Bên cạnh các đối tượng nuôi truyền thống như cá tra Pangasius hypophthalmus, cá basa Pangasius bocourti, tôm sú Penaeus monodon… trong thời gian gần đây, cá lăng vàng Mystus nemurus là m
Trang 1MỞ ĐẦU
Là một trong những ngành đi đầu về kim ngạch xuất khẩu, thuỷ sản đã vàđang mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế quốc dân, tạo nhiều công ăn việc làmcũng như tăng thu nhập cho nhiều hộ gia đình nông thôn Việt Nam Với nhữngtiềm năng vốn có của mình, thuỷ sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn giữ mộtvai trò quan trọng trong việc cải thiện đời sống vật chất, xoá đói giảm nghèo chongười dân thông qua các giá trị dinh dưỡng cao của sản phẩm thuỷ sản đồng thời
là hiệu quả kinh tế từ việc xuất bán, kinh doanh các sản phẩm đó
Trong những năm gần đây, khi sản lượng khai thác thuỷ sản ở nước ta ngàycàng giảm thì nuôi trồng là giải pháp thích hợp để tạo thu nhập cho người dân
Bên cạnh các đối tượng nuôi truyền thống như cá tra (Pangasius hypophthalmus),
cá basa (Pangasius bocourti), tôm sú (Penaeus monodon)… trong thời gian gần đây, cá lăng vàng (Mystus nemurus) là một trong những đối tượng nuôi mới đang
được chú trọng với nhiều ưu điểm: thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng (hàm lượngProtein cao) và phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng trong thị trường nội địa và làmặt hàng đang rất được ưa chuộng trên thế giới, có thể coi cá lăng vàng là một đốitượng kinh tế mang lại nguồn thu nhập lớn cho người nuôi, được các địa phươngxem như một đối tượng nuôi mới có triển vọng phát triển
Với tính chất là một đối tượng mới có nhiều tiềm năng để phát triển nênviệc nghiên cứu đối tượng này là rất cần thiết Tuy nhiên do còn mới mẻ nên cácnghiên cứu chủ yếu tập trung vào hoàn thiện qui trình sản xuất giống và nuôithương phẩm mà chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề phòng và trị bệnh ở lăngvàng Trong khi đó bệnh vốn là một trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng vàchi phối toàn bộ quá trình ương nuôi cũng như hiệu quả kinh tế Đặc biệt đây làloài cá da trơn, rất dễ bị tổn thương và nhiễm một số bệnh như bệnh do nấm, bệnh
do kí sinh trùng, bệnh do vi khuẩn,…Trong số đó thì bệnh do kí sinh trùng thườngthiệt hại lớn đối với cá
Trang 2Để hạn chế những tổn thất kinh tế do dịch bệnh, đa dạng hoá các đối tượngnuôi, góp phần phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản một cách bền vững, việc nghiêncứu bệnh trên cá lăng vàng là hết sức cần thiết.
Được sự đồng ý của khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh tôi, tiến
hành thực hiện đề tài: “Bước đầu đánh giá mức độ nhiễm ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá lăng vàng (Mystus nemurus) nuôi lồng trên hồ chứa miền núi huyện Yên Thành - Nghệ An”
Mục tiêu nghiên cứu: Bước đầu xác định thành phần loài KST ngoại ký
sinh và đánh giá mức độ nhiễm KST trên cá lăng vàng (Mystus nemurus), trên cơ
sở đó làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hệ thống phân loại và một vài nét về đặc điểm sinh học cá lăng vàng 1.1.1 Hệ thống phân loại
Lớp cá xương - Osteichthyes
Bộ cá nheo - Siluriformes
Họ cá lăng - Bagridae
Giống cá lăng – Mystus
Loài cá lăng vàng - Mystus nemurus Valenciennes, 1839
Hình 1 Cá lăng vàng (Mystus nemurus)
1.1.2 Một vài nét về đặc điểm sinh học của cá lăng vàng
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái
Cá lăng vàng có thân thon dài, dẹp hai bên về hướng đuôi, đầu dạng hìnhchóp, xương đầu dẹp ngang và tương đối bằng Miệng rộng và dạng miệng dưới,răng thuộc loại răng lá mía, tạo thành một dãy hơi cong, hai mắt lớn trung bình
Cá có 4 đôi râu: 2 râu hàm trên, 2 râu hàm dưới, 2 râu mũi, 2 râu cằm Râuhàm trên kéo dài đến vây hậu môn Tia cứng của vây ngực và vây lưng có răngcưa rất sắc, đầu mút của vây ngực rất sắc và nhọn Cá có vây một phía trên lưng vànằm gần vây đuôi Vây đuôi phân thùy rất sâu, thùy trên có một tia mềm kéo dài.Lưng cá có màu xám đen hoặc xám hơi vàng, hai bên thân màu vàng nhạt hoặcmàu hơi sẫm, bụng có màu trắng [2]
Trang 4Ngoài tự nhiên, thành phần thức ăn của cá lăng vàng chủ yếu là cá con,còn lại là ấu trùng của côn trùng, các loài giáp xác Cá có thể ăn các loài thực vật
và các chất thối rữa
Ở giai đoạn cá bột 3-4 ngày tuổi, sau khi tiêu hết noãn hoàng, cá ăn cácphiêu sinh vật cỡ nhỏ như artemia, rotifer, moina mới nở Cá 7 ngày tuổi ăn đượcmoina cỡ lớn và trùn chỉ Từ 10 ngày tuổi trở đi cá còn ăn thịt động vật thối rửa,
gỗ cây mục [2]
1.1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng
Ở thiên nhiên cá có kích thước tối đa 60 cm Cá lăng vàng là loài cá cókích cỡ thương phẩm nhỏ chậm lớn hơn so với các loài cá lăng thuộc giống
Trang 5Mystus Cá 3 tháng tuổi nặng 45-80 g/con, cá 6 tháng tuổi nặng 120-140 g/con và
12 tháng tuổi nặng 180-200 g/con chiều dài 30-34 cm [2]
Cá lăng vàng có thể sinh sản quanh năm, cá một tuổi thành thục sinh dụclần đầu có chiều dài 32-36 cm, khối lượng 180-200 g/con và tái phát dục khoảngsau 3 tháng [2]
Khi cá thành thục sinh dục, cá bố mẹ tự bắt cặp sinh sản Hệ số thành thụcsinh dục của cá cái dao động 20,8-25% và hệ số thành thục của cá đực thấp daođộng trong khoảng 0,38-0,41% [2]
Khi thành thục sinh dục, cá cái có đặc tính hút nước từ môi trường bênngoài vào xoang bụng với nhiều mức độ khác nhau tùy từng cá thể Những con cái
có mức độ hút nước thấp trong quá trình rụng trứng sẽ cho tỉ lệ sinh sản cao vàngược lại
Cá nặng 74,4 g có sức sinh sản tuyệt đối là 39.076 trứng, sức sinh sảntương đối là 521.000 trứng/kg, sức sinh sản thực tế là 20.815 trứng/cá nặng 327 g,87.110 trứng/cá nặng 1,589 kg [2]
Sức sinh sản thực tế của cá lăng vàng cao hơn so với các loài cá lăng khác
vì chúng có hệ số thành thục cao và kích thước trứng nhỏ, đường kính trứng chín
từ 1,17-1,32 mm Thời gian nở là 28-32 giờ tính từ lúc trứng đã thụ tinh [2]
1.2.Tình hình nghiên cứu và nuôi cá lăng vàng trên thế giới và tại Việt Nam 1.2.1 Trên thế giới
Trang 6Cá lăng vàng là loài phân bố rộng trong khu vực Đông Nam châu Á, từ đảoquốc Indonesia đến lục địa châu Á như Malaysia, Lào, Campuchia, Việt Nam vàThái Lan Nơi sống của chúng rất đa dạng, từ vùng nước lợ nơi cửa sông cho đếnthủy vực nước ngọt vùng thượng nguồn (Chong và ctv, 2000) Chúng là loài ănđộng vật, thức ăn trong tự nhiên của cá là côn trùng, ấu trùng động vật nước, giápxác và cá (Fish Base)
Theo Abidin và ctv (2006), cá lăng vàng rất được ưa chuộng ở Malaysia và
đã được nuôi ở cả quy mô thâm canh và bán thâm canh với giá thương phẩm cao
hơn hẳn so với các đối tượng nuôi truyền thống khác như cá rô phi (Oreochromis sp.) và cá trê (Clarias gariepinus) Loài cá này cũng góp phần quan trọng trong cơ
cấu sản lượng của nghề cá hồ chứa ở quốc gia này Tuy nhiên, đối với nghề nuôi,
cá lăng vàng là đối tượng mới Các nghiên cứu về dinh dưỡng loài cá này chủ yếuđến từ Malaysi [5]
Ương ấu trùng cá lăng vàng với thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein
60% đạt tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng tương đương với thức ăn sống (Artemia)
(Eguia et al., 2000) Ở giai đoạn cá giống (7-18 g/con), khẩu phần cho ăn tối ưu là2,5% khối lượng thân/ngày và hàm lượng protein tối ưu cho tăng trưởng được xácđịnh ở mức 44%, tương ứng với tỉ lệ protein/năng lượng là 20 mg protein/kJ Khan
và ctv (1996), thí ghiệm nuôi cá lăng vàng trong ao với các loại thức ăn có hàmlượng protein trong khoảng 27-50% đã xác định được hàm lượng tối ưu là 42 %cho giai đoạn 25-110 g/con Tuy nhiên, chưa có công bố về nghiên cứu về nhu cầuhàm lượng protein trong thức ăn cho cỡ cá thương phẩm, ví dụ từ cỡ > 200 g/con
Abidin và ctv (2006), nghiên cứu về thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ cho biết tốc
độ tăng trưởng và chất lượng trứng cá lăng vàng được cải thiện khi sử dụng thức
ăn có hàm lượng protein 35 - 40%, lipid 2,7 - 3,0% Nhìn chung các nghiên cứu vềdinh dưỡng của cá lăng trong giai đoạn nuôi thương phẩm còn rất hạn chế và hiệntại chưa có thức ăn công nghiệp sản xuất riêng cho đối tượng này trên thị trường
Trang 7Thêm vào đó chưa có nghiên cứu nào về nuôi lồng đối tượng này trên hồ chứađược thông báo [1], [3], [10]
1.2.2 Tại Việt Nam
Theo danh lục các loài cá ở Việt Nam, nước ta có trên 10 loài cá lăng
(Mystus sp) Các loài cá lăng đã được nghiên cứu sinh sản tạo và nuôi thương phẩm ở nước ta bao gồm cá lăng chấm (Mystus guttatus), lăng nha (M wyckiioides), lăng hầm (M filamentus) và lăng vàng (M nemurus).[16]
Cá lăng vàng có vùng phân bố rộng, cá sống ở các thuỷ vực nước ngọthoặc nước lợ nhạt ở cả hai miền Bắc và Nam Ở Miền Bắc cá có mặt hầu hết ở cácsông lớn như ở Phú Thọ (Sông Lô), Thái Bình, Thanh Hoá (sông Mã), Nghệ An( sông Lam, vùng Con Cuông) Cá có giá trị kinh tế cao với giá bán lên tới180.000-200.000 đ/kg Tốc độ tăng trưởng của cá khá nhanh, sau một năm nuôi
có thể đạt cỡ thương phẩm 700-800 g từ cỡ cá giống [16]
Công nghệ sản xuất giống nhân tạo các loài cá lăng này đã thành công ởquy mô thương mại và kĩ thuật nuôi cá lăng trong ao cũng đã được biên soạn(Chung, 2008; Ngọc, 2008; Trung tâm nghiên cứu khoa học nông vận, 2008)
Nhìn chung các nghiên cứu về cá lăng nói chung và cá lăng vàng nói riêngmới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu sinh sản nhân tạo Đây là những nghiêncứu cần thiết để đưa các loài cá này trở thành đối tượng nuôi hấp dẫn Trong điềukiện nuôi ao, cá lăng vàng cái có khả năng thành thục sau một năm, tuy nhiên cáđực chỉ thành thục tốt sau 2 năm Sản xuất giống hàng loạt áp dụng kĩ thuật gieotinh nhân tạo, ở nhiệt độ nước 30oC, thời gian phát triển phôi cá lăng vàng là 20giờ tính từ lúc trứng đã được thụ tinh Sau khi nở khoảng 60 giờ, ấu trùng cá lăngvàng bắt đầu ăn thức ăn ngoài (Moina cỡ nhỏ) mặc dù vẫn còn noãn hoàng Saukhi nở 72 giờ (3 ngày tuổi), cá đã tiêu hết noãn hoàng và bắt mồi rất mạnh Khiđược 4 ngày tuổi, cá ăn được trùn chỉ (Tubifex) và đạt chiều dài 2,7 - 2,9 cm sau
14 ngày nuôi
Trang 8Trong điều kiện nuôi thương phẩm ở ao đất, chất lượng nước phù hợp cầnđảm bảo pH: 6,5-7,5; oxy hòa tan trên 3mg/L, độ trong từ 20-40 cm, nước ao ngọthoặc lợ nhẹ (< 7 ‰) Các nghiên cứu về các đặc điểm sinh học khác ở loài cá nàycòn hạn chế
Để phát triển nuôi các loài cá lăng có giá trị kinh tế cao cần có thêm cácnghiên cứu khác như nhu dinh dưỡng, thức ăn, phòng trị bệnh Đối với nghềnuôi, cá lăng vàng là đối tượng rất mới, các thông tin về tình hình nuôi (sản lượng,diện tích nuôi…) nhìn chung còn hạn chế Hiện nay phong trào nuôi loài lăng vàng
và một số đối tượng cá lăng khác (lăng nha, lăng hầm) đang phát triển khá nhanh ởcác tỉnh ĐBSCL Tỉnh Đồng Nai lần đầu tiên sản xuất hơn 10 ngàn tấn cá lăngthương phẩm [1], [16]
1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng gây ra ở cá
1.3.1 Một số thiệt hại do ký sinh trùng gây ra
Khi nuôi trồng thủy sản còn ở mức độ quảng canh, chủ yếu dựa vào tựnhiên thì bệnh chưa phải là vấn đề quan trọng , do hệ sinh thái của vùng nuôi chưa
bị phá vỡ, môi trường còn sạch - ít bệnh xảy ra và nếu xảy ra thì thiệt hại khônglớn Khi nuôi trồng phát triển, nhiều đối tượng được đưa vào nuôi các hình thứcbán thâm canh, thâm canh với sự đầu tư lớn về con giống, thức ăn và nuôi với mật
độ cao thì sự bùng nổ dịch bệnh đã xảy ra trên các đối tượng nuôi, đặc biệt phổbiến nhất là dịch bệnh KST Cho đến nay dịch bệnh KST đã xảy ra nhiều nơi trênthế giới và gây ra tổn thất lớn về kinh tế
Năm 1923, tại Indonesia dịch bệnh KST đã xảy ra rất nhanh ở động vậtthủy sản và đã lan tràn từ phía tây đến phía đông của đảo Java Đối tượng nhiễmnặng là một số loài cá nước ngọt (cá chép, cá mùi, cá tai tượng…) Đợt dịch bệnhnày đã trở thành sự kiện đầu tiên được coi là thảm hại do KST gây ra ở khu vựcĐông Nam Á.[1]
Ở Việt Nam, tại Nhật Tân - Hà Nội năm 1961, cá mè hoa giai đoạn cá
hương cảm nhiễm Dactylogyrus một giống của sán lá đơn chủ (Monogenae) tỷ lệ
nhiễm là 100% đã làm chết 25% đàn cá Tại miền Trung năm 1985, một số cơ sở
Trang 9nuôi cá tại Bình Định, giống sán lá đơn chủ Dactylogyrus ký sinh làm chết hàng
loạt gây nhiều tổn thất lớn cho người nuôi.[6]
Như vậy cùng với sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi trồng thì dịchbệnh KST bùng phát làm tổn thất lớn về mặt kinh tế của người nuôi nói riêng vàcủa nhiều nước trong khu vực và trên thế giới nói chung Việc nghiên cứu KSTtrên các đối tượng nuôi là rất cần thiết nhằm tìm biện pháp phòng ngừa và trị bệnhKST
1.3.2 Trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu bệnh kí sinh trùng nói chung và bệnh KSTngoại ký sinh trên cá nói riêng bắt đầu từ thế kỉ XVII với những nghiên cứu sơkhai của Linne [7]
Tuy nhiên, người ta mới bắt đầu quan tâm đến bệnh cá chủ yếu là những
mô tả dấu hiệu bệnh lý, chưa có những nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gâybệnh
Sang thế kỷ XX các nhà khoa học bắt đầu ngiên cứu và viết sách về bệnh
cá Cuốn sách có nhan đề “Tác nhân gây bệnh ở cá” (Father of Fish Patholohy)được xuất bản năm 1904 do các tác giả Đức là Bruno Hofer
Tại Liên xô cũ vào năm 1929, viện sỹ V.A.Dolgiel (1882-1955) thuộc việnhàn lâm khoa học Liên Xô cũ đã đưa ra “Phương pháp nghiên cứu KST trên cá” đã
mở ra hướng nghiên cứu về các khu hệ ký sinh trùng trên cá và các loại bệnh doKST gây ra, cho đến nay nhiều nhà khoa học nghiên cứu KST trên cá vẫn còn ápdụng [7]
Năm 1929 – 1970, hàng loạt công trình nghiên cứu về KST ký sinh ở cánước ngọt và nước mặn được công bố ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới,tiêu biểu nhất là nghiên cứu về khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt ở Liên Xô doBychowsky biên tập từ các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả Công trình này
đã được phát hiện và phân loại khoảng 2000 loài KST khác nhau và được công bốnăm 1968
Trang 10Ở Indonesia, nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu KST cá là Sachlan Năm
1952, ông cho xuất bản cuốn “Notes on the parasiter of freshwater fishes inIndonesia” Đây là cuốn tài liệu có ý nghĩa lớn đánh dấu bước ngoặt trong ngànhKST học ở Indonesia nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung [14]
Từ năm 1957 - 1973, nhà ký sinh trùng học Parukin (Nga) [13], đã khảo sátnghiên cứu về ký sinh trùng ký sinh trên một số loài cá biển ở vùng Đông Nam Á.Trong công trình nghiên cứu này ông đã hệ thống được thành phần giun, sán kýsinh ở 4 loài cá song sống trong tự nhiên: Epinephelus areolatus, E.ascolatus, E.fasciatus, E.orientalis.
Nước thứ hai bắt tay vào việc nghiên cứu ký sinh trùng trên cá, Trung Quốcnăm 1973, Chenchinleu và cộng tác viên đã xuất bảm cuốn “KST cá nước ngọttỉnh Hồ Bắc” trong đó phân loại được 375 loài KST ký sinh trên 50 loài cá nướcngọt [13]
Theo A.V.Gussev Ấn Độ (1976), đã nghiên cứu pháp hiện khu hệ sán láđơn chủ ký sinh ở 37 loài cá nước ngọt, trong đó đã phân loại được 57 loài sán láđơn chủ [18]
Trong khi đó Wong và Leong (1990) [4], khi nghiên cứu bệnh ký sinh trùng
trên cá song (E Malabaticus), các tác giả đã tìm thấy 16 loài ký sinh trùng trên cá
song nuôi và 11 loài ký sinh trùng ở cá song tự nhiên Kết quả nghiên cứu này chothấy mức độ nhiễm ký sinh trùng ở cá song nuôi gấp 3 lần ở cá tự nhiên, trong đó
loài Pseudohabdosynochus epinepheli là phổ biến nhất Tỉ lệ cá song nuôi nhiễm
KST là 97,2%, cá song tự nhiên nhiễm 77% trong khi đó tỉ lệ nhiễm do
Trematoda loài Prosorhynchus Patificus ở cá nuôi là 81%, cá tự nhiên là 72%.
Theo Akhmad Rukyani (1993) [14], vấn đề dịch bệnh là một trong nhữngnguyên nhân quan trọng gây thiệt hại cho nghề nuôi trồng thủy sản ở Indonesia.Trong đó KST là bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng cho các loài cá nuôi trong đó cócác bệnh giun sán Khi cá bị bệnh, việc sử dụng thuốc hóa học để điều trị thườngkhông mang lại hiệu quả vì cá thường chết hàng loạt trước khi thuốc có hiệu lực
Trang 11Tại Indoneia, bệnh ký sinh trùng được xem là bệnh gây nguy hiểm cho cábiển, trong đó bệnh do sán lá đơn chủ là phổ biến nhất ở cá song Khi kiểm tra mộtđàn cá song nuôi đã phát hiện ra 15 loài giun sán ký sinh trong đó có hai loài
nhiễm với cường độ cao là: Neobendnia, Benedenia epiepheli
Không chỉ riêng Indonesia mà Singgapo cá song nuôi lồng cũng bị nhiễmsán lá đơn chủ Diplectanum [20]
Tại Trung Quốc, theo điều tra bệnh KST trên cá song nuôi tại tỉnh Quảng
Đông phát hiện thấy sự nhiễm nặng một vài loài KST trong loài Neobenedenia sp
là một trong số những loài bị nhiễm với cường độ cao và đã gây chết từ 10 - 50%(Zhang.H, 2001) [12]
Trên đối tượng là cá nuôi, Leong Tak Seng (2001) cho rằng bệnh ký sinhtrùng là bệnh rất khó phòng trị vì các loài cá được nuôi trong lồng, trong môitrường rộng lớn rất khó có thể trị bệnh tốt cũng như không thể diệt triệt để đượctận gốc các loài ký sinh trùng Do vậy cá nuôi lồng thường nhiễm cao nhất là các
loài thuộc lớp sán lá đơn chủ Monogeneae: Pseudohabdosynochus epinepheli, Pacificus, benedenia monticelli [9].
1.3.3 Tại Việt Nam
Trước những năm 1960, lĩnh vực bệnh học thủy sản ở Việt Nam hầu nhưchưa được quan tâm Từ những năm 1960 – 1990, các công trình nghiên cứu vềbệnh động vật thủy sản ở Việt Nam tập trung vào nghiên cứu các khu hệ KST vàcác bệnh do KST ký sinh gây ra ở cá
Công trình nghiên cứu đầu tiên của Hà Ký “Nghiên cứu khu hệ KST vàbệnh của cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” Nghiên cứu này được thực hiện trong
15 năm (1960 - 1975) Qua đó tác giả đã mô tả 120 loài KST trên cá nước ngọt ởmiền Bắc Việt Nam, trong đó có 42 loài KST mới, một giống và một họ phụ mớiđối với khoa học [7]
Công trình nghiên cứu: “Thành phần ký sinh trùng ký sinh trên một số loài
cá biển giá trị kinh tế tại Phú Khánh (Khánh Hòa)” của Nguyễn Thị Muội và Đỗ
Trang 12Thị Hòa (1978- 1980) Công trình này đã phát hiện được 80 loài KST ký sinh trên
cá biển [7]
Tại miền Trung và Tây Nguyên, Nguyễn Thị Muội Và Đỗ Thị Hòa (1978 1980) nghiên cứu “ Khu hệ KST ký sinh trên 20 loài cá nước ngọt ở miền Trung
-và Tây Nguyên” Công trình đã phát hiện được 57 loài KST
Công trình nghên cứu “ Khu hệ KST kí sinh trên 41 loài cá nước ngọt bằngsông Cửu Long ” của Bùi Quang Tề và ctv (1984 - 1990) Công trình này đã pháthiện được 157 loài KST và một số loài mới đối với khoa học [12]
Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá biển ở Việt Nam đã bắt đầu pháttriển ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Khánh Hòa và Vũng Tàu với các đối tượng nuôichính như cá song, cá giò cá hồng từ đó nảy sinh nhiều vấn đề về dịch bệnh rấtkhó kiểm soát
Khi điều tra KST trên 3 loài cá song nuôi lồng tại Hạ Long, Bùì Quang Tề
đã xác định được 13 loài KST trong đó Benedenia thuộc lớp sán là đơn chủ có tỉ lệnhiễm cao 95%[11]
Theo Bùi Quang Tề và ctv (1998), trên 3 loài cá song mỡ, cá song sáu sọc,
cá song chuối nuôi lồng trên vịnh Hạ Long đã xác định được 13 loài ký sinh trùngthuộc 12 giống, 11 họ, 7 bộ, 4 lớp, 3 ngành Cá song mỡ gặp 12 loài ký sinh trùng,
cá Song sáu sọc gặp 10 loài ký sinh trùng, cá song chuối gặp 9 loài ký sinh trùng.Trong đó nhóm sán lá đơn chủ và nhóm ký sinh đơn bào có tỉ lệ nhiễm cao Lớp
sán lá đơn chủ, đáng chú ý nhất là Pseudohabdosynochus epinepheli, Lycloplectanum, Diplectanum hargisi, Haliotrma sp ký sinh ở mang tỉ lệ nhiễm rất cao từ 71,4% - 95,8%, tiếp đến sán lá song chủ Brosorhynchus epinepheli, Helicometra fasciata, Magnacetabulum selari tỉ lệ nhiễm từ 26 - 46% Sán lá đơn chủ Benedinia epinepheli và ấu trùng của chúng có tỉ lệ nhiễm ở da tương đối cao
25 - 35%, còn ký sinh đơn bào và giáp xác có tỉ lệ nhiễm thấp nhất [13]’
Nhiều nghiên cứu khác của Bùi Quang Tề trên cá Song nuôi lồng tại VânĐồn (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng) Tuy tác giả không đem ra con số cụ thể
Trang 13về tỉ lệ cá chết và mức độ thiện hại do ký sinh trùng gây ra nhưng đã cho biết cánuôi lồng bị nhiễm ký sinh trùng với cường độ và tỉ lệ nhiễm cao [4].
Nguyễn Thị Hằng (2003), qua điều tra bệnh trên cá nuôi cho biết cá chết dotác nhân là KST cao, trung bình chiếm 10,6 - 20% trong tổng số cá nuôi
Năm 2007, trên đàn cá trắm cỏ ( 200 con) nuôi trong bể tại CEDMA – viện
nghiên cứu NTTS1, người ta đã tìm thấy ký sinh trùng Ichthyophyrius multifiliis
trên da và mang với 45 trùng/thị trường (4x), đàn cá đã chết 100% trong vòng 5ngày
Đầu mùa mưa năm 2008, tại Cam Ranh – Khánh Hòa hàng tấn cá biển (cá
mú cá chẽm) bị thiệt hại do bệnh này Tháng 10/2009 bệnh này cũng đã gây chết100% đàn cá Giò thí nghiệm (100 con cỡ 300g) của CEDMA-RIA1 trong vòng 5ngày [20]
1.4 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá lăng
1.4.1 Trên thế giới
Hiện nay chưa có công trình nào công bố về các bệnh thường gặp và cácbiện pháp phòng và trị bệnh trong quá trình nuôi cá lăng vàng, đây cũng là mộttrong những hạn chế, ảnh hưởng đến phát triển nuôi đối tượng này
1.4.2 Tại Việt Nam
TS Bùi Quang Tề, 1990 [1] đã tìm thấy 11 loài ký sinh trùng thuộc 4 lớp
ký sinh trên cá lăng như: Procamallanus spp ký sinh trong dạ dày, ruột; Lystocestus adhaeren, Polyonchobothrium parva, Orientorceadium siluri, Pallisentis ophiocephali ký sinh trong ruột, Myxobolus spp, Ergasilus spp ký sinh
Hiện nay, việc nghiên cứu về bệnh của cá lăng vàng còn rất hạn chế do loài
cá này là một đối tượng mới được phát triển nuôi Chưa có một công trình nghiên
Trang 14cứu nào về bệnh trên cá lăng vàng một cách hoàn chỉnh, các nghiên cứu bệnhthường được kết hợp trong các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sản xuất giống.
1.5 Một số bệnh ký sinh trùng thường gặp ở cá
1.5.1 Bệnh trùng bánh xe
* Tác nhân gây bệnh
Do nhiều giống loài thuộc giống Trichodina, Tripartiella, Trichodinella ký sinh
chủ yếu ở da và mang cá Sau khi rời khỏi cơ thể cá, trùng có thể sống tự do trongnước được 1-1,5 ngày Đây là nguyên nhân khiến cho bệnh lây lan từ cá thể nàyqua cá thể
* Dấu hiệu bệnh lý
Cơ cá có nhiều nhớt màu trắng đục, da cá chuyển màu xám và ngứa ngáy
Cá nổi đầu từng đàn trên mặt nước riêng cá tra giống thường nhô hẳn đầu lên mặt nước
Khi bệnh nặng trùng ký sinh ở mang phá hủy các tơ mang khiến cá bị ngạtthở, những con bệnh nặng mang đầy nhớt và bạc trắng Cá bơi lội lung tung khôngđịnh hướng Sau hết cá lật bụng mấy vòng chìm xuống đáy ao và chết Bệnh thường xuất hiện và phát triển sau vài ngày trời u ám không có nắng,nhiệt độ xuống thấp đặc biệt vào mùa mưa
1.5.2 Bệnh trùng quả dưa
* Tác nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh là loài Ichthyophthyrius multifiliis, trùng có dạng rấtgiống quả dưa, toàn thân có nhiều lông tơ, giữa thân có một nhân lớn hình móngngựa Trùng mềm mại có thể biến dạng khi vận động, trong nước ấu trùngbơilộinhanhhơntrùngtrưởngthành
* Dấu hiệu bệnh lý
Trên da, mang, vây và cơ thể cá bị bệnh có nhiều hạt nhỏ lấm tấm, màutrắng đục (đốm trắng) có thể thấy rõ bằng mắt thường Cơ thể cá có nhiều nhớtmàu sắc nhợt nhạt
Trang 15Cá bệnh nổi tường đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yêu ớt Lúc đầu cá tậptrung gần bờ, nơi có nhiều cỏ rác, quẫy nhiều do ngứa ngáy Trùng bám nhiều ởmang, phá hoại biểu mô mang làm cá ngạt thở Khi cá quá yếu chỉ còn ngoi đầulên để thở, đuôi bất động cắm xuống nước.
1.5.3 Bệnh do sán lá đơn chủ
* Tác nhân gây bệnh:
Do các loài sán lá đơn chủ thuộc giống Dactylogyrus, Gyrodactylus, Ancyrocephalus, Pseudodactylus…Mỗi loài sán chỉ ký sinh trên một loài cá nhất
định nên gọi là sán lá đơn chủ
* Dấu hiệu nhận biết
Sán ký sinh ở da và mang, chủ yếu là ở mang Lúc ký sinh chúng dùng mócbám chặt và phá hoại các tổ chức da và mang cá làm cá tiết nhiều dịch nhờn ảnhhưởng đến hô hấp, cá nổi đầu và tập trung ở chỗ nước thoáng, tạo điều kiện cho vikhuẩn nấm và một số sinh vật gây bệnh xâm nhập
1.5.4 Bệnh rận cá
* Tác nhân gây bệnh
Do các loài thuộc giống Argulus Hình dáng bên ngoài giống con rệp, chiều
dài cơ thể khoảng 4 8mm Rận đẻ trứng, nhiệt độ cho chúng phát triển là 25
-280C
* Dấu hiệu nhận biết
Ký sinh trùng Argulus ký sinh trên cá có thể quan sát được bằng mắt
thường nhưng do màu sắc của chúng gần giống với màu sắc của cá
Giống Argulus thường ký sinh ở da, vây, mang một số cá nước ngọt, nước lợ, nước biển Argulus dùng cơ quan miệng, các gai xếp ngược ở mặt bụng cào rách
tổ chức da cá làm cho da cá bị viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm, ký sinhtrùng khác xâm nhập Vì vậy, nên nó thường lưu hành cùng với bệnh đốm trắng,bếnh đốm đỏ dẫn đến làm cá chết hàng loạt Mặc khác chúng còn dùng tuyến
Trang 16độc qua ống miệng tiết chất độc phá hoại ký chủ làm cá có cảm giác ngứa ngáy,vận động mạnh trên mặt nước, bơi lội cuồng dại, cường độ bắt mồi giảm
1.5.5 Bệnh sán lá song chủ
* Tác nhân gây bệnh
Sán là song chủ hình trứng, hình lá, đối xứng hai bên Bề mặt cơ thể trơn,
có một số gai hay mẫu lồi Đa phần chúng có hai giác hút: Giác bụng và giácmiệng, giác bụng lớn hơn giác miệng Tỷ lệ và kích thước giữa hai giác là căn cứquan trọng để phân lọai sán song chủ
Sán lá song chủ có chu kỳ phát triển phức tạp Vòng đời phát triển củachúng yêu cầu phải có ký chủ trung gian nhất định, được chia làm hai loại: Chỉ cầnmột ký chủ trung gian hay cần nhiều ký chủ trung gian
* Dấu hiệu bệnh lý
Tác hại của sán lá song chủ không giống nhau, tùy thuộc vào giống loài và
vị trí ký sinh trong hệ tiêu hóa, trong mắt hay trong hệ tuần hoàn Một số giốngloài sán ký sinh làm cá chết
Chương 2
Trang 17ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Ký sinh trùng trên cá lăng vàng (Mystus nemurus) giai đoạn nuôi thương
phẩm, cỡ cá bắt đầu thí nghiệm khoảng 40 - 50 g/con, chiều dài 13,5 – 14,5 cm
2.2 Vật liệu nghiên cứu
Cá lăng vàng (Mystus nemurus)
Số lượng mẫu: 50 con cá lăng vàng
Bộ đồ giải phẫu:dao cạo nhớt, Pinxet các loại, dùi nhọn giải phẫu, kéo cácloại
Lam kính, lamen
Kính lúp
Kính giải phẫu (kính soi nổi)
Kính hiển vi có độ phóng đại: 4×10, 10×10, 40×10, 10×10
Máy ảnh tốc độ 12.0 mega pixel
Bộ đố giải phẫu gốm các dụng cụ sau: Thước đo chiều dài cá với độ chínhxác 1mm, cân điện tử với độ chính xác 0,01g
Khay men, đĩa petri, côc thủy tinh nhỏ, ống thủy tinh nhỏ, đĩa mặt đồng hồ,chén thủy tinh nhỏ…
Hóa chất: Cồn 500, 700, 900, 960, 1000, xylen, nhựa Canada, Formol 4%,10%, hematocylin, fericsulfat amonium %, Gelatin – glycerin, ferric sulfatamonium 1,5%, pepsin, HCL, NACL, NH4OH…
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ ngày 01/03- 30/06/2011
Địa điểm nghiên cứu: Khu vực Hồ Quản Hài Phúc Thành Yên Thành Nghệ An
-2.4 Nội dung nghiên cứu
Trang 18- Nghiên cứu xác định thành phần loài KST ngoại ký sinh trên cá lăng vàng
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa theo phương pháp nghiên cứu của Viện sỹ V.A Dogiel, có sự bổ sungcủa TS Hà Ký và TS Bùi Quang Tề
2.5.1 Sơ đồ khối quy trình định loại ký sinh trùng
Trang 19Hình 2.1 Tóm tắt quy trình nghiên cứu 2.5.2 Phương pháp thu mẫu cá
- Cá sử dụng để nghiên cứu là cá sống hoặc chết còn tươi
- Trước khi nghiên cứu cần xác định rõ loài cá, cỡ cá, tuổi cá
- Mẫu cá thu ngẫu nhiên từ các lồng nuôi, đóng bao Nilon bơm khí oxy giữ
ở nhiệt độ 18-220C và vận chuyển về Phân viện nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ– Nghệ An
- Số lượng mẫu thu từ 10-15 mẫu/lần/tháng x 4 tháng = 40 – 60 mẫu
Mẫu cá nghiên cứu
Đo chiều dài thân và cân khối
Phân loại KST
Trang 20- Mẫu cá bệnh được thu khi có các dấu hiệu cá yếu, nổi thành đàn trên mặtbơi lờ đờ, cá chuyển màu…
2.5.3 Phương pháp kiểm tra và phát hiện ký sinh trùng
- Cân khối lượng, đo kích thước từng cá thể cá và ghi chép lại
- Quan sát bằng mắt thường toàn bộ cơ thể bên ngoài của cá nhằm phát hiệncác biểu hiện khác thường của cá, như sự biến đổi màu sắc, những vết lở loét trênthân cá và sự ăn mòn của các vây cá để tìm ký sinh trùng đa bào có kích thướclớn, có thể dùng panh gắp (nếu thấy)
- Cạo nhớt ở các phần khác nhau trên thân, mắt, vây, hốc mũi cá Quan sátdưới kính hiển vi có thể phát hiện Monogenea và trùng đơn bào, những kí sinhtrùng thường gây nguy hiểm cho cá
- Nghiên cứu kí sinh trùng ở mang cá: Dùng kéo cắt nắp mang, cắt các cungmang và lấy các lá mang Dùng dùi giải phẫu xem xét kĩ các tơ mang dưới kínhgiải phẫu sau khi đã cho thêm mấy giọt nước
2.5.4 Phương pháp cố định, bảo quản và làm tiêu bản ký sinh trùng
¤ Cố định và bảo quản mẫu
+ Đối với kí sinh trùng đơn bào: Cố định mẫu bằng cách phết kính:
Dùng lamen đặt lên trên lam kính ở vị trí có mẫu, kéo ngược lamen về phíasau sao cho nhớt có thể dàn đều một lớp mỏng để khô tự nhiên trong không khí,xếp mẫu trong các hộp có lớp giấy để bảo quản với những mẫu cố định, bằng cáchnày cần nhuộm càng sớm càng tốt Có thể để khô cá phết kính trong không khí sau
đó nhúng vào dung dịch shaudin ấm từ 10 – 15 phút để tiếp tục rửa qua cồn 700
cho qua dung dịch iốt loãng trong vòng 15 – 20 phút, rửa lại bằng cồn iốt, cuốicùng bảo quản trong cồn 700
+ Ký sinh trùng thuộc lớp sán lá:
Cố định bằng cách đè ép giữa hai phiên kính, cho cồn 700 vào giữa hai phiến kính,giữ sán ở trạng thái đó trong thời gian 5 – 10 phút tùy theo kích thước và độ dàycủa sán, có thể dùng nước nóng để sán không hoạt động, sau đó dùng cồn để cốđịnh Ngoài ra có thể dùng formol 4% hoặc 10% để cố định Bảo quản trong cồn