Ký sinh trùng chủ yếu của Trâu ở một số lò mổ xung quanh Hà Nội. Đặc điểm của Sarcocystis và thuốc điều trị
Trang 1từ thiếu sang đủ, từ đủ tiến tới thừa, làm cho đời sống nhân dân được nângcao Trong Nông nghiệp ngành chăn nuôi cũng đã và đang góp phần quantrọng vào sự phát triển đó
Từ xưa đến nay vốn là đầu cơ nghiệp, trâu- bò đã có sự gắn bó mậtthiết với người nông dân, cung cấp sức kéo-phân bón cho nông nghiệp, cònlàm nguyên vật liệu cho các ngành thuộc da và kỹ nghệ: da, sừng,móng cung cấp thực phẩm: thịt, sữa Những năm gần đây chúng ta đã tiếnhành nhập khẩu nhiều giống ngoại có năng suất chất lượng cao bảo đảm cungcấp sản phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu nâng cao được năngsuất cho người nông dân góp phần đẩy mạnh sự phát triển nền kinh tế nướcnhà Đồng thời các cơ quan nghiên cứu Chăn nuôi - Thú y cũng bảo tồn duytrì những gen quý của giống nội Tuy vậy nhưng do người nông dân là nhữngngười không được đào tạo cơ bản về chăn nuôi - Thú y, cho nên công tácphòng chống bệnh - dịch gặp rất nhiều khó khăn, trong đó những bệnh phổbiến thường xuyên xảy ra là bệnh Kí sinh trùng, bệnh này đã gây ra rất nhiềuthiệt hại cho người chăn nuôi, ví dụ : như tiêm mao trùng gây chết hàng loạt,các bệnh khác như Sán-giun làm giảm tốc độ sinh trưởng gia súc gây còi cọc,giảm sức đề kháng Ngoài ra Kí sinh trùng còn tạo điều kiện cho các vi sinhvật xâm nhập sau đó là các bệnh truyền nhiễm kí sinh kế phát lưu hành
Xuất phát từ thực tế đó và được sự giúp đỡ của các thày trong bộ mônKST- KNTS - VSTY đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phan Lục
Trang 2cũng như sự giúp đỡ của một số lò mổ xung quang Hà Nội chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài:
“Ký sinh trùng chủ yếu của Trâu ở một số lò mổ xung quanh Hà Nội.
Đặc điểm của Sarcocystis và thuốc điều trị.”
II- MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
- Điều tra tình hình nhiễm những kí sinh trùng chủ yếu của Trâu Ở một
số lò mổ xung quanh Hà Nội
+Xác định tỷ lệ nhiễm KST theo lớp
+Thành phần KST chủ yếu ở Trâu
+Biến động nhiễm KST theo tuổi Trâu
+Biến động nhiễm KST theo các vùng nuôi trâu
- Xác định một số đặc điểm của Sarcocystis
- Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh
Trang 3PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ SÁN LÁ GAN (FASCIOLA)
2.1.1 Những nghiên cứu về sán lá gan trên Thế Giới.
Trên Thế giới việc nghiên cứu về kí sinh trùng đã có từ lâu Và đã đượcđược đề cập trong kinh thánh Ai Cập (Ebersa.1550 TCN) về sán dây, giunđũa Ban đầu việc nghiên cứu chủ yếu bằng trực quan và đã xác định đượcsán lá (từ thế kỷXIII và nửa đầu thế kỷ XIX) Giai đoạn này người ta xácđịnh được một số kí sinh trùng của người và gia súc Năm 1808 Rudolphi xácđịnh được lớp sán lá (Trematoda ) đến năm 1885 thì Owen đặt tên làRecholaria tiếp đó tác giả Carus đặt tên cho lớp này là Dienia vào năm 1863.Đến năm 1964 Erchov gọi là Trematoides năm 1970 Schulz và Gvozdes đã
mô tả hình dạng kích thước màu sắc các giác bám vỏ ngoài như mô, hệ thống
cơ các hệ thống tiêu hoá, bài tiết, thần kinh, sinh dục
Sau thời kì xác định trực tiếp bằng mắt thường là thời kì phân loại, thời
kỳ này kéo dài từ thế kỷ XVII - XIX người đầu tiên phân loại sán lá gan làLinnaca, ông chia sán lá thành hai nhóm vào năm 1758, sau đó vào năm 1863Duraclinchia chia lớp sán lá thành 5 nhóm: Octobothriens, Tritoniens,Distoniens( trong nhóm Distoniens lại gồm Aspidogaster, Amphistoma,Monotona, Holostomun, Distoma) Monogeneses và Digeneses Đến lượtCarus lại chia sán lá thành hai nhóm là Monogenea và Digennea
Johan De Brie là người đầu tiên phát hiện và mô tả sán lá gan loài F.hepatica, vào năm 1379 sau đó năm 1752 Swammerdam phát hiện được vĩ ấu(Cercoria) của sán lá gan trong loài ốc Gaearopoda Năm 1882 Thomas ở Anh
và Leukart ở Đức cùng lúc đã đồng thời xác định vòng đời phát triển của loàiF.hepica ở nhiêt độ khống chế 10 - 19oc thì sau 14 - 16 ngày trứng nở ở nhiệt
độ 25 - 30oc thì tỷ lệ trứng nở từ 70 - 80%
Trang 4Một số tác giả nghiên cứu về vòng đời sán lá gan : Krull(1934)Swles(1935) Cumaron và Swalls(1963)
Về đường di hành của ấu trùng sán lá gan: Kennth(1949),Taylor(1968), Hansen và Peri(1994) đã cho biết con đường di hành của chúng
là chui qua thành bụng vào xoang bụng Tác giả đã theo dõi sau 24h đã thấysán non trong xoang bụng
Năm 1961 - Erhardofva đã xác định được vật chủ trung gian của sán lágan loài nhai lại tại vùng bắc Mỹ là loài ốc Ganbatracatula ở Pakistan sựcảm nhiễm F.giantica thường xảy ra nhiều nhất sau đợt gió mùa (Yasin 1958)khi nước lụt làm cho vĩ ấu phát triển nhiều nhất sau đợt gió mùa ( tháng 1- 2)khi thiiêú thức ăn gia súc phải ăn cỏ ở nơi đầm lầy nước đọng mà ở đó lại córất nhiều lang ấu tồn tại từ trước
Dun và Dinnik ( 1959- 1978) phát hiện trong thiên nhiên một ốc nhiễm
từ 126 - 415 ấu trùng và với số lượng như vậy nó gấp 5- 7 lần so với gâynhiễm thực nghiệm ở t0<160c lôi ấu( Redia) chỉ sinh ra Redi I rồi ngừng pháttriển ( không gây nhiễm được)
Năm 1968 Sumakovich đã xác định vòng đời sán lá gan và nó pháttriển theo 4 giai đoạn chính: Trứng ấu trùng kén, ở gian đoạn kén khigặp vật chủ cuối cùng sẽ phát triển thành dạng trưởng thành TheoSkeman( 1956) thì vòng đời của sán lá gan khoảng 92 - 117 ngày Năm 1985Tay và Geogi nghiên cứu về Faciola ở châu Mỹ thấy rằng F.giantica có dịchhoàn phân nhánh mạnh
Năm 1994, theo Hansen và perri nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá ởtrâu bò và tác hại của chúng gây ra cho chăn nuôi tại một số nước đang pháttriển ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mĩ cho biết: Lớp Trematoda ký sinh ở gangồm F.giantica và F.hepatica F.hepatica dài từ 18 - 51 mm rộng từ 4 - 13 mmthân dẹp hình lá màu nâu nhạt Phần đầu hình nón dài từ 3 - 4 mm có hai giácbám là giác bụng và giác miệng trong đó giác bụng lớn hơn giác miệng, thân
Trang 5nhau, hai bên đối xứng, vỏ mỏng, phôi bào màu vàng hơi nâu và chứa đầytrong trứng Kích thước trứng 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09 mm.
Tác giả Sumakovich(1968) đã cho biết Fasciola nói chung phải qua haivật thể ( vật chủ trung gian và vật chủ cuối cùng) ở ngoài môi trường là quátrình hoặc giai đoạn phát triển của ấu trùng, khi phát triển thành nang ấu( Adolescaria) lại ở ngoài môi trường Vật chủ trung gian sẽ có vai tròkhuyếch tán mầm bệnh làm tăng số lượng mầm bệnh Gia súc bị nhiễm sán lágan phụ thuộc vào mùa vụ trong năm
Về diều trị: Từ trước tới nay người ta sử dụng nhiều loại hoá dược nhưTetraclorua ( CCl4): 4 -5 ml/100kgP; Hecxacloethan; Dertil - B - mg/kgP.Năm 1983 Smed và Hallcho biết: Fascinesex liều 10mg/kgP hiệu lực đạt tới99% đồng thời có tác dụng chống lại các giai đoạn sống của sán lá gan từ 1 -
12 tuần tuổi
2.1.2 Nghiên cứu sán lá gan ở Việt Nam.
Từ xưa đất nước ta đã có những lương y giỏi như : Lương Y LươngTuệ Tĩnh thế kỷ XIV đã viết : “ Muôn loài trên trái đất có 4 cách sinh sản là:thai sinh (đẻ ra con), noãn sinh (đẻ ra trứng) Thuỷ sinh hay thấp sinh (đẻ dướinước) và hoá sinh (hoá ra con) giun sán là loại hoá sinh “ ở giai đoạn này
đó là giai đoạn tiến bộ và có ý thức
Trước năm 1945, các nhà làm công tác thú y tại Việt Nam đã thu thập,phát hiện để lại những hiểu biết về giun sán thú y tại các bệnh xá thú y, cácphòng thú nghiệm hay các lò sát sinh lớn ở các thành phố như Hà Nội, HảiPhòng, Sài Gòn Nhưng họ mới chỉ nghiên cứu chung trên đối tượng là vậtnuôi hoặc đại gia súc mà chưa đi sâu nghiên cứu từng loại giun sán trên từngđối tượng riêng biệt Đã có một số tác giả từng nghiên cứu về sán lá gan ởViệt Nam : Giard Billet(1892)
GoMy(1896-1897) Bauche (1914) Lagrange(1923) Raillet(1925) Phan Huy
Trang 6- Năm 1963 tác giả Trịnh Văn Thịnh đã tổng hợp các loại Ký sinh trùng
ở vật nuôi nước ta trong cuốn”Ký dinh trùng Thú y “
- Năm 1966, Nguyễn Hữu Bình , Nguyễn Thị Kỳ, Phan Xuân Dụ đãcông bố kết quả định loại giun sán ở súc vật nông nghiệp ngành nông nghiệpquốc doanh và thu được kết quả: ở Trâu bò nhiễm 19 loại sán lá ,5 loại sándây và 1 loại giun tròn.Các tác giả còn đưa ra nhận định lớp Trematoda có tỷ
lệ nhiễm cao nhất là loài Furytrema, Fasciola, Paramphistomatidu (kể cả giasúc thuộc giống nhập nội)
Bệnh sán lá gan ở loài nhai lại, đặc biệt là trâu - bò chủ yếu do một sốloài như F.giantica; F.hepatica, Dicro coelium lancealatum gây nên Songgặp phổ biến nhất ở trâu bò nước ta la loài F.giantica và củng cố một sốtrường hợp phát hiện ra F.hepatica qua mổ khám trâu bò
Về hình thái F.giantica đã được mô tả: F.giantica dài 25 - 27mm rộng 5
- 12mm có hình lá liễu đỏ gạch hai rìa mép có thể gần như song song, phíatrước rộng tạo vai, giác miệng ngay trên đỉnh đầu , túi sinh dục lớn nằm gầngiác bụng hầu dài hơn thực quản, ruột phân nhiều nhánh nhỏ buồng trứngphân nhiều nhánh ở nửa trước thân, hai tinh hoàn phân nhánh mạch nằm trêndưới nhau, túi noãn hoàn xếp dọc hai bên thân sán
F.hepatica dài từ 20 - 30mm rộng 4- 13mm phần đầu nhô ra tạo thànhvai hai bên rìa mép cơ thể không song song đuôi nhọn, ruột phân nhánh ít hơn
và chia nhánh không rõ ràng bằng F.giantica
Về trứng: có hình bầu dục, phình rộng ở giữa thon đầu về hai đầu, đầunhỏ có nắp trứng vỏ trứng gồm 4 lớp mỏng, lớp ngoài cùng phẳng, kích thướccủa chúng khỏang 0,125 -0,177 x 0, 06 - 0,104mm
Theo Phan Dịch Lân trứng sán là gan ở nhiệt độ 28 - 30oc sau 14 - 16ngày ngày nở thành mao ấu, từ mao ấu phát triển thành bào ấu kéo dài 7 ngày
từ bào ấu thành lôi ấu là 21 ngày và từ lôi ấu thành vĩ ấu 7 - 13ngày, thành vĩ
ấu già chui ra khỏi ốc sau 2 - 5 h thành Adolescaria
Trang 7Cũng theo Phan Dịch Lân Và Lê Hồng Cán thì ký trùng trung gian củasán lá gan là: ốc Limnea swinhoei và L.viridis hai loài ốc này có khả năng tồntại quanh năm nhưng phát triển mạnh nhất vào vụ đông xuân loài L.viridis cónhiều ở vùng ẩm thấp, loài Linnea swinhoei có nhiều ở vùng trũng ngập nước
và cả hai loài này đều có khả năng sinh sôi nảy nở rất nhanh tróng trong mộtthời gian ngắn
Theo Houdermer, sau một thời gian nghiên cứu về sán lá gan ở miềnBắc Việt Nam (1938) cho biết: ở Bắc Bộ Việt Nam trâu bò nhiễm sán lá gianloài F.hepatica là 23,5% trong khi tỷ lệ nhiễm loài F.giantica là khoảng64,7%, tỷ lệ nhiễm riêng của trâu Việt Nam là 76,9% Còn loài F.hepatica thìchỉ phát hiện thấy ở một trường hợp trâu ở tỉnh Tuyên Quang
Năm 1972 tác giả Phan Dịch Lân cho biết Trâu bò ở Lào Cai nhiễmsán lá gan từ 20 - 26,6% Năm 1974 Phan Dịch Lân và Phạm Sỹ Lũng chobiết tỷ lệ nhiếm sán lá gan ở Bình Lục (Hà Nam) là 51,2 - 57,5%
Năm 1994 Phan Lục và Vương Đức Chất cùng cho biết tình hình nhiễmsán lá gan ở vùng ngoại thành Hà Nội là 34,42% tỷ lệ nhiễm tăng dần theotuổi từ 1 - 2 tuổi (24%) 3- 5 tuổi (24, 94%) từ 6 - 8 tuổi(36,92%) 9 tuổi là46,92% Riêng Fasciola : 61,2%
Năm 1996 Nguyễn Trọng Kim, Lê Quang Toản cho biết tình hìnhnhiễm sán lá gan ở trâu bò ở vùng đồng bằng Bắc Bộ là 50,09% và cũng tăngdần theo tuổi từ 30,14 - 37,93% theo Lương Tố Thu và Bùi Khánh Linh chobiêt Trâu bò ở các nơi đưa về lò mổ Hà Nội khi mổ khám cũng thấy tỷ lệnhiễm sán lá gan cao : 66,6%
Sán lá gan là loài gây hại lớn cho Trâu bò nước ta theo tác giả NguyễnKim Thành và cộng sự thì trâu bò bị nhiễm sán lá gan hồng cầu giảm từ4,47triệu xuống còn 38,5 triệu/mm3 còn bạch cầu lại tăng lên từ 12,06 nghìn
nên 13, 5 nghìn Huyết sắc tố giảm từ 84g% xuống còn 7,07g% ở những con
Trang 8nhanh và ngược lại Công thức bạch cầu thay đổi là bạch cầu ái toan tăng vàbạch cầu trung tính giảm về điều trị.
Năm 1969, Bùi Lập đã theo dõi hiệu lực thuốc tẩy san lá gian của CCL4
bằng cách tiêm vào dạ cỏ thấy tỉ lệ sạch sán là 36.4%,Sán ra sớm nhất sau10h và ra chậm nhất sau 6-18h Sán tẩy khỏi Trâu bò rải rác trong 7 ngày song
ra nhiều nhất từ ngày 2-3
Sau khi tiêm thuốc thì tần số tuần hoàn , hô hấp nhu động dạ cỏ giảm Năm 1978 Phan Dịch Lân với công trình nghiên cứu của mình đề nghịtẩy 2lần/năm nếu nhẹ Thuốc dùng là CCL4 5ml/100kg thể trạng ,Notroxilinliều 10ml/100kg
Năm 1987 Hồ thị Thuận dùng Dertil - B liều 9 mg/kg thể trọng tẩy chotrâu đạt 93,3% - 100% Dùng Fasciofamida 15mg/kgP tẩy cho trâu đạt 93,3-100% Dùng Fasciofamida 15mg/kgP tẩy cho trâu đặt 83,3 - 84,5%
Năm 1996 Lương Tố Thu và Bùi Khánh Linh dùng Fasinexliều12mg/kgP tẩy cho 63 con trâu đạt 100% sán trưởng thành trong khi đóDertil - B liều 6mg/kgP tầy cho 10 con bò 5 con trâu đạt 100% nhưng chỉ ởdạng trưởng thành không tẩy được ấu trùng
2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ SÁN LÁ DẠ CỎ (PARAMPHISTOMATA).
2.2.1 Những nghiên cứu về sán lá dạ cỏ trên thế giới.
Trên thế giới có rất nhiều những tác giả nghiên cứu về sán lá dạ cỏ, đó
là những công trình khoa học có tầm quan trọng lớn đối với ngành chăn nuôi
Thời gian trước đây người ta đã từng có quan điểm: “ Việc tồn tại cúasán lá dạ cỏ là vô hại “ đó là quan điểm sai lạc Những năm gần đây người ta
đã nhận thức đúng được tác hại của sán lá dạ cỏ và từ đó người ta đi sâu vàonghiên cứu chúng
Mở đầu cho việc nghiên cứu chúng, phải nói đến nhà nghiên cứu nóiđến tác giả Fischoeder, ông đã xác định họ Paramphistomatidae vào năm
1901 và ông cũng là người đầu tiên chỉnh lại nhóm này
Trang 9Fukui (Nhật Bản 1929) xác định được loài Paramphistomum ichikawaithuộc họ Paramphistomatidae
Davidova(1961) xác định được loài P.peteovi ở vùng Ucrai
Baycop(1955) và K.gray(1965) cho biết sán lá dạ cỏ có khả năng gâychết cho các gia súc có sừng khi còn non
Năm 1967 J.Drozd và A.Malefewfki cho biết vòng đời phát triển của
họ omatidau Paramphistomatidae Giống với vòng đời sán lá gan F.hepatica,riêng vĩ ấu (cercaria) của P.cervi có mắt
Vòng đời Sán lá dạ cỏ:Sán trưởng thành sau khi thụ tinh, sán đẻ trứng,trứng theo phân ra ngoài mao ấu hình thành và phát triển trong trứng sau
đó chui khỏi trứng vào môi trường nước tìm kí chủ trung gian là ốc nước ngọt.Trong các nội tạng của ốc như gan và tuỵ sau đó thành lôi ấu, lôi ấu lại sinh
ra lôi ấu con, lôi ấu con lại sinh ra vĩ ấu.Vĩ ấu rời khỏi ốc và di chuyển pháttriển tự do trong nước.Sau một thời gian ngắn vĩ ẩu rụng đuôi, tự bọc kén lạirồi đọng nên cây cỏ thuỷ sinh trong nước thành ấu trùng gây nhiễm hayAdolescaria (nang ấu), khả năng sinh sản và phân tán của san lá dạ cỏ là rấtcao vì từ 1 mao ấu có thể sinh ra hàng trăm vĩ ấu
Gináninskaia (1968) xác định được vật chủ trung gian của P.cevi lànhuyễn thể Planorbis gallphysa
Tác giả Sumakovich(1968) nghiên cứu sự phát triển của sán lá dạ cỏcho biết quá trình phát triển từ trứng đến Miracidium phải phụ thuộc vào nhiệt
độ môi trường Nếu nhiệt độ là 19,5oc - 27,5oc thì ấu trùng nở ra sán lá dạ cỏ
Tác giả Orlwa năm 1953 đã công bố rằng : gia súc mắc bệnh cấp tính,khi kiểm tra máu đã xác định hồng cầu trung tính lại tăng
K.A.Kriukova(1957) V.I.Dgun (1958) xác định vật chủ trung gian của
họ Paramphistomatidou là các loài như : Planosbis Plannorbis, AnisusSpirerbis, A.vortex, Graulus albus, G.gredleri, G.chrenbergi, A.armiger
Trang 10Soulsby(1982), Chandrawathni, Cheach, Tomson(1985) nghiên cứu ởChâu Mỹ cho biết : vĩ ấu Cercaria rời ốc sau khoảng 43 ngày.
Về điều trị: Năm 1925, H.Z Daysop đã thử nghiệm sử sụng hoá chất làPhenolthiafil với liều 0,5g/kgP để tảy và thấy rằng thuốc có hiệu quả khá tốt.Sau đó năm 1961 Pogoulegi thử nghiệm hỗn hợp thuốc là 4ml CCL4 + 4 mlparafin cho 100kg cân nặng thấy có hiệu lực tốt đặc biệt tẩy được cả sán non
Sau đó hai năm, tức là năm 1963 nhà nghiên cứu Glay đã sử dụngthửnghiệm Base 2353 để điều trị
Leroux (1930) đã sử dụng thuốc CCL4 trong dầu với liều 8 - 10ml/kgP
Dadynkov(1966) đã dùng dung dịch Chlorfor 10% để tẩy và thu đượckết qủa cao đạt 90 - 92 %
2.2.2 Những nghiên cứu về sán lá dạ cỏ ởViệt Nam.
Từ hoàn cảnh thực tế nước ta đã nói nên rằng, trước những năm 1945đất nước ta bị Pháp đô hộ nên việc nghiên cứu khoa học nói chung chưa pháttriển Khoa học ký sinh trùng cũng không nằm ngoài điều đóvà chỉ có một sốtác giả nước ngoài nghiên cứu ở Việt Nam như Houdermer(1938); năm 1967J.Drofdf và A.Mlerwski(người Ba Lan ) nghiên cứu về KST hay cuốn” Nội
ký sinh vật và bệnh ký sinh vật ở động vật nhai lại ở Việt Nam đã có tới 23loài thuốc 8 giống về sán lá dạ cỏ Trong đó, họ Paramphistomatidae có 5giống(16 loài): Paramphistomum , Gigatocotyle, Calicophoron, Ceylomotylecòn họ Gastrothylax Poirer, Carmyerius và Fischoederius.Theo J.Dofdf thìTrâu bò Việt Nam nhiễm Paramphistomatidae với tỷ lệ và cường độ cao Cónhững cá thể tới hàng trục ngàn sán, với trâu tỷ lệ này 100% và 90,4% với bò
Nói chung, sán phân bố trong hầu khắp ở trong đường tiêu hoá, song ở
dạ cỏ và lá sách là những nơi cảm nhiễm nhiều nhất với mật độ cao nhất
Trong 8 giống sán lá dạ cỏ thuộc hai họ nêu trên thì giống đựơc nghiêncứu nhiều là Paramphistomum Trong đó P.cervi là loại được nhiều tác giả đềcập đề cập Gần đây ở nước ta thấy sự cám nhiễm của giống Fischoederius,loài F.elongatus cũng khá lớn
Trang 11Năm 1993 Phan Lục và cộng sự nghiên cứu tình hình nhiễm KSTvùng đồng bằng sông Hồng cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá của trâu là 81,5% và
bò là 71,72%
Năm 1995 - 2000 Phan Lục cùng cộng sư nghiên cứu sán lá dạ cỏ(paramphistomata) kí sinh ở trâu tại 1số địa điểm thuộc các tỉnh phía bắc bằngphương pháp xét nghiệm phân 1072 trâu và mổ khám 51 trâu ở các lứa tuổicho kết quả :trâu nhiễm sán lá dạ cỏ với tỷ lệ cao , cường độ 48,8 -96,6% ,thành phần gồm 9 loài những sán ký sinh với tỷ lệ cao , cường độ lớn là :F.elongatus (76,6%) G.gcrumenifer (83,3%) G glandiformis (66,69%),F.cobboldi (63,3%) số lượng kí sinh của mỗi loài này cũng cao từ 1120-5568/ trâu, tỷ lệ nhiễm tăng theo tuổi , đối với trâu < 2 tuổi (44,1%) trâu 2-8tuổi (70,5%) trâu >8 tuổi (75,5%)
Theo và Phan Lục (1997) thì đặc điểm nhiễm thái của vùng đời P.cervilà:
Về hình thái :
P.cervi có hình khối chóp, màu hồng nhạt kích thước chiều dài từ 5-12
mm (trung bình 8,8 mm, kích thước rộng từ 2-4 mm ) có 2 giác bám , giácbám miệng ở đầu sán, giác bụng lớn hơn giác miệng Đường kính giác bụngkhoảng 2mm và nằm ở cuối thân sán Nhờ có giác bụng to khoẻ mà sán cóthể bám chặt vào nhung mao của dạ cỏ, lỗ miệng được nằm ở đáy giác miệng.Hầu dài khoảng 0,84mm Thực quản khoảng 0,778m m Hai manh tràng uốncong uốn song song bên thân sán ở dưới chỗ ruột phân nhánh Hai tinh hoànkhối phân thuỳ , xếp trên dưới nhau ở phần sau của sán Buồng trứng hìnhtròn nằm ở giữa tinh hoàn và giác bụng , tuyến noãn hoàn hình chùm nhophân bố sau giác bụng ở 2 bên thân sán
Về vòng đời :
P.cervi trưởng thành kí sinh ở dạ cỏ sau khi thành thục về sinh dục , sán
Trang 12Sporocyst, bằng phương pháp sinh sản vô tính, mỗi Sporocyst sẽ sinh ra 9Redia, Mỗi Redia sinh ra 20 cercaria như vậy ta thấy: Từ 1 trứng tối đa có thể
có điều kiện phát triẻn hơn
Về kì trung gian :
Theo J.Drofdf và A Paramphistomatidae Melerewsk thì 1số loài ốc sauđây có ý nghĩa là kí chủ trung gian cho loài ở Nhật có Planorbis CompresaVar japonica; ở Ấn Độ có Plannorpis exutuf, ở Ai Cập là : Bullinus Contortus và Bullinus forsrali; ở Châu Âu nói chung có Gallbabulimoide techella vàmột số loài khác như : Anisus, Gyraulus, Polpylis (theo Phan Lục 1997).Còn Nguyễn Thị Lê và cộng sự (1996) thì kí chủ trung gian của
Trang 13Paramphistomum ở bò Ba Vì là hai loài ốc có tên Digonioftoma siamen vàBithynia fuchsiana.
Về tình hình nhiễm :
Nghiên cứu về sán lá dạ cỏ ở nước ta còn ít được chú ý Trong một vàinăm trở lại đây mới được chú trọng và trong những năm gần đây các nhà khoahọc mới xác định được tính lây truyền nguy hiểm của sán lá dạ cỏ, còn nhữngnăm trước các nhà khoa học cho rằng sán lá dạ cỏ không gây hại hoặc có gâyhại thì cũng nhẹ và ít
Năm 1938 Houdermer tiến hánh điều tra tình hình nhiễm KST ở độngvật nhai lại tại Việt Nam Tác giả đã phát hiện được 16 loài sán trong đó có 9loài sán lá dạ cỏ
Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái năm (1978) tổng hợp các kếtquả nghiên cứu nước ta nhiễm 23 loài sán lá dạ cỏ nhiễm ở mức như sau:F.elongatus nhiễm 38,2%, P.cervi 2,5 % G.glundifomaid 58,8% ;C.spatiosus 35,2% ,F.Jatonicus 41,1% ; Gcrumenifer 50%; F.copboldi 34,4%
Về điều trị:
Nói chung các loại thuốc dùng để điều trị sán lá dạ cỏ còn ít và hiệu lựcchưa cao.Trước đây người ta có thể sử dụng Hexchlorathan (C2C16) với liềulượng 0,2 - 0,4g cho một kg thể trọng (p) Theo Phan Lục thuốc Okazan vàBenzimidazol với liều lượng10mg/kgP đều có thể tẩy được sán lá dạ cỏnhưng tỷ lệ tẩy sạch sán lá dạ cỏ của Benzimidazon ( 100% ) cao hơn Okazan(là 26,6%)
2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ SÁN LÁ TUYỂN TUỴ(E.PANCREATICUM)
2.3.1 những nghiên cứu về sán lá tuyến tuỵ trên thế giới.
Theo Rajeuski và Badanin (1993) sán tuyến tuỵ dài từ 15 - 18mm rộngnhất 6 - 8mm hình lá, đuôi có nhô ra hình lưới, màu đỏ xám, giác miệng từ2,8 - 3,04mm hầu nhỏ dài từ 0,624 - 0,70mm Giác bụng tròn đường kính từ1,56 - 1,87mm, dịch hoàn có thuỳ đối xứng ở hai bên nằm cạnh giác bụng
Trang 140,8mm nằm ở giữa giác bụng và chỗ chia nhánh, ruột hơi chếch với trục cơthể Lỗ sinh dục ở phía dưới bụng chỗ chia hai nhánh Buồng trứng bé hơndịch hoàn nhiều lần, đôi khi chia thuỳ sau giác bụng Tuyến loán hoàn tụ lạithành từng nhóm ở hai bên thân sau dịch hoàn Tử cung thường ngoằn nghèotheo sau giác bụng và giữa ruột Trứng màu nâu nhạt, kích thước 0,044 -0,048mm.
2.3.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ SÁN LÁ TUYẾN TUỴ TẠI VIỆT NAM
Ở Việt Nam tác giả Phan Lục nghiên cứu sán lá tuyển tuỵ kết luận :Hiện nay chỉ tìm thấy duy nhất 1 loài E pancereaticum về hình dạng cấu tạo :Sán lá có màu đỏ sáng, hình lá dài 13,5 - 18,5mm, rộng 5 - 8,5mm có hai giácbám hình tròn, giác miệng lớn hơn giác bụng, hầu nhỏ dài 0,3 - 0,4mm, thựcquản ngắn, hai manh tràng ống xếp dọc hai bên thân, tinh hoàn hình bầu dục
có khi phân thuỳ nằm ở 2 bên mép sau của giác bụng, túi sinh dục dài nằmgiữa nơi phân nhánh của ruột với giác bụng Buồng trứng nhỏ hơn tinh hoànnhiều lần đó có khi có phân nhánh sán Tuyến noãn hoàn hình chùm ở hai bênthân Trứng E.panceraticum màu nâu kích thước trứng từ 0,45 - 0, 052 x0,029 - 0,033mm
Theo Phan Lục về vòng đời của Sán lá tuyến tuỵ như sau: Sán trưởngthành kí sinh ở tuỵ vì thường xuyên đẻ trứng Trứng theo phân ra ngoài hìnhthành Miracidium ở trong trứng.Trứng chịu được nhiệt độ (-)20oc đến (+)50octrong vài giờ, ở điều kiện khô ráo tồn tại 5 ngày, Miracidium thoát khỏi vỏtrứng xâm nhập vào đường tiêu hoá của kì chủ trung gian (ốc đất) rồi chui sâuvào đường tiêu hoá của vật chủ trung gian từ khi xâm nhập Miracidium biếnthành SporocysI sau 97 ngày cảm nhiễm SporocysI và phát triển thànhSporocysII sau 165 ngày rồi sinh ra Cercaria sau đó Cercaria ra khỏi vật chủtrung gian bằng đường phổi dưới dạng chất nhày bám trên cây cỏ Kí chủ cuốicùng nuốt phải Cercaria thì chúng sẽ qua ống dẫn và phát triển ở dạng trưởngthành thời gian sống của sán lá tuyến tuỵ không quá 12 tháng
Về điều trị:
Trang 15Phan Lục dùng Benzimimdazon cho hiệu quả cao dùng là 9mg/kgP, tỷ
lệ sạch sán 100%
2.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NHỤC BÀO TỬ TRÙNG(SARCOCYSTIS)
2.4.1 Những nghiên cứu về nhục bào tử trùng trên thế giới.
+Những nghiên cứu về nhục bào tử trùng (Sarcocystis) còn ít tàiliệu để cập
+ Năm 1972, hai nhà khoa học người Đức là Heydonm vàRomnael nghiên cứu vòng đời của Sarcocystis
+ Năm 1974, Fayer và Johnson, năm 1975 Gestrich và cộng sựcũng đã gây bệnh thực nghiệm và nhục bào tử trùng ở trâu bò
+ Năm 1975,Heydom và cộng sự đi nghiên cứu sâu hơn về nhụcbào tử trùng Ông đi nghiên cứu về đặc điểm sinh học của 3 loài Sarcocystis ởtrâu bò là: S.curuzi, S.hirusta và loài S.hominis
+ Tác giả Rommel - 1980 và cộng sự đã nghiên cứu hậu quả gâycho người, sau khi ăn phải thịt có chứa nang Sarcocystis
+ Năm 1983, Mc Caustand cùng cộng sự (úc) đã nghiên cứu khảnăng gây sẩy thai của Sarcocystis ở 4 đàn bò
+ Năm 1985 - tác giả Carrigan (Australia) đã quan sát và mô tảnhững triệu chứng lâm sàng, cũng như tổn thương bệnh lý cả về đại thể và vithể ở một đàn bê mắc Sarcocystis cấp tính
+ Cũng trong năm 1985 tác giả HongC.B cùng cộng sự (úc) đãtìm thấy Sarcocystis trong thai trên 1 bò bị sẩy thai
+ Năm 1976 hai tác giả Ruiz và Frelkel đã gây nhiễmSarcocystis thực nghiệm trên chuột
+Năm 1976 Frelkel:P và cộng sự (America) đã gặp những ổ dịchtrên một đàn bò sữa do Sarcocystis gây nên
2.4.2 Những nghiên cứu về Sarcocystis ở Việt Nam
Trang 16Những nghiên cứu riêng về nhục bào tử trùng ở Việt Nam còn khákhiêm tốn, tại Trường đại học Nghiệp I có một số tác giả nghiên cứu và chobiết như sau:
+ Năm 1990 - bác sỹ Cao Xuân Ngọc là giảng viên Khoa Chănnuôi Thú Y - Trường đại học Nông nghiệp I đã nghiên cứu về Sarcocystis ởlợn thịt và bước đầu cho biết như sau:
- Lợn thịt tại Việt Nam nhiễm Sarcocystis ở tỷ lệ 39,58%
- Các nang ( cyst) của Sarcocystis trong cơ thể lợn có dạng hìnhthoi dài và tồn tại ở hai dạng:
Dạng non: Có kích thước nhỏ, vỏ mảnh
Dạng trưởng thành: Kích thước lớn hơn, vỏ dầy
Một số trường hợp có phản ứng tế bào quanh các túi kén (cyst), mà chủyếu là các tế bào đơn nhân ( đa số là Lympho bào và một ít là bạch cầu đơnnhân) Có khi các sợi cơ xung quanh bị chèn ép nhẹ
+ Năm 1993 - Nguyễn Thị Bình Tâm nghiên cứu Sarcocystis vàcho biết tỷ lệ nhiễm Sarcocystis trên trâu và cho kết luận sơ bộ như sau:
- Sau khi mèo ăn phải thịt trâu có S.fusifomis 14 ngày tìm phân mèobằng phương pháp Fulleborn có thấy thải cocyst và sporocyst
- Mèo là vật chủ cuối cùng trong bệnh Sarcocystis ở trâu
- Mèo không có tính miễn dịch với Sarcocystis
+ Theo Phạm Văn Khuê - tài liệu tổng hợp công bố 1994 đã nghiên cứuSarcocystis ở trâu bò thuộc các tỉnh, thành phố miền Trung và Nam bộ chothấy
- Sarcocystis trên bò: tác giả nghiên cứu 4945 bò tại 15 tỉnh và thànhphố thu được kết quả:
Trang 17- Sarcocystis trên trâu: Thông qua xét nghiệm bằng mổ khám 7445 trâu
ở 14 tỉnh thành cho thấy Sarcocystis ở trâu mắc tỷ lệ cao và phân bố rộng
Đồng Bằng sông Cửu Long mắc: 55,0%
Trong đó tỷ lệ chung toàn quốc là: 38,8%
+ Theo công bố kết quả nghiên cứu về độc lực của S.fusifomis đối với
cơ thể mèo gây mắc Sarcocystis thực nghiệm của Phan Lục và Nguyễn ThịBình Tam - giảng viên Khoa Chăn Nuôi Thú Y- Trường đại học Nông nghiệp
I - Hà Nội cho biết : Mèo mắc Sarcocystis thực nghiệm một số chỉ tiêu huyếthọc có sự thay đổi so với trước khi gây nhiễm : Hồng cầu giảm, bạch cầutăng: các tiểu phần Protein trong máu thì Bilubulin và Globulin tăng, cònAlbumin và Glubulin giảm Gan bị thoái hoá nặng
+ Theo Phan Lục - Nguyễn Thị Bình Tâm, thì hai loại thuốc làFurazolidon và Rigecocelin có tác dụng tốt về mặt triệu chứng lâm sàng Đốivới động vật mắc Sarcocystis thực nghiệm là mèo Với liều 410mg/kg P chomỗi loại thuốc thấy khả năng thải Oocyst giảm so với lô đống chứng không sửdụng một trong 2 loại thuốc trên Biểu hiện lâm sàng nhẹ mà quá trình thải bịgián đoạn
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
Quá trình sống và phát triển của gia súc nói chung và củ trâu - bò nóiriêng cũng như sự tồn tại của các loại kí sinh trùng trong cơ thể chúng đềuchịu sự ảnh hưởng rất lớn của môi trường xung quanh và các điều kiện kinh tế
- xã hội khác nhau có liên quan Do đó sự phát triển bệnh tật của đàn bò cũngphụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, xã hội và kinh tế của nơi sinh sống Các yếu
Trang 18tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển của trâu - bò và kí sinh trùng baogồm:
+ Môi trường sống xung quanh (vd: điều kiện địa lý - khí hậu)
+ Phương pháp nuôi dưỡng : - Chế độ chăm sóc
- Chế độ dinh dưỡng
Các yếu tố trên ảnh hưởng không đồng đều trên mọi loại vật một sốnhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến một số loại kí sinh có chu kì phát triển giántiếp đến một số loại kí sinh có chu kì phát triển gián tiếp một số nhân tố kháclại là nhân tố quyết định đến loài phát triển trực tiếp
Hà nội là thành phố trung tâm của cả nước do vậy mà các điều kiện vềkinh tế - xã hội hết sức phức tạp Nhưng ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến một
số vùng xung quanh Hà nội nơi có các lò mổ mà chúng tôi tiến hành điều tra:
Đông Anh:Các lò mổ xã Hải Bối
Sóc Sơn:Các lò mổ xã Trung Nghĩa
Gia Lâm:Các lò mổ xã Kim Sơn
3.1 ĐÔNG ANH.
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên xã hội
Đông Anh là một huyện trồng lúa nước và chăn nuôi, đất chật ngườiđông, với diện tích 183,1km là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩmcao(80-86%)lượng mưa trung bình 1500mm/năm
Đông Anh là huyện có nhiều ao hồ, kênh rạch do vậy nguồn bệnh cóđiều kiện tồn tại và phát triển Quốc lộ 3 đi qua là điều kiện thuận lợi để phântán nguồn bệnh Đời sống nguờii dân khá ổn định, trình độ thâm canh cao.Song trong huyện tập trung một số lò mổ chưa đáp ứng được các yêu cầu vệsinh ,nên đây là nguồn lây lan bệnh khá nguy hiểm
3.1.2 Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh.
Đông Anh là nơi cung cấp thực phẩm và rau xanh cho Hà Nội, do vậy
mà trồng trọt và chăn nuôi rất phát triển đảm bảo chủ yếu thu nhập cho ngươidân ở đây Trong ngành chăn nuôi thì chăn nuôi gia cầm rất phát triển Chăn
Trang 19nuôi trâu bò chưa phát triển thức ăn chủ yếu là rơm cỏ nhưng chuồng trại đãđược chú ý sạch sẽ, xây dựng đúng kĩ thuật Đội ngũ thú y khá mạnh tiêmphòng tốt nên dịch bệnh không xảy ra thường xuyên và nếu có thể thi sớmđược dập tắt.
3.2 SÓC SƠN
3.2.1 Đặc điểm tự nhiên xã hội
Sóc sơn là huyện trung du với đặc điểm có rừng núi ,ruộng bậc thang
và đồng bằng với diện tích la 31,2km2, là vùng có khí hậu nhiệt đới, gió mùa,
độ ẩm trung bình 85-86%, lượng mưa trung bình 1800mm/năm Đây là mộthuyện nghèo của Hà Nội, nhưng với quốc lộ 3 chạy qua và có 1 sân bay quốc
tế nên Sóc Sơn có khả năng phát triển tốt
là rất thấp Nhưng do trình độ dân trí còn thấp nên việc xây dựng chuồng trạichưa đúng kĩ thuật và việc tiêm phòng chỉ dừng lại ở một số bệnh truyềnnhiễm nguy hiểm còn các bệnh về kí sinh trùng chưa được quan tâm đúngmức
3.3 GIA LÂM
3.3.1 Đặc điểm tự nhiên xã hội.
Gia Lâm đang phát triển mạnh mẽ với công nghiệp - nông nghiệp cùngsong song hỗ trợ nhau phát triểnvới trình độ dân trí cao Đây là vùng rất thuậnlợi cho việc phát triển nông nghiệp trồng trọt với hai con sông lớn chạy qua làsông Hồng và sông Đuống Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20 - 260c, độ ẩmcao 80%,
Trang 20Chăn nuôi ở Gia Lâm chủ yếu là chăn nuôi bò sữa và sử dụng phân để
bón ruộng Trâu bò ít phải cày kéo Trình độ dân trí cao, đội ngũ thú y mạnh,việc phòng và trị bênh là khá tốt Tuy vậy việc phòng bệnh kí sinh trùng vẫnchưa được chú trọng, các bệnh kí sinh trùng thường lưu hành âm ỉ không gâybiểu hiện rõ ràng nên khó phát hiện
PHẦN IVVẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Vùng địa hình nghiên cứu cũng như đối tượng nghiên cứu là yếu tốquan trọng tới việc mắc dịch bệnh ở gia súc chúng tôi nghiên cứu tại các lò
mổ xung quanh Hà Nội
Lò mổ xã Hải Bối huyện Đông Anh
Trang 21Lò mỗ xã Kim Sơn huyện Gia Lâm
Lò mổ xã Trung Gĩa huyện Sóc Sơn
Tiến hành lấy mẫu tại lò mổ chúng tôi sử dụng một số loại hoá chất đểbảo quản bệnh tích: Formon 10%, cồn 70%; Barbagalo Việc sử lí mẫu, phânloại KST được làm tại phòng thí nghiệm của bộ môn KST khoa chăn nuôi -Thú Y - Trường ĐHNNI - Hà Nội
Thí nghiệm tẩy kí sinh trùng được tiến hành tại xã Hải Bối huyện ĐôngAnh
4.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
*Trâu và các loại kí sinh trùng của trâu
*Phương pháp nghiên cứu: xét nghiệm phân, mổ khám toàn diện Trâu
ở các lứa tuổi cũng như địa điểm khác nhau
4.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU.
Để đảm bảo cho việc nghiên cứu được đầy đủ và chính xác về các loại
kí sinh trùng nên chúng tôi đã sử dụng một số loại dụng cụ - hoá chất cơ bảnsau: Kính hiển vi, kính lúp cầm tay, sổ mổ khám, phiến kính, lam kính, vùngvớt, lọ tiêu bản, lưới lọc, đũa thuỷ tinh, cốc nhựa, đèn, panh hộp lồng, bộtranh về các loại KST, bộ đồ mổ(như: dao, kéo ) nhãn ghi, kính ép giun bao,cồn 700, dung dịch Barbagallo, Formol 10%, xô, chậu, khay men
4.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
4.4.1 Nội dung:
+ Xác định được tình hình nhiễm KST chủ yếu ở Trâu
+ Xác định được tình hình nhiễm kí sinh trùng
4.4.2 Phương pháp nghiên cứu.
4.4.2.1 Phương pháp chẩn đoán trên gia súc sống.
* Phương pháp lấy mẫu phân: Để xét nghiệm chính xác chúng tôi tiến
hành lấy mẫu phân khi còn tươi vào buổi sáng sớm xác định chính xác con vậtcần chẩn đoán rồi lấy khoảng 10g phân ở các vị trí khác nhau, trộn đều chovào trong lọ tiêu bản ghi nhãn về các thông tin của con vật như: Chủ
Trang 22Fulleborn Nếu mẫu phân nào nghi ngờ chúng tôi tiến hành kiểm tra lại mẫuphân đó.
+ Phương pháp gạn rửa sa lắng.
- Nguyên lí: Dựa vào tỷ trọng chênh lệch giữa trứng giun sán và nước,trứng giun sán có tỷ trọng nặng hơn sẽ phân ly ra khỏi phân lắng xuống dưới.Phương pháp này dùng để xác định trứng sán và giun đầu gai
- Cách tiến hành: Lấy 3-5g phân cho vào cốc đổ vào đó ít nước sạchsau đó khuấy đều cho phân tan sau đó thêm nước vào đó(1 phân 10 nước), lọcdung dịch qua nước lọc vào 1 cốc khác và bỏ cặn bã, để yên 5-10 phút đổphần nước trong đi và làm lại từ 3-5 lần như vậy, cuối cùng đổ vào hộp lồngthành 1 lớp mỏng đưa lên kính hiển vi để kiểm tra
Phương pháp này có ưu điểm chẩn đoán nhanh, chính xác các loạitrứng sán lá, giun đầu gai Nhưng không phát hiện được trứng giun tròn
Ưu điểm của phương pháp là chẩn đoán hầu hết các loại trứng giuntròn(trừ giun phổi) nhưng có nhược điểm không phát hiện được trứng sán lá
và giun đầu gai
4.4.2.2 Bố trí thực nghiệm tẩy trừ sán.
Chia trâu bò làm 3 lò thí nghiệm: lò 1 dùng Han - Dertil - B với 7 con,
lò 2 dùng T.G.S 2,5% con số lượng 6 con, lò 3 là lò đối chứng 2 con khôngdùng thuốc
Trang 23- Cách tính trọng lượng của trâu bò theo công thức của: Nguyễn VănThiện(1972) x 100
Trong đó:
P: Trọng lượng của trâu (kg)
VN: Vòng ngực đo bằng thước trước dây sau xương bả vai (m)
DTC: Dài thân chéo đo bằng thước dây, tính từ khớp bả vai đến điểmcủa u ngồi (m)
Chúng tôi phân biệt giun, sán, đặc biệt là sán lá gan với sán lá dạ cỏ đãdựa vào 1 số tài liệu của 1 số kí tác giả như: Nguyễn Trọng Nội Lưu NgọcBích, Phạm Xuân Dụ(1980) Phan Lục, Phạm Văn Khuê(1976) , Trịnh VănThịnh(1982) và Phan Dịch Lân (1944) Phan Lục (1997)
Chỉ tiêu so sánh Trứng sán lá gan Trứng sán lá dạ cỏ
Hình dạng 2 đầu thon đều nhau 1 đầu to, 1 đầu nhỏ
P = 88,4 x (VN)2 x DTC (±5%)
Trang 244.4.2.3 Phương pháp chẩn đoán kí sinh trùng trên gia súc chết.
Chúng tôi sử dụng phương pháp mổ khám toàn diện của Skrjabin, đây
là phương pháp chẩn đoán chính xác các loại giun sán kí sinh ở trâu –bòvàlợn cho ta biết được tỉ lệ nhiễm cũng như cường độ nhiễm và thành phần loàicủa các loại kí sinh trùng
Các bước tiến hành:
+Xác định nguồn gốc ,tuổi, mức độ gầy béo của con vật, ghi vào sổ mổkhám
+Kiểm tra bên ngoài xác chết
Lột da và quan sát tổ chức dưới da,dùng kính lúp đẻ phát hiện kí sinhtrùng dưới da
Mổ khám các xoang và kiểm tra các kí sinh trùng trong đó
Phân lập các cơ quan bên trong và từng phần riêng rẽ
Tuỳ Từng cơ quan mà áp dụng các phương pháp sử lí khác nhau như:các chất chứa của các khí quan dùng phương pháp dội rửa nhiều lần, nạo vét,
ép soi, đối với các niêm mạc,cắt thành lát mỏng đối với các cơ quan đặc biệtnhư não, thận
* Cách thu lượm và bảo quản giun sán:
Trong quá trình mổ khám khi phát hiện giun sán thì phải tách nhẹnhàng chúng ra khỏi các cơ quan bộ phận kí sinh ,sau đó để vào nước sinh lícho chết tự nhiên tiếp đó mới cho vào bảo quản trong dung dịch formol 10%hoặc cồn 700 ,với giun tròn bảo quản trong dung dịch Barbagallo (dung dịchgồm 30ml formol, 7,5g NACL,nước cất vừa đủ 1000ml ).Mỗi lọ bảo quảnmột loại giun sán ở những khí quan nhất định của mỗi loại gia súcđược mổkhám Bên ngoài ghi chép đầy đủ các thông tin cần thiết về con vật và kí sinhtrùng :loài gia súc ,tính biệt, khí quan, tên loài giun sán, số lượng giun sán,ngày tháng ,địa điểm mổ khám va người mổ khám
*Chuẩn bị tiêu bản để phân loại giun sán
Trang 25Đối với giun tròn thường làm tiêu bản tạm thời bằng dung dịch cothành phần gồm:glyxeril+axit lactic+ nước cất theo tỉ lệ 1:1:1.
Đối với các loại giun sán có kích thước bé nhỏ bằng glyxeril không cầnaxit lactic
Làm tiêu bản tạm thời còn áp dụng để quan sát đầu sán dây, giun đầugai hoặc cho cả sán lán.Tuy nhiên, với sán lá và sán dây tốt nhất là làm tiêubản cố định bằg thuốc nhuộm carmin ( thuốc nhuộm carmin bao gồm:5mlHCL, 5ml nước cất trộn với 5g carmin để yên 1h sau đó cho 200 ml cồn 900
lắc đều ,tiếp tục đậy nắp, đun cách thuỷ cho đến khi carmin tan hết đẻ mộtngày sau lọc, sau một tuần mới đem ra dùng
* Cách tiến hành nhuộm mẫu bằng thuốc nhuộm carmin:
Trước tiên rửa sạch mẫu bằng nước lã trong vòi nước chảy chậmsau đó nhuộm trong carmin từ vài phút đến một giờ Sau khi nhuộm ,rửa sánbằng nước lã và tiếp tục đến giai đoạn rút nước ở sán bằng cồn từ nồng đọthấp đến nồng độ cao(500,600,700,850,900) Chú ý nếu máu nhuộm quá đậm thìlàm nhạt bằng dung dịch cồn - HCL 1%( tỉ lệ các chất trong đó là 99ml cồn
700+ 1ml HCL) Để làm trrong suốt sán từ khi nhuộm và rút nước ngâm vàodung dịch cacbon-Xylon(100mlxilon hoà với 22g phenol) Sau đó với sán tathấm khô và đặt nên phiến kính gắn nhựa Mada và có đề nhãn ghi trong ốngnhựa, soi kính hiển vi để phân loại, ghi kết quả vào sổ mổ khám
4.4.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi các số liệu được ghi chép cẩn thận chúng tôi tiến hành sử lítheo phương pháp thống kê sinh vật trên máy tính theo chương trình EXCEL6.0
Số cá thể nhiễmTỷlệ nhiễm(%)= x 100
Tổng số mẫu nghiên cứu
Số cá thể nhiễm loài đó
Trang 26Số trâu sạch(giun, sán )
(%) Số trâu được tẩy
Số cá thể nhiễm
Tổng số mẫu nghiên cứu
Để tính được cường độ nhiễm thì dựa vào số nhiễm ít nhất và số nhiễmnhiều nhất (Min-Max) hoặc lấy số bình quân (X = ± mx )
X = ∑n X i
Sx=
1
) ( 2 2
−
± ∑ ∑
n n
Xi Xi
trong đó: X là giá trị số trung bình
Xi trị số từng mẫu
n dung lượng mẫu
Sx độ lệch chuẩn
PHẦN VKẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
5.1: TÌNH HÌNH NHIỄM KÍ SINH TRÙNG CỦA TRÂU TẠI CÁC LÒ MỔ
Trang 27Qua mổ khám 63 trâu tại các lò mổ chúng tôi thu được kết quả:
Bảng1: Tình hình nhiễm kí sinh trùng của trâu.
Số con nhiễm
Tỷ
lệ nhiễm(%)
Cường độ Nhiễm (min max)
5.2 THÀNH PHẦN LOÀI KÍ SINH TRÙNG CỦA TRÂU TẠI CÁC LÒ MỔ.
Sốnhiễm
Tỉlệ(%)
cường độ(min-max)
Trang 285 F.japonicus Dạ cỏ 63 17 26,9 30 - 350
7 E.pancreaticu
8 sarcocystis cơ thực quản 17 9 52,9 0,-3cyst/1cm 2
Sau khi mổ khám, mẫu vật đợc bảo quản trong các dung dịch: Formone10% cồn 70% một số đợc phân loại trực tiếp, số còn lại chủ yếu đợc đa vềphòng thí nghiệm của bộ môn KST - vệ sinh thú y(Trờng ĐHNN I) để phânloại
Với khoảng 100 trâu mổ khám tại các lò mổ khác nhau ta thấy sán lá gannhiễm với tỷ lệ cao, chiếm 44%, Sarcocystis chiếm 82,3%, sán dây và các sán látuyến tuỵ cùng với giun tròn không phát hiện thấy Theo kết quả mổ khám thì 3loại kí sinh tùng lá sán gan, sán lá dạ cỏ và Nhục bào tử là 3 loại kí sinh trùngchủ yếu, có sức gây hại lớn cả về kinh tế và sức cầy kéo của trâu Theo chúng
Trang 29tôi sở dĩ 3 loại Kí sinh trùng này chiếm tỷ lệ cao nh vậu do một số nguyênnhân:
Về sán lá dạ cỏ (Paramphistomata): Đây là loài nhiễm cao có sự phân bốrộng từ vùng núi trung du, đồng bằng, ven biển ở đâu cũng tìm thấy sán lá dạ
cỏ, song tuỳ vùng mà nó nhiễm nhiều với tỷ lệ cao nhất Điều này có thể giảithích: về mặt dịch tế học thể ấu trúng sán lá dạ cỏ thờng xuyên có trong ao hồ,sông ngòi, mơng mán Đó là 1 yếu tố lan truyền bệnh sán lá dạ cỏ cho trâu bòkhoẻ mạnh Ngoài ra vòng đời của sán lá dạ cỏ còn có vật chủ trung gian là ốcnớc ngọt có nhiều ở vùng đồng bằng nớc ta
Về sán lá gan(Fascicola) : Drozdz và Malezski, cùng với Phan Dịch Lâncông bố thì vòng đời của chúng cần vật chủ trung gian là các loài ốc giống vớiParamphistomata Sán lá gan thờng xuyên với tỷ lệ thấp hơn sán lá dạ cỏ, có lẽvì sán lá gan gây ra những biểu hiện lâm sàng rõ rệt hơn sán lá dạ cỏ nên ngờichăn nuôi cũng nh cán bộ thú y dễ dàng phát hiện đợc từ đó có biện pháp chữatrị Malezeski còn cho biết sán còn có khả năng lây cho ngời
Sarcocystis, qua xét nghiệm ta thấy 9/17 con nhiễm với tỷ lệ 52,9% Năm
1993 theo Nguyễn thị Bình Tâm mèo là vật chủ trung gian của bệnh nhục bào tửtrùng, cùng năm đó, theo công bố của tác giả Phan Lục - Nguyễn Thị BìnhTâm để điều trị bệnh nhục bào tử trùng nên sử dụng 2 loại thuốc là Rigecoccin
và Furazolidon Theo quản của trâu, 1 phôi nhỏ kí sinh ở cơ vai - mông vàchúng có ảnh hởng rất xấu đến đàn gia súc Gây giảm sức cày kéo và giá trị th-
ơng phẩm của gia súc
*Thành phần sỏn lỏ dạ cỏ ở trõu :