BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG --- PHẠM THỊ BÍCH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CƠ SỞ, PHÂN TÍCH KỸ THUẬT ĐỂ DỰ BÁO GIÁ VÀNG TRÊN THẾ GIỚI NHẰM XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-
PHẠM THỊ BÍCH
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CƠ SỞ, PHÂN TÍCH
KỸ THUẬT ĐỂ DỰ BÁO GIÁ VÀNG TRÊN THẾ GIỚI NHẰM XÂY
DỰNG CHIẾN LƯỢC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG
KINH DOANH VÀNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Thương mại
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin cảm ơn cô giáo TS Mai Thu Hiền - Khoa tài chính ngân hàng trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đã tận tình giúp tôi định hướng nghiên cứu và góp ý chỉnh sửa trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo đã truyền đạt và giúp tôi
có thêm những kiến thức chuyên môn chuyên sâu về chuyên ngành Thương mại quốc tế trong suốt hai năm học tập và nghiên cứu tại khoa sau đại học trường Đại học ngoại thương
Xin chân thành cảm ơn những người bạn của tôi đã giúp đỡ tôi rất nhiều về kiến thức thực tế để giúp tôi nghiên cứu đề tài này
Đây là đề tài về một lĩnh vực mới tại Việt Nam, chưa có một công trình nghiên cứu trước đó cộng với nguồn thông tin và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng từ các thầy cô và những người quan tâm đến đề tài để hoàn thiện và
áp dụng hiệu quả đề tài vào thực tiễn
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2010
Tác giả luận văn
Phạm Thị Bích
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CƠ SỞ, PHÂN TÍCH KỸ THUẬT VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ VÀNG 4
1.1 Tổng quan về thị trường vàng thế giới 4
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường vàng 4
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng 7
1.2 Một số lý thuyết cơ bản về phương pháp phân tích cơ sở 11
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm 11
1.2.2 Các yếu tố cơ bản trong phân tích cơ sở 11
1.2.3 Nội dung chính của phân tích cơ sở 12
1.3 Lý thuyết cơ bản về phương pháp phân tích kỹ thuật 18
1.3.1 Khái niệm và các giả định sử dụng trong phương pháp phân tích kỹ thuật 18
1.3.2 Các lý thuyết cơ bản của phân tích kỹ thuật 20
1.3.3 Nội dung chính của phân tích kỹ thuật 22
1.4 Rủi ro và các phương thức quản trị rủi ro trong đầu tư vàng 35
1.4.1 Các rủi ro thường gặp trong đầu tư vàng 35
1.4.2 Các phương thức cơ bản để quản trị rủi ro 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CƠ SỞ VÀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG DỰ BÁO GIÁ VÀNG THẾ GIỚI ĐỂ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH VÀNG TẠI VIỆT NAM 43
Trang 42.1 Tình hình thị trường vàng thế giới 43
2.1.1 Nguồn cung vàng trên thị trường 44
2.1.2 Cầu về vàng trên thị trường 47
2.1.3 Biến động giá vàng thế giới 50
2.2 Thực trạng thị trường vàng Việt Nam trong thời gian gần đây 52
2.2.1 Các chủ thể tham gia thị trường 52
2.2.2 Khung pháp lý quản lý hoạt động kinh doanh vàng tại Việt Nam 56 2.2.3 Đánh giá thực trạng Việt Nam trong năm 2008-2009 62
2.3Thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh vàng tại Việt Nam 65
2.3.1 Các rủi ro liên quan đến đầu tư vàng 65
2.3.2 Các biện pháp quản trị rủi ro đã sử dụng trong kinh doanh vàng tại Việt Nam 70
2.3.3 Thực trạng áp dụng phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật trong dự báo giá vàng tại Việt Nam 73
2.3.4 Đánh giá các biện pháp quản trị rủi ro đã sử dụng trong kinh doanh vàng tại Việt Nam 77
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CƠ SỞ VÀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG DỰ BÁO GIÁ VÀNG THẾ GIỚI ĐỂ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH VÀNG TẠI VIỆT NAM 80
3.1 Xu hướng phát triển thị trường vàng trên thế giới và Việt Nam 80
3.1.1 Thị trường vàng thế giới hiện nay và triển vọng 80
3.1.2 Xu hướng phát triển thị trường vàng Việt Nam 83
3.2 Một số giải pháp triển khai áp dụng phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật trong dự báo giá vàng tại Việt Nam 92
3.2.1 Xây dựng hệ thống phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật phù hợp với thị trường vàng Việt Nam 92
Trang 53.2.2 Giải pháp về nguồn cung cấp thông tin đầu vào cho hai phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật 95 3.2.3 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn để sử dụng hai phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật 95
3.3 Giải pháp xây dựng chiến lược quản trị rủi ro dựa trên hai phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật trong dự báo giá vàng 96
3.3.1 Áp dụng phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật để xây dựng hệ thống dự báo giá vàng cập nhật thường xuyên với độ chính xác cao 96 3.3.2 Áp dụng phương pháp phân tích kỹ thuật và phân tích cơ sở trong
dự báo giá để hỗ trợ xây dựng và phát triển các hợp đồng phái sinh 96 3.3.3 Nâng cao vai trò của phương pháp phân tích và dự báo giá trong quản trị rủi ro 98
3.4 Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý 98 KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
ETFs Exchange-traded funds Các quĩ đầu tư
GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm nội dịa
OPEC Organization of Petroleum
Exporting Countries Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ FED Federal Reserve System Cục dự trữ liên bang Mỹ
Trang 7Hình 3.1
Đồ thị giá, đường MACD, Bollingerband (7 kỳ), đường xu hướng từ 10/04/2010 đến 04/05/2010 93
Trang 81
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây thị trường vàng thế giới đã có những đợt biến động mạnh về giá, chủ yếu theo sự lên xuống của đồng USD và những diễn biến trên thị trường tài chính Vàng được coi là nơi tránh bão an toàn số một trong mắt các nhà đầu tư trong bối cảnh lạm phát leo thang, đồng USD trượt giá và sự đổ vỡ của các thể chế tài chính lớn Vàng đã chiếm một vị trí đặc biệt đối với các nhà đầu
tư trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đi xuống Để thành công trong quá trình đầu tư vào mặt hàng biến động giá mạnh như vàng cần có phương pháp dự báo giá Thực
tế, dự báo biến động giá vàng là công việc đòi hỏi nhiều kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm cũng như mức độ tư duy Các phương pháp được dùng phổ biến trong thị trường ngoại hối trong đó có thị trường vàng là phương pháp sử dụng chuỗi thời gian, mô hình kinh tế lượng, phân tích theo dòng chu chuyển lệch, phân tích cơ sở
và phân tích kỹ thuật trong đó phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật dễ tiếp cận hơn Việc sử dụng phương pháp phân tích kỹ thuật và phân tích cơ sở trong việc dự báo giá vàng nhằm quản trị rủi ro sẽ hiệu quả và phổ biến cho mọi đối tượng từ nhà đầu tư đến các sàn giao dịch, các nhà kinh doanh và quản lý nhà nước
Do đó áp dụng phương pháp phân tích kỹ thuật, phân tích cơ sở một cách phù hợp nhất trong quá trình đầu tư và kinh doanh vàng trên thị trường hiện nay là một yêu cầu cấp thiết
Hiện nay tại Việt Nam hai phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật còn ít được áp dụng, chưa được biết đến nhiều và chưa rộng rãi nên việc nghiên cứu
đề tài này sẽ là một hướng đi mới và hiệu quả trong việc đầu tư vàng cho các nhà đầu tư, cho các sàn giao dịch, nhà nước và nền kinh tế Việt Nam
Chính vì những lý do trên việc nghiên cứu đề tài: "Sử dụng phương pháp
phân tích cơ sở, phân tích kỹ thuật để dự báo giá vàng trên thế giới nhằm xây dựng chiến lược quản trị rủi ro trong kinh doanh vàng tại Việt Nam" trên cơ sở
nghiên cứu lý thuyết, phân tích thực trạng áp dụng hai phương pháp phân tích cơ sở, phân tích kỹ thuật, thực trạng quản trị rủi ro trong đầu tư vàng tại Việt Nam, đánh
Trang 92
giá xu hướng phát triển thị trường vàng trong tương lai từ đó tìm kiếm những giải pháp để áp dụng hai phương pháp này nhằm đưa ra giải pháp quản trị rủi ro đầu tư vàng tại Việt Nam mang tính cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay trên thế giới và Việt Nam đã có những đề tài đi sâu nghiên cứu về hai phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật nhưng chủ yếu ứng dụng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán Đã có rất nhiều các trang web riêng về đầu tư vàng qua đó đưa ra những bài phân tích và dự báo xu hướng giá vàng thế giới hàng ngày, tuy nhiên những nghiên cứu này mới là những nghiên cứu riêng lẻ mà chưa
hệ thống hoá về hai phương pháp này nhằm đưa ra những biện pháp cho quản trị rủi
ro trong đầu tư vàng Vì vậy, có thể khẳng định đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách chi tiết và đầy đủ về hai phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật nhằm đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro trong lĩnh vực đầu tư vàng tại Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu về hai phương pháp phân tích cơ sở
và phân tích kỹ thuật trong dự báo giá vàng để quản trị rủi ro trong đầu tư vàng Qua đó thấy được những khó khăn, tồn tại và hướng hoàn thiện để triển khai áp dụng hai phương pháp này và dựa vào đó xây dựng chiến lược quản trị rủi ro trong đầu tư vàng tại Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nói trên, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hai phương pháp phân tích kỹ thuật, phân tích cơ sở và vấn đề quản trị rủi ro trong lĩnh vực đầu tư vàng
- Phân tích, nhận xét tình hình quản trị rủi ro và việc sử dụng phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật trong đầu tư kinh doanh vàng tại Việt Nam Từ đó rút ra được những khó khăn và tồn tại khi áp dụng hai phương pháp trên trong việc quản trị rủi ro trong đầu tư kinh doanh vàng tại Việt Nam
Trang 103
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm triển khai áp dụng hai phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật từ đó xây dựng chiến lược quản trị rủi ro dựa
trên hai phương pháp trên trong đầu tư vàng tại Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc áp dụng phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật trong dự báo giá vàng trên thế giới để xây dựng chiến lược quản trị rủi ro trong đầu tư vàng tại Việt Nam trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2010
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá, về phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật trong dự báo giá vàng
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dụng của luận văn được chia thành 3 chương chính sau đây:
Chương 1: Lý luận cơ bản về phương pháp phân tích cơ sở, phân tích kỹ thuật
và các phương thức quản trị rủi ro trong đầu tư vàng
Chương 2: Thực trạng áp dụng phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật trong dự báo giá vàng thế giới để xây dựng chiến lược quản trị rủi ro trong kinh doanh vàng tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp triển khai áp dụng phương pháp phân tích cơ sở và phân tích kỹ thuật trong dự báo giá vàng thế giới để xây dựng chiến lược quản trị rủi ro trong kinh doanh vàng tại Việt Nam
Trang 114
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CƠ SỞ, PHÂN
TÍCH KỸ THUẬT VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG ĐẦU TƯ VÀNG
1.1 Tổng quan về thị trường vàng thế giới
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường vàng
1.1.1.1 Sự ra đời của vàng
Vàng cùng với bạc, đồng là ba kim loại đầu tiên được tìm thấy đầu tiên trên
thế giới, năm 5000 trước công nguyên Vàng được xem là kim loại quý, biểu tượng
của quyền lực và sự giàu có Vàng có sức chịu đựng oxi hóa cao, lâu bị hư hao
Vàng là đồng tiền quốc tế cổ nhất và đóng một vai trò quan trọng trong hệ
thống tiền tệ của hầu hết các quốc gia trong vòng hơn 2000 năm qua Hệ thống bản
vị vàng quốc tế chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian tương đối ngắn - từ những
năm 1870 đến khi Thế chiến I nổ ra năm 1914 Nó tạo ra cơ sở để hình thành nên
thời kỳ kinh tế tăng trưởng tương đối ổn định và thịnh vượng, trong đó lạm phát
nhìn chung là thấp và tương đối ổn định Tuy nhiên chế độ ấy không hoàn hảo; có
những độ trễ không thể tránh khỏi trong phản ứng của sản lượng khai thác mỏ đối
với các tác nhân kích thích về giá Đồng đôla ấn định theo vàng được đổi ở mức
20,67 USD lấy 1 troy ounce, tỷ lệ này vẫn được giữ trong những năm chiến tranh và
sau chiến tranh, nhưng vào năm 1934, đồng Đôla được định giá lại ở mức 35 USD
đổi 1 troy ounce
Sau Chiến tranh thế giới II, cốt lõi của hệ thống tiền tệ Bretton Woods được
hình thành, đó là đồng Đôla nên được gắn cố định với vàng ở mức 35 USD đổi lấy
1 troy ounce còn các đồng tiền khác được xác định giá trị theo đồng Đôla với tỷ giá
cố định và có thể điều chỉnh
Tuy nhiên, mức giá cố định 35 USD/troy ounce trở thành phi thực tế qua thời
gian, một phần do lạm phát và cơn sốt vàng do hậu quả của cuộc chiến tranh với
Việt Nam Mức cố định 35 USD/troy ounce đã được thay thế vào năm 1968 bởi một
Trang 125
hệ thống hai tầng với thị trường tự do (chợ đen) và thị trường chính thức qua “gold window (cửa sổ vàng)”, nhưng vàng trao đổi trên thị trường tự do vẫn phải theo mức ấn định (mặc dù thực tế không diễn ra như vậy) Khi Mỹ cuối cùng từ bỏ hệ thống vào năm 1971, giá ấn định cuối cùng trước khi đóng cửa các “gold window”(cửa sổ vàng) là 42,22 USD/troy ounce và ngày nay Mỹ chính thức định giá mức dự trữ vàng của nước mình ở mức giá đó
Khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào đầu những năm 1970, vàng không còn là xương sống chính thức của hệ thống tiền tệ quốc tế và dưới những quy tắc của IMF các quốc gia không thể đảm bảo đồng tiền của mình bằng vàng Mặc dù vậy vàng vẫn còn những chức năng tiền tệ nhất định và được chính thức sử dụng làm tài sản dự trữ của các Ngân hàng trung ương
1.1.1.2 Vai trò quan trọng của vàng
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, vai trò và chức năng tiền tệ của vàng vẫn không hề bị phai mờ, thậm chí vàng ngày càng có nhiều ứng dụng và đóng vai trò quan trọng hơn trong đời sống kinh tế và đời sống tinh thần của con người Vai trò quan trọng và thường thấy của vàng gắn liền với chức năng tiền tệ: vàng được sử dụng làm dự trữ tại các Ngân hàng trung ương Vào cuối năm 2004, các Ngân hàng trung ương trên thế giới và các tổ chức chính thức nắm giữ khoảng 19% tổng trữ lượng vàng trên mặt đất với chức năng dự trữ Không chỉ được sử dụng làm tài sản
dự trữ trong kho của các ngân hàng trung ương, vàng còn được sử dụng làm tài sản tiết kiệm truyền thống và rất phổ biến ở nhiều quốc gia, đặc biệt các các nước Á Đông Vàng được sử dụng làm tiết kiệm có thể dưới dạng đồ trang sức như dây chuyền, nhẫn, vòng, lắc, khuyên tai, hoặc dạng thanh (cây) vàng Ngoài chức năng
dự trữ và tiết kiệm, vàng còn có các ứng dụng khá rộng rãi trong sản xuất công nghiệp Vàng được sử dụng để sản xuất mạch tích hợp, vi xử lý, dùng để mạ trong sản xuất các thiết bị, sử dụng trong ngành công nghiệp vũ trụ, dùng để sản xuất đồng hồ, sản xuất các thiết bị bán dẫn, thậm chí dùng cả trong sản xuất vũ khí Sẽ
có có thể kể hết những ứng dụng đa dạng của vàng trong công nghiệp
Trang 136
Một ứng dụng phổ biến khác của vàng đó là được sử dụng trong nha khoa Ngoài ra vàng còn được sử dụng trong y tế dùng để chữ một số bệnh như viêm khớp, ung thư, một số bệnh ở mắt Rất nhiều các dụng cụ phẫu thuật, thiết bị trợ giúp và thiết bị điện tử được sản xuất ra có sử dụng một hàm lượng nhỏ vàng
1.1.1.3 Sự phát triển của thị trường vàng thế giới
Hai trong số những trung tâm giao dịch vàng quan trọng nhất trên thế giới là thị trường vàng London và New York Thị trường vàng London (London bullion market - thị trường vàng thỏi London) là một trong số những thị trường lâu đời nhất trên thế giới và là thị trường lớn nhất xét về khía cạnh giao dịch vàng vật chất Các thành viên của Hiệp hội thị trường vàng London "London Bullion Market Association" (LBMA) thực hiện giao dịch vàng và bạc trên thị trường này Hầu hết những thành viên đều là các ngân hàng quốc tế lớn, thương gia và những nhà chế tạo vàng
Giao dịch toàn cầu về vàng và bạc khối lượng lớn được diễn ra trên thị trường OTC Cho đến nay London vẫn là trung tâm lớn nhất thế giới xét trên khía cạnh giao dịch OTC, xếp sau đó là thị trường New York, Zurich và Tokyo Mặc dù các thị trường giao dịch vàng vật chất có mặt ở khắp nơi trên thế giới, nhưng hầu hết các giao dịch bán buôn OTC đều được thanh toán qua London
Sàn giao dịch vàng tương lai dành cho những thương gia Mỹ là chi nhánh Comex của Sàn giao dịch hàng hóa New York (NYMEX) Sàn giao dịch này bắt đầu giao dịch các hợp đồng tương lai vàng vào ngày 31 tháng 12 năm 1974, vào ngày đầu tiên các công dân Mỹ được cho phép sở hữu vàng sau thời kỳ cấm đoán kéo dài trên 40 năm
Thị trường vàng thế giới: giá vàng thực sự được xác định 2 lần/ngày ở London Tại đây, 1 nhóm ngân hàng cùng nhau “thiết lập” giá vàng, hay nói cách khác, quyết định giá vàng tại từng thời điểm cụ thể khi họ quyết định giá Tất nhiên giá thay đổi theo giờ và biến động lên hoặc xuống tùy thuộc vào những ảnh hưởng khác nhau và những sự am hiểu về giá trị của vàng Lý do cho việc thiết lập là để tạo ra tính ổn định và giá ổn định cho họat động của ngân hàng Có thể xem như là
Trang 147
một định hướng cho một ngày giao dịch Giá được thiết lập có thể được xác định theo đồng Bảng Anh và sau đó được chuyển đổi sang tiền tệ của thị trường của quốc gia khác Thông thường, trên toàn thế giới giá vàng được tính theo USD và Euro
Nguồn: Công ty dịch vụ tài chính quốc tế London (IFSL), 2008
Hình 1.1 Thu nhập vàng hàng năm tại thị trường vàng thế giới
Những thị trường vàng quan trọng khác trên thế giới nằm ở Tokyo, Sydney, Hong Kong, Thượng Hải, Singapore, Dubai và Zurich [33]
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng
1.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới
Có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới trong đó có những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như giá dầu mỏ, giá USD, nguồn cung, cầu trên thị trường vàng, tâm lý của người đầu tư, ngoài ra còn các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp lên giá vàng thông qua ảnh hưởng trực tiếp lên các yếu tố trên
Yếu tố cung cầu là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp lên bất kỳ hàng hóa nào trong
đó có giá vàng Xu hướng vàng trên thế giới tăng kể từ khi ra đời đến này cho thầy nguồn cung vàng ngày càng giảm đi trong đó nhu cầu lại tăng lên Nguồn cung phụ thuộc vào sản lượng khai thác, vàng phế liệu và lượng vàng bán của các tổ chức và
Trang 15ra để thu lại USD) do đó nhu cầu mua vàng tăng và vàng tăng giá
Hình 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới
Tình hình kinh tế trong đó có: khi lãi suất tiền gửi USD tăng, nhà đầu tư gửi USD để hưởng lãi suất tiết kiệm thay vì dùng USD để mua vàng do đó nhu cầu mua vàng giảm, vàng giảm giá Khi lãi suất USD giảm, nhà đầu tư dùng USD để mua vàng (và các phương tiện đầu tư khác) thay vì gửi USD để hưởng lãi suất tiết kiệm, nhu cầu đầu tư vàng tăng, vàng tăng giá Lạm phát của Mỹ tác động lên giá vàng: lạm phát của Mỹ tăng, đồng USD mất giá, nhu cầu vàng tăng, vàng tăng giá Chỉ số
Giá vàng
Sản lượng
khai thác
Cầu Dầu
USDTâm lý
Vàng trang sức
Vàng trong CN
và nha khoa
Vàng đầu tư -Bán lẻ
- ETFs (quĩ đầu tư)
- GLD option (giao dịch tự chọn)
- Future Exchange (Comex) (Giao dịch tương lai)
Tài sản tài chính, bất động sản
Tình hình kinh tế Tình hình chính trị
Thiên tai, sự
kiện khác
Cung Vàng phế
Trang 169
của nền kinh tế Mỹ tác động lên giá vàng: chỉ số của nền kinh tế Mỹ không tốt, đồng USD mất giá, giá vàng tăng Chỉ số Dini chỉ sức mạnh của đồng USD, tỷ lệ nghịch với giá vàng Giá EUR, giá dầu tỷ lệ thuận với vàng và tỷ lệ nghịch với USD Theo các chuyên gia từ quỹ đầu tư vàng và chuyên gia cao cấp từ Hiệp hội đầu tư vàng thế giới thì họ đưa ra một tỷ giá vàng/giá dầu = 15 là hợp lý với giá trị thực, dầu tăng 1 USD thì vàng tăng khoảng 6-8 USD
Giá dầu tác động đến giá vàng: dầu mỏ là một loại hàng hóa thiết yếu, là tác nhân chính của phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến các ngành dịch vụ, công nghiệp….Khi giá dầu tăng do ảnh hưởng của các yếu tố thiên tai, tình hình kinh tế
và chính trị, lạm phát tăng, Chính phủ sẽ đưa ra các chính sách để kiềm chế lạm phát, tăng lượng dự trữ vàng (để thanh toán các khoản nợ quốc gia bằng vàng thay
vì đồng tiền chung phổ biến USD) nhằm đảm bảo cho đồng tiền quốc gia, nguồn cung vàng giảm trên thị trường tự do, vàng tăng giá [24, tr.30-32]
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng trong nước tại Việt nam
Thị trường vàng thế giới
Đơn vị yết giá (thông thường): USD/ounce
1 ounce = 1 troy ounce = 0.83 lượng
1 lượng = 1.20556 ounce
Thị trường vàng trong nước
Đơn vị yết giá: VND/lượng Công thức quy đổi giá vàng từ đơn vị tính USD/Oz thành đơn vị tính VND/lượng:
Giá vàng quy đổi (VND/lượng) = Giá vàng thế giới (USD/Oz) * 1.20556 *
Tỷ giá USD/VND Giá vàng Việt Nam qui đổi phụ thuộc trực tiếp vào giá vàng thế giới và tỷ giá USD/VND, giá vàng Việt Nam cũng còn phụ thuộc vào cung cầu tại thị trường Việt Nam, ảnh hưởng của thị trường chứng khoán, kinh tế vĩ mô tại Việt Nam (hình 1.3)
Trang 1710
Theo công thức giá vàng của Việt Nam thì giá vàng Việt Nam tỷ lệ thuận với giá vàng thế giới và tỷ giá USD/VND, giá vàng Việt Nam phụ thuộc vào giá vàng thế giới và giá vàng thế giới là yếu tố chính cho sự biến động giá của vàng Việt Nam
Hình 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam
Chính sách của Chính phủ tác động trực tiếp đến nhập khẩu vàng ảnh hưởng đến nguồn cung vàng, nếu lượng nhập khẩu bị hạn chế dẫn đến nguồn cung giảm, giá vàng trong nước tăng và ngược lại Chính sách của Chính Phủ cũng ảnh hưởng trực tiếp lên giá vàng bằng việc đưa ra các chính sách về hoạt động kinh doanh vàng
Tình hình kinh tế vĩ mô thể hiện qua chỉ số GDP, GDP tăng nhu cầu đầu tư vào thị trường vàng tăng, giá vàng tăng giá và gược lại
Yếu tố mùa vụ ảnh hướng đến giá vàng Việt Nam vì nó ảnh hưởng đến nhu cầu, thường vào mùa cưới thì nhu cầu vàng tăng mạnh, giá vàng tăng Cùng với yếu
tố mùa vụ còn có thị trường bất động sản cũng ảnh hưởng đến cầu về vàng tại Việt Nam Khi thị trường bất động sản phát triển mạnh, nhu cầu đầu tư cho vàng sẽ giảm
vì mọi người sẽ đầu tư vào bất động sản nhiều hơn, giá vàng giảm, nếu thị trường
Giá vàng Việt Nam Cầu USD/VND
Yếu tốthời vụ
Bất động sản
Cung
Trang 1811
bất động sản bị đóng băng, tiền đầu tư sẽ được chuyển sang thị trường vàng, nhu cầu vàng tăng, giá vàng tăng
Thị trường chứng khoán và thị trường vàng có thể song song phát triển như
là một hình thức đa dạng hóa đầu tư Khi thị trường chứng khoán đi xuống, nhà đầu
tư sẽ chuyển sang kinh doanh vàng vì an toàn hơn, nhu cầu đầu tư về vàng sẽ tăng lên, giá vàng tăng Khi thị trường chứng khoán đi lên, các nhà đầu tư sẽ ít để ý đến thị trường vàng hơn, nhu cầu về vàng giảm, giá vàng sẽ đi xuống [24, tr.73-74]
1.2 Một số lý thuyết cơ bản về phương pháp phân tích cơ sở
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm
1.2.1.1 Khái niệm
Phương pháp phân tích cơ sở là phương pháp nghiên cứu những biến động của giá cả và xu hướng thị trường bằng cách phân tích các chỉ số kinh tế vĩ mô, tình hình kinh tế thế giới và chu kỳ kinh doanh (gọi là các yếu tố cơ bản)
Phương pháp phân tích cơ sở dựa vào những phân tích về “những nhân tố cơ bản” như GDP, đầu tư, tiết kiệm, sản lượng, lạm phát, cán cân thanh toán … Những phân tích này chỉ mang tính định tính nhằm xác định tác động của nhân tố này đến
xu hướng biến động của giá vàng Đây là một phương pháp được sử dụng rất phổ biến bởi các nhà kinh doanh ngoại tệ trên các thị trường tài chính phát triển, bên cạnh phương pháp phân tích kỹ thuật [8] [23]
1.2.1.2 Đặc điểm
Phương pháp phân tích cơ sở nghiên cứu tất cả các yếu tố có liên quan ảnh hưởng đến giá vàng, chiều hướng tác động của các yếu tố đó đến giá vàng
1.2.2 Các yếu tố cơ bản trong phân tích cơ sở
- Các chỉ số phân tích thị trường vĩ mô: GDP, CPI, IP, PPI, DGO, ECI
- Chính sách kinh tế vĩ mô
- Kinh tế thế giới
- Chu kỳ kinh doanh
- Phân tích thị trường tài chính: giá dầu mở và giá USD
Trang 19Tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong lãnh thổ của nền kinh tế trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm GDP thường được sử dụng như một thước đo cho tình trạng của một nền kinh
tế bởi nó phản ánh năng suất của quốc gia GDP bao gồm chi tiêu cá nhân, đầu tư, xuất khẩu ròng và chi tiêu chính phủ
Hiệu ứng chung: GDP là một chỉ tiêu hết sức quan trọng cho thấy thị trường tiền tệ trong đó có thị trường vàng cũng biến động hết sức sôi động cùng chiều với
sự biến động của GDP Chỉ số này thực sự phản ánh một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, bởi vậy bất kỳ sự tăng lên nào cũng phản ánh tình trạng khoẻ mạnh của nền kinh tế trong tất cả những khía cạnh được xem xét Do đó, sức sống của nền kinh tế mạnh được phản ánh một cách hiệu quả bởi một đồng tiền mạnh và có cầu tiền lớn
Theo dõi diễn biến giá vàng trên thị trường, nhất là trong thời kỳ nền kinh tế đang trong giai đoạn hồi phục sau khủng hoảng hiện nay, sau khi báo cáo GDP của
Mỹ cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng khả quan hơn lần đầu tiên trong năm nay Điều này cho thấy đồng USD đã có sức mạnh trở lại, giá vàng có xu hướng giảm ngược lại với xu hướng đồng USD giảm giá, các nước có xu hướng dự trữ vàng và dầu mỏ thay cho USD làm cho giá vàng tăng mạnh
1.2.3.2 Phân tích chỉ số tiêu dùng CPI
CPI là tên viết tắt tiếng Anh của Consumer price index (Chỉ số giá tiêu dùng) Trong rất nhiều trường hợp các quốc gia còn dùng CPI như đại diện cho thông số về lạm phát, mặc dù không phải bao giờ cũng đúng, hoặc chỉ phản ánh tương đối Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy
Trang 20về vàng tăng, giá vàng tăng Tại mỗi một nước, CPI tăng cao cũng làm kinh tế suy yếu, nhu cầu dự trữ vàng tránh lạm phát và mất giá tiền sẽ tăng cao làm giá vàng tăng [8, tr.59]
1.2.3.3 Phân tích chỉ số sản xuất công nghiệp
IP (industrial product) - Chỉ số sản xuất công nghiệp: là một thước đo sự thay đổi trong sản xuất của các nhà máy, hầm mỏ, và công ty công ích quốc gia cũng như là một thước đo năng lực sản xuất công nghiệp nên còn gọi là hệ số sử dụng năng lực Khu vực sản xuất chiếm ¼ nền kinh tế Tỷ lệ sử dụng năng lực công nghiệp cho ta một dự đoán năng lực sử dụng của các nhà máy là bao nhiêu Khi chỉ
số này giảm cho thấy sự tăng trưởng chậm chạp của nền kinh tế Lúc đó, Ngân hàng trung ương sẽ giảm mức lãi suất để thúc đẩy nền kinh tế, điều này kéo theo sự giảm giá của đồng USD, đầu tư và niềm tin vào vàng sẽ tăng lên đẩy giá vàng tăng [8, tr58]
1.2.3.4 Phân tích các chỉ số khác: PPI, Durable goods order, ECI (Employer Cost Index), RS (Retail sales), Housing starts
PPI (Product Price Index) - chỉ số của nhà sản xuất, là thước đo sự thay đổi giá cả trong khu vực sản xuất Nó đo lường sự thay đổi trung bình trong giá cả mà những nhà sản xuất nội địa nhận được PPI thường được dùng để phân tích nền kinh
tế cho những hàng hoá hoàn chỉnh, hàng hoá trung gian, hàng thô Chỉ số này tăng cho thấy tỷ lệ lạm phát tăng Nhu cầu hàng hoá cũng như giá cả sẽ tăng lên, nhà đầu
Trang 21ECI (Employer Cost Index): quỹ lương nhân dụng (cho nhân viên thuê mướn) là thước đo số lượng công việc trong hơn 500 ngành công nghiệp trong tất cả các bang và 255 thành phố trong toàn Hoa Kỳ Nếu chỉ số này giảm xuống, tình trạng kinh tế đang phát triển chậm chạp và Ngân hàng liên bang có thể sẽ giảm mức lãi suất để kéo giảm giá đồng USD, các nước tăng dự trữ vàng, nhu cầu về vàng tăng, giá vàng tăng
RS (Retail Sales): báo cáo doanh số bán lẻ là một thước đo tổng doanh số của các nhà bán lẻ từ các mẫu điều tra đại diện cho tất cả doanh nghiệp có qui mô khác nhau trong ngành bán lẻ trên toàn quốc Nếu chỉ số tăng thì đó là chỉ thị thể hiện nền kinh tế đang tăng trưởng RS của Mỹ tăng dẫn đến đồng USD tăng giá, giá vàng sẽ giảm theo
Housing Starts: báo cáo xây dựng nhà mới đo lường số đơn vị dân cư mà ngành xây dựng phải bắt đầu hàng tháng Nhà cửa rất nhạy cảm với tỷ giá và là một trong những khu vực đầu tiên phản ứng với việc thay đổi tỷ giá Chỉ số nhà tăng lên cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng và nhu cầu vốn tín dụng tăng lên Kết quả là lãi suất kéo theo đồng USD tăng giá và do đó giá vàng giảm [8, tr58-60]
Trên đây là một trong số rất nhiều các chỉ thị kinh tế, có nhiều chỉ thị phụ thuộc trong các ngành hay khu vực cụ thể Các nhà giao dịch cần phải học cách nhìn một bức tranh cụ thể và tập trung vào thị trường cụ thể Hầu hết các Website tài chính đều có lịch công bố các chỉ số kinh tế như: Yahoo/finance.com, CNBC.com, smartmoney.com, CBSmarketwatch.com, bbc.com.uk, reuters.com, Bloomberg.com
Trang 2215
1.2.3.5 Chính sách kinh tế vĩ mô
Chủ yếu tập trung vào chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ sẽ tác động tới tổng cầu: GDP = C + I + G + (EX – IM) (GDP = Tiêu dùng hộ gia đình + tổng đầu tư + tiêu dùng của Chính phủ + (xuất khẩu - nhập khẩu)) Các chính sách kinh
tế vĩ mô của Mỹ khả quan ví dụ như chính phủ Mỹ có chính sách tăng tổng cầu, đầu
tư, tiêu dùng chính phủ, tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu thì sẽ giúp tăng GDP, đồng USD tăng giá dẫn đến vàng giảm giá
1.2.3.6 Tình hình kinh tế thế giới
Tình hình kinh tế thế giới tác động tới thị trường, ảnh hưởng tới các hoạt động của các công ty và tác động tới nền kinh tế trong nước thông qua tỷ giá hối đoái, lãi suất, lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế Tình hình kinh tế không tốt như đợt khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt đầu từ Mỹ và hậu quả của nó còn đang kéo dài đến hiện tại sẽ làm ảnh hưởng đầu tiên đến nền kinh tế Mỹ, đồng USD suy yếu làm giá vàng đã có những bước biến động tăng mạnh trong thời gian qua, cuộc khủng hoảng ảnh hưởng lan rộng toàn cầu làm suy yếu nền kinh tế của nhiều nước làm các nước tăng lạm phát và thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, các nước sẽ có nhu cầu dự trữ vàng lớn hơn, nhà đầu tư quan tâm nhiều đến thị trường vàng, thị trường vàng phát triển sôi động hơn và giá vàng có xu hướng tăng mạnh
1.2.3.7 Chu kỳ kinh doanh
Phân tích chu kỳ kinh doanh sẽ cho thấy được qui luật và do đó dự báo được qui luật của thị trường trong đó quan trọng là xác định được điểm đổi chiều của chu
kỳ kinh doanh, từ đó xác định được ảnh hưởng như thế nào đến giá cả Có một số dạng chỉ báo chu kỳ kinh doanh:
- Chỉ số xảy ra trước, ví dụ: chỉ số giá chứng khoán, sự hình thành các ngành nghề mới, việc cấp phép xây dựng, tình hình mua sắm trang thiết bị, máy móc kỹ thuật
- Chỉ số xảy ra đồng thời, ví dụ: số lượng nhân công trong lĩnh vực phi nông nghiệp
Trang 2316
- Chỉ số xảy ra sau, ví dụ: thay đổi lượng thời gian làm việc, cho vay tiêu dùng
1.2.3.8 Mối quan hệ giữa giá vàng, giá dầu mỏ và đồng USD
Lịch sử cũng ghi nhận giá dầu và giá vàng luôn đi song hành với nhau suốt thời kỳ qua
Mối quan hệ giữa giá dầu và giá vàng: dầu là nguồn đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất Bất cứ sự biến động của giá dầu mỏ cũng tác động dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế thế giới Vì thế để giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, các nước có nền kinh tế lớn như Nga, Mỹ có xu hướng xây dựng các kho dự trữ dầu mỏ và tăng cường dự trữ vàng Bởi lẽ đây là hai loại hàng hóa không bị mất giá trị Trên thế giới giá vàng thường ăn theo giá dầu vì các nhà đầu tư tin rằng khi giá dầu tăng cao sẽ áp lực lên lạm phát, vì vậy cần phải giữ vàng để tránh lạm phát Do vậy, giá dầu tăng thì giá vàng cũng sẽ tăng Ngoài ra giá vàng thế giới còn chịu ảnh hưởng bởi các quyết định về lãi suất của FED và tình hình chính trị
Tuy nhiên, dầu mỏ dưới vai trò lớn hơn hàng hóa tích trữ, khi giá dầu mỏ tăng tất yếu dẫn đến hệ quả tiền USD giảm giá trị, và các nước càng có xu hướng nhập vàng về tích trữ, do đó nhu cầu vàng trên thế giới sẽ tăng và kéo theo sự tăng giá của vàng Thông thường USD và giá vàng biến động ngược chiều nhau Do đó nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến đồng tiền này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc dự báo giá vàng Các yếu tố ảnh hưởng đến đồng USD bao gồm: GDP, lãi suất, lạm phát, thặng dư thương mại, doanh số bán lẻ, thị trường nhà đất, đơn đặt hàng lâu bền, chỉ số PMI (chỉ số quản lý sản xuất), niềm tin tiêu dùng Giá vàng thế giới và USD thường biến động ngược chiều nhau do USD và vàng vẫn được lựa chọn là hai kênh đầu tư phổ biến thay thế nhau
Như vậy, có thể thấy, việc đầu tư vàng trong thời điểm hiện nay là tương đối rủi ro Cố gắng đi tìm mối quan hệ giữa giá vàng, giá dầu, và giá USD sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quan và đưa ra cách giải thích hợp lý cho sự biến động giá vàng trong thời gian tới [30]
Trang 2417
1.2.3.9 Mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và thị trường vàng
Chứng khoán và vàng là hai kênh đầu tư có tính chất thay thế cho nhau, nghĩa là khi có tiền, nhà đầu tư có thể chọn đầu tư vào chứng khoán, hoặc vàng hoặc cả hai để sinh lời Về lý thuyết, luồng vốn đầu tư sẽ dịch chuyển từ kênh đầu
tư có tỷ suất sinh lời thấp sang kênh đầu tư có tỷ suất sinh lời cao hơn Trên phương diện này, khi chứng khoán lên, sẽ tạo nhiều cơ hội cho mọi người kiếm lợi nhuận từ thị trường chứng khoán và giảm đầu tư vào vàng
Tuy nhiên, khi nhận định như trên cần lưu ý 2 điều: (i) Không bao giờ chứng khoán và vàng là vật thay thế hoàn toàn cho nhau, nghĩa là dù chứng khoán có hấp dẫn như thế nào thì vẫn có nhiều nhà đầu tư quan tâm tới đầu tư vàng, đơn giản vì
họ quen với hoạt động kinh doanh này hơn; (ii) Vàng và chứng khoán đều là những cấu phần của một thị trường tài chính Hoạt động nhộn nhịp đầu tư trong một cấu phần, có thể tạo cho nhà đầu tư sự phấn khích cần thiết để đầu tư vào cả cấu phần kia
Bên cạnh đó, đầu tư vào chứng khoán là rất rủi ro, vì khi doanh nghiệp phá sản, số chứng khoán đang nắm giữ có thể mất giá trị Đầu tư vào vàng có thể lãi, có thể lỗ, nhưng không bao giờ mất trắng vì vàng có giá trị nội tại của nó Một nhà đầu
tư khôn ngoan luôn chia sẻ rủi ro bằng cách trong khi đầu tư chứng khoán thì vẫn đầu tư vàng
Khi chứng khoán lên, có thể một số nhà đầu tư sẽ dồn vốn đầu tư sang kênh này, nhưng điều này không hẳn dẫn tới sự trầm lắng của thị trường vàng Khi thị trường chứng khoán tăng điểm mạnh được giải thích cho việc dùng nguồn vốn là tiền tệ mua vào chứng khoán hoặc các hàng hóa, giá dầu thô tăng theo sát khi thị trường chứng khoán tăng điểm Thường khi thị trường chứng khoán Mỹ tăng điểm mạnh thì chỉ số US - Index giảm điểm, giá dầu thô tăng, giá vàng tăng và ngược lại nếu thị trường chứng khoán Mỹ giảm điểm mạnh Có thể thấy thị trường chứng khoán Mỹ trong đợt giảm điểm mạnh đầu năm 2010 liên tiếp trong 4 tuần tháng 1
và tháng 2 năm 2010, chỉ số Dow Jones giảm xuống dưới 10.000 điểm trong 3
Trang 251.3 Lý thuyết cơ bản về phương pháp phân tích kỹ thuật
1.3.1 Khái niệm và các giả định sử dụng trong phương pháp phân tích kỹ thuật
1.3.1.1 Khái niệm
Phân tích kỹ thuật là phương pháp nghiên cứu hành vi của các bên tham gia thị trường thông qua phân tích dữ liệu về giá cả và khối lượng trong quá khứ nhằm xác định xu hướng biến động của giá cả trong tương lai
Phương pháp phân tích kỹ thuật với công cụ cơ bản là đồ thị nên còn gọi là phân tích đồ thị Phân tích kỹ thuật sử dụng các chỉ báo, các qui tắc giao dịch và đồ thị kỹ thuật để dự báo xu hướng biến động giá
Đặc điểm cơ bản của phân tích kỹ thuật là chỉ căn cứ vào dữ liệu giao dịch trong quá khứ (giá cả, khối lượng giao dịch) để dự báo giá cả tương lai mà không thừa nhận giả thuyết thị trường hiệu quả Nó chỉ nhấn mạnh và điều chỉnh theo thị trường: xác định thời điểm thị trường thay đổi và tập trung nhiều vào sự biến động trong ngắn hạn của thị trường
Ý nghĩa của phân tích kỹ thuật là xác định điểm gia nhập và thoát khỏi thị trường, xác định các yếu tố quyết định đầu tư đã thực hiện có đúng đắn hay không, xác định hình mẫu và dự đoán xu thế biến động của giá cả trong ngắn hạn và dài hạn dựa trên những dấu hiệu trong quá khứ
Trang 2619
So với thị trường chứng khoán thì thị trường vàng sẽ hội nhập nhanh hơn rất nhiều Do đó, các nhà đầu tư của Việt Nam bị thua thiệt khi gia nhập “sân chơi” vàng toàn cầu nếu chúng ta không chuẩn bị phổ biến và khuyến khích áp dụng phương pháp phân tích kỹ thuật ngay từ bây giờ [13] [31]
1.3.1.2 Các giả định
- Giá cả phản ảnh tất cả các hành động thị trường: giả định này hình thành nên những gì được xem là nền tảng của phân tích kỹ thuật Hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật đều đồng ý rằng những ảnh hưởng cơ bản của cung và cầu cùng với những yếu tố cơ bản về kinh tế của một thị trường gây ra thị trường giá lên hay thị trường giá xuống Các đồ thị tự nó không thể gây ra cho thị trường dịch chuyển tăng hay giảm Bằng cách nghiên cứu các đồ thị giá và nhiều chỉ số kỹ thuật hỗ trợ, các nhà lập đồ thị làm cho thị trường nói cho họ biết rằng thị trường đang có khả năng đi theo hướng nào nhất
- Giá cả dịch chuyển theo xu hướng dẫn đến nhận dạng các xu thế đang tồn tại Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong Phân tích kỹ thuật
do đó cần hiểu kĩ về giả định này trước khi muốn tìm hiểu sâu thêm về nó Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những xu thế này Trên thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lại những xu thế giá
có từ trước tức là mục đích của phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại của những dạng biến động của giá đã xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp Từ giả định này còn có một hệ quả là
“một xu thế giá đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó và ít khi có đảo chiều”
Hệ quả này rút ra từ định luật 1 về sự vận động của Newton, do đó nó có cách phát biểu khác như sau: "một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều” Nhìn chung tất cả những nghiên cứu nhằm tiếp cận theo các
xu thế đều nhằm để đi theo những xu thế giá hiện tại cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều
Trang 2720
- Quá khứ tự nó sẽ lặp lại do đó thị trường sẽ dịch chuyển theo xu thế có thể tiên đoán được theo các dạng mẫu Phần lớn nội dung của Phân tích kỹ thuật và việc nghiên cứu biến động thị trường đều phải nhằm vào nghiên cứu tâm lý con người Chẳng hạn như những mô hình giá, những mô hình này đã được xác định và chứng minh từ hơn 100 năm nay, chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá Những bức tranh này chỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá Việc áp dụng những mô hình này đã phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫn tiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi
Như thế giả định này có thể được phát biểu là: “Chìa khóa để nắm bắt tương lai
nằm trong việc nghiên cứu quá khứ” hay “tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ”
[13, tr.4-7]
1.3.2 Các lý thuyết cơ bản của phân tích kỹ thuật
1.3.2.1 Lý thuyết Dow
Lý thuyết Dow là cơ sở đầu tiên cho mọi nghiên cứu kĩ thuật trên thị trường,
nó là lý thuyết lâu đời nhất và cũng là phương pháp được biết đến nhiều nhất về việc xác định các xu hướng chính trên thị trường chứng khoán Mục đích của lý thuyết Dow là xác định những thay đổi trong sự dịch chuyển cơ bản của thị trường Một khi xu hướng được xác lập thì xu hướng này được giả định sẽ tồn tại cho đến khi nó đảo ngược xu hướng xảy ra Lý thuyết Dow liên quan đến phương hướng của một xu hướng và nó không có giá trị dự báo đối với khoảng thời gian hay phạm vi sau cùng của xu hướng Cơ sở để xây dựng cũng như đối tượng nghiên cứu của lý thuyết chính là những biến động của bản thân thị trường (thể hiện trong chỉ số trung bình của thị trường) và không hề dựa trên cùng cơ sở của Phân tích cơ sở [13, tr29]
Sáu nguyên lý cơ bản của lý thuyết Dow:
Một là, chỉ số bình quân thị trường phản ánh tất cả các yếu tố tác động lên thị trường
Hai là, Có 3 loại xu hướng của thị trường:
Trang 2821
- Sự dịch chuyển chính (xu hướng cấp 1): là sự dịch chuyển quan trọng nhất là
xu hướng chính và nói chung sự dịch chuyển này được biết đến như là thị trường đầu cơ giá lên hoặc thị trường đầu cơ giá xuống Những sự dịch chuyển này kéo dài
từ ít hơn một năm đến vài năm
- Những phản ứng thứ cấp (xu hướng cấp 2): phản ứng thứ cấp hay trung gian được định nghĩa như là “một sự sụt giảm quan trọng trong một thị trường đầu cơ giá lên hoặc một sự tăng giá quan trọng trong một thị trường đầu cơ giá xuống, thường kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng (thường là 3 tháng), trong suốt chu kỳ này, dự dịch chuyển nhìn chung thoái lùi từ 33 tới 66% mức thay đổi giá từ điểm kết thúc của phản ứng thứ cấp có trước Đôi khi một phản ứng thứ cấp có thể thoái lùi toàn
bộ sự dịch chuyển trước đó, nhưng thỉnh thoảng sự dịch chuyển giảm trong khoảng 1/3 đến 2/3, thông thường là mức 50% Vấn đề khó khăn nhất đối với những người theo lý thuyết Dow là làm sao có thể phân biệt một cách chính xác “điểm đáy” đầu tiên của xu hướng mới với sự dịch chuyển thứ cấp trong xu hướng đang tồn tại
- Những dao động nhỏ (xu hướng cấp 3): sự dịch chuyển kéo dài từ khoảng vài giờ tới không quá 3 tuần Nó chỉ quan trọng trong việc hình thành nên một phần của những sự dịch chuyển chính cũng như sự dịch chuyển thứ cấp, nó không có giá trị dự báo đối với các nhà đầu tư dài hạn
Ba là, xu hướng giá có 3 giai đoạn: giá lên (tích luỹ, đại chúng tham gia, phân phối), giá xuống (phân phối, hoảng loạn và bán bắt buộc), rập rình giá lên xuống
Bốn là, các mối quan hệ giá và khối lượng là nền tảng cơ bản
Năm là, biến động giá xác định xu hướng dịch chuyển
Sáu là, chỉ số giá phải được xác nhận: khuynh hướng tăng giảm chung cho toàn thị trường [22, tr 53]
1.3.2.2 Lý thuyết về chu kỳ thị trường
Lý thuyết cho rằng thị trường có những xu hướng, có xu hướng chính, xu hướng hiện tại và xu hướng phụ với mức độ dài hạn và ngắn hạn khác nhau ứng với từng xu hướng Và vì có những xu hướng khác nhau như vậy nên thị trường sẽ
Trang 2922
thường xuất hiện trường hợp đảo chiều xu hướng (trend reversal) và vì vậy hình thành nên đỉnh và đáy của các đồ thị giá Nhiệm vụ của nhà phân tích kỹ thuật là phải dự đoán được khi nào xu hướng thị trường đảo chiều, đỉnh và đáy ở đâu [21]
1.3.2.3 Lý thuyết thị trường tài chính và chu kỳ kinh doanh
Các nhà đầu tư của thị trường tài chính sẽ có những phản ứng tâm lý khác nhau ứng với các thông tin cơ bản về nền kinh tế đồng thời bản thân họ cũng có những kỳ vọng về triển vọng của nền kinh tế Vì vậy, nhà đầu tư trên thị trường tài chính đặc biệt quan tâm đến chu kỳ kinh doanh, nhất là giai đoạn mà nền kinh tế không ở trong tình trạng ổn định hoặc cân bằng, vì ở những thời điểm đó họ mới có thể tìm kiếm được lợi nhuận từ giao dịch một cách nhanh chóng Khi họ nhận thấy nền kinh tế bắt đầu chuyển hướng và từ bỏ một trạng thái này và có xu hướng tiến trở về trạng thái cân bằng (theo lý thuyết này thì nền kinh tế biến động quanh trạng thái cân bằng), họ sẽ có những quyết định mua bán tương ứng ngay lập tức Nói cách khác, lý thuyết này chỉ ra rằng trên thị trường có những thời điểm quan trọng
mà các nhà đầu tư cần xác định để kiếm lời [21]
1.3.3 Nội dung chính của phân tích kỹ thuật
1.3.3.1 Đồ thị trong phân tích kỹ thuật
Đồ thị trong phân tích kỹ thuật là sự biểu diễn bằng đồ thị của giá tài sản theo thời gian
Cấu trúc của đồ thị gồm: trục thời gian: ngày, tuần, tháng, quí, năm, trục giá: biểu diễn dạng tuyến tính (số học) theo giá trị tuyệt đối của giá, biểu diễn dạng loga theo tỷ lệ phần trăm của giá
Các dạng đồ thị phổ biến: Đồ thị tuyến (Line chart), đồ thị thanh (bar char),
đồ thị cây nến Nhật Bản hay biểu đồ giá đỡ (candlestick chart)
Biểu đồ tuyến: vẽ từ một đường từ một giá đóng cửa này đến giá đóng cửa
kế tiếp Khi nối lại với nhau thành một đường, nó cho thấy sự chuyển động tổng quát giá cả trong một khoảng thời gian nhất định [8, tr.69]
Một biểu đồ thanh cũng hiển thị các giá đóng, trong khi đó đồng thời hiển thị các giá mở (opening price) cũng như giá cao (high price) và giá thấp (low price)
Trang 3023
Gốc của thanh đứng chỉ giá trao đổi thấp nhất tại thời điểm đó, trong khi ngọn của thanh chỉ giá cao nhất được trả Vì vậy, thanh đứng chỉ khoảng giá Nhánh ngang bên trái thanh đứng là giá mở, và nhánh ngang bên phải là giá đóng [8, tr.69-70]
Biểu đồ thanh cũng được gọi là biểu đồ “OHLC” (Open, High, Low, Close)
bởi vì nó chỉ ra giá mở, giá cao, giá thấp và giá đóng
Hình 1.4 Biểu đồ thanh
Candlestick Charts (Biểu đồ hình nến): biểu đồ hình nến (hay còn gọi là
giá đỡ) hiển thị cùng thông tin như một biểu đồ thanh, nhưng theo một định dạng đồ họa đẹp hơn Các thanh giá đỡ vẫn chỉ khoảng giá cao đến giá thấp bằng một đường đứng Tuy nhiên, trong biểu đồ giá đỡ, một hình chữ nhật ở giữa chỉ khoảng giữa giá mở và giá đóng Theo thông tục, nếu hình chữ nhật được làm đầy hoặc có màu thì giá đóng thấp hơn giá mở
Trong hình 1.4, màu đen là được làm đầy Đối với hình chữ nhật đen, đỉnh của chữ nhật là giá mở và đáy là giá đóng Nếu giá đóng cao hơn giá mở thì chữ nhật sẽ trắng hoặc không màu [8, tr.71-73]
Hình 1.5 Biểu đồ hình nến (giá đỡ)
Trang 3124
1.3.3.2 Xu thế, đường xu thế và kênh xu thế
Xu thế: Khái niệm xu thế đã được giới thiệu kĩ hơn trong phần Lý thuyết
Dow Xu thế gồm có cả xu thế giá tăng và xu thế giá giảm Xu thế giá tăng gồm liên tiếp những đỉnh giá cao dần và đáy giá cao dần (đỉnh trước cao hơn đỉnh sau và đáy trước cao hơn đáy sau) Một xu thế giá tăng sẽ được coi là vẫn duy trì cho đến khi xuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước nó Ngược lại xu thế giá giảm cũng sẽ được coi là vẫn đang tiếp diễn cho đến khi xuất hiện một đỉnh mới cao hơn đỉnh trước nó [32]
Đường xu thế: Xu thế giá tăng và xu thế giá giảm cũng được nghiên cứu
dưới dạng các đường xu thế Với xu thế giá tăng ta có đường xu thế giá tăng, đây là đường nối các điểm đáy cao dần lên và đường xu thế giảm là đường nối các đỉnh thấp dần Đường xu thế có thể kéo dài thậm chí nhiều năm Qui trình vẽ một đường
xu thế khá đơn giản nhưng cũng rất dễ nhầm Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về sự xuất hiện một xu thế giá Khi muốn vẽ một xu thế giá tăng ta phải có ít nhất hai điểm đáy mà đáy sau cao hơn đáy trước Tất nhiên điều kiện cần
và đủ để có thể vẽ được một đường thẳng là phải có hai điểm, tuy nhiên người ta thường đợi cho đến khi xuất hiện một đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xu thế đi qua cả 3 đáy (một cách tương đối) Điều này có nghĩa là đường xu thế có thể không đi qua đáy thứ ba mà chỉ đi sát, nhìn chung như thế là đạt yêu cầu Nhưng một đường xu thế đi qua cả đáy bao giờ cũng được coi là một đường xu thế chính xác và có độ tin cậy cao (hình 1.5) [32]
Hình 1.6 Đường xu thế
Khi một đường xu thế đã được xác nhận về độ chính xác thì nó sẽ trở nên rất hữu ích bởi tính chính xác ấy đảm bảo chắc chắn hướng chuyển động ổn định của giá Với xu thế giá tăng, sau mỗi đợt tăng biến động điều chỉnh xuất hiện sẽ kéo giá xuống sát hoặc đến đúng đường xu thế nhưng sẽ không xuống thấp hơn nếu xu thế
Trang 3225
thị trường vẫn đang ổn định Đường xu thế lúc này là biên thấp nhất của dao động giá Tương tự, với thị trường đang có xu thế giá giảm thì đường xu thế sẽ là biên cao nhất cho mọi dao động giá Như thế, các đường xu thế chính xác của thị trường
sẽ là các biên dao động cơ sở để xác định mức giá mua và bán tối đa và tối thiểu hợp lý
Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu thế giảm hoặc xuống dưới đường xu thế giá tăng thì đây là dấu hiệu, có thể nói là sớm nhất, cho sự thay đổi trong xu thế thị trường
Kênh: Kênh là khoảng giao động của giá, nếu giá sẽ dao động trong một dải
thì dải đó gọi là kênh Dải dao động đó được xác định bởi hai đường biên là đường
xu thế và đường kênh (channel line), hai đường này song song với nhau (hình 1.6)
Hình 1.7 Kênh
Sau khi đã xác định được đường xu thế như trên, giả sử với xu thế giá tăng,
ta vẽ đường kênh là một đường song song với đường xu thế và đi qua đỉnh giá rõ nhất đầu tiên Nếu ở lần tăng giá tiếp theo giá tăng đến gần hoặc chạm vào đường kênh rồi lại giảm xuống đến gần đường xu thế thì khả năng có thể tồn tại một kênh dao động của giá Với xu thế giá giảm việc vẽ và xác định kênh là hoàn toàn tương
tự, tất nhiên là theo hướng ngược lại
Mỗi lần giá chạm vào hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại xuống đến đường xu thế là một lần kênh được kiểm tra thành công Kênh tồn tại càng lâu với càng nhiều lần thử thành công thì vai trò cũng như độ tin cậy của nó càng lớn Kênh
có thể sử dụng cho kiếm lời trong ngắn hạn và thậm chí một số nhà đầu tư táo bạo còn sử dụng đường kênh để tiến hành những giao dịch ngược hướng với xu thế thị
Trang 3326
trường nhằm tìm kiếm những khoản lợi lớn hơn cho dù giao dịch ngược hướng thị trường có thể là một chiến thuật nguy hiểm và phải trả giá đắt
Khi chuyển động của giá trên thị trường phá vỡ đường xu thế thì có thể gây
ra sự đảo chiều của xu thế thị trường, nhưng nếu đường kênh bị chuyển động của giá phá vỡ (khi giá vượt ra ngoài đường kênh) thì tác động lại hoàn toàn ngược lại: đây là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnh của xu thế hiện tại, thậm chí một số nhà đầu tư tin tưởng rằng việc giá chuyển động làm mất đi đường kênh sẽ xác nhận cho một xu thế ổn định trong thời gian dài và là cơ hội cho những nhà đầu tư thực hiện những hợp đồng dài hạn
Ngược lại, khi giá không lên được đến đường kênh mà quay ngược trở lại quá sớm thì đây lại là dấu hiệu dự báo sớm sự suy giảm của xu thế hiện tại và là dấu hiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ đường xu thế
Nếu chuyển động của giá vượt qua đường kênh một khoảng lớn thì đây là dấu hiệu cho thấy xu thế lên giá đang mạnh lên, thường ta sẽ phải vẽ một đường xu thế mới dốc hơn từ điểm đáy cuối cùng song song với đường kênh mới Thực tế cho thấy đường xu thế mới này hoạt động tốt hơn đường cũ (hình 1.8)
Trang 3427
Hình 1.9 Kênh mới
Nếu giá không đạt được đến đường kênh và chuyển động phá vỡ đường xu thế thì điều này chỉ ra rằng xu thế thị trường đổi chiều thành xu thế giá giảm Hai đỉnh mới xuất hiện (đỉnh 5 và 7) (hình 1.9) sẽ là cơ sở để vẽ đường xu thế giá giảm, tương tự ta sẽ vẽ đường kênh song song đường xu thế và đi qua đáy 4 Chú ý là ở đây có sự đổi vai trò đường xu thế ban đầu trở thành đường kênh và ngược lại
Hình 1.10 Kênh (xu thế giảm)
Ngoài ra kênh và các đường kênh còn mang một ý nghĩa khác: Khi giá chuyển động phá vỡ xu thế hiện tại - xuất hiện „breakout‟ (phá vỡ) từ kênh hiện tại, giá thường sẽ chuyển động một khoảng bằng với độ rộng của kênh đó
Như thế, để xác định điểm dừng của chuyển động này ta có thể tính tương đối chính xác bằng cách đo độ rộng của kênh vừa bị phá vỡ và dự kiến điểm dừng
từ điểm giá vượt ra ngoài kênh (Tuy nhiên cần luôn luôn lưu ý rằng trong hai đường biên của kênh thì đường xu thế luôn có vai trò quan trọng và đáng tin cậy hơn, đường kênh chỉ là một công cụ kĩ thuật xuất phát từ đường xu thế) [32][31]
Trang 3528
1.3.3.3 Hỗ trợ và kháng cự
Việc nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng cự là một trong những vấn đề khá quan trọng đối với Phân tích kỹ thuật Nó cho phép người nghiên cứu có thêm những cơ sở mới trong việc mua hay bán, trong dự đoán các biến động tiềm năng, trong việc chỉ ra những thời điểm mà thị trường có thể gây ra rắc rối cho nhà đầu tư
Hình 1.11 Mức kháng cự và hỗ trợ
Mức hỗ trợ thường được dùng khá thông dụng Mức hỗ trợ là việc mua thực
tế hay khả năng mua với khối lượng đủ để làm ngưng lại xu thế giảm của giá trong một thời kỳ đáng kể (tương đối dài) Mức kháng cự lại ngược lại với mức hỗ trợ: đó
là việc bán, trong thực tế hay tiềm năng, một khối lượng đủ để thoả mãn tất cả các mức chào mua, do đó, làm giá ngừng không tăng nữa trong một khoảng thời gian nhất định Như thế mức kháng cự và hỗ trợ là gần giống theo thứ tự với khối lượng cầu và khối lượng cung Mức hỗ trợ là mức giá ở đó mức cầu đủ để, ít nhất là, làm dừng xu thế giảm giá của thị trường và cũng có thể đổi chiều xu thế đó, tức là làm
xu thế giá đi xuống quay ngược đi lên Từ đó có định nghĩa về mức kháng cự, đó là mức giá mà ở đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng nữa và có thể chuyển động ngược lại đi xuống Theo lý thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhất định Nhưng khoản hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu còn khoảng kháng cự thể hiện sự tập trung của cung Như vậy với một hình mẫu giá nhất định, chẳng hạn xét với hình mẫu dạng hình chữ nhật (mô hình này phản ánh giai đoạn thị trường gồm rất nhiều những dao động nhỏ của giá theo hướng ngang đồ thị chứ không hướng lên hay hướng xuống rõ rệt, hai đường nối các đỉnh và các đáy của thị trường trong giai đoạn này gần như song song, không cần thiết phải song song 100% nhưng độ lệch phải rất nhỏ, hay có thể nói là một dạng của khung giao dịch), đường
Trang 36Cơ sở của những dự đoán này cũng là những dữ liệu cơ bản hình thành nên
lý thuyết về hỗ trợ và kháng cự, đó là khi giá trị giao dịch có xu hướng bị tập trung tại một số mức giá có khối lượng các cổ phiếu được giao dịch lớn Điều đáng chú ý
là tại bất kì mức giá nào xuất hiện mức khối lượng giao dịch lớn thường đều trở thành điểm đảo chiều đối với xu thế hiện tại của thị trường và mọi điểm đảo chiều đều có xu hướng lặp đi lặp lại thường xuyên và hoàn toàn mang tính tự nhiên Có một thực tế quan trọng mà nhiều khi một số người quan sát và phân tích biểu đồ một cách ngẫu nhiên không nhận ra đó là: những mức giá đó đang dần dần chuyển vai trò từ hỗ trợ thành kháng cự và ngược lại từ kháng cự thành hỗ trợ Nếu như biến động của giá vượt qua một đỉnh giá đã được hình thành trước đó thì đỉnh này
sẽ đóng vai trò là khoảng đáy của xu thế giảm giá (điều chỉnh) sẽ xuất hiện sau xu thế tăng hiện tại và một đáy sau khi đã bị giá vượt xuống dưới sẽ trở thành khoảng đỉnh của xu thế tăng sẽ xuất hiện ngay sau đó [13][32]
Trang 3730
Hình 1.12 Sóng Elliot
Sự thay đổi của giá cả sẽ tạo ra những cơn sóng, trong đó cơn sóng cơ bản sẽ
có 5 cơn sóng “chủ‟ và 3 cơn sóng điều chỉnh Trong mỗi một con sóng như vậy lại
có những con sóng nhỏ và cũng tuân theo qui luật của lý thuyết Elliot Một đợt sóng hoàn chỉnh sẽ có 89 đợt sóng và đợt sóng điều chỉnh sẽ có 55 sóng
Sóng chủ 1: tích lũy xuất phát từ thị trường suy thoái và còn yếu, rất khó nhận ra sóng số 1 này, sóng chủ 2: phân phối điều chỉnh lại sóng 1 tuy nhiên sóng 2 này thực sự là cuộc kiểm tra về sự hồi phục của thị trường nếu điểm thấp nhất của sóng 2 cao hơn điểm xuất phát của sóng 1, sóng chủ 3.: vượt qua đợt điều chỉnh tại sóng 2, tâm lý nhà đầu tư phấn khích và tin tưởng thị trường hơn Điểm cao nhất của sóng 2 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 theo tỷ lệ 1,618/1, sóng chủ 4: điều chỉnh và phân phối lại sóng 3 do nhà đầu tư vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của thị trường suy thoái, sóng chủ 5: các nhà đầu tư thực sự phấn khích thoát hẳn ảnh hưởng của đợt suy thoái Tuy nhiên đợt sóng đang đến lúc cao trào, việc tham gia vào thị trường lúc này thực sự nguy hiểm
Sóng điều chỉnh A Thị trường đã bắt đầu điều chỉnh đi vào suy thoái, sóng điều chỉnh B: là sự kiểm tra lại tín hiệu về khả năng suy thoái Giá tăng trở lại nhưng đỉnh không vượt qua đỉnh của sóng 5, tuy nhiên khối lượng giao dịch thấp và giá có thể đi ngang, sóng điều chỉnh C: Con gấu đã thực sự trưởng thành lấn át bò
Trang 38Hơn nữa cần phải tránh máy móc và suy rộng hơn khi áp dụng sóng Elliot cũng như ngày phân phối Hai lý thuyết này không khẳng định tất yếu đến đợt sóng thứ 5 hay sau ba ngày phân phối thì giá sẽ đi theo chiều hướng giảm mà cần phải hiểu là: khi đến đợt sóng thứ 5 hoặc sau 3 đợt phân phối thì xác suất giá giảm sẽ cao hơn (đến 70%) và sẽ là thiếu khôn ngoan nếu tăng cường mua vào thời điểm này thay vì lên kế hoạch sẵn sàng bán ra Thực tế ngày nay đã có nhiều đợt sóng elliot kéo dài hơn 5 đợt sóng hoặc hơn 3 ngày phân phối [13, tr.309-332][22]
1.3.3.5 Các hình mẫu kỹ thuật
Hình mẫu kỹ thuật là hình dạng rõ rệt của đồ thị giá, cho biết tín hiệu mua bán hoặc sự biến động giá trong tương lai Hình mẫu kỹ thuật gồm: hình mẫu đảo chiều (reversal): cho biết tín hiệu đảo chiều xu thế trước đó và hình mẫu duy trì (continuation/consolidation): cho biết tín hiệu tiếp tục duy trì xu thế trước đó
Hình mẫu kỹ thuật đảo chiều xu thế thị trường gồm: hình hai đáy, hình hai đỉnh, hình nêm, hình đầu-vai, hình đáy vòng cung, hình ba đáy, hình ba đỉnh
Hình mẫu kỹ thuật củng cố: thường xuất hiện ở thời kỳ giá biến động ít theo biên độ nhất định gồm: hình tam giác, hình cốc và chuôi, hình lá cờ và hình cờ đuôi nheo, hình chữ nhật, hình nêm [13, tr.157-188]
1.3.3.6 Các chỉ báo kỹ thuật
- Khối lượng giao dịch: mục tiêu của phân tích khối lượng là:
+ Xác định xu hướng hiện tại: nếu thị trường đang có xu hướng lên hoặc xuống thì xu hướng này phải được xác nhận bởi sự gia tăng khối lượng giao dịch
Sự hồi lại của một xu hướng thường đi kèm với sự suy giảm khối lượng
Trang 3932
+ Cảnh báo sự suy yếu của xu hướng hiện tại: nếu xu hướng hiện tại được tiếp diễn với sự giảm gần về khối lượng thì đây được xem là sự cảnh báo xu hướng đang yếu dần Điều này đặc biệt đúng khi thị trường đạt đến đỉnh cao mới hay chạm đáy mới với một khối lượng nhỏ Trong trường hợp này, việc chạm đỉnh/đáy mới của thị trường thường được xem là một xu hướng không đáng tin cậy
+ Xác định sự bứt phá khỏi biên độ dao động giá hiện tại: trong thị trường không rõ xu hướng và giá đang dao động trong một biên độ nhất định, một sự bứt phá của giá phải được đi kèm với một khối lượng giao dịch lớn Ngược lại, một sự biến động mạnh về giá nhưng với khối lượng giao dịch nhỏ có thể xem là một xu hướng không bền vững và cần xem xét thêm
Phân tích đồ thị khối lượng:
Hình 1.13 Đồ thị khối lƣợng
Điểm A: khối lượng nhỏ nằm dưới đường trung bình khối lượng thể hiện
xu hướng mới đã thất bại và giá còn chạm đáy mới Điểm B: thể hiện sự tăng giá với một khối lượng gia tăng theo, đây được xem là một sự tăng giá vững chắc Điểm C: khối lượng giao dịch lớn kèm theo sự tăng giá mạnh cho thấy thị trường có nhiều khả năng để đạt tới đỉnh cao mới
- Đường trung bình động (Moving Average): tình bằng cách cộng dồn dãy các giá trị trong một khoảng thời gian gồm một số ngày nhất định và sau đó lấy tổng số chia cho số ngày: đường này cho ta tín hiệu mua và bán, tín hiệu mua nếu thị trường
Trang 4033
đóng cửa ở giá nằm trên đường trung bình còn nếu thị trường đóng cửa dưới đường trung bình cho thấy một tín hiện bán Hình dưới đây cho thấy những điểm nằm trên đường trung bình là điểm mua và dưới đường trung bình là điểm bán [32]
Hình 1.14 Đường trung bình động
- Đường MACD: trung bình hội tụ và phân kỳ: MACD dùng đường trung bình vốn là một chỉ dẫn chậm kết hợp với yếu tố theo đường xu hướng Những chỉ dẫn chậm này được chuyển đổi thành các đường đo động lượng bằng cách lấy hiệu
2 đường trung bình dài và ngắn, kết quả là thành một đường mà dao động lên xuống xung quanh giá trị 0, không có bất kỳ giới hạn trên hay dưới Đường MACD dùng
để nhận biết tín hiệu mua, bán khi 2 đường MACD và đường tín hiệu cắt nhau, MACD cắt đường tín hiệu từ dưới lên: tín hiệu mua, cắt từ trên xuống: tín hiệu bán MACD xác định xu hướng giá: nếu cả 2 đường MACD ở trên (dưới) đường 0 và đường MACD ở trên (dưới) đường tín hiệu, thì xu hướng được xác định là xu hướng tăng (giảm) MACD xác định sự phân kỳ của xu hướng tăng/giảm: khi có sự phân kỳ của đường MACD và đường xu hướng giá các định rằng xu hướng tăng hay giảm đang yếu đi Khi giá đang tăng cao hơn nhưng các mức cao của MACD đang theo xu hướng giảm, điều này cho thấy xu hướng giảm đang yếu đi Trong khi
đó, xu hướng giảm yếu đi được báo hiệu khi xu hướng của giá đang thấp đi nhưng khi những mức thấp của đường MACD đang cao hơn [31][13][22]
Các điểm mua Các điểm bán