1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT CỦA DỰ ÁN

55 658 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 180,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức đầu tư là cách thức tiến hành các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư theo quy định của pháp luật. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hình thức đầu tư kinh doanh ngày càng phong phú, đa dạng; mỗi hình thức đầu tư có những đặc điểm riêng nhất định về cách thức đầu tư vốn, tính chất liên kết và phân chia kết quả kinh doanh giữa các nhà đầu tư. Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện cụ thể của mình, các nhà đầu tư có quyền lựa chọn các hình thức đầu tư thích hợp theo quy định của pháp luật. Tiểu luận làm rõ các vấn đề sau: 4.1. PHÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ 4.2. XÁC ĐỊNH QUY MÔ VÀ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CỦA DỰ ÁN 4.3. XÁC ĐỊNH NHU CẦU NGUỒN VỐN CỦA DỰ ÁN 4.4. XÁC ĐỊNH ĐỊA ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG 4.5 GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ 4.6. XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

- -

TIỂU LUẬN MÔN HỌC

XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG

CHUYÊN ĐỀ 4 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT CỦA DỰ ÁN

Ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

GVHD: ThS Võ Đình Long

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2017

Trang 2

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

- -

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC VÍ DỤ iv

4.1 PHÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ 1

4.1.1 Theo chức năng quản lý vốn đầu tư 1

4.1.2 Theo tính chất đầu tư 3

4.1.3 Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư 5

4.1.4 Theo ngành đầu tư 5

4.2 XÁC ĐỊNH QUY MÔ VÀ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CỦA DỰ ÁN 6

4.2.1 Xác định quy mô dự án 6

4.2.1.1 Phân tích, lựa chọn quy mô, công suất thích hợp 7

4.2.1.2 Xác định các giai đoạn đầu tư 10

4.2.2 Xác định kế hoạch thực hiện dự án 11

4.3 XÁC ĐỊNH NHU CẦU NGUỒN VỐN CỦA DỰ ÁN 14

4.3.1 Các nguồn vốn 14

4.3.1.1 Vốn trong nước 14

4.3.1.2 Vốn ngoài nước 15

4.3.2 Dự kiến cơ cấu nguồn vốn 16

4.3.3 Kế hoạch tài chính dự kiến 17

Trang 4

4.3.4 Vốn lưu động, chi phí vận hành bảo dưỡng, cơ chế tài chính 18

4.3.4.1 Vốn lưu động 18

4.3.4.2 Chi phí vận hành bảo dưỡng 19

4.3.4.3 Cơ chế tài chính 19

4.4 XÁC ĐỊNH ĐỊA ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG 20

4.4.1 Các phương án địa điểm cụ thể phù hợp với quy hoạch xây dựng 20

4.4.2 Các giải pháp về kiến trúc xây dựng 24

4.4.3 Thiết kế phương diện xây dựng 28

4.5 GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ 29

4.5.1 Khái niệm công nghệ 29

4.5.2 Lựa chọn công nghệ cho dự án 29

4.6 XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO 35

4.6.1 Xác định chương trình tạo ra hàng hóa đầu ra 35

4.6.2 Dây chuyền công nghệ sản xuất sản phẩm đầu ra 37

4.6.3 Xác định các yếu tố đầu vào và khả năng cung cấp 38

4.6.4 Cơ sở hạ tầng và mức độ đáp ứng 41

4.6.5 Nghiên cứu và ứng dụng 44

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BT Build – Transfer (Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao)

BCC Business Cooperation Contract (Hợp đồng hợp tác chuyển giao)

BOT Build – Operate – Transfer (Hợp đồng Xây dựng – Vận hành –

Chuyển giao) BTO Build – Transfer – Operate ( Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao

– Vận hành) CIF Cost, Insurance, Freight (Chi phí, Bảo hiểm, Vận tải)

CRM Customer Relationship Management (Quản trị quan hệ khách hàng)

FDI Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)

NĐ-CP Nghị định-Chính phủ

ODA Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức)

VN Việt Nam

SP Sản phẩm

ESCAP Economic and Social Commissision for Asia and the Pacific (Uỷ

ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương)

Trang 7

Ví dụ 4.2.4: Tính toán công suất thiết kế dự án 7

Ví dụ 4.2.5: Công suất thực của dự án sản xuất nướcngọt 8

Ví dụ 4.2.6: Công suất thực của dự án sản xuất hàng tiêudùng 8

Ví dụ 4.2.7: Kế hoạch thực hiện của dự án bằng phương pháp sơ đồGannt 11

Trang 8

Ví dụ 4.6.5: Mức độ đáp ứng về nơi ở

40

Ví dụ 4.6.6: Ứng dụng của hệ thống giao thông

41

Trang 9

CHUYÊN ĐỀ SỐ 4: PHÂN TÍCH KỸ THUẬT CỦA DỰ ÁN

4.1 PHÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ

Hình thức đầu tư là cách thức tiến hành các hoạt động đầu tư của nhà đầu tưtheo quy định của pháp luật Trong điều kiện kinh tế thị trường, hình thức đầu tư kinhdoanh ngày càng phong phú, đa dạng; mỗi hình thức đầu tư có những đặc điểm riêngnhất định về cách thức đầu tư vốn, tính chất liên kết và phân chia kết quả kinh doanhgiữa các nhà đầu tư Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện cụ thể của mình, các nhà đầu tư

có quyền lựa chọn các hình thức đầu tư thích hợp theo quy định của pháp luật

4.1.1 Theo chức năng quản lý vốn đầu tư

Đầu tư trực tiếp: Là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia

quản lý vốn đã bỏ ra Trong đầu tư trực tiếp người bỏ vốn và người quản lý sử dụngvốn là một chủ thể Chủ thể này chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả đầu tư củamình Đầu tư trực trực tiếp có thể là đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài tại Việt

Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC (Hợp đồng hợp tác kinh doanh), hợp đồng BOT ( Hợp đồng xây dựng- kinh doanh – chuyển giao), hợp đồng BTO (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao kinh doanh), hợp đồng BT (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao).

Hợp đồng BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh): Hợp đồng hợp tác kinh doanh

là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chialợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân

Hợp đồng BOT (hợp đồng xây dựng- kinh doanh – chuyển giao): Hợp đồnghợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinhdoanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân

Trang 10

Hợp đồng BTO (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh): Hợp đồngxây dựng – chuyển giao – kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhànước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xâydựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủdành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định đểthu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

Hợp đồng BT (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao): Hợp đồng xây dựng –chuyển giao là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhàđầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tưchuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhàđầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán chonhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT

Hợp đồng BCC trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một sốtài nguyên khác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quyđịnh của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ quannhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa

và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinhdoanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chínhphủ quy định

Chính phủ quy định lĩnh vực đầu tư, điều kiện, trình tự, thủ tục và phương thứcthực hiện dự án đầu tư; quyền và nghĩa vụ của các bên thực hiện dự án đầu tư theohình thức hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT

Đầu tư phát triển kinh doanh: Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh

thông qua các hình thức sau đây: Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinhdoanh; Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường

Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư: Nhà đầu tư

được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam Tỷ lệ góp vốn,mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnh vực, ngành, nghề do Chínhphủ quy định

Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

Trang 11

Ví dụ 4.1.1: Đầu tư trực tiếp: Chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn thành lập và trực

tiếp điều hành một công ty tại Việt Nam Hoặc Công ty A ký kết hợp đồng hợp táckinh doanh (hợp đồng BCC) với công ty B nhằm đầu tư xây dựng nhà chung cư đểbán

Đầu tư gián tiếp: Là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư không trực tiếp

tham gia quản lý vốn đã bỏ ra Trong đầu tư gián tiếp người bỏ vốn và người quản lý

sử dụng vốn không phải là một chủ thể Loại đầu tư này còn được gọi là đầu tư tàichính như cổ phiếu, chứng khoáng, trái khoán,…

Ví dụ 4.1.2: Đầu tư gián tiếp

Ông A góp vốn vào công ty hợp danh B (ông A là thành viên góp vốn) để hàngtháng hưởng lợi nhuận từ số vốn góp của mình hoặc gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng

Bảng 4.1 Sự khác nhau giữa đầu tư trực tiếp và gián tiếp

Đầu tư trực tiếp Đầu tư gián tiếp

quản lý và tham gia vào các hoạtđộng của doanh nghiệp

Bên nhận đầu tư sẽ quản lý và

sử dụng nguồn vốn để hiểuhành và hoạt động

theo tỉ lệ phần góp của mình

Bên nhận đầu tư sẽ đượchưởng

ro mà mình đã đầu tư vào doanhnghiệp

Bên nhận đầu tư sẽ phải gánhchịu rủi ro

tư và muốn thu lợi nhuận từ hoạtđộng đầu tư

Tổ chức cá nhân hoặc có thể làchính phủ và các tổ chức quốc

tế khác

nhiều khi mang yếu tố màu sắcchính trị (khi đầu tư còn có cácđiều kiện ràng buộc hoặc cócác chỉ tiêu tăng trưởng)

Trang 12

4.1.2 Theo tính chất đầu tư

Trong trường hợp các hoạt động đầu tư gắn với đầu tư xây dựng cơ bản, hoạtđộng đầu tư được chia thành hình thức đầu tư mới, đầu tư chiều sâu và đầu tư mởrộng

Đầu tư mới: Là đưa toàn bộ số vốn đầu tư để xây dựng một công trình mới, mua

sắm và lắp đặt các trang thiết bị mới hoặc đầu tư thành lập một đơn vị sản xuất kinhdoanh mới có tư cách pháp nhân riêng Đặc điểm của loại đầu tư này đòi hỏi một khốilượng vốn khá lớn, trình độ công nghệ và bộ máy quản lý mới

Đầu tư mở rộng: Là đầu tư nhằm mở rộng công trình cũ (đang hoạt động) để

nâng cao năng suất của công trình cũ hoặc tăng thêm mặt hàng Đặc điểm của đầu tư

mở rộng thường gắn với việc mua sắm thêm các trang thiết bị mới, xây dựng thêm các

bộ phận mới hoặc mở rộng thêm các bộ phận cũ nhằm tăng thêm diện tích nhà xưởnghoặc các công trình phụ, phù trợ Đầu tư theo chiều rộng cũng chính là đầu tư mới.Bao gồm có đàu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu:

- Đầu tư theo chiều rộng:

Đối với nền kinh tế: Đầu tư theo chiều rộng là nhân tố làm tăng quy mô cho nền

kinh tế Nền kinh tế tăng trưởng với quy mô lớn hơn trước trên cơ sở xây dựng mới và

mở rộng nhiều vùng kinh tế, nhiều khu cụm công nghiệp trên khắp cả nước Do đó nócòn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế thúc đẩy tạo điều kiện và hỗtrợ các vùng kinh tế chậm phát triển, vùng sâu vùng xa được tham gia vào quá trìnhphát triển kinh tế của đất nước 1 cách tích cực hơn mạnh mẽ hơn

Đối với doanh nghiệp: Đầu tư theo chiều rộng đi cùng với việc có thêm nhiều cơ

sở sản xuất kinh doanh khiến cho quy mô sản xuất của các doanh nghiệp được mởrộng, đưa năng suất tăng thêm, cho phép khai thác hiệu quả theo quy mô Nó còn gópphần tạo ra nhiều việc làm mới,giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở cácđịa phương,làm tăng doanh thu của các doanh nghiệp,góp phần làm tăng ngân sáchcủa nhà nước đóng góp vào đà tăng trưởng chung của nền kinh tế Đầu tư theo chiềurộng có hiệu quả càng nhiều thì doanh nghiệp càng có nhiều điều kiện về vốn, laođộng tài nguyên để phát triển sản xuất

- Đầu tư chiều sâu:

Trang 13

Là đầu tư để cải tạo, hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền sản xuất sản phẩmtrên cơ sở công trình hiện có nhằm tăng thêm công suất hoặc thay đổi mặt hàng, hoặcnâng cao chất lượng sản phẩm hoặc thay đổi tốt hơn môi trường trong khu vực có côngtrình đầu tư So với đầu tư mới, đầu tư chiều sâu đòi hỏi ít vốn hơn, thời gian thu hồivốn nhanh, chi phí đào tạo lao động thấp, bộ máy quản lý ít thay đổi

Vai trò: Đầu tư theo chiều sâu là điều kiện không thể thiếu trong điều kiện hiện

nay để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế Đối với doanh

nghiệp đầu tư theo chiều sâu là chiến lược tồn tại và phát triển lâu dài của doanhnghiệp Đầu tư theo chiều sâu giúp doanh nghiêp nâng cao năng suất lao động, giảmchi phi, hạ giá thành nhờ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thi

̣trường Đầu tư theo chiều sâu có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăng

trưởng kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế

4.1.3 Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư

Đầu tư phát triển: Là phương thức đầu tư trực tiếp, mà ở đó có liên quan đến sự

tăng trưởng qui mô vốn của nhà đầu tư và qui mô vốn trên phạm vi toàn xã hội

Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinhdoanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sảnmới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóngvai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia. [5]

Đầu tư chuyển dịch: Là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn là

nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản Thực chất trong đầu tư dịch chuyển

không có sự gia tăng giá trị tài sản (mua cổ phiếu, trái phiếu …)

4.1.4 Theo ngành đầu tư

Đầu tư phát triển công nghiệp: Là đầu tư nhằm tạo ra các sản phẩm là tư liệu

sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng phục vụ nhu cầu của ngành công nghiệp và các ngànhnghề khác như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải… và cho nhu

cầu đời sống con người, nhằm xây dựng các công trình công nghiệp

Đầu tư phát triển Nông – Lâm – Ngư nghiệp:Là đầu tư nhằm tạo ra các sảnphẩm dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến sản phẩm dành cho xuất

khẩu và thỏa mãn nhu cầu đời sống cho con người

Trang 14

Đầu tư phát triển dịch vụ: Là hình thức đầu tư nhằm tạo ra các sản phẩm là

dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng đa dạng của con người, nhằmxây dựng các công trình dịch vụ

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Là hình thức đầu tư nhằm hoàn chỉnh và nâng

cao chất lượng các công trình giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cấp thoát nước,nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, điện nước) và hạ tầng xãhội (trường học, bệnh viện, cơ sở thông tin văn hóa)

4.2 XÁC ĐỊNH QUY MÔ VÀ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CỦA DỰ ÁN

4.2.1 Xác định quy mô dự án

Để có thể lực chọn phương án công nghệ thích hợp, trước hết phải xác định côngsuất hoặc năng lực phục vụ của dự án đó, được phản ánh cụ thể thông qua số lượngđơn vị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà dự án tạo ra và được thực hiện trong một đơn

vị thời gian với các điều kiện cho phép

Ví dụ 4.2.1: Quy mô của một số dự án

- Đối với các dự án sản xuất, sản lượng sản phẩm được tạo ra trong một thời gian(tháng, quý, năm, ) được gọi là công suất của dự án

- Đối với dự án xây dựng một trường học, thì năng lực phục vụ của dự án có thể

Trang 15

Khi chọn quy mô công suất cho dự án phải dựa vào nhiều yếu tố Các yếu tố tàichính đóng vai trò rất quan trọng cho sự hình thành của dự án, phân tích và lựa chọncông nghệ phù hợp sẽ tạo nên hiệu quả cao trong quá trình hoạt động dự án Đối vớimột dự án dù rất nhỏ hay rất lớn cũng cần thực hiện việc phân tích và lựa chọn quy môphù hợp nhất.

4.2.1.1 Phân tích, lựa chọn quy mô, công suất thích hợp

Khi tiến hành phân tích một dự án cụ thể nào đó với nhiều khía cạnh khác nhau,nếu xem xét thấy dự án không có tính khả thi về mặt kỹ thuật thì phải được loại bỏ để

có thể tránh những tổn thất trong quá trình đầu tư và vận hành kết quả đầu tư sau này Việc phân tích, lựa chọn quy mô, công suất được xác định theo các nội dung sau:

Công suất của máy móc thiết bị, bao gồm có: công suất lý thuyết và công suất thiết kế

Công suất lý thuyết: Là công suất tối đa mà thiết bị có thể đạt đến trong các điều

kiện sản xuất lý thuyết: máy móc, thiết bị chạy suốt 24h/ngày và 365 ngày/năm Trênthực tế, người ta không áp dụng công suất lý thuyết trong thực tế bởi vì không loại

máy móc, thiết bị nào có thể đạt được

Công suất lý thuyết/ năm = Công suất/giờ/ngày ×Số giờ/ngày/năm

Công suất thiết kế: Là công suất mà thiết bị có thể thực hiện được trong điều kiện

sản xuất bình thường Thông thường, phải ghi rõ máy móc hoạt động mấy giờ trongmột ngày, ví dụ như: 1 ca, 2 ca, 3 ca và số ngày làm việc trong một năm, thông thường

là 300 ngày/năm Những điều kiện sản xuất bình thường là: máy móc, thiết bị hoạtđộng theo đúng quy trình công nghệ, không bị gián đoạn vì những lý do không được

dự tính trước, như bị hỏng đột xuất, bị cúp điện, đổi ca, giờ nghỉ, ngày lễ,…Các đầuvào được đảm bảo đầy đủ

Công suất của máy móc thiết bị là một đại lượng vật lý thuộc về tính năng củamáy, được xác định khi thiết kế máy và được chỉ rõ trong catalogue của máy

Công suất thiết kế luôn luôn nhỏ hơn công suất lý thuyết Công suất thiết kế

trong điều kiện hoạt động tốt nhất cũng chỉ đạt khoảng 90% công suất lý thuyết Ngoài

Trang 16

ra, trong những năm đầu tiên, công suất thiết kế còn tùy thuộc vào công việc hiệuchỉnh, lắp đặt máy móc thiết bị hoặc mức độ lành nghề của công nhân điều khiển, sửdụng máy móc thiết bị

Ví dụ 4.2.2: Công suất lý thuyết và thiết kế: Máy đóng bao hở miệng PTS

Series sử dụng đóng các bao nhựa dành cho các sản phẩm dạng hạt có công suất lýthuyết là 22 bao/phút, trên thực tế công suất thiết kế là 19 bao/phút

Công suất dự án bao gồm công suất khả thi, công suất thiết kế, công suất thực tế và công suất tối thiểu

Công suất khả thi của dự án: Là công suất mà dự án có thể thực hiện được và

đem lại hiệu quả kinh tế cao Khi tiến hành lựa chọn công suất khả thi cho dự án, phải

dựa trên các chỉ tiêu sau:

- Căn cứ vào nhu cầu thị trường hiện tại và tương lai với các sản phẩm của dự án;

- Khả năng chiếm lĩnh thị trường của chủ đầu tư; các thông số kỹ thuật và kinh tếcủa các máy móc hiện có, thông thường trên thị trường chỉ có bán các máy móc và dâychuyền công nghệ với những công suất xác định;

- Khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào và nhất là đối với các loại nguyên vậtliệu phải nhập khẩu;

- Năng lực về tổ chức, điều hành sản xuất, khả năng vốn đầu tư của chủ đầu tư;

- Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của từng phương án công suất

Công suất khả thi của dự án là cơ sở để lựa chọn máy móc thiết bị có công suấttương ứng Trong quá trình hoạt động của dự án, có thể có những trục trặc bất thường(ví dụ: trục trặc về kỹ thuật, trục trặc trong cung cấp các yếu tố đầu vào…), nếu chọnthiết bị có công suất bằng với công suất khả thi của dự thì không đáp ứng được yêucầu của dự án Do đó, phải chọn thiết bị có công suất cao hơn công suất khả thi của dự

án và thông thường cao hơn khoảng 10%

Sau khi đã mua được máy móc thiết bị cho dự án, dựa vào công suất thiết kế củamáy móc thiết bị này để xác định công suất thiết kế cho dự án

Trang 17

Ví dụ 4.2.3: Công suất khả thi

Đầu tư xây dựng một nhà máy bia với công suất 10.000 lít/ngày, thì để sản xuấtđược sản lượng đó họ phải đầu tư trang thiết bị máy móc với công suất cao hơnkhoảng 11.000 lít/ngày

Công suất thiết kế: của dự án được tính toán dựa trên công suất thiết kế của máy

móc thiết bị trong một thời gian cụ thể (1 ngày, 1 giờ, 1 năm, ) Khi tính công suấtthiết kế thì số ngày làm việc trong 1 năm thường lấy bằng 300 ngày, còn số ca/ngày, sốgiờ/ca lấy theo dự kiến trong dự án, thông thường có thể tính 1 ca/ngày hoặc 1,5ca/ngày; 8 giờ/ca

Khi xác định công suất thiết kế của dự án, cần phải xem xét các yếu tố: Nhu cầusản phẩm, kỹ thuật sản xuất và máy móc thiết bị, khả năng cung ứng nguyên liệu hiệntại của chủ đầu tư, chi phí cho đầu tư và sản xuất Từ việc phân tích các yếu tố trên lựachọn một công suất tối ưu cho dự án

Ví dụ 4.2.4: Tính toán công suất thiết kế dự án

Đối với một dự án sản xuất nước ngọt có ga, công suất thiết kế = 800 chai/giờ

Dự án dự tính hoạt động trong 7 ngày/tuần, 3 ca, 8 giờ/ ca thì công suất thiết kế =(7x3x8)x800=134.400 chai/tuần

Công suất thực tế của dự án: Là công suất mà dự án dự kiến đạt được trong từng

năm khi đi vào vận hành khai thác Công suất thực tế những năm hoạt động ổn địnhcủa dự án sẽ bằng công suất khả thi của dự án Do phải tính đến những rủi ro bấtthường nên công suất đó chỉ nên tính tối đa bằng 90% công suất thiết kế của dự án Thông thường trong những năm đầu, do phải điều chỉnh máy móc, công nhânchưa thạo việc, việc cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định… Cho nênnăm đầu các dự án thường chỉ đạt được 50% công suất thiết kế, ở năm thứ 2 là 75%,

và tăng dần qua các năm cho đến khi ổn định

Ví dụ 4.2.5: Công suất thực của dự án sản xuất nước ngọt

Lấy dự án sản suất nước ngọt có ga như trên, công suất thiết kế =134.400chai/tuần, thì công suất thực =120.960 chai/tuần khi dự án đi vào hoạt động ổn định.Còn trong khoảng 1-2 năm đầu công suất thực chỉ đạt 67.200-100.800 chai/tuần

Trang 18

Ví dụ 4.2.6: Công suất thực của dự án sản xuất hàng tiêu dùng

Như ngành sản xuất giầy, may mặc… qua thực tế cho thấy trong năm đầuthường chỉ sản xuất đạt 40-50% công suất thiết kế, năm sau đạt 60-70%, từ năm thứ 3trở đi mới có thể đạt được mức công suất trên 70% công suất thiết kế, năm thứ 2 có thểđạt 7980%, từ năm thứ 3 trở đi đạt trên 80% công suất thiết kế

Công suất tối thiếu: Là công suất tương ứng với điểm hòa vốn, nghĩa là huy động

đến công suất này sẽ đạt được điểm hòa vốn Ta không thể chọn công suất thực tế của

dự án nhỏ hơn công suất hòa vốn, vì làm như vậy dự án sẽ bị lỗ

Công suất tối thiểu =

Việc lựa chọn công suất của dự án, người ta sẽ lấy theo công suất thực tế và

không nhỏ hơn công suất hòa vốn

4.2.1.2 Xác định các giai đoạn đầu tư

Sau khi xác định được công suất của dự án, cần phải xác định thời gian biểu chosản xuất, bao gồm: thời gian bắt đầu sản xuất, các khoảng thời gian sản xuất đạt cácmức công suất thực tế khác nhau, cho đến khi đạt công suất tối đa, thời gian giảm dần

công suất và chấm dứt hoạt động của dự án

Trong nhiều trường hợp, các yếu tố về công suất không có sự rõ ràng hoặc các dự

án có thể gặp nhiều các rủi ro, hoặc các khó khăn về vốn, thì để đảm bảo an toàn dự áncác mức đầu tư cho công suất khác nhau sẽ được áp dụng ở các thời điểm khác nhau.Các đợt công suất này tương ứng với các ví dụ về các tổ nhà máy điện, tổ máy sảnxuất, nhiều nhà máy không đưa vào hoạt động cùng lúc mà đưa dần vào hoạt độngtrong nhưng khoảng thời gian thích hợp

Việc phân chia đợt hợp lý (còn gọi là phân kỳ đầu tư) phải dựa vào khả năng cấpvốn, khả năng tiêu thụ của thị trường và vào kết quả so sánh phương án khi xây dựngthành một đợt, xây dựng thành nhiều đợt theo kiểu lập dự án đầu tư cho mỗi phương

án

Phương án xây dựng thành một đợt có ưu và nhược điểm riêng Một số ưu điểm

như: tổng chi phí đầu tư thường bé hơn khi xây thành nhiều đợt, vì khi xây thành nhiềuđợt chi phí di chuyển lực lượng sản xuất đến công trường cũng như chi phí cho côngtrình tạm phải bỏ ra nhiều lần hơn Đồng thời khi xây thành một đợt có thể tránh được

Trang 19

việc phải phá dỡ hay đào bới các công trình đã xây dựng xong ở đợt trước để làm chođợt tiếp theo Tuy nhiên, phương án này cũng có nhược điểm: không tận dụng hết côngsuất ngay từ đầu, phần vốn bỏ ra cho phần công suất chưa dùng đến bị ứ đọng khôngsinh lợi, phần công trình xây cho phần công suất chưa dùng đến vẫn phải duy tu, bảodưỡng và khấu hao

Phương án xây dựng thành nhiều đợt có ưu điểm là: vốn đầu tư ban đầu không

phải bỏ ra một lúc quá căng thẳng; ổn định dần dần các yếu tố đầu vào, đầu ra; ổn địnhdần dần bộ máy quản lý điều hành, rèn luyện đào tạo được công nhân; hạn chế đượctổn thất khi có những biến động đột xuất, bất lợi Tuy nhiên, phương án này cũng cónhược điểm như đã nói ở trên Để so sánh phương án được chính xác, phải lập dự ánđầu tư cho mỗi phương án có tính đến các nhân tố lợi hại của mỗi phương án kể trên

4.2.2 Xác định kế hoạch thực hiện dự án

Sau khi xác định được công suất của dự án, cần phải xác định thời gian biểu choviệc lập trình thực hiện, từng công việc trong mỗi hạng mục công trình, phải đảm bảocho dự án có thể đi vào vận hành và hoặc hoạt động dúng theo thời gian quy định Đốivới các dự án có quy mô lớn, có nhiều hạng mục công trình kỹ thuật xây dựng phứctạp, để lập trình thực hiện dự án đòi hỏi phải phân tích một cách có hệ thống và cóphương pháp rõ ràng Cụ thể là liệt kê, sắp xếp, phân tích nhằm xác định:

- Thời gian khởi công xây dựng;

- Thời gian hoàn thành từng hạng mục công trình của dự án;

- Thời gian dự án hoàn thành;

- Có sự sắp xếp thực hiện các hạng mục công trình, hạng mục nào có thể thựchiện trước, hạng mục nào thực hiện sau và những công việc thực hiện song song vớinhau;

- Ngày bắt đầu hoạt động sản xuất,

Có nhiều phương pháp phân tích và lập trình thực hiện dự án khác nhau như:Phương pháp sơ đồ Gannt; phương pháp sơ đồ Pert và phương pháp CPM Trên đây,chỉ phân tích cụ thể và ví dụ cho phương pháp đơn giản và sử dụng phổ biến nhất.Phương pháp có thể được nêu tóm gọn như sau:

Trang 20

- Phương pháp sơ đồ Gannt:

Là phương pháp đơn giản nhất và thông dụng nhất hiện nay, nhằm quản lý tiếntrình và thời hạn các công việc của dự án Trên hệ trục tọa độ hai chiều, trục tung sẽthể hiện các công việc của dự án, trục hoành thể hiệ thời gian hoàn thành các công việcnày

Mục đích của sơ đồ Gannt là xác định một tiến độ hợp lý để thực hiện các côngviệc khác nhau của dự án Phương pháp này thích hợp cho dự án có quy mô nhỏ, khốilượng công việc ít, thời gian thực hiện của từng công việc và cả dự án không dài Khi

sử dụng phương pháp sơ đồ Gannt trong thiết lập lịch trình cho dự án, cần phải đảmbảo các bước để vẽ một sơ đồ thích hợp:

Bước 1: Liệt kê các công việc của dự án một cách rõ ràng;

Bước 2: Sắp xếp trình tự thực hiện công việc hợp lý theo đúng quy trình côngnghệ;

Bước 3: Xác định thời gian thực hiện của từng công việc một cách thích hợp; Bước 4: Quyết định thời điểm bắt đầu và kết thúc cho từng công việc;

Bước 5: Xây dựng bảng phân tích công việc với ký hiệu hóa các công việc bằngchữ Latin theo mẫu:

TT Tên công việc Ký hiệu Độ dài thời gian Thời điểm bắt đầu

1 Xin giấy phép A 1 tháng Bắt đầu ngay

Bước 6: Vẽ sơ đồ Gannt với trục tung thể hiện trình tự các công việc của dự án.Trục hoành thể hiện thời gian thực hiện từng công việc

Ví dụ 4.2.7: Kế hoạch thực hiện của dự án bằng phương pháp sơ đồ Gannt

Công ty xây dựng A thực hiện dự án lắp ghép một khu nhà công nghiệp với tổngdiện tích 500 m2 Các công việc của dự án gồm: (1) Làm móng nhà, (2) Vận chuyểncần cẩu về, (3) Lắp dựng cần cẩu, (4) Vận chuyển cấu kiện, (5) Lắp ghép khung nhà Thời gian thực hiện dự tính cho công việc (1) là 5 tuần, công việc (2) là 1 tuần,công việc (3) là 3 tuần, công việc (4) là 4 tuần và công việc (5) là 5 tuần

Trang 21

Dự tính thời điểm bắt đầu thực hiện cho từng loại công việc; Làm mong nhà, vậnchuyển cần cẩu và vận chuyển cầu kiện làm ngay từ tuần đầu sau khi hoàn thành cácthủ tục cần thiết, lắp ghép cần cẩu đương nhiên phải thực hiện khi đã có cần cẩu, lắpghép khung nhà chỉ có thể thực hiện khi cần cẩu đã được lắp ghép, móng nhà đã làmxong và cấu kiện đã được vận chuyển về địa điểm xây dựng Khi đi cụ thể vào phântích như sau:

Bước 1: Liệt kê công việc thực hiện gồm: Làm móng nhà, vận chuyển cần cẩu,lắp dựng cần cẩu, vận chuyển cấu kiện, lắp ghép khung nhà

Bước 2: Sắp xếp: (1) Làm móng nhà; (2) Vận chuyển cần cẩu; (3) Lắp dựng cầncẩu; (4) Vận chuyển cấu kiện; (5) Lắp ghép khung nhà

Bước 3: Xác định thời gian: (1) Làm móng nhà-5 tuần; (2) Vận chuyển cần cầu-1tuần; (3) Lắp dựng cần cẩu- 3 tuần; (4) Vận chuyển cấu kiện-4 tuần; (5) Lắp ghépkhung nhà-5 tuần

Bước 4: Quyết định thời điểm bắt đầu, kết thúc từng công việc: (1) Làm móngnhà-bắt đầu ngay; (2) Vận chuyển cần cẩu-bắt đầu ngay; (3) Lắp dựng cần cẩu-saucông việc (2); (4) Vận chuyển cấu kiện- bắt đầu ngay; (5) Lắp ghép khung nhà-saucông việc (3)

Bước 5: Xây dựng bảng phân tích công việc:

TT Tên công việc Ký hiệu Độ dài thời gian Thời điểm bắt đầu

2 Vận chuyển cần cẩu B 1 tuần Bắt đầu ngay

3 Lắp dựng cần cẩu C 3 tuần Sau B

4 Vận chuyển cấu kiện D 4 tuần Bắt đầu ngay

5 Lắp ghép khung nhà E 5 tuần Sau C

Bước 6: Vẽ sơ đồ:

Trang 22

Như vậy tổng thời gian thực hiện dự án là 12 tuần Các công việc A, B, D phảilàm ngay từ đầu và làm song song với nhau Công việc C chỉ có thể khởi công khicông việc B hoàn thành Công việc E được thực hiện khi công việc C, A, D đã hoànthành

- Phương pháp sơ đồ Pert và CPM: được hình thành trước phương pháp sơ đồ

Gannt khoảng năm 1957-1958, tuy nhiên chúng ít thông dụng vì phức tạp, chỉ áp dựngcho các dự án lớn bao gồm nhiều hoạt động và công trình thứ tự liên quan nhau

Dù cho phương pháp nào được áp dụng, điều quan trọng là lịch trình dự án cầnchỉ rõ các hạng mục công trình, các công việc có tầm quan trọng hơn trong mỗi giaiđoạn thực hiện dự án Đây là kim chỉ nam để ra quyết định kịp thời và chính xác nếu

có sự thay đổi trong thời gian hoặc các hạng mục công trình dự án Kịp thời ứng phóđược với các rủi ro trong quá trình thực hiện dự án

4.3 XÁC ĐỊNH NHU CẦU NGUỒN VỐN CỦA DỰ ÁN

Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn đầu

tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội

Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng cho hoạt động đầu tư Theo nguồn gốchình thành và mục tiêu sử dụng thì vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, của các sơ sởsản xuất – kinh doanh – dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồnlực khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềmlực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho xã hội

Trang 23

- Vốn ngân sách nhà nước: nguồn vốn này được sử dụng để đầu tư cho các dự án

kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, không có khả năng sinh lời vàđược quản lý, sử dụng theo phân cấp và chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển;

hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia củanhà nước theo quy định của pháp luật; chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự

án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng

đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng chính phủ cho phép

- Vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà

nước: vốn này được sử dụng để đầu tư cho các dự án sản xuất, kinh doanh của tư nhân,

tổ chức kinh tế không thuộc doanh nghiệp nhà nước; chủ đầu tư các dự án thuộc doanhnghiệp nhà nước, sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư pháttriển của nhà nước

- Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: được sử dụng để đầu tư cho

các dự án phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước vàquy hoạch phát triển ngành Đây là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.Được hình thành từ nhiều nguồn như: vốn ngân sách, vốn khấu hao cơ bản, vốn việntrợ qua ngân sách, vốn tự có của doanh nghiệp, vốn phát hành trái phiếu, vốn vay,…

4.3.1.2 Vốn ngoài nước

Vốn ngoài nước là vốn hình thành không bằng nguồn tích lũy nội bộ của nềnkinh tế quốc dân Nguồn vốn nước ngoài là rất quan trọng trong công cuộc xây dựngđất nước của một quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế mở Dù dưới hình thức nào,việc sử dụng vốn nước ngoài đều đòi hỏi chi phí vốn trong nước kèm theo, do đó việc

sử dụng có hiệu quản vốn nước ngoài là một đòi hỏi cấp thiết Các thành phần vốnngoài nước

Trang 24

- Vốn thuộc các khoản vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn viện trợ quốc

tế dành cho đầu tư phát triển (kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA) Đây lànguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp vớimục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thức tài trợ khác, ODAmang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn tài trợ phát triển nào khác Mặc dù có tính ưuđãi cao, song sự ưu đãi của loại vốn này thường đi kèm các điều kiện và ràng buộctương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…)

Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự

án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trởthành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế Điều này còn hàm ý rằng, ngoàinhững yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn có nghệ thuật thỏa thuận để vừa cóthể nhận vốn, vừa bảo tồn được các mục tiêu có tính nguyên tắc

- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI (Foreign Direct Investment): là vốnnước ngoài tham gia vào hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam

- Vốn đầu tư của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và cơ quan nước ngoài khácđầu tư xây dựng trên lãnh thổ nước Việt Nam: được quản lý theo hiệp định hoặc thỏathuận đã được ký kết với Chính phủ; chủ đầu tư phải lập hồ sơ xin cấp giấy phép xâydựng theo quy định

- Vốn vay nước ngoài do nhà nước bảo lãnh đối với doanh nghiệp nhà nước:doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư và trả nợ vốn vay đúng hạncũng như phải thực hiện các cam kết khi vay vốn theo quy định của pháp luật

4.3.2 Dự kiến cơ cấu nguồn vốn

Cơ cấu nguồn vốn là thành phần và tỷ trọng từng nguồn vốn so với tổng nguồnvốn tại một thời điểm Hay nói cách khác, cơ cấu vốn là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ vàvốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp Bao gồm 2 nhóm: nợ phải trả và vốn chủ sở

hữu

Nợ phải trả: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh

doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm các khoản

nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho nhà nước, cho công nhân viên vàcác khoản phải trả khác

Trang 25

Vốn chủ sở hữu: phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm các loại nguồn vốn

thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên góp vốn trong công ty liêndoanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh hoặc các

cổ đông trong công ty cổ phần Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu

mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanhnghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đó nguồnvốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ

Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ cấu vốn

- Rủi ro doanh nghiệp: Rủi ro phát sinh đối với tài sản của doanh nghiệp ngay cả

khi doanh nghiệp không vay nợ Rủi ro doanh nghiệp càng lớn thì càng hạ thấp tỉ lệ nợtối ưu

- Thuế thu nhập công ty: Sử dụng nợ vay khiến doanh nghiệp tiết kiệm được

thuế

- Sự chủ động về tài chính: Sử dụng nợ nhiều làm giảm đi sự chủ động về tài

chính

- Giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống của doanh nghiệp: Xác định được doanh

nghiệp đang nằm trong giai đoạn nào trong bốn giai đoạn: khởi sự, tăng trưởng, bãohòa và suy thoái, để có chiến lược huy động xây dựng cơ cấu vốn thích hợp

- Phong cách và thái độ của ban quản lý công ty: Một số giám đốc rất thận trọng

trong việc sử dụng nợ

- Các nhân tố khác: Chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc điểm

của nền kinh tế (mức độ hoạt động kinh doanh, triển vọng của thị trường vốn), khảnăng tài trợ linh hoạt của thị trường vốn những diễn biến của thị trường vốn…

4.3.3 Kế hoạch tài chính dự kiến

Kế hoạch tài chính là bản tổng hợp dự kiến trước nhu cầu tài chính cho hoạt độngcủa một doanh nghiệp trong tương lai Lập kế hoạch tài chính đòi hỏi phải có sự đầu tưnghiên cứu trước khi bắt tay vào xây dựng Không nên bỏ sót bất kì một thông tin nàoliên quan đến các vấn đề tài chính Kế hoạch dự kiến bao gồm:

Trang 26

- Kế hoạch tài chính ngắn hạn thường không quá 12 tháng sắp tới, doanh nghiệp luônmong muốn đoán chắc rằng mình có đủ tiền mặt để thanh toán các hóa đơn, các khoảnvay và cho vay ngắn hạn được dàn xếp theo cách có lợi nhất cho mình

- Kế hoạch dài hạn, thường là 5 năm, mặc dù có nhiều doanh nghiệp lập kế hoạch xahơn cho 10 năm hoặc hơn nữa

Để có một bản kế hoạch tài chính phù hợp, trước hết doanh nghiệp phải có nhữngbản Kế hoạch sản xuất, Kế hoạch kỹ thuật (sửa chữa, thay thế, mua sắm bổ sung thiếtbị) và Kế hoạch đầu tư phát triển cụ thể Sau khi có những bản kế hoạch này, bộ phậntài chính doanh nghiệp sẽ tiến hành lập bảng cân đối nhu cầu vốn để đáp ứng các kếhoạch nêu trên bao gồm: vốn lưu động cho sản xuất, vốn đầu tư dài hạn cho nhu cầumua sắm tài sản cố định và cho đầu tư phát triển Nhu cầu vốn lưu động được xác địnhđầy đủ tại các khâu cung ứng nguyên vật liệu và phụ tùng thay thế (khả năng, tần suấtcung cấp); dự trù nguyên vật liệu và phụ tùng thay thế (định mức tồn kho); sản xuất rasản phẩm chờ giao cho khách hàng (giá thành sản xuất sản phẩm) và khâu chờ thanhtoán (thời gian bên A làm thủ tục thanh toán)

Nhu cầu vốn lưu động nêu trên sẽ được tài trợ bởi nguồn vốn lưu động trong vốnchủ, khấu hao tài sản cố định chưa chi, các khoản chờ thanh toán do chưa đến hạn, lợinhuận chưa phân phối, các quỹ chưa chi… sau đó đến các khoản vay ngắn hạn ngânhàng Đối với vốn đầu tư dài hạn cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định và cho đầu tưphát triển sẽ được tài trợ bởi nguồn vốn cố định trong vốn chủ và vốn vay dài hạn ngânhàng Sau khi có đầy đủ nhu cầu về tiền vốn, bộ phận Tài chính sẽ lập bảng cân đốinguồn vốn Trong bảng cân đối nguồn vốn nêu trên phải nêu bật được cơ cấu hiệu quảcủa nguồn vốn đối với mỗi loại

4.3.4 Vốn lưu động, chi phí vận hành bảo dưỡng, cơ chế tài chính

4.3.4.1 Vốn lưu động

Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước để hình thành tài sản lưuđộng nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thực hiệnđược thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong mộtlần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh

Trang 27

Vồn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên vốn lưu động chịu

sự chi phối của bởi những đặc điểm của tài sản lưu động Do đó, vốn lưu động cónhững đặc điểm sau:

- Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, hết chu kỳ đó doanh nghiệp thuhồi được vốn lưu động và dung vốn lưu động cho chu kỳ sản xuất tiếp theo

- Vốn lưu động dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được thu hồi toàn

bộ khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh khi doanh nghiệp bán được hàng hóa, sảnphẩm, thu tiền bán hàng về

- Kết thúc một chu kỳ sản xuất thì vốn lưu động cũng hoàn thành một vòng tuần hoàn.Việc hoàn thành một vòng tuần hoàn đồng nghĩa với một phần lãi của doanh nghiệpđược xác định

4.3.4.2 Chi phí vận hành bảo dưỡng

Chi phí vận hành là chi phí bỏ ra để có thể vận hành các loại máy móc (chi phíchi trả cho việc mua nhiên liệu hoặc điện tiêu tốn để vận hành máy móc…)

Chi phí bảo dưỡng là chi phí để thực hiện các tác vụ giúp bảo tồn năng lực thiết

bị, qua đó đảm bảo tính liên tục và chất lượng của sản xuất Bao gồm nhiều chi phínhư: chi phí cho việc mua các chi tiết trong các loại máy móc cần thay mới, chi phícho nhân viên bảo dưỡng,…

- Quản lý doanh thu, chi phí

- Quản lý lợi nhuận và phân phối lợi nhuận

- Chế độ kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính

Hiện nay ở nước ta, chưa có một cơ chế tài chính chính thức và độc lập đối vớidoanh nghiệp ngoài công lập, công tác quản lý tài chính đối với khu vực này được

Ngày đăng: 06/06/2018, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w