Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i
-
Vũ Đăng đồng
TèNH TRẠNG NHIỄM Kí SINH TRÙNG ðƯỜNG TIấU HểA CỦA
Dấ NUễI TẠI MỘT SỐ ðỊA ðIỂM THUỘC PHÍA BẮC VIỆT NAM; MỘT VÀI ðẶC ðIỂM PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG HAEMONCHUS
CONTORTUS VÀ HIỆU LỰC CỦA THUỐC TẨY
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: thú y Mã số : 60.62.50
Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts phan lục
Hà Nội - 2007
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Lục Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Vũ Đăng Đồng
Trang 3Lời cám ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo
Bộ môn Ký sinh trùng - Kiểm nghiệm thú sản - Vệ sinh thú y; các thầy, cô giáo Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông Nghiệp I; cũng như các thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học và nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan Lục - người Thầy
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Lãnh đạo Trung tâm Chẩn
đoán Thú y Trung ương, các đồng nghiệp trong Phòng Bệnh lý - Ký sinh trùng, các bạn bè đồng nghiệp trong toàn cơ quan và gia đình đã giúp đỡ,
động viên tôi hoàn thành chương trình học tập
Tác giả luận văn
Vũ Đăng Đồng
Trang 44.1 T×nh h×nh nhiÔm ký sinh trïng ®−êng tiªu hãa cña dª ë mét sè
4.1.1 Tû lÖ nhiÔm ký sinh trïng ®−êng tiªu hãa dª (qua xÐt nghiÖm
4 2.1 Nh÷ng ký sinh trïng ®−êng tiªu hãa cña dª (xÐt nghiÖm ph©n) 32
Trang 54.2.2 Thành phần loài ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê (qua mổ
4.3.1 Biến động nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê theo tuổi
4.4.2 Đặc điểm phát triển của trứng giun xoăn Haemonchus contortus
Trang 6DANH MôC B¶NG
4.1 Tû lÖ nhiÔm ký sinh trïng ®−êng tiªu ho¸ trªn cña dª (xÐt
4.3 Nh÷ng ký sinh trïng ®−êng tiªu hãa cña dª (xÐt nghiÖm ph©n) 344.4 Thµnh phÇn loµi ký sinh trïng ®−êng tiªu hãa cña dª (qua mæ
4.10 §Æc ®iÓm ph¸t triÓn cña trøng giun xo¨n Haemonchus contortus
4.11 §Æc ®iÓm ph¸t triÓn cña trøng giun xo¨n Haemonchus contortus
Trang 7Danh mục biểu đồ
4.1 So sánh khả năng phát hiện ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê
giữa 2 phương pháp: mổ khám và xét nghiệm phân tại các địa điểm 314.1 Hiệu lực của thuốc tẩy và lá keo giậu đối với giun tròn của dê
4.2 Hiệu lực của các loại thuốc tẩy và lá keo giậu đối với giun tròn
Trang 81 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây cùng với công cuộc đổi mới đất nước, chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng và nhà nước đf và đang thu được những kết quả to lớn Số hộ đói dần được xoá bỏ, số hộ nghèo cũng được đẩy lùi và từng bước tiến tới thanh toán Một trong những chính sách thành công trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở vùng nông thôn là đầu tư con giống cho các nông hộ, nhằm tận dụng sức cày kéo, gia tăng sản phẩm như thịt, trứng, sữa
đáp ứng nhu cầu của gia đình và cho xf hội
Trong những năm qua, việc phát triển chăn nuôi đàn dê ở hầu khắp các vùng miền trong cả nước là một phong trào đf có thành công lớn Từ vốn ban
đầu là những con dê sinh sản, đf giúp nhiều hộ nông dân thoát cảnh đói và giảm tỷ lệ hộ nghèo, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc
Tuy nhiên, việc đưa dê giống về từng hộ gia đình cũng gặp phải những khó khăn về công tác phòng chống và khống chế dịch bệnh; Ngoài các bệnh nguy hiểm do vi trùng, vi rút; những bệnh gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế,
mà người chăn nuôi không phát hiện và đánh giá được là các bệnh do ký sinh trùng ở đường tiêu hoá của dê gây nên
Để phòng chống bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá cho dê một cách có cơ sở khoa học và có hiệu quả, trong những năm qua chúng tôi đf tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hoá của dê nuôi tại một
số địa điểm thuộc phía bắc Việt Nam; Một vài đặc điểm phát triển của Haemonchus contortus và hiệu lực của thuốc tẩy”
Trang 91.2 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu và phát hiện ra được những loài ký sinh trùng đường tiêu hoá có tỷ lệ nhiễm cao, khả năng gây tác hại lớn đến sức khỏe cho đàn dê nuôi là một vấn đề cần làm và hết sức thiết thực Người nông dân, chưa hiểu
và chưa có ý thức phòng bệnh cũng như tẩy trừ bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá
Việc tìm hiểu và nghiên cứu thử nghiệm các loại thuốc tẩy có hiệu quả
và một số loại lá cây tự nhiên có tác dụng tiêu diệt ký sinh trùng là các loại giun tròn là một hướng mở cho việc điều trị bệnh ký sinh trùng Phục vụ lợi ích ban đầu và chính đáng của các gia đình chăn nuôi trong việc giảm thiểu các thiệt hại kinh tế do ký sinh trùng đường tiêu hóa gây ra Ngoài ra, còn nâng cao nhận thức của người chăn nuôi trong công tác vệ sinh thú y, phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi
Ngoài các lợi ích về nâng cao nhận thức và kinh tế, việc tìm hiểu loại lá cây dễ kiếm, rẻ tiền mà lại có tác dụng điều trị bệnh giun tròn sẽ giảm được những chi phí về kinh tế, những tác hại do các chủ hộ phải dùng thuốc tẩy giun tròn là các loại hoá dược có ảnh hưởng tới sự phát triển của vật nuôi, tới chất lượng thịt, sữa
1.3 Mục tiêu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Xác định được hệ ký sinh trùng ở đường tiêu hóa dê tại một số địa điểm
ở miền Bắc Việt Nam Tìm ra được những loài gây hại lớn cho dê và quy luật biến động nhiễm của chúng trên dê
Tìm hiểu được đặc điểm phát triển của trứng giun xoăn H contortus, làm cơ sở cho việc phòng trừ và chăn nuôi luân phiên đồng cỏ
Xác định được loại thuốc tẩy giun có hiệu quả trên thị trường thuốc thú
y ngày nay
Xác định việc dùng lá cây keo giậu (Leucaena glauca Benth) ngoài việc thay thế thức ăn còn có tác dụng tẩy trừ giun tròn
Trang 102 Tổng quan tàI liệu
2.1 Nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng và điều trị bệnh ở dê
2.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Theo công bố của H Hoste, H Leveque, Ph.Dochies (2001) [45], trên tạp chí Veterinary Parasitology năm 2001; vào tháng 6 tỷ lệ nhiễm giun tròn
đường tiêu hóa là cao nhất và tháng 8 là thấp nhất trong năm đối với dê Angora Đối với dê Saanen tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa là cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất là tháng 5 trong năm
Theo nghiên cứu của tác giả Thomas Geurden and Jozef Vercruysse (2007) [54], hiệu quả của thuốc Eprinomectin đối với Capillaris nhiễm tự nhiên trên dê rất tốt Theo nghiên cứu thì với 13 dê sử dụng, trong 2 đợt thí nghiệm vào mùa xuân và mùa thu đều an toàn và khả năng tẩy đối với giun tròn nói chung và Capillaris nói riêng là cho hiệu quả rất tốt Sau thời gian
điều trị 7, 21 và 42 ngày có kiểm tra lại các mẫu phân để đánh giá sự tái nhiễm, nhưng không phát hiện trứng trong phân Việc đánh giá hiệu quả của Eprinomectin, có sự minh họa bằng việc dùng Benzimidazol làm đối chứng
Năm 2005, các tác giả Ngo Tien Dung, Nguyen Thi Mui and Inger Ledin (2005) [52] cho biết, việc chỉ sử dụng Cassava hay (Manihot esculenta Crantz) - cây sắn, lá sắn làm thức ăn cho 20 dê đực và 20 dê cái, loại F1, giống Bách Thảo lai với giống dê Barbarry và giống dê Jamnapary - tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây cho kết quả rất tốt trong việc phát triển của dê, cũng như phòng trừ một số bệnh ký sinh trùng đường tiêu trên đàn dê nuôi Việc thay thế hoàn toàn thức ăn bình thường bằng lá cây Sắn, với các chế độ 250, 500, 750 và 1000g lá sắn khô cho 1 kg trọng lượng cơ thể không gây ngộ độc cho dê (không phát hiện các biểu hiện lâm sàng khác thường)
Trang 11trên tất cả các lô thí nghiệm Ngoài ra, các tác giả còn cho biết, Cassava hay
có tác dụng tốt cho việc phòng và tẩy trừ giun tròn, cầu trùng; song không có tác dụng với sán dây
Nghiên cứu về tác dụng của Eprinomectin trên dê với 2 cách thức cho thuốc là dùng liều đơn và dùng liều kép, có sử dụng lô đối chứng là không dùng thuốc (mỗi lô dùng 25 dê), các tác giả G Cringoli, L Rinaldi, V Veneziano, G Capelli and R Rubino (2004) [41] cho biết: Liều được sử dụng cho bò là 500mg/kg P, còn liều dùng cho thí nghiệm này bằng gấp đôi liều dùng cho bò, tức là 1000mg/kgP Mặc dù dùng liều gấp đôi, song không phát hiện những phản ứng bất lợi nào cho dê
Kết quả được đánh giá sau 7, 14, 21 và 28 ngày, bằng cách kiểm tra phân
và đếm số trứng ở mỗi lô So sánh giữa các lô dùng thuốc và lô đối chứng không dùng thuốc Theo đó, lô dùng liều đơn, so với lô đối chứng sau 7 ngày cho hiệu quả, giảm số lượng trứng 90,0%, sau 14 ngày giảm 91,6%, sau 21 ngày hiệu quả
đạt 89,4% và sau 28 ngày hiệu quả còn 87,0% Trong khi đó lô dùng liều kép so với lô đối chứng là: sau 7 ngày hiệu quả đạt 99,5%, sau 14 ngày hiệu quả đạt 99,7%, sau 21 ngày đạt 96,7% và sau 28 ngày còn 96,7% [41] Theo đó, các tác giả khuyến cáo, nên dùng liều kép trong khi cần xử lý các ổ nhiễm ký sinh trùng
đường tiêu hóa nặng, các khu vực khác thì dùng liều đơn
Năm 2002, các tác giả H Hoste, Y Le Frileux and A Pommaret (2002) [44], công bố trên tạp chí ký sinh trùng, số 106 tập 4 năm 2002, cho biết: Nghiên cứu trên 120 dê, được chia làm 2 lô; một lô dùng thuốc tẩy ký sinh trùng và một lô dùng hệ thống chọn lọc (không dùng thuốc tẩy); sau khi cho thuốc, số dê thuộc lô điều trị vẫn được chăn thả và gặm cỏ trên bfi chăn bình thường, kết quả cho thấy: sau năm thứ nhất tỷ lệ nhiễm hiện hữu trên cả 2 lô là 48%, năm thứ 2 là 66% Không ghi nhận được những chứng cứ cụ thể và rõ ràng việc ảnh hưởng tới khả năng cho sữa của dê Các tác giả kết luận, việc
Trang 12dùng thuốc điều trị ký sinh trùng đường tiêu hóa hay chọn lọc bằng cách luân chuyển đồng cỏ đều có thể tính toán được tác dụng và tùy vào từng điều kiện, nên chọn phương pháp sao cho hợp lý
Theo P B Ancheta, R A Dumilon, V M Venturina, W A Cerbito,
R J Dobson, L F LeJambre, E C Villar and G D Gray (2004) [53], tiến hành thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, dùng mẫu phân dê và cừu tại Philíppin (2004); kết quả thử tác dụng của Benzimidazol trong phòng thí nghiệm, bằng phương pháp thử nghiệm sự phát triển của ấu trùng và trứng (LDA - Larval Development Assay) cho thấy: Dùng dung dịch pha lofng của Benzimidazol (theo hướng dẫn của nhà sản xuất), kết quả dung dịch Benzimidazol có khả năng ức chế sự phát triển của 64% số trứng thành thục cho vào; biểu hiện bằng việc, phôi trứng không phát triển hoặc bị tiêu diệt (hủy hoại phôi bào) sau 3 ngày thí nghiệm Thử nghiệm khác, các tác giả sử dụng ấu trùng gây nhiễm (L3) của họ giun tròn dạ dày - ruột Trichostrongylidae trong môi trường pha lofng thuốc Benzimidazol; kết quả cho thấy, có 82% số ấu trùng bị tiêu diệt sau 24 giờ
Theo tác giả, C Chartier, I Pors và C Benoit (1995) [35], công bố tác dụng của sản phẩm Pyrantel tartrate đối với H contortus, Teladorsagia circumcincta và Trichostrongylus cho biết Sử dụng 50 dê Alpine của Pháp
được tẩy và kiểm tra, sạch với các loại giun tròn đường tiêu hóa Đến ngày thứ
25 dùng ấu trùng giai đoạn L3, gây nhiễm cho chúng Sau đó chia ngẫu nhiên làm 2 lô; mỗi lô 25 con Lô 1 dùng sản phẩm Pyrantel tartrate liều 20 mg/kg trọng lượng cơ thể; lô 2 dùng liều gấp đôi (40 mg/kg trọng lượng), chia 2 lần dùng, lần thứ 2 sau lần thứ nhất 24 giờ Sau 10 ngày điều trị, tiến hành mổ khám và thu thập các ấu trùng, giun trưởng thành
Kết quả cho thấy: ở cả 2 liều sử dụng đều cho tác dụng tốt trong việc chống lại H contortus và Teladorsagia circumcincta; khả năng tẩy trừ đạt
Trang 1396% (96% số dê mổ khám không tìm thấy ấu trùng hay giun trưởng thành với
dê trưởng thành và 33% dê sơ sinh bị nhiễm giun tròn giống Trichostrongylidae (chủ yếu là H contortus và T axei) Số dê nhiễm Trichuris ovis là 0,9%; cả dê sơ sinh và dê trưởng thành đều nhiễm cầu trùng
là 68%; số dê trưởng thành bị nhiễm giun phổi là 64% Tỷ lệ dê trưởng thành nhiễm sán dây không cao, chỉ chiếm 6% Về cầu trùng, tác giả phát hiện
được 9 loài, như: E parva, E ahsata, E faurei, E ninakohlyakimovae, E caprovina, E caprina, E christenseni, E granulose và E crandalis Loài giun phổi tìm được chủ yếu là Muellerius capillaries
Các tác giả còn đưa ra kết luận: Cầu trùng chủ yếu gây tác hại cho dê (như ốm yếu) vào mùa đông, trong khi đó giun tròn (chủ yếu là H contortus
và T axei) làm cho dê ốm, gầy yếu, kém ăn, chậm lớn vào mùa xuân
Kết quả nghiên cứu về khả năng chống lại giun tròn nhiễm tự nhiên ở
dê của cây Sulla (Hedysarum coronarium) - một cây thuộc họ phụ đậu, tác giả W.E Pomroy and B.A Adlington (2006) [57] cho biết: Sử dụng dê 6 tháng tuổi, chia 2 lô; trước khi đưa vào thí nghiệm, các dê đều được kiểm tra mẫu phân và lựa chọn tương đối đồng đều về số lượng trứng các loại giun tròn
Trang 14đường tiêu hóa Lô 1, được cho ăn bình thường và chăn thả luân phiên ở vùng
đồng cỏ sạch; Lô 2, chỉ cho dê ăn cây Sulla (Trong cây Sulla chứa 2,6% chất Tanins, 1,8% là Protein - bound và 0,1% là Fibre - bound), thời gian thí nghiệm là 10 ngày
Kết quả cho thấy: Sau 10 ngày thí nghiệm tiến hành mổ khám, thu thập toàn bộ giun trưởng thành hoặc ấu trùng (nếu có) Kết quả thu được 4 giống, loài giun tròn là Teladorsagia circumcicta, Trichostrongylus colubriformis, T vitrinus và Trichuris Với hai lô thí nghiệm, kết quả đếm số giun cụ thể từng loài tương ứng lô 1 và lô 2 như sau: Teladorsagia circumcicta (5792 con, 5690 con), Trichostrongylus colubriformis (272 con, 262 con), T vitrinus (1060 con, 1804 con) và Trichuris là (32 con, 30 con)
Các tác giả kết luận: Hầu như không ghi nhận được có sự sai khác (với
độ tin cậy 95%) giữa 2 phương thức chăn nuôi, chỉ cho ăn bằng cây Sulla và
ăn cỏ bình thường trong điều kiện như nhau [57]
2.1.2 Những nghiên cứu trong nước
ở Việt Nam đf có một số những nghiên cứu về ký sinh trùng và điều trị bệnh do ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê
Năm 1997, tập thể tác giả Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Khánh Quắc, Phan Địch Lân, Nguyễn Thế Hùng (1997) [15] cho biết: Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa ở dê tại tỉnh Bắc Thái rất đa dạng Theo kết quả nghiên cứu này, dê nhiễm 3 lớp, 8 giống, 11 loài giun sán khác nhau
Tác giả Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Khánh Quắc, Phan Địch Lân (1997) [18] còn cho biết, dê cỏ nuôi tại tỉnh Bắc Thái nhiễm 5 loại giun tròn Trong đó nặng nhất là loài Haemonchus (90,7%) thấp nhất là Strongyloides (12,8%)
Hạ Thúy Hạnh, Vũ Đăng Đồng (2003) [10] cho biết, dê nuôi tại huyện
Ba Vì tỉnh Hà Tây nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa rất phổ biến; chủ yếu
Trang 15nhiễm từ 2 - 4 loại ký sinh trùng trong một các thể Dê nhiễm trên bốn loại ký sinh trùng chiếm tỷ lệ 12,10%, dê nhiễm 1 loại ký sinh trùng chiếm 15,78%,
dê nhiễm từ 2 đến 4 loại ký sinh trùng chiếm 61,04%
Theo Nguyễn Thị Kim Lan, Phan Địch Lân (1999) [16], xác định mối tương quan giữa số giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa dê và số trứng trong một gam phân, thấy rằng: Trên 3 loại giun tròn chính gây hại nhiều cho dê là:
Giun tóc (T ovis) có phương trình là y = a + bx (trong đó a = 14,541,
b = 9,88862) Hệ số tương quan r = 0,94399 Có sự tương quan chặt
Giun xoăn (H contortus) có phương trình là y = a + bx (trong đó
a = 687,693, b = 41,4151) Hệ số tương quan r = 0,876895
Giun kết hạt (Oesophagostomum sp ) có phương trình là y = a + bx (trong đó a = 71,1024, b = 14,4431) Hệ số tương quan r = 0,889734
Theo Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Quang Sức (1994) [11], phát hiện 10 loài giun sán thường xuyên xuất hiện trên đàn dê, trong đó gây tác hại nặng nhất là Haemonchus và Trichostrongylus
Theo Nguyễn Quang Sức, Franz Kehlbach, Nguyễn Duy Lý, Nguyễn Thế Hùng (1998) [27], sử dụng 3 loại thuốc để tẩy ký sinh trùng cho dê, kết quả cho thấy Vermital hiệu lực đạt 77,8%, Fasmin đạt 88,9% và thuốc đa giá SBM đạt 87,5%
Theo Nguyễn Thị Kim Lan, Phan Địch Lân, Nguyễn Khánh Quắc (1997) [18] cho biết, dùng hỗn hợp Niclosamid - Tetramisol B có hiệu lực 97,1% và Mebenvet có hiệu lực 95% Các thuốc đều rất an toàn với dê nuôi 2.2 Một số loại ký sinh trùng đường tiêu hóa thường gặp ở dê
Lớp giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của dê rất đa dạng, song những loài nhiễm tỷ lệ cao, cường độ nặng và có khả năng gây hại cho dê thì chủ yếu
là nhóm giun xoăn ký sinh trong dạ dày, ruột
Trang 16Gây ra bệnh gồm nhiều loài giun thuộc họ Trichostrongylidae, trong đó gồm nhiều phân họ như: Haemonchinae, Cooperinae, Trichostrongylinae …
ở nước ta, giống giun xoăn Haemonchus gây hại chủ yếu là H contortus, ít khi thấy H similis hoặc chúng ít gây tác hại; do H contortus hút chất dinh dưỡng là máu vật chủ
2.2.1 Mô tả đặc điểm của giống Haemonchus (đại diện là H contortus) [5], [20], [32], [39], [40], [51]
Gồm một số loài như: H contortus (Rudolphi, 1803), H similis thuộc
họ Haemonchus Cobb, 1898, thuộc phân họ Haemonchinae, Skrjabin et Schulz, 1952, họ Trichostrongylidae Nơi ký sinh là dạ múi khế và ruột non
Con đực: cơ thể dài 18,7 - 22,3mm, rộng nhất 0,352 - 0,416 mm Túi sinh dục có 3 thùy; hai thùy bên dai, thùy sau không đối xứng Các sườn bên hướng về phía sau, các sườn bụng quay về phía trước Các sườn bên chung một gốc lớn, mút cuối có sự phân nhánh Gai sinh dục màu nâu, dài 0,448 - 0,544 mm, phần đuôi thắt nhỏ nhanh và kết thúc bằng một phần đặc trưng như chiếc kim Gai điều chỉnh dạng thuyền, dài 0,250 - 0,321 mm
Con cái: cơ thể dài 25,0 - 34,2 mm, rộng nhất 0,588 - 0,739 mm Lỗ sinh dục cách mút đuôi 5,92 - 7,07 mm; vùng âm môn có 1 van hình lưỡi cày, dài 0,750 - 1,068 mm, rộng 0,330 - 0,580 mm Túi nhận tinh dài 0,80 - 1,16
mm (bao gồm cả cơ thắt) Buồng trứng uốn khúc hình maixo Mỗi giun cái có thể đẻ 5000 - 15000 trứng/ngày
Hình thái trứng: Trứng có vỏ mỏng, kích thước 0,080 - 0,085 x 0,040 - 4,045 mm Các phôi bào trong trứng to đều, xếp thành hình chùm nho
Sự phát triển: H contortus phát triển trực tiếp, không qua vật chủ trung gian Đây cũng là một yếu tố rất cơ bản để giải thích về tỷ lệ nhiễm H contortus rất cao ở loài nhai lại nói chung và trên dê nói riêng
Trang 17Theo Nguyễn Trọng Nội (1967) [23], dê ở mọi lứa tuổi đều mắc H contortus, nhưng nặng nhất là ở dê dưới 1 năm tuổi Mùa bệnh nặng nhất là mùa hè thu
Khi vật chủ là loài nhai lại ăn phải ấu trùng gây nhiễm, chúng xâm nhập vào dạ múi khế và ruột non rồi bám chặt vào niêm mạc để hút máu vật chủ; gây loét và chảy máu niêm mạc
2.2.2 Mô tả đặc điểm của giống Trichostrongylus (đại diện là T axei) [5], [20], [39], [40], [48]
Gồm rất nhiều loài, trong đó có 3 loài cơ bản là: T axei (Cobbold, 1879), T columbriformis (Giles, 1892), T.probolurus (Railliet, 1896) thuộc giống Trichostrongylus Looss, 1905, thuộc phân họ Trichostrongylinae, Leiper, 1905 Nơi ký sinh là dạ múi khế và ruột non
Con đực: dài 3,4 - 4,5 mm, rộng nhất 0,050 - 0,070 mm Sườn bụng bên của túi sinh dục mảnh; các sườn bụng sau, sườn bụng giữa và sườn bên có độ dày như nhau Sườn lưng dài và mảnh, chia 2 nhánh ở cuối, mỗi nhánh lại chia thành 2 nhánh nhỏ Gai sinh dục màu vàng nâu, kích thước khác nhau; chiếc nhỏ dài 0,085 - 0,104 mm, chiếc lớn dài 0,110 - 0,128 mm Mút cuối gai sinh dục có mấu hình tam giác; ở gai nhỏ, mấu này dài 0,030 - 0,036 mm, ở gai lớn dài 0,039 - 0,051 mm Gai điều chỉnh dài 0,705 - 0,720 mm
Con cái: cơ thể dài 4,6 - 5,5 mm, rộng nhất 0,055 - 0,075 mm Thực quản dài 0,155 - 0,175 mm Lỗ sinh dục cách mút đuôi 0,800 - 1,072 mm
Đuôi thẳng, hình nón, dài 0,060 - 0,090 mm Nón sinh dục hẹp Con cái có khả năng đẻ thấp, 100 - 200 trứng mỗi ngày
Hình thái trứng: Kích thước trứng 0,090 - 0,092 x 0,035 - 0,042 mm Dạng trứng của giống Trichostrongylus rất khó trong phân biệt giữa các loài
Trang 18Sự phát triển: T axei phát triển trực tiếp, không cần qua vật chủ trung gian Khi vật chủ ăn phải ấu trùng gây nhiễm L3, chúng sẽ xâm nhập vào dạ dày, ruột bằng cách xuyên qua màng nhầy Sau vài ngày chúng phát triển thành ấu trùng L4 và quay trở lại màng nhầy, khoảng 10 -14 ngày, sau đó chúng phát triển thành dạng L5, tức là dạng ấu trùng giun trưởng thành và ký sinh tại đó (Jorgen Hansen and Brian Perry (1994) [48]
2.2.3 Mô tả đặc điểm của phân giống Oesophagostomum (đại diện là Oes venulosum) [5], [20], [33], [39], [40], [51]
Gồm rất nhiều loài ký sinh ở loài nhai lại, theo Nguyễn Thị Lê [20], ký sinh ở dê có một số loài như: Oes venulosum (Rudolphi, 1809), Oes asperum (Raillet et Henry, 1913), thuộc phân giống Oesophagostomum (Hysteracrum)
và Oes columbianum (Curtice, 1890), thuộc phân giống Oesophagostomum (Proteracrum) Nơi ký sinh là ruột, ruột già
Loài Oes venulosum (Rudolphi, 1809) thuộc phân giống Oesophagostomum (Hysteracrum) với các đặc điểm chung là: Các núm cổ ở sau phần gốc thực quản, cách mút đầu 1,26 mm Vành tia ngoài gồm 18 tia, vành tia trong có 36 tia Nang miệng có chiều rộng gấp 5 lần chiều dài Thực quản nhỏ, dạng chiếc bánh mì Vòng thần kinh cách mút đầu 0,285 - 0,330 mm
Con đực: Cơ thể dài 12,0 - 14,0 mm, rộng 0,30 - 0,40 mm Thực quản dài 0,81 - 0,88 mm Túi sinh dục có cấu tạo chung của giống Oesophagostomum Sườn lưng thắt lại và phân 2 nhánh, nhánh ngoài ngắn và dày hơn nhánh trong Gai sinh dục dài 1,2 - 1,2 mm Gai điều chỉnh dài 0,12
Trang 19Hình thái trứng: Trứng có vỏ mỏng, kích thước dao động từ 0,093 - 0,099 x 0,045 - 0,046 mm
2.2.4 Mô tả đặc điểm của họ Strongyloididae (đại diện là Strongyloides papillosus) [5], [32], [39], [51]
Họ Strongyloididae gồm rất nhiều loài, song ký sinh ở loài nhai lại chỉ
Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục; một buồng chạy về phía trước cơ thể, cách gốc thực quản 0,051 - 0,425 mm thì quay lại, buồng trứng còn lại hướng
về phía sau cơ thể, cách mút đuôi 0,085 - 0,340 mm thì vòng lại Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp Tử cung chứa 4 -
75 trứng Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau
Hình thái trứng: Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng dao
động 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036 Trong trứng có chứa ấu trùng
2.2.5 Mô tả phân họ Bunostomatinae (đại diện là B trigonocephalum) [30], [32], [40]
Phân họ Bunostomatinae gồm 1 giống Bunostomum (Raillet, 1902) và 2 loài là: B trigonocephalum (Rudolphi, 1808) và B phlebotomum (Raillet, 1900) Nơi ký sinh là ruột non Là loài hút máu vật chủ để sống, nên có tác hại rất lớn
B trigonocephalum có nang miệng hình bán cầu, có nhiều tấm kitin cấu tạo phức tạp Thực quản dài 0,73 - 1,125 mm, rộng nhất 0,16 - 0,27 mm Lỗ bài tiết cách mút đầu 0,65 - 0,85 mm
Trang 20Con đực: cơ thể dài 11,0 - 17,0 mm, rộng nhất 0,32 - 0,47 mm Túi sinh dục không đối xứng, các nhánh sườn nhỏ và ngắn nhưng các gốc sườn lại dài
và mập Các nhánh sườn bên khá phát triển, sườn lưng có 2 nhánh, cuối mỗi nhánh lại phân đôi Gai sinh dục bằng nhau, màu nâu sáng, dài 0,62 - 0,67
mm Không có gai điều chỉnh
Con cái: Cơ thể dài 13,7 - 25,0 mm, rộng nhất 0,41 - 0,67 mm Lỗ sinh dục cách mút đuôi 8,70 - 13,35 mm Đuôi dài 0,250 - 0,550 mm
Hình thái trứng: Có kích thước 0,075 - 0,093 x 0,038 - 0,045 mm 2.3 Các loại hóa dược sử dụng trong nghiên cứu
Chúng tôi hành thử nghiệm và so sánh tác dụng của một số loại hoá dược trong việc tẩy trừ ký sinh trùng đường tiêu hoá của dê Các loại hoá dược này có phổ biến trên thị trường thuốc thú y của nước ta hiện nay
2.3.1 Ivermectin [34], [44], [54]
Là thuốc tẩy trừ ký sinh trùng có tác dụng trên hầu hết các loại giun tròn đường tiêu hoá, thuốc có dẫn xuất từ Imidazole Hiện nay, thuốc được sử dụng rộng rfi và có rất nhiều công ty phân phối khác nhau với các tên thương phẩm không giống nhau
Ivermectin có tính chất dạng bột kết tinh màu trắng; song trên thị trường các sản phẩm bán ra của các công ty đf được thể hiện trong dạng dung dịch tiêm rất tiện dụng Thuốc có khả năng dung nạp tốt và hầu như không gây phản ứng phụ cho con vật
Thuốc có phổ tác dụng rộng, không chỉ với các loại giun tròn mà tác dụng tiêu diệt ve và ghẻ cũng rất hiệu quả
Cơ chế tác dụng và chỉ định: Thuốc có tác dụng chính lên hệ thần kinh trung
ương bằng cách phong bế các dẫn truyền xung thần kinh của ký sinh trùng thông qua việc làm tăng hiệu quả giải phóng a-xít gamma aminobutyric Chính a-xít
Trang 21gamma aminobutyric sẽ can thiệp sâu vào các quá trình xung động của giun tròn Thuốc có tác dụng tương đối kéo dài do chúng tồn tại lâu trong cơ thể con vật
Liều lượng tùy thuộc vào mỗi chế phẩm của mỗi nhà sản xuất
2.3.2 Levamisole 7,5% [18], [36], [38], [53]
Levamisole còn có các tên khác như: Nemisole hoặc Anthelsole, là dẫn xuất của Imidazole; là đồng phân quay trái của Tetramisole; là thuốc tẩy có tác dụng mạnh với giun tròn và có độ an toàn rất cao Đào thải qua đường nước tiểu và phân Thuốc phân tán nhanh trong cơ thể; sau khi tiêm 3 ngày, thuốc không còn tồn tại trong vật nuôi
Cơ chế tác dụng: Thuốc tác dụng lên hệ thần kinh của ký sinh trùng, làm cho chúng không còn bám vào vật chủ; đồng thời kích thích nhu động của ruột để đẩy giun ra ngoài Thuốc còn kích thích cơ thể vật nuôi sản sinh hệ miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào; do đó tăng cường thêm sức đề kháng của cơ thể chống lại các tác nhân gây hại từ bên ngoài
Thuốc có dạng viên nén, bột và dung dịch tiêm tùy thuộc vào nhà sản xuất và đóng gói sản phẩm
Liều dùng phụ thuộc vào thuốc là dạng bột, viên nén hay dung dịch tiêm và dựa theo hướng dẫn của nhà sản xuất
2.3.3 Fenbendasole[36], [44], [53]
Là thuốc thuộc nhóm Benzimidasole, là dẫn xuất của Amidazole Hiện thuốc vẫn đang được sử dụng phổ biến tại nước ta Tuy vậy, thuốc ở dạng bột, nên việc dùng thuốc còn có những hạn chế do phải thao tác phức tạp
Cơ chế tác dụng: Thuốc có tác dụng lên hệ thần kinh qua việc phong
bế men Fumarate reductaza của ký sinh trùng trưởng thành Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng làm giảm sức sống của trứng giun sán khi được thải
ra môi trường
Trang 222.4 Lá cây sử dụng trong nghiên cứu [1], [6], [7], [8], [12], [21], [29], [31]
Khi tiến hành nghiên cứu lĩnh vực này, chúng tôi dựa trên cơ sở kinh nghiệm có sẵn trong dân gian về việc sử dụng một số loại lá cây có tác dụng
điều trị triệu chứng đau bụng, ỉa chảy cho người và gia súc
Theo GS.TS Đỗ Tất Lợi, khả năng tẩy trừ giun của một số loại thảo dược là rất tốt và là hướng mở cho y học cổ truyền, kết hợp với y học hiện đại [1], [6] [7], [8], [12], [21], [29], [31]
Các cây thường được sử dụng trong dân gian để chữa bệnh cho người và gia súc bị đau bụng, ỉa chảy thường là: Keo giậu, cây tinh dầu giun, lá - vỏ và
dễ xoan Ngoài ra còn có quả giun, lá táo ta Đây là những lá cây thường
được trồng ở những vùng nông thôn, miền núi, và rất dễ kiếm
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng lá tươi của cây Keo giậu, một loại cây được trồng làm hàng rào chắn quanh vườn; rất dễ khai thác và sử dụng 2.4.1 Cây Keo giậu (Leucaena glauca Benth) (2004) [1]
Theo “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam” - Tập I - Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mfn,
Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn
Tên khoa học: Keo giậu Leucaena glauca Benth
Tên khác: Bồ kết dại, Táo nhân, Bọ chét, Bình linh, Phắc Căn Thin (Tày), Nàng Dung Điẳng (Dao)
Tên nước ngoài: Lead tree, jumpy bean, White popinac (Anh)
Họ: Trinh nữ (Mimosaceae)
Mô tả: cây nhỏ, cao vài mét, có khả năng phân cành ngay từ gốc, vỏ thân màu nâu nhạt Cành non hơi có cạnh, được phủ một lớp lông mịn Lá kép hai lần hình lông chim, mọc so le nhau, lá chét 12 - 18 đôi
Trang 23Cụm hoa mọc ở kẽ lá, thành đầu tròn, đường kính 1,2 - 1,4 cm; cuống dài 4 - 6 cm, lông nhỏ màu trắng, có lông dạng mi
Quả đậu, thẳng, dẹt và mỏng, dài 13 - 14 cm, rộng 1,5 cm, có mũi nhọn
ở đầu, hạt 15 - 20, dẹt nhẵn, cứng, màu nâu sẫm
Cây có nguồn gốc vùng Trung Mỹ ở nước ta Keo giậu được trồng nhiều ở các vùng đồi núi hay ở đồng bằng trồng làm bờ rào, Đây là giống cây ưa sáng, có khả năng sống ở nhiều vùng đất khác nhau Khả năng tái sinh mạnh mẽ [29]
Bộ phận sử dụng là: Hạt, lá, vỏ cây tác dụng tẩy trừ giun tròn
“Kinh nghiệm dân gian, hạt Keo giậu xanh là đồ ăn thường xuyên trong mùa hè của trẻ em vùng nông thôn Số lượng hạt Keo giậu ăn vào không kể liều lượng, thấy ra giun mà không có biểu hiện về hiện tượng ngộ độc” [21] 2.5 Một số giống dê và đặc điểm sinh học của chúng
2.5.1 Một số giống dê sử dụng trong nghiên cứu
Trong quá trình lấy mẫu nghiên cứu tại các địa điểm, chúng tôi đf gặp nhiều giống dê được nuôi tại Việt Nam như: dê Cỏ, Bách Thảo, Barbarri, Beetal, Alpine, Saanen, Boer và các giống được lai tạo khác Trong đó phổ biến hiện nay
là giống dê Bách Thảo; các giống dê nhập về Việt Nam từ các nước như ấn Độ, Mĩ… Giống dê Cỏ hiện nay ít được người chăn nuôi ưa chuộng, do chúng có năng xuất không cao bằng so với các giống dê lai hay dê nhập ngoại
2.5.1.1 Giống Cỏ (dê địa phương) [3], [4]
Giống dê này thường có lông màu đen là chủ đạo, ngoài ra chúng còn nhiều màu lông khác nữa như khoang trắng - đen, nâu vàng Giống dê này có thân hình nhỏ, nhanh nhẹn, sức chịu đựng tốt với thời tiết khắc nghiệt Trọng lượng con sơ sinh đạt 1,7 - 1,9 kg, khi được 6 tháng tuổi đạt 11 - 12 kg, khi trưởng thành đạt 30 - 35 kg
Trang 24Tính năng sản xuất: Giống dê Cỏ có tính năng sản xuất không cao, phù hợp với chăn nuôi theo phương thức quảng canh, lấy thịt
Đối với dê cái, chu kỳ cho sữa ngắn, khoảng 90 - 105 ngày, hàng ngày cho khoảng 300 - 370 g sữa Tuổi phối giống trên 6 tháng, muộn nhất là 8 tháng tuổi, dao động trung bình 7 tháng Khả năng sinh sản đạt 1,4 lứa/năm;
số con đạt 1,3 con/năm [4]
2.5.1.2 Giống Bách Thảo [3], [4]
Là giống dê của Việt Nam, xuất phát từ tỉnh Ninh Thuận; đây là giống
dê có thân hình to, khoẻ, màu lông đen sọc trắng, tai cụp Người ta cho rằng, giống này là con lai giữa Alpine với dê giống ấn Độ được nhập và nuôi, thuần hoá tại tỉnh Ninh Thuận từ rất lâu (khoảng trên 100 năm) rồi trở thành giống
dê của Việt Nam Tính tình hiền lành, có thể nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng hoặc bán chăn thả Dê đực có cặp sừng thẳng, xoắn dài [4]
Khi sơ sinh đf nặng tới 2,6 - 2,8 kg, được 6 tháng tuổi đạt 19 - 22 kg, con trưởng thành đạt 40 - 45 kg (con cái) và 75 - 80 kg (con đực)
Tính năng sản xuất: Khả năng cho sữa cao, đạt 1,1 - 1,4 kg/ngày; thời gian cho sữa kéo dài tối đa 150 ngày Dê cái sinh sản 1,7 con/lứa, 1,8 lứa/năm [4]
Giống này có khả năng sản xuất tốt; thích hợp cho loại hình kiêm dụng sản xuất lấy thịt và sữa đều tốt
2.5.1.3 Giống Alpine [2], [3], [4]
Đây là giống dê của Pháp, được nhập về Việt Nam, với số lượng ban
đầu chỉ 35 con Dê có thân hình trung bình, thon gọn, mầu lông chủ đạo là trắng có đốm vàng, chân nhỏ, tai thẳng và nhỏ
Những nghiên cứu về giống dê này tiếp tục được hoàn thiện Một số thông tin cơ bản như: Con cái trưởng thành đạt 40 - 42 kg, con đực trưởng thành đạt 50 - 55 kg; sản lượng sữa đạt 900 - 1000 g/ chu kỳ (một chu kỳ cho sữa của dê Alpine kéo dài 240 - 250 ngày)
Trang 252.5.1.4 Giống Boer [3], [4]
Là giống dê của Mĩ, có nguồn gốc từ châu Phi; được nhập về Việt Nam năm 2001 Là giống dê chuyên dụng thịt Dê có thân hình béo tròn, thấp, đậm, chân to, cơ bắp phát triển; lông màu nâu, có vòng trắng ở cổ
Một số tính năng cơ bản: con đực trưởng thành đạt 100 - 160 kg, con cái đạt 90 - 110 kg
2.5.1.5 Giống Saanen [2], [3], [4]
Đây là giống dê của Thuỵ Sỹ, với tính năng chuyên sữa; hiện giống này
được nuôi nhiều tại các nước ở châu Âu Dê có thân hình trung bình, bầu sữa
to, dài; lông màu trắng, tai nhỏ, vểnh lên
Là giống dê có chu kỳ cho sữa rất dài (290 - 300 ngày), sản lượng sữa
đạt 1000 - 1200 kg/chu kỳ Trọng lượng con đực khi trưởng thành là: 65 - 75
kg, con cái đạt 40 - 50 kg
2.5.2 Một vài đặc điểm sinh học của dê
Theo G Piccione, G Caola and R Refinetti (2007) [42], nghiên cứu trên 5 giống dê, trong thời gian 24 tháng (bắt đầu khi dê được 5 tháng tuổi) về
đặc điểm sinh lý và sản xuất của chúng cho thấy: thân nhiệt dê không ổn định cho tới khi được 2 tuổi Các chỉ số khác như hàm lượng Urê máu, hàm lượng tổng số Bilirubin, Albumin, Glucose, Calcium thì ổn định và có những thay
đổi theo chiều tăng lên khi tuổi dê tăng
Theo Urge Mengistu, Kristina Dahlborn and Kerstin Olsson (2007) [56], nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ cho uống nước đến sự phát triển của
dê con và khả năng cho sữa dê mẹ và cho biết: sử dụng 2 lô dê, đồng đều, mỗi lô gồm 7 cặp dê mẹ và dê con Lô 1 cho sử dụng nước mỗi ngày 1 lần; lô 2 cho sử dụng 4 ngày 1 lần Sau 32 ngày thí nghiệm, cho thấy:
Lô 1: dê mẹ cho sữa trung bình hàng ngày là: 149±5 ml, dê con tăng trọng trung bình đạt 52±4 g Độ tin cậy P<0,01
Trang 26Lô 2: dê mẹ cho sữa trung bình hàng ngày là: 115±5 ml, dê con tăng trọng trung bình đạt 33±4 g Độ tin cậy P<0,01
Các tác giả kết luận, chế độ nước uống có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tăng trọng của dê non và khả năng tiết sữa của dê mẹ
Theo G.F.W Haenlein [43], đánh giá về khả năng cho sữa giữa dê và cừu nói chung cho thấy: một vài giống cừu có khả năng cho sữa tới 1000 kg trong cả một chu kỳ; còn với dê, khả năng cho sữa cao nhất lên tới 2000 kg trong chu kỳ Việc dê và cừu cho sữa nhiều hay ít phụ thuộc vào giống chuyên sữa hay không Ngoài ra, còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện chăn nuôi và kỹ thuật khai thác sữa của người chăn nuôi
Theo Đinh Văn Bình, Nguyễn Quang Sức (2000) [4], “sự sinh trưởng và phát triển của dê tuân theo qui luật giai đoạn, nó phụ thuộc vào giống, tính biệt, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc quản lý và môi trường” Thông thường, khối lượng dê sơ sinh là 1,6 - 3,5 kg; đến 3 tháng đạt 6 - 12 kg; tháng thứ 6 là
10 - 21 kg; tháng thứ 12 là 17 - 30 kg; đến 18 tháng là 30 - 40 kg Giai đoạn sơ sinh đến 3 tháng tuổi cường độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối là cao nhất (90 - 120 g/con/ngày); tiếp theo là giai đoạn 3 - 6 tháng tuổi và 6 - 12 tháng (70 - 110 g/con/ngày)…
Theo Đinh Văn Bình (1994) [2], nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
và khả năng sản xuất của giống dê Bách Thảo Việt Nam cho biết: giống dê Bách Thảo có thể là con lai giữa Alpine với dê giống ấn Độ được nhập và nuôi, thuần hoá tại tỉnh Ninh Thuận từ rất lâu (khoảng trên 100 năm), rồi trở thành giống dê của Việt Nam Tính tình hiền lành, có thể nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng hoặc bán chăn thả Dê đực có cặp sừng xoắn thẳng, dài
Về một vài đặc điểm sinh học, tác giả cho biết:
Khi mới sinh dê nặng tới 2,6 - 2,8 kg;
Lúc 6 tháng tuổi đạt 19 - 22 kg;
Trang 27Trưởng thành đạt 40 - 45 kg (con cái) và 75 - 80 kg (con đực)
Về tính năng sản xuất: khả năng cho sữa cao, đạt 1,1 - 1,4 kg/ngày; thời gian cho sữa kéo dài tối đa 150 ngày Dê cái sinh sản 1,7 con/lứa, 1,8 lứa/năm
Giống này có khả năng sản xuất tốt; thích hợp cho loại hình kiêm dụng sản xuất lấy thịt và sữa đều tốt
Theo Đinh Văn Bình, Nguyễn Quang Sức (2000) [4] các giống dê nhập
từ ấn Độ về Việt Nam như: Jumnapari, Beetal, Barbarri đều được nuôi thích nghi và thuần dưỡng tốt Dê đf thích nghi với thời tiết của Việt Nam Các tính năng sản xuất đạt yêu cầu kỹ thuật như: trọng lượng tối đa 35 - 80 kg, tùy giống; khả năng cho sữa 0,9 - 1,6 kg/ngày, tùy giống
Theo Đinh Văn Bình, Nguyễn Duy Lý (2003) [3], về kỹ thuật chăn nuôi
dê cho biết: hiện nay, dê Cỏ không được người chăn nuôi ưa chuộng do tính năng sản xuất kém Giống dê này có thân hình nhỏ, nhanh nhẹn, sức chịu
đựng tốt với thời tiết khắc nghiệt Trọng lượng con sơ sinh đạt 1,7 - 1,9 kg, khi
được 6 tháng tuổi đạt 11 – 12 kg, khi trưởng thành đạt 30 – 35 kg
Về tính năng sản xuất: Giống dê cỏ có tính năng sản xuất không cao, phù hợp với chăn nuôi theo phương thức quảng canh, lấy thịt
Theo Đinh Văn Bình, Nguyễn Quang Sức; Đinh Văn Bình, Nguyễn Duy
Lý và Đinh Văn Bình [4], [3], [2], về đặc điểm sinh sản của dê cho biết: Thông thường tuổi động dục lần đầu của dê là 6 - 8 tháng tuổi; phối giống lần
đầu là 8 - 10 tháng tuổi; đẻ lứa đầu là 360 - 420 ngày
Một số giống dê cụ thể như:
Tuổi động dục lần đầu dê Cỏ cái là 185 ngày, dê đực là 154 ngày; dê Bách Thảo động dục lần ở con cái là 191 ngày và dê đực là 163 ngày; dê Barbarri động dục lần đầu con cái là 213 ngày, con đực là 220 ngày…
Tuổi phối giống lần đầu dê Cỏ cái là 204 ngày, dê đực là 231 ngày; dê Bách Thảo phối giống lần ở con cái là 213 ngày và dê đực là 241 ngày; dê Barbarri phối giống lần đầu con cái là 246 ngày, con đực là 282 ngày…
Trang 283 Địa đIểm – Nội dung – Nguyên liệu
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm lấy mẫu, mổ khám và thử nghiệm hiệu lực của thuốc tẩy
Chúng tôi tiến hành lấy mẫu phân dê tại 3 địa điểm là: huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội; huyện Ba Vì - tỉnh Hà Tây và huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình Tiến hành mổ khám dê tại 2 lò mổ dê ở quận Long Biên - thành phố Hà Nội và thị xf Sơn Tây - tỉnh Hà Tây Thử nghiệm hiệu lực của thuốc tẩy và lá cây Keo giậu tại một số hộ chăn nuôi dê thuộc huyện Ba Vì - tỉnh Hà Tây 3.1.2 Địa điểm xét nghiệm mẫu và thí nghiệm đặc điểm phát triển của trứng H contortus
Các mẫu phân được xét nghiệm tại phòng Bệnh lý - Ký sinh trùng - Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương
Bố trí thí nghiệm đặc điểm phát triển của trứng H contortus tại phòng Bệnh lý - Ký sinh trùng - Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương
3.2 Nguyên vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được chúng tôi lựa chọn là con dê; hệ ký sinh trùng đường tiêu hóa; thuốc tẩy ký sinh trùng và lá cây Keo giậu
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Được tiến hành từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 7 năm 2007
3.2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tình hình nhiễm chung ký sinh trùng đường tiêu hoá trên dê; loài nào nhiễm phổ biến, nhiễm nặng nhất (qua xét nghiệm phân và mổ khám)
Trang 29- Xác định đặc điểm phát triển của trứng giun H contortus, trong một
đặc biệt lưu ý tới giun tròn dạ dày
- Sử dụng một loại thảo mộc là lá cây Keo giậu có mọc nhiều trong tự nhiên ở trong khu vực có sự chăn thả đàn dê là phổ biến và dê cũng thường xuyên ăn các loại lá này
- Các loại hoá dược sử dụng trong nghiên cứu là: Ivermectin, Levamisole, Fenbendazol
3.2.5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện các phương pháp thường qui trong phòng thí nghiệm ký sinh trùng Ngoài ra, một số phương pháp như dò liều gây độc cấp của thuốc cũng được tiến hành theo như hướng dẫn của các tài liệu tham khảo
Cụ thể các phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu này là:
Phương pháp kiểm tra trứng ký sinh trùng đường tiêu hoá thường qui (Phù nổi, Lắng cặn): là phương pháp thường qui, xác định sự có mặt mặt của trứng ký sinh trùng trong phân [22]
Mô tả một vài phương pháp sử dụng trong đề tài:
3.2.5.1 Phương pháp Phù nổi (Fiilleborn) [22]
Nguyên lý: Dựa vào sự chênh lệch về tỷ trọng giữa trứng giun và nước muối bfo hòa Trứng giun nhẹ hơn, sẽ nổi lên
Trang 30Đây là một kỹ thuật đơn giản trong phòng thí nghiệm, dễ thực hiện, chính xác Bằng phương pháp này, có thể xác định sự có mặt của hầu hết trứng các loại trứng giun tròn, sán dây và cầu trùng Để cho việc xét nghiệm chính xác, đòi hỏi mẫu phân phải được lấy từ trực tràng của dê Sau đó cho vào túi nilon, ghi nhfn và gửi ngay về phòng xét nghiệm
Tiến hành: Cân hoặc ước lượng 3 - 5 g mẫu phân cần xét nghiệm, cho vào cốc thủy tinh sạch Cho vào tiếp 5 - 10 ml nước muối bfo hòa Dùng đũa thủy tinh đánh tan mẫu phân với nước muối bfo hòa thành một huyễn dịch Lọc huyễn dịch qua phin lọc sang cốc lọ thủy tinh miệng nhỏ Chờ 5 - 7 phút, dùng vòng vớt để vớt trứng Cho lên phiến kính sạch và quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại 90 - 100 lần
3.2.5.2 Phương pháp Lắng cặn (Benedek) [22]
Nguyên lý: dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng giữa trứng và nước thường Trứng sán lá và một vài loại trứng giun tròn khác, nặng hơn sẽ chìm xuống dưới đáy cốc
Với kỹ thuật này, có thể xác định sự có mặt của trứng các loại sán lá dạ
cỏ, sán lá gan, sán lá ruột lợn và một số loại trứng giun như giun đầu gai… Để cho việc xét nghiệm chính xác, đòi hỏi mẫu phân phải được lấy từ trực tràng của dê Sau đó cho vào túi nilon, ghi nhfn và gửi ngay về phòng xét nghiệm
Tiến hành: cân hoặc ước lượng 10 - 20 g mẫu phân cần xét nghiệm, cho vào cốc thủy tinh hình phễu Đổ nước thường cho đến đầy cốc Đánh tan mẫu phân với nước thành dung dịch Để cho dung dịch lắng thành trong, gạn bỏ phần nước trong, giữ cặn Tiếp tục bổ sung nước sạch cho đầy cốc, để lắng và lại gạn phần nước trong, giữ cặn Làm như vậy 3 - 5 lần, đến khi phần cặn trong và dễ xem là được Đổ phần cặn vào đĩa lồng Petri, cho lên kính hiển vi soi ở độ phóng đại 40 - 90 lần
Trang 313.2.5.3 Phương pháp Mc Master [22],[48]
Là phương pháp dùng để định lượng số trứng có trong 1 gam phân Dùng phương pháp này, đánh giá được mức độ tác dụng hay ảnh hưởng của các loại hoá dược điều trị đối với loài ký sinh trùng đường tiêu hoá nào đó
Thực hiện phương pháp này, cần có buống đếm Mc master (có nhiều loại buồng đếm Mc Master; loại buồng 2 chamber hoặc 3 chamber hoặc 4 chamber) Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng buồng đếm 2 chamber
Tiến hành: cân chính xác 4 gam mẫu phân cần xét nghiệm, cho vào cốc thủy tinh 1 Bổ sung 56 ml nước muối bfo hòa vào, đánh tan thành 1 huyễn dịch rồi lọc qua phin lọc sang cốc thứ 2 Dùng Pippet hút huyễn dịch từ cốc 2, rồi bơm vào đầy 2 buồng của buồng đếm Mc.Master Khi thao tác, tránh những tác động tạo bọt khí trong buồng đếm Để yên 5 - 7 phút, rồi đưa buồng
đếm lên kính hiển vi ở độ phóng đại 90 - 100 lần
Đếm toàn bộ số trứng trong khung buồng đếm đf được thiết kế sẵn Gọi N1 là số trứng đếm được trong buồng 1
Gọi N2 là số trứng đếm được trong buồng 2
Gọi A là số trứng trong 1 gam phân tính được Công thức tính kết quả,
số trứng/1 gam phân sẽ là:
A = (N1 + N2) x 50 3.2.5.4 Phương pháp mổ khám, mổ khám toàn diện của K.I.Skrjabin tìm ký sinh trùng [20], [22]
Trước khi mổ khám cần quan sát toàn bộ những thay đổi bên ngoài, da lông… Sau đó mổ từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới
Mổ khám phi toàn diện: khi nghiên cứu vấn đề gì, ở cơ quan bộ phận nào thì mổ kiểm tra tại cơ quan bộ phận đó
Trang 32Vừa mổ khám, vừa quan sát và thu thập mẫu, đánh ký hiệu sao cho không bị nhầm lẫn mẫu Có thể dùng giấy can viết bằng bút chì sẽ không bị phai chữ và bay mất trong các dung dịch ngâm bảo quản mẫu vật
đó dùng kéo vi phẫu cắt nhỏ buồng trứng rồi nghiền nát trong dung dịch nước sinh lý Lọc qua phin lọc có kích thước lỗ lọc là 25 mm Thu phần nước đf lọc qua phin lọc rồi cho vào ống ly tâm 10 ml, ly tâm tốc độ 3000 vòng/phút/3 phút Làm như vậy 3 lần để thu được trứng H contortus đảm bảo cho thí nghiệm 3.2.5.6 Phương pháp dò liều gây độc của thuốc và cây thảo dược [6], [8], [25], [55]
Mô tả phương pháp: Chuột nhắt trắng có trọng lượng 18 - 22 g, khỏe mạnh, không phân biệt giống, được chia ngẫu nhiên thành các lô Để chuột nhịn đói 16 giờ trước khi thí nghiệm Dùng kim đầu tù cho chuột uống thuốc theo mức liều qui định cho từng lô, mỗi lần không quá 0,2 ml/10g thể trọng, với các mức liều tăng dần Theo dõi tình trạng chung, hoạt động tự nhiên, hô hấp và tiêu hóa của chuột liên tục trong 7 ngày sau khi dùng thuốc Đếm số chuột chết ở từng lô để xác định liều thấp nhất gây chết 100% và liều cao nhất gây chết 0% Chuột chết được mổ khám để đánh giá tổn thương đại thể
Tính LD50 theo phương pháp cải tiến của Litchfield - Wilcoxon [25] Các phương pháp cân, đo thân nhiệt, tần số hô hấp, nhu động dạ cỏ, đo
tỷ khối huyết cầu,… là những thao tác đơn giản, không mô tả
Trang 33Xử lý số liệu trên các chương trình Excel và thống kê sinh vật học, toán thống kê [9], [24]
3.2.6.2 Thí nghiệm 2: Điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê tại lò mổ
Chúng tôi tiến hành mổ khám dê tại 2 địa điểm là Hà Tây và Hà Nội Trong đó, lò mổ tại Hà Nội, chọn dê có xuất xứ từ Hà Nội (29 con) và Hòa Bình (38 con); tại lò mổ Hà Tây, dê có xuất xứ từ Hà Tây (41 con)
Dê mổ khám ngẫu nhiên về lứa tuổi, tính biệt và giống …
Mẫu được ghi rõ nhfn và bảo quản để phân loại sau
3.2.6.3 Thí nghiệm 3: Xác định một vài đặc điểm phát triển ở ngoài của trứng
Trang 34- Thí nghiệm xác định đặc điểm phát triển của trứng H contortus ở môi trường ngoài: ở 20 - 25°C
- Thí nghiệm xác định đặc điểm phát triển của trứng H contortus ở môi trường ngoài: ở 26 - 32°C
Kiểm tra sự phát triển của trứng hàng ngày tại các lô thí nghiệm
3.2.6.4 Thí nghiệm 4: Xác định hiệu lực của thuốc tẩy và lá Keo giậu đối với giun tròn đường tiêu hóa của dê
Sử dụng 3 loại thuốc tẩy là Ivermectin, Levamisole, Fenbendazol và lá cây Keo giậu để tẩy cho dê; mỗi loại thuốc được tẩy cho 15 dê
Trước khi tẩy, kiểm tra toàn đàn dê và chọn mẫu dê có cường độ nhiễm giun tròn được đánh giá là nặng để tẩy
Trước và sau khi tẩy 2 giờ kiểm tra một số chỉ tiêu sinh lý như thân nhiệt, hô hấp, nhu động dạ cỏ
Sau khi tẩy 7, 14, 21 và 28 ngày, tiến hành lấy mẫu phân để kiểm tra sự tái nhiễm giun tròn hay hiệu lực của thuốc theo thời gian
Trước và sau 28 ngày tẩy, tiến hành cân trọng lượng và lấy máu kiểm tra tỷ khối huyết cầu; mổ khám ngẫu nhiên, mỗi lô 03 dê để kiểm tra hiệu lực
Trang 354 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi xác định rằng, tình hình nhiễm chung các loại ký sinh trùng đường tiêu hóa ở đàn dê nuôi rất phổ biến và với tỷ lệ rất cao Điều này phản ánh một phần lớn về phương thức, tập quán, mục đích
và ý thức của người chăn nuôi…
4.1 Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê ở một số địa
điểm thuộc các tỉnh phía bắc
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành xét nghiệm 614 mẫu phân tại 3 địa điểm và mổ khám 108 mẫu con dê tại 2 lò mổ khác nhau tại Hà Nội và Hà Tây
4.1.1 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa dê (xét nghiệm phân)
Chúng tôi tiến hành lấy mẫu và xét nghiệm 614 mẫu phân dê các lứa tuổi, các giống dê một cách ngẫu nhiên tại các địa điểm khác nhau Qua 3 địa
điểm là Ba Vì - Hà Tây, Gia Lâm - Hà Nội và Lạc Thủy - Hòa Bình, kết quả
Trang 36Qua bảng 4.1 cho thấy: tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hoá chung ở dê nuôi rất phổ biến; tỷ lệ nhiễm trung bình chung là: 90,22%
Nhiễm nặng nhất là dê nuôi tại khu vực huyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình;
đây là huyện miền núi, tập quán chăn nuôi chủ yếu là thả rông và dê không
được thường xuyên chăm sóc sức khỏe hay tẩy trừ ký sinh trùng Tỷ lệ nhiễm chung là: 98,83%
Nhiễm thấp nhất là dê nuôi tại khu vực huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây; đây
là khu vực chăn nuôi dê với qui mô lớn, người chăn nuôi có ý thức phòng bệnh cho dê Ngoài ra, hầu hết người chăn nuôi ở khu vực này được sự hỗ trợ và hướng dẫn kỹ thuật thường xuyên của các cán bộ kỹ thuật thuộc Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây Tỷ lệ dê nhiễm ký sinh trùng chung là: 85,15%
Dê nuôi tại khu vực huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội có tỷ lệ nhiễm
ký sinh trùng đường tiêu hóa chung là: 89,24%
Theo Nguyễn Quang Sức, Nguyễn Duy Lý (1999) [28], dê nuôi tại Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và những hộ gia đình chăn nuôi thuộc dự án mở rộng và hỗ trợ nông dân nghèo của ILRI tại Trung tâm nói riêng và dê thuộc Hà Tây nói chung có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng cao Đặc biệt tại các xf như Tản Lĩnh, Minh Quang và Ba Trại thuộc huyện Ba Vì; “tỷ lệ nhiễm chung có nơi lên đến 84,6 - 91,2%” [26], [28]
Theo Nguyễn Thị Kim Lan, Phan Địch Lân, Nguyễn Khánh Quắc (1997) [18], dê cỏ chăn nuôi tại Bắc Thái có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa rất cao; trong đó cao nhất là Oesophagostomum và Haemonchus mức
độ nhiễm tương ứng là 72 - 85%
Theo Hạ Thúy Hạnh, Vũ Đăng Đồng (2003) [10] cho biết, dê nuôi tại 4
xf thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa rất phổ
Trang 37biến Trong 190 mẫu kiểm tra, chỉ 11,05% số mẫu là không phát hiện ký sinh trùng đường tiêu hóa; số phát hiện có ký sinh trùng đường tiêu hóa là 88,95%;
dê thường mắc từ 2 - 4 loại ký sinh trùng
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các tác giả Nguyễn Quang Sức, Nguyễn Duy Lý và Nguyễn Thị Kim Lan, Phan
Địch Lân và Nguyễn Khánh Quắc; các tác giả nghiên cứu và công bố kết quả từ năm 1997 - 2000; chúng tôi tiến hành năm 2006 Kết quả này của chúng tôi mới hơn, có thể kỹ thuật có hoàn thiện hơn hoặc do sự lưu tâm tới bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa dê của người chăn nuôi chưa thường xuyên liên tục So với kết quả công bố của Hạ Thúy Hạnh, Vũ Đăng Đồng [10], do thời gian nghiên cứu gần nhau hơn, có thể kết quả phản ánh sẽ gần nhau hơn
4.1.2 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê (mổ khám)
Để xác định đúng hơn tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê, chúng tôi tiến hành mổ khám theo phương pháp của K.I.Skrjabin Chúng tôi đf lựa chọn được 2 địa điểm mổ khám dê là: Hà Tây và Hà Nội Số lượng dê mổ khám là 108 con
Tại lò mổ Hà Nội, với 67 dê mổ khám có nguồn gốc từ tỉnh Hòa Bình (38 con) và Hà Nội (29 con)
Tại Lò mổ Hà Tây, với 41 dê mổ khám đều có nguồn gốc từ Hà Tây Kết quả mổ khám dê được thể hiện trong bảng 4.2
Qua bảng 4.2 cho thấy: Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng chung qua mổ khám
là 97,22%, cường độ nhiễm dao động là 26 - 2667 ký sinh trùng/dê Trong đó nhiễm cao nhất là dê có nguồn gốc từ tỉnh Hòa Bình, nhiễm 100%, thấp nhất
là dê có nguồn gốc từ Hà Hội nhiễm 93,10%, dê có nguồn gốc từ Hà Tây nhiễm 97,56%
Trang 38Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê
(mổ khám)
Stt Địa điểm Số nghiên cứu
(con)
Số nhiễm (con)
Tỷ lệ nhiễm (%)
Cường độ (min - max)
Hà Tây Hoà Bình Hà Nội Chung
Biểu đồ 4.1 So sánh khả năng phát hiện ký sinh trùng đường tiêu hóa của
dê giữa 2 phương pháp: mổ khám và xét nghiệm phân tại các địa điểm
Trang 39Theo Nguyễn Thị Kim Lan, Phan Địch Lân, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Văn Quang [17], mổ khám 89 dê tại huyện Định Hóa phát hiện ký sinh trùng đường tiêu hóa chung là 95,50%, trong đó dê cái nhiễm 93,8%, dê
đực nhiễm 97,5%
Theo Nguyễn Thị Kim Lan, Phan Địch Lân, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Văn Quang [17], mổ khám 84 dê tại huyện Chợ Đồn, phát hiện 74 dê
có ký sinh trùng đường tiêu hóa tương đương 88,09%
Nhận xét: Qua kết quả mổ khám, tỷ lệ dê nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa là rất cao, nhiễm chung là 97,22%; trong ó có những vùng nhiễm 100% như dê có nguồn gốc tại Hòa Bình Cường độ nhiễm, phát hiện ít nhất
có 26 ký sinh trùng/cá thể dê, cao nhất là 2667 ký sinh trùng/cá thể dê
4.2 Thành phần loài ký sinh trùng của dê
4.2.1 Những ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê (xét nghiệm phân)
Để kiểm tra về thành phần ký sinh trùng đường tiêu hóa của dê, chúng tôi tiến hành hai phương pháp cơ bản là Phù nổi (Fiilleborn) và Lắng cặn (Benedek) Kết quả cho thấy, dê nuôi tại một số địa điểm nghiên cứu nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa rất phong phú, trong đó gồm cả sán lá, sán dây, giun tròn và đơn bào ký sinh Trong đó sán lá có 4 giống, sán dây có 2 loài, giun tròn 8 giống và đơn bào 1 giống
Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong bảng 4.3
Qua bảng 4.3 cho thấy: Qua kiểm tra phân, đf có 15 giống ký sinh trùng được phát hiện ở đường tiêu hoá ở dê nuôi Để đánh giá được khả năng hay mức độ gây hại của từng loài, căn cứ được dựa chủ yếu là cường độ nhiễm
và sự phổ biến của chúng Chúng tôi đf phát hiện được 4 lớp, bao gồm 15 giống khác nhau Trong đó, lớp sán lá phát hiện 4 giống, sán dây phát hiện 2 loài, giun tròn phát hiện 8 giống khác nhau, đơn bào chỉ phát hiện được giống
Trang 40Eimeria spp So với năm 1994 Nguyễn Thế Hùng và Nguyễn Quang Sức [11], phát hiện 10 giống giun sán thường xuyên xuất hiện trên đàn dê
Theo Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Khánh Quắc, Phan Địch Lân, Nguyễn Thế Hùng [15] cho biết, dê nuôi tại Bắc Thái nhiễm 11 loài giun sán chính; trong đó không phát hiện thấy các loài như: Eurytrema, Dicrocoelium, Nematodirus, Eimeria…
Qua bảng 4.3 cho thấy; tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa ở dê rất phong phú Trong đó, phổ biến nhất là Haemonchus 88,92%, sau đó là Trichostrongylus, với tỷ lệ nhiễm tới 85,34% Giống sán lá dạ cỏ có tỷ lệ nhiễm tương đối cao, tới 61,56%; thấp nhất là loài sán lá Dicrocoelium 1,95% Chúng tôi đf chụp được ảnh về trứng của loài Dicrocoelium
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp về qui luật với công bố của J.M Behnke, S.N Chiejina, G.A Musongong, B.B Fakae, R.C Ezeokonkwo, P.A Nnadi, L.A Ngongeh, E.N Jean and D Wakelin [47]
Theo tác giả C.O Nwosu, P.P Madu and W.S Richards [37], nghiên cứu tại vùng đông bắc Nigeria, bằng phương pháp Mc.Master được công bố năm 2007 cho thấy: các tác giả phát hiện được 3 giống giun tròn là Trichostrongylus với tỷ lệ nhiễm đến 35.4%; Trichuris nhiễm thấp, chỉ đạt 4,1% và Strongyloides nhiễm 4,1% Cường độ nhiễm cũng không cao, dao
động từ 1052 - 2092 trứng/1 gam phân
Qua những nghiên cứu trên cho thấy rằng: tỷ lệ nhiễm, có thể là tác hại lớn nhất của các loại ký sinh trùng đường tiêu hóa ở dê là lớp giun tròn; đặc biệt là Haemonchus và Trichostrongylidae Ngoài ra, loài đơn bào Eimeria (cầu trùng) ký sinh cũng có tỷ lệ nhiễm rất cao 70,35% và gây tác hại lớn, đặc biệt là dê sơ sinh