnguyên nhân và kết quả; phân biệt được đâu là nguyên nhân và đâu là điều kiện;phân biệt được nguyên nhân nào là chủ yếu nguyên nhân nào là thứ yếu, nguyênnhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp Có như vậy mới xác định được trách nhiệm
Trang 35bồi thường thiệt hại thuộc về ai khi xảy ra thiệt hại do phương tiện giao thông vậntải cơ giới gây ra một cách chính xác.
2.1.4 Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra
Lỗi là một yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lý của con người đối với hành
vi của mình và hậu quả của hành vi ấy Lỗi trong trách nhiệm dân sự được chiathành hai loại đó là lỗi cố ý và lỗi vô ý Theo đó, lỗi cố ý gây thiệt hại là trường hợpmột người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác nhưng vẫnthực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy racòn lỗi vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi củamình có khả năng gây thiệt hại mặc dù phải biết hoặc biết trước thiệt hại có thể xảy
ra hoặc có thể thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng chorằng thiệt hại không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợpđồng nói chung nhưng đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phương tiện giaothông vận tải cơ giới gây ra thì yếu tố lỗi chưa phải là điều kiện cần thiết để làmphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơgiới
Pháp luật dân sự quy định tại khoản 2 điều 601 BLDS 2015 và điểm a khoản 2 mụcIII NQ 03/2006/ NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao làchủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới (chủ sở hữu nguồn nguy hiểm caođộ) đang chiếm hữu, sử dụng phương tiện (nguồn nguy hiểm cao độ) phải bồithường thiệt hại do phương tiện (nguồn nguy hiểm cao độ) gây ra Tuy nhiên vấn đềbồi thường thiệt hại do hành vi của chủ sở hữu phương tiện gây ra phải xem xét đếnhậu quả của vụ việc để xác định mức độ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theoquy định của pháp luật dân sự hay là hậu quả nặng đến mức phải truy cứu tráchnhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, BLHS sửa đổi 2017 Phápluật dân sự có tính thỏa thuận, không có tính răn đe nên pháp luật hình sự phải cóchế tài để làm giảm thiểu yếu tố lỗi cố ý hay vô ý của chủ phương tiện giao thông
Trang 36vận tải cơ giới khi điều khiển phương tiện, đảm bảo được quyền lợi của người bịthiệt hại.
Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người bị thiệt hại, pháp luật dân sự quyđịnh ngoài việc chủ sở hữu phương tiện phải bồi thường thiệt hại khi điều khiểnphương tiện thì trong trường hợp chủ sở hữu phương tiện không gây ra lỗi dẫn đếnthiệt hại cho người khác thì cũng phải bồi thường thiệt hại Bởi lẽ trong một sốtrường hợp mặc dù chủ sở hữu không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại (không bằnghành vi của mình) nhưng phương tiện tự thân gây ra thiệt hại thì chủ sở hữu phươngtiện giao thông vận tải vẫn phải bồi thường thiệt hại Nói đơn giản rằng phương tiện
là vật vô tri nhưng trong quá trình hoạt động thì chính bản thân nó lại gây ra thiệthại như xe đang đi thì bị nổ lốp hoặc xe đổ đèo bị mất phanh dẫn đến tai nạn,… màchủ sở hữu không thể kiểm soát được những hành vi này Nhưng để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại và nâng cao tinh thần trách nhiệm trongquản lý sử dụng của chủ sở hữu thì pháp luật dân sự cũng phải dự liệu trường hợpnày và vấn đề này được quy định tại khoản 3 điều 601 BLDS 2015 và điểm c khoản
2 mục III NQ 03/2006/ NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao “Về nguyên tắc chung chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử
dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không có lỗi”
2.2 Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện, người chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông vận tải cơ giới.
2.2.1 Thiệt hại phát sinh do hành vi điều khiển phương tiện giao thông vận tải trái pháp luật của chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới có thể là cá nhân hay tổchức Chủ sở hữu phương tiện được pháp luật công nhận quyền sở hữu của mình đốivới phương tiện vận tải cơ giới, bởi vậy họ có quyền sử dụng phương tiện vào cácmục đích hợp pháp theo ý muốn của mình Khi chủ sở hữu trực tiếp điều khiểnphương tiện của mình mà có hành vi vi phạm các quy định về giao thông vận tải gâythiệt hại đến tài sản, sức khỏe, tính mạng của người như: Gây thiệt hại do vượt
Trang 37quá giới hạn phòng vệ chính đáng; gây thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầucủa tình thế cấp thiết; điều khiển phương tiện sau khi dùng chất kích thích; gây thiệthại trong trường hợp vi phạm các quy định an toàn giao thông vận tải,… Các hành
vi đó khi xảy ra và gây thiệt hại thì theo quy định tại khoản 2 Điều 601 BLDS 2015
và khoản a Điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy địnhcủa BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ sở hữu hợp pháp củaphương tiện giao thông vận tải cơ giới phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, việc xácđịnh chủ thể của việc bồi thường trước tiên phải xem xét năng lực chịu trách nhiệmbồi thường Đối với chủ sở hữu là cá nhân, căn cứ quy định của Điều 586 BLDS
2015 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, có thể xác địnhnăng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:
- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường
- Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phảibồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường màcon chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thườngphần còn thiếu, trừ trường hợp bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi,người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện,pháp nhân khác trực tiếp quản lý
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phảibồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹphải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì ngườigiám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu ngườiđược giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám
hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh đượcmình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồithường
Trang 38Đối với chủ sở hữu là pháp nhân thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được
pháp luật dân sự quy định tại Điều 597 Bộ luật dân sự 2015 như sau: “Pháp nhân
phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.” Như vậy trong các trường hợp người được pháp nhân giao nhiệm vụ sử
dụng, vận hành phương tiện giao thông vận tải cơ giới mà có hành vi vi phạm gâythiệt hại thì chủ sở hữu là pháp nhân sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại cho người khác Để bảo vệ quyền lợi của pháp nhân, pháp luật cũng quy định vềviệc pháp nhân có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trảmột phần chi phí bằng tiền mà pháp nhân đã bỏ ra để bồi thường thiệt hại thay chongười của pháp nhân gây ra thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ của pháp nhângiao
2.2.2 Thiệt hại phát sinh do hành vi điều khiển phương tiện giao thông vận tải trái pháp luật của người chiếm hữu, người sử dụng phương tiện giao thông vận tải cơ giới
Để xác định ai phải là người chịu trách nhiệm trong trường hợp có thiệt hạiphát sinh do hành vi điều khiển phương tiện giao thông vận tải trái pháp luật củachủ thể có liên quan đến chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới, chúng
ta phải xem xét các yếu tố liên quan đến chủ sở hữu theo quy định của pháp luậthiện hành, cụ thể có thể chia ra các trường hợp như sau:
Thứ nhất, chủ sở hữu phương tiện giao thông vận tải cơ giới giao cho ngườikhác sử dụng phương tiện của mình, nhưng bản thân họ vẫn chiếm hữu, sử dụngphương tiện đó Đây chính là trường hợp chủ sở hữu phương tiện chuyển giaophương tiện theo nghĩa vụ lao động Trong trường hợp này, người được chuyển giaophương tiện giao thông là những người làm công, ăn lương, được giao chiếm hữu,
sử dụng phương tiện giao thông để thực hiện nhiệm vụ mà người chủ lao động giaocho Mặc dù người lao động là người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng phương tiệngiao thông nhưng hoàn toàn dưới sự quản lý, điều hành của chủ sở hữu phương tiệngiao thông và vì lợi ích của chủ sở hữu nên có thể xem tương tự như trường