1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kế hoạch BDTX 2017 - 2018

87 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ 2: Dạy bài:Giải bài Toán có lời văn GV thể hiện trên màn hình cho HS đọc nội dung bài toán quan sát hình ảnh minh hoạ, nêu tóm tắt kết hợp với phươngpháp hỏi đáp, thực hành để hình

Trang 1

CÂU HỎI THU HOẠCH BDTX NĂM HỌC 2017-2018

Đồng chí hãy nêu thực trạngkỹ năng, nghiệp vụ công tác giáo dục truyền thống, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hiện nay và giải pháp trong thời gian tới.

Đồng chí hãy nêu những ưu, nhược điểm của dạy học theo PP Bàn tay

nặn bột (đối với GV văn hóa), dạy học theo PP mới đối với môn mình dạy (đối với các GV bộ môn) và dạy học tổ chức cho học sinh trải nghiệm sáng tạo.

III.NỘI DUNG3

TH 8:

Theo đồng chí, thư viện trưởng học có vai trò như thế nào trong quá trình

dạy và học trong nhà truởng?Làm thế nào để học sinh cùng tham gia các hoạt động thư viện truởng học?

TH 13, 14

1. Đồng chí hãy nêuyêu cầu của một kế hoạch dạy học theo hướng dạy học

tích cực Cách lập kế hoạch dạy học theo hướng đổi mới phương pháp này có gì mới so với cách lập kế hoạch dạy học

truyền thống?

2. Hãy lập một kế hoạch dạy học theotheo hướng dạy học tích cực của môn

học mình được phân công giảng dạy trong năm học Khi thiết kế kế họach bài học cần lưu ý những gì?

Trang 2

1 MỘT SỐ BIÊN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1

“GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”

I Đặt vấn đề:

Đối với môn Toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán

mở đường cho các em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học Rồi mai đây, các em lớn lên , nhiều em trở thành vĩ nhân, trởthành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ… trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất vàđời sống ; trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi… nhng không bao giờ các em quên được những ngàyđầu tiên đến trường học đếm và tập viết 1, 2, 3 … học các phép tính cộng, trừ… Các em không quên được vì đó là kỷ niệmđẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa, những con số, những phép tính ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời

Đối với mạch kiến thức : “Giải toán có lời văn”, là một trong năm mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấptiểu học Thông qua giải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễnđạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn1

Trang 3

các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng Toán có lời văn là chiếccầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác.

II/ Biện pháp giải quyết

1) Nắm bắt nội dung chương trình

Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, “Giải bài toán có lời văn” nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắcnội dung chương trình, sách giáo khoa Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểu học, và đặc biệt là toán lớp 1 thì ai mà chả dạyđược Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy nghĩ tương tự như vậy Qua dựgiờ một số đồng chí giáo viên tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức

cũ có liên quan giáo viên nắm không thật chắc Người ta thường nói ” Biết 10 dạy 1″ chứ không thể ” Biết 1 dạy 1″ vì kếtquả thu được sẽ không còn là 1 nữa

a) Trong chương trình toán lớp Một giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên chưa thể đưa ngay “Bài toán có lời văn”.Mặc dù đến tận tuần 23, học sinh mới được chính thức học cách giải “Bài toán có lời văn” song chúng ta đã có ý ngầmchuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài “Phép cộng trong phạm vi 3 (Luyện tập) ” ở tuần 7

* Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều cócác bài tập thuộc dạng “Nhìn tranh nêu phép tính” ở đây học sinh được làm quen với việc:

- Xem tranh vẽ

- Nêu bài toán bằng lời

- Nêu câu trả lời

- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)

Ví dụ: Sau khi xem tranh vẽ ở trang 46 (SGK), học sinh tập nêu bằng lời : “Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh Hỏi cótất cả mấy quả bóng?” rồi tập nêu miệng câu trả lời : “có tất cả 3 quả bóng”, sau đó viết vào dãy năm ô trống để có phéptính :

1 + 2 = 3

* Tiếp theo đó, kể từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời, sau đó nêu cách giải và

tự điền số và phép tính thích hợp vào dãy năm ô trống ở đây không còn tranh vẽ nữa (xem bài 3b – trang 87, bài 5 – trang89)

* Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn là chuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và viếtphép tính Chính vì vậy ngay sau các bài tập “nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống” chúng ta chịu khó đặtthêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng

Trang 4

Ví dụ: Từ bức tranh “3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới” ở trang 47 – SGK, sau khi học sinh điền phép tính vào dãy

* Tiếp theo, trước khi chính thức học “Giải các bài toán có lời văn” học sinh được học bài nói về cấu tạo của một bài toán

có lời văn (gồm hai thành phần chính là những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (chưa biết) Vì khó có thể giảithích cho học sinh “Bài toán là gì?” nên mục tiêu của tiết này là chỉ giới thiệu cho các em hai phần của một bài toán:

+ Những cái đã cho (dữ kiện)

+ Và cái phải tìm (câu hỏi)

Để làm việc này sách Toán 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo là bốn đề toán: 2 đề còn thiếu dữ kiện, 1 đề còn thiếu câu hỏi, 1

đề thiếu cả dữ kiện lẫn câu hỏi (biểu thị bằng dấu …) Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán, sau đó điền số vào chỗcác dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi (còn để trống) Từ đó giáo viên giới thiệu cho các em “ Bài toán thường có haiphần” :

+ Những số đã cho

+ Số phải tìm (câu hỏi)

Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “Bài toán có lời văn”

b) * Các loại toán có lời văn trong chương trình chủ yếu là hai loại toán “Thêm – Bớt” thỉnh thoảng có biến tấu một chút:

- Bài toán “Thêm” thành bài toán gộp, chẳng hạn: “An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quảbóng?”, dạng này khá phổ biến

- Bài toán “Bớt” thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn : ” Lớp 1A có 35 bạn, trong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có baonhiêu bạn nam?”, dạng này ít gặp vì dạng này hơi khó (trước đây dạy ở lớp 2)

* Về hình thức trình bày bài giải, học sinh phải trình bày bài giải đầy đủ theo quy định thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5:

- Câu lời giải

- Phép tính giải

- Đáp số

Ví dụ: Xét bài toán “Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?”

*Học sinh lớp 1 hiện nay phải giải như sau:

Trang 5

Bài giải

5 + 4 = 9 ( con gà )Đáp số : 9 con gà

* Về số lượng bài toán trong một tiết học được rút bớt để dành thời gian cho trẻ viết câu lời giải Chẳng hạn trước đây trong

1 tiết ” Bài toán nhiều hơn” học sinh phải giải 8 bài toán (4 bài mẫu, 4 bài luyện tập) , thì bây giờ trong tiết ” Giải toán cólời văn (thêm) ” học sinh phải giải 4 bài (1 bài mẫu, 3 bài luyện tập) …

* Để lường trước về vốn từ và khả năng đọc hiểu của học sinh khi “Giải bài toán có lời văn” chương trình toán 1 đã cónhững giải pháp:

- Hạn chế dùng các vần khó và tiếng khó trong đề toán như: thuyền, quyển, Quỳnh, … tăng cường dùng các vần và tiếng dễđọc , dễ viết như : cam, gà, Lan, … trong các đề toán

- Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho học sinh chỉ cần chỉnh sửa một chút xíu thôi là được ngay câu lời giải

- Cài sẵn “cốt câu” lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tóm tắt mà viết câu lời giải

- Cho phép (thậm chí khuyến khích) học sinh tự nghĩ ra nhiều cách đặt lời giải khác nhau Chẳng hạn, với bài toán : “An có

4 quả bóng Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”; Học sinh có thể đặt lời giải theo rất nhiều cách như:+ Cả hai bạn có: ……

a) Sử dụng tranh ảnh minh hoạ SGK Toán 1:

Tất cả chúng ta đã biết tư duy của học sinh tiểu học luôn từ trực quan cụ thể đến trìu tượng hoá, “ Trăm nghe không bằngmột thấy, trăm thấy không bằng một sờ” Đặc biệt là học sinh lớp Một các em rất thích được quan sát tranh các đồ dùngminh hoạ cụ thể trong tiết dạy thì các em dễ tiếp thu bài, nhớ lâu mà không nhàm chán tạo không khí lớp học thoải máikhông mang tính áp đặt Như vậy người giáo viên phải luôn nghiên cứu bài đầu tư làm và sưu tầm đồ dùng dạy học để phục

vụ trong mỗi tiết dạy Nhưng cũng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật làm và sử dụng đồ dùng dạy học và biết khaithác triệt để tác dụng của đồ dùng và tiết dạy đạt hiệu quả cao

Trang 6

Ví dụ 1: Dạy bài Phép trừ trong phạm vi 7

Bài tập 4: Viết phép tính thích hợp: (SGK Toán 1 - trang 69).

a)

Tranh minh hoạ (SGK)

Khi hướng dẫn các em quan tranh vẽ minh hoạ để tìm hiểu bài toán Giáo viên phải quan sát kĩ tranh vẽ, nhận ra dấu hiệu vàhiểu ý đồ của tranh vẽ Trong quá trình đặt câu hỏi khai thác tranh - giáo viên phải kết hợp chỉ rõ ràng từng chi tiết và dấuhiệu của tranh thì mới đàt hiệu quả cao thành công tiết dạy

+ Có tất cả bao nhiêu quả cam?; giáo viên phải vừa hỏi vừa kết hợp chỉ tất cả số quả cam có trong tranh vẽ

+ Bạn lấy đi mấy quả ? , giáo viên vừa hỏi kết hợp chỉ vào theo hướng mũi tên và 2 quả trên tay bạn

lại

Sau đó giáo viên cho một số em nhắc lại bài toán - cả lớp nhắc lại bài toán

Trang 7

+ Bạn có tất cả bao nhiêu bóng bay ? ;giáo viên vừa hỏi vừa dùng thước chỉ vào tất cả những quả bóng bay trongtranh

+ Bị đứt dây bay đi mấy quả? ; giáo viên vừa hỏi vừa dùng thước chỉ vào những quả bóng bay bị đứt dây

+ Còn lại mấy quả ? giáo viên vừa hỏi vừa dùng thước chỉ vào những quả bóng bay còn lại

- Sau đó giáo viên cho một số em nhắc lại bài toán - cả lớp nhắc lại bài toán

Với cách hướng dẫn rõ ràng tỉ mỉ và cụ thể từng chi tiết thể hiện ở hình vẽ nêu trên sẽ giúp các em hình dung ngayđược phép tính cần viết vào ô trống là phép trừ, các em không bị nhầm lẫn với phép cộng

b) Sử dụng hình ảnh minh hoạ Toán 1 trình chiếu trên bài giảng điện tử:

Trong những năm gần đây tôi thấy việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, còn yêu cầu làm và sử dụng đồ dùng dạyhọc thường xuyên trong mỗi tiết dạy Đây là một yêu cầu vô cùng quan trọng và cần thiết ở bậc tiểu học Đặc biệt mônToán lớp Một yêu cầu sử dụng đồ dùng dạy học 100% trong các tiết dạy bài mới Qua thực tiễn dạy học rõ ràng việc sửdụng hợp lí các đồ dùng dạy học như: que tính, các bông hoa, các hình học (chữ nhật, vuông, tròn, tam giác), các con vật đểgài trên bảng phụ,…Ngày nay chúng ta còn ứng dụng CNTT vào giảng dạy, sử dụng hình ảnh động rất phong phú đa dạngnhiều màu sắc trên màn hình trong bài giảng điện tử nhằm giúp học sinh hình thành bài mới một cách dễ dàng và nhớ lâuhơn Đây là một yếu tố có tác dụng thiết thực Thế nhưng sử dụng những đồ dùng dạy học này như thế nào cho hợp lí để

Trang 8

khai thác triệt để hiệu quả của đồ dùng dạy học đạt hiệu quả tiết dạy tối ưu thì còn phụ thuộc vào người giáo viên khi sửdụng

Ví dụ 2: Dạy bài:Giải bài Toán có lời văn

GV thể hiện trên màn hình cho HS đọc nội dung bài toán quan sát hình ảnh minh hoạ, nêu tóm tắt kết hợp với phươngpháp hỏi đáp, thực hành để hình thành kiến thức mới, HS sẽ thấy lôi cuốn với những con gà được phóng to trên bảng, các

và đối chiếu lại kết quả của HS làm được bằng cách đưa lên kết quả lên màn hình để HS có thể sửa sai,…

Như vậyquá trình nhận thức của HS lớp 1 rất cần đến những phương tiện trực quan sinh động, mà sử dụng các phương tiệntrực quan để dạy học một cách thông thường thì sẽ tốn rất nhiều thời gian, công sức vì vậy thông qua CNTT để dạy toáncho HS lớp 1 là hết sức cần thiết

Tóm lại việc sử dụng đồ dùng dạy học trong môn toán lớp 1 đóng vai vô cùng quan trọng giúp học sinh giáo viên truyền thụbài giảng một cách logíc khoa học tạo không khí lớp học nhẹ nhàng, giúp học sinh nắm được kiến thức toán học một cách

Trang 9

chắc chắn và rèn kĩ năng giải toán có lời văn thành thạo, nhanh kết quả chính xác Đây là một việc hết sức cần thiết mà GVlớp 1 cần thực ngay từ đầu năm học Do đó khi giáo viên sử dụng đồ dùng và phương tiện dạy học còn phụ thuộc vào mụctiêu từng bài dạy, từng hoạt động trong bài dạy, tình hình thực tế của lớp mình mà thiết kế bài giảng cho phù hợp có thể sửdụng tranh vẽ để minh hoạ, có thể sử dụng tranh ảnh trên màn hình thông qua trình chiếu trên bài giảng điện tử mà còn đòihỏi nghệ thuật của giáo viên trong giảng dạy cũng như khi sử dụng dồ dùng dạy học phải mang tính khoa học, lời nói ngắngọn dễ hiểu, cần mềm dẻo không cứng ngắc rập khuân, thì tiết dạy mới mang lải hiệu quả cao.

Lưu ý: Khi hướng dẫn học sinh quan sát hình vẽ giáo viên nên chỉ cụ thể bên trái, bên phải, bên trên hay bên dưới hoặc dấu hiệu thể hiện trên hình vẽ ( người; con vật) đang đứng hay đang đi đến, đang đậu, đang bay đi hay bay đến,…để các em không nhầm lẫn khi viết phép tính)

3) Dạy ”Giải bài toán có lời văn” ở lớp Một.

3.1/ Quy trình ” Giải bài toán có lời văn ” thông thường qua 4 bước:

- Đọc và tìm hiểu đề bài

- Tìm đường lối giải bài toán

- Trình bày bài giải

- Kiểm tra lại bài giải

a) Đọc và tìm hiểu đề toán

Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dungbài toán Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng như ” thêm , và , tất cả, … ”hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , …” (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viêncần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài Một số giáo viên còn gạch chân quá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từchưa sát với nội dung cần tóm tắt Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn

Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại ” Bài toán cho gì? Hỏi gì?” và dựa vàocâu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt để giúp trẻngầm phân tích đề toán

Trang 10

Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi Ví dụ, với bài 3trang 118, giáo viên có thể hỏi:

- Em thấy dưới ao có mấy con vịt? (… có 5 con vịt)

- Trên bờ có mấy con vịt? ( … có 4 con vịt)

- Em có bài toán thế nào? (…)

Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa

Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, …) lên bảng từ (bảng cài, bảng

nỉ, …) để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán

* Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:

Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng

Với cách viết thẳng theo cột như: 14 quyển và 26 quả

12 quyển 33 quả

… quyển … quả

Kiểu tóm tắt như thế này khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác dụng gợi ý cho học sinh lựa chon phép tính giải

Có thể lồng “cốt câu” lời giải vào trong tóm tắt, để dựa vào đó học sinh dễ viết câu lời giải hơn Chẳng hạn, dựa vào dòngcuối của tóm tắt (A) học sinh có thể viết ngay câu lời giải là : “Cả hai bạn có:” hoặc “Số vở cả hai bạn có:” hoặc: “Cả haibạn có số vở là:” Cần lưu ý trước đây người ta thường đặt dấu? lên trước các từ như quyển, quả, … Song làm như vậy thìhơi thiếu chuẩn mực về mặt Tiếng Việt vì tất cả học sinh đều biết là dấu ? phải đặt cuối câu hỏi Nếu tóm tắt bằng sơ đồđoạn thẳng hoặc sơ đồ mẫu vật thì đặt dấu ? ở đằng trước các từ như quyển, quả ,… cũng được vì cách tóm tắt ấy khôngphải là những câu Tuy nhiên học sinh thường có thói quen cứ thấy dấu … là điền số (dấu) vào đó nên giáo viên cần lưu ýcác em là: “Riêng trong trường hợp này (trong tóm tắt ) thì dấu … thay cho từ “mấy” hoặc “bao nhiêu” ; các em sẽ phải tìm

Trang 11

cho ra số đó để ghi vào đáp số của bài giải chứ không phải để ghi vào chỗ … trong tóm tắt Nếu không thể giải thích chohọc sinh hiểu được ý trên thì chúng ta cứ quay lại lối cũ, tức là đặt dấu hỏi (?) ra đằng trước theo kiểu “Còn ? quả” cũngđược, không nên quá cứng nhắc.

Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học sinh dựa vào tóm tắt nêu đề toán Cần lưu ý dạy giải toán

là một quá trình Không nên vội vàng yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết được các câu lời giải, phép tính vàđáp số để có một bài chuẩn mực ngay từ tuần 23, 24 Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến cuốinăm (tuần 33, 34, 35) trẻ đọc và giải được bài toán là đạt yêu cầu

b) Tìm đường lối giải bài toán.

* Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm, chẳng hạn:

- Bài toán cho gì? (Nhà An có 5 con gà)

- Còn cho gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)

- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)

Giáo viên nêu tiếp: “Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm tính gì? (tính cộng) Mấy cộng mấy? (5 + 4) ; 5 + 4bằng mấy? (5 + 4 = 9); hoặc: “Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em tính thế nào? (5 + 4 = 9); hoặc: “Nhà An có tất

cả mấy con gà ?” (9) Em tính thế nào để được 9 ? (5 + 4 = 9)

Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp “9 này là 9 con gà”, nên ta viết “con gà” vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 =

9 (con gà)

Tuy nhiên cũng có những học sinh nhìn tranh ở sách giáo khoa để đếm ra kết quả mà không phải là do tính toán Trongtrường hợp này giáo viên vẫn xác nhận kết quả là đúng, song cần hỏi thêm: “Em tính thế nào?” (5 + 4 = 9) Sau đó nhấnmạnh: “Khi giải toán em phải nêu được phép tính để tìm ra đáp số (ở đây là 9) Nếu chỉ nêu đáp số thì chưa phải là giảitoán

* Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn (thậm chíkhó hơn nhiều) việc chọn phép tính và tính ra đáp số Với học sinh lớp 1, lần đầu tiên được làm quen với cách giải loại toánnày nên các em rất lúng túng Thế nào là câu lời giải, vì sao phải viết câu lời giải? Không thể giải thích cho học sinh lớp 1hiểu một cách thấu đáo nên có thể giúp học sinh bước đầu hiểu và nắm được cách làm Có thể dùng một trong các cách sau:

* Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối (mấy con gà ?) để có câu lời giải : “Nhà An có tấtcả:” hoặc thêm từ “là” để có câu lời giải : “Nhà An có tất cả là: “

* Cách 2: Đưa từ “con gà” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi” và thêm từ số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có: “Sốcon gà nhà An có tất cả là:”

* Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt, coi đó là “từ khoá” của câu lời giải rồi thêm thắt chút ít

Trang 12

Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt: “Có tất cả: … con gà ?” Học sinh viết câu lời giải: “Nhà An có tất cả:”

* Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?” để học sinh trả lời miệng: “Nhà An có tất cả 9con gà” rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải (gồm câu lời giải và phép tính):

Nhà An có tất cả:

5 + 4 = 9 (con gà)

* Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 5 + 4 = 9 (con gà), giáo viên chỉ vào 9 và hỏi: “9 con gà ở đây là số gà của nhà ai?”(là số gà nhà An có tất cả) Từ câu trả lời của học sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số gà nhà An có tất cảlà” v.v…

ở đây giáo viên cần tạo điều kiện cho các em tự nêu nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó bàn bạc để chọn câu thích hợpnhất Không nên bắt buộc trẻ nhất nhất phải viết theo một kiểu

c) Trình bày bài giải

Có thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư duy Thực tế hiện nay các em học sinh lớp 1 trình bày bàigiải còn rất hạn chế, kể cả học sinh khá giỏi Cần rèn cho học sinh nề nếp và thói quen trình bày bài giải một cách chínhxác, khoa học, sạch đẹp dù trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con hay vở, giấy kiểm tra Cần trình bày bài giải một bài toán cólời văn như sau:

Bài giảiNhà An có tất cả là:

5 + 4 = 9 ( con gà )Đáp số : 9 con gàNếu lời giải ghi: “Số gà nhà An là:” thì phép tính có thể ghi: “5 + 4 = 9 (con)” (Lời giải đã có sẵn danh từ “gà”) Tuy nhiênnếu học sinh viết quá chậm mà lại gặp phải các từ khó như “thuyền, quyển, …” thì có thể lược bớt danh từ cho nhanh

Giáo viên cần hiểu rõ lý do tại sao từ “con gà” lại được dặt trong dấu ngoặc đơn? Đúng ra thì 5 + 4 chỉ bằng 9 thôi (5 + 4 =9) chứ 5 + 4 không thể bằng 9 con gà được Do đó, nếu viết: “5 + 4 = 9 con gà” là sai Nói cách khác , nếu vẫn muốn đượckết quả là 9 con gà thì ta phải viết như sau mới đúng: “5 con gà + 4 con gà = 9 con gà” Song cách viết phép tính với cácdanh số đầy đủ như vậy khá phiền phức và dài dòng, gây khó khăn và tốn nhiều thời gian đối với học sinh lớp 1 Ngoài rahọc sinh cũng hay viết thiếu và sai như sau:

Trang 13

Song vì các đơn vị cũng đóng vai trò rất quan trọng trong các phép tính giải nên vẫn phải tìm cách để đưa chúng vào phéptính Do đó, ta mới ghi thêm đơn vị “con gà” ở trong dấu ngoặc đơn để chú thích cho số 9 đó Có thể hiểu rằng chữ “con gà”viết trong dấu ngoặc ở đây chỉ có một sự ràng buộc về mặt ngữ nghĩa với số 9, chứ không có sự ràng buộc chặt chẽ về toánhọc với số 9 Do đó, nên hiểu: 5 + 4 = 9 (con gà) là cách viết của một câu văn hoàn chỉnh như sau: “5 + 4 = 9, ở đây 9 là 9con gà” Như vậy cách viết 5 + 4 = 9 (con gà) là một cách viết phù hợp Trong đáp số của bài giải toán thì không có phéptính nên ta cứ việc ghi: “Đáp số : 9 con gà” mà không cần ngoặc đơn.

d) Kiểm tra lại bài giải

Học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp Một thường có thói quen khi làm bài xong không hay xem, kiểm tra lại bài đãlàm Giáo viên cần giúp học sinh xây dựng thói quen học tập này Cần kiểm tra về lời giải, về phép tính, về đáp số hoặc tìmcách giải hoặc câu trả lời khác

3.2/ Biện pháp khắc sâu loại “Bài toán có lời văn”

Ngoài việc dạy cho học sinh hiểu và giải tốt “Bài toán có lời văn” giáo viên cần giúp các em hiểu chắc, hiểu sâu loại toánnày ở mỗi bài, mỗi tiết về “Giải toán có lời văn” giáo viên cần phát huy tư duy, trí tuệ, phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh bằng việc hướng cho học sinh tự tóm tắt đề toán, tự đặt đề toán theo dữ kiện đã cho, tự đặt đề toán theo tóm tắt chotrước, giải toán từ tóm tắt, nhìn tranh vẽ, sơ đồ viết tiếp nội dung đề toán vào chỗ chấm (…), đặt câu hỏi cho bài toán

Ví dụ 1: Nhìn tranh vẽ, viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán, rồi giải bài toán đó:

Bài toán: Dưới ao có … con vịt, có thêm … con vịt nữa chạy xuống Hỏi ………?

Ví dụ 2: Giải bài toán theo tóm tắt sau:

Có : 7 hình tròn

Tô màu : 3 hình tròn

Không tô màu : … hình tròn?

3.3/ Một số phương pháp thường sử dụng trong dạy: ”Giải bài toán có lời văn” ở lớp Một

a) Phương pháp trực quan

Khi dạy “Giải bài toán có lời văn” cho học sinh lớp 1 thường sử dụng phương pháp trực quan giúp học sinh tìm hiểu đề bài,tóm tắt đề toán thông qua việc sử dụng tranh ảnh, vật mẫu, sơ đồ … giúp học sinh dễ hiểu đề bài hơn từ đó tìm ra đường lốigiải một cách thuận lợi Đặc biệt trong sách giáo khoa Toán 1 có hai loại tranh vẽ giúp học sinh “Giải toán có lời văn” đó là:một loại gợi ra phép cộng, một loại gợi ra phép trừ Như vậy chỉ cần nhìn vào tranh vẽ học sinh đã định ra được cách giảibài toán Trong những trường hợp này bắt buộc giáo viên phải sử dụng tranh vẽ và phương pháp trực quan

b) Phương pháp hỏi đáp (đàm thoại)

Sử dụng khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích đề bài, tìm đường lối giải, chữa bài làm của học sinh …

Trang 14

c) Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.

Với mục đích giúp các em khắc sâu những kiến thức về “Giải toán có lời văn” trong quá trình giảng dạy giáo viên nên ápdụng phương pháp dạy học này

ở mỗi dạng toán “thêm, bớt” giáo viên có thể biến tấu để có những bài toán có vấn đề Chẳng hạn bài toán “bớt” trở thànhbài toán tìm số hạng, bài toán “thêm” trở thành bài toán tìm số trừ

Giáo viên có thể tạo tình huống có vấn đề bằng cách cho sẵn lời giải, học sinh tự đặt phép tính hoặc cho sẵn phép tính họcsinh đặt câu lời giải Cho hình vẽ học sinh đặt lời bài toán và giải

Với những tình huống khó có thể phối hợp với các phương pháp khác để giúp học sinh thuận lợi cho việc làm bài như :Phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp kiến tạo …

Chuyên đề: Ngày 13 tháng 12

Chương trình giáo dục phổ thông (gọi tắt là chương trình) mới theo Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đang được gửi xin góp ý rộng rãi Trong Chương trình mới có 2 loại hoạt động giáo dục chính là: Dạy học các môn và trải nghiệm sáng tạo

Trang 15

1 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam

Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục,được thực hiện thông qua những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục

a) Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành của Việt Nam, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) Khái niệm hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) dùng để chỉ các hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ dạy học các môn học và được sử dụng cùng với khái niệm hoạt động dạy học các môn học Như vậy, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp)

Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) gồm:

- Hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh)

- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục

- Hoạt động giáo dục hướng nghiệp (cấp Trung học cơ sở và cấp Trung học phổ thông) giúp học sinh tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp

- Hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp Trung học phổ thông) giúp học sinh hiểu được một số kiến thức cơ bản về công

cụ, kĩ thuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành vàphát triển kĩ năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn; có một số kĩ năng sử dụng công cụ, thực hành kĩ thuật theo quy trình công nghệ để lảm ra sản phẩm đơn giản

b) Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học, chuyên đề học tập (gọi chung là môn học) và hoạt động trải nghiệm sáng tạo; hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt độngtrải nghiệm sáng tạo

So sánh môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình mới được thể hiện trong bảng sau:

Trang 16

Đặc trưng Môn học Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Mục đích chính Hình thành và phát triển hệ thống tri

thức khoa học, năng lực nhận thức và hành động của học sinh

Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần

có ở con người trong xã hội hiện đại

- Được thiết kế thành các chủ điểm mang tính mở, không yêu cầu mối liên hệ chặt chẽ giữa các chủ điểm

Hình thức tổ chức

- Đa dạng, có quy trình chặt chẽ, hạn chế về không gian, thời gian, quy mô

và đối tượng tham gia

- Học sinh ít cơ hội trải nghiệm

- Người chỉ đạo, tổ chức họat động học tập chủ yểu là giáo viên

- Đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng

- Học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm

- Có nhiều lực lượng tham gia chỉ đạo, tổ chức các hoạt động trải nghiệm với các mức độ khác nhau (giáo viên, phụ huynh,nhà hoạt động xã hội, chính quyền, doanh nghiệp, )

Trang 17

- Theo chuẩn chung

- Thường đánh giá kết quả đạt được bằng điểm số

nghiệm

- Theo những yêu cầu riêng, mang tính cá biệt hóa, phân hóa

- Thường đánh giá kết quả đạt được bằng nhận xét

2 Trải nghiệm sáng tạo”: môn độc lập được không?

Trong tọa đàm phản biện dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, TS Phạm Đỗ Nhật Tiến (nguyên chuyên gia giáo dục của Bộ GD-ĐT) cho rằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo đưa vào chương trình với mục đích chính là chuyển hóa kiến thức, kỹ năng, thái độ thành năng lực Vì vậy đó không thể là môn học riêng biệt mà phải gắn liền với từng môn học, làmột phần của giáo dục môn học

Trang 18

trải nghiệm sáng tạo được ban soạn thảo chương trình thiết kế như một môn học độc lập, với các yêu cầu đánh giá học sinh như các môn học khác Đặc biệt là đề xuất của ban soạn thảo trong việc lấy kết quả hoạt động trải nghiệm sáng tạo là căn cứ

để tuyển chọn, xét tuyển vào các trường sau khi hoàn thành chương trình THPT

Giải thích về điều này, PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa - thành viên ban soạn thảo chương trình, trực tiếp nghiên cứu, soạn thảo nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo - giải thích: Trong chương trình hiện hành có hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức, kỹ năng thông qua các hoạt động rèn luyện, thực hành, vận dụng kiến thức Nhưng

do không bắt buộc nên có trường làm, có trường không làm

Hoạt động này chủ yếu ngoài lớp học nên phụ thuộc nhiều vào điều kiện mỗi trường, địa phương Vì vậy ở chương trình mới, ban soạn thảo đưa hoạt động này vào nhóm bắt buộc có phân hóa Theo đó, tất cả các nhà trường đều phải thực hiện

“Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, theo thiết kế của chương trình, sẽ sử dụng những thành tựu của các môn học cộng với yêu cầu xã hội để tạo thành chương trình hoạt động cho học sinh Đây là một cách giúp học sinh thích ứng với xã hội” - bà Thoachia sẻ

3 Ai sẽ dạy học sinh trải nghiệm sáng tạo?

chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

- Đầu tiên, tôi phải khẳng định Hoạt động trải nghiệm sáng tạo không gọi là môn học mà là hoạt động giáo dục Môn học được tạo nên bởi một hoặc một vài lĩnh vực khoa học nên nội dung của nó được cấu trúc chặt chẽ còn hoạt động giáo dục sửdụng tích hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều lĩnh vực để thực hiện mục tiêu hoạt động của mình

Chúng ta hình dung một chương trình giáo dục của bất kỳ quốc gia nào cũng bao gồm nội dung dạy học (các môn học) và

Trang 19

nội dung giáo dục (các hoạt động giáo dục) Các môn học thực hiện giảng dạy những lĩnh vực có tính khoa học, chủ yếu nhằm phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh

Bên cạnh đó, chúng ta có hoạt động giáo dục, là hoạt động nhằm phát triển những phẩm chất nhân cách, kỹ năng sống hay

là năng lực tâm lý xã hội giúp con người có thể thích nghi, thích ứng với xã hội, làm chủ bản thân, biết sống tích cực và hạnh phúc Đây là những mặt vô cùng quan trọng để tạo nên cuộc sống có ý nghĩa của mỗi cá nhân

Theo cách hiểu đó, hoạt động GD trong chương trình phổ thông có tên gọi là hoạt động trải nghiệm sáng tạo Trong chương trình hiện hành, chúng ta cũng có loại hoạt động này với tên gọi là hoạt động ngoài giờ lên lớp hoặc hoạt động ngoài giờ chính khóa

Trang 20

PGS TS Đinh Thị Kim Thoa, tổng chủ biên chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Trang 21

nay đã có nhiều trường làm khá tốt nhưng cũng có rất nhiều trường chưa quan tâm thoả đáng tới vấn đề này.

Điều này có nghĩa, vì hoạt động này được gọi là "ngoài giờ lên lớp" hay "ngoài giờ chính khóa" nên nhiều trường quan niệm rằng, làm được thì tốt không làm được cũng không sao, không có ai đánh giá, không có yếu tố bắt buộc

Đối với học sinh thì các em không tham gia cũng không sao vì nó không phải là hoạt động bắt buộc Vì vậy, đó cũng là lý

do vì sao trong nhiều năm qua, chúng ta vẫn nói với nhau rằng, chúng ta chú trọng nhiều hơn cho “dạy chữ” mà chưa tập trung thích đáng cho “dạy người”

Do cách ứng xử của chúng ta với hoạt động ngoài giờ chính khóa như vậy nên nếu như sử dụng tên cũ thì sẽ kéo theo thói quen cũ, phương thức làm cũ Chính vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng cần phải cho nó một cái tên mới chứa đựng nhiệm vụ mới, chức năng mới và phương thức mới Đây là lý do vì sao đổi tên nhưng vị trí, vai trò của hoạt động này đối với giáo dục học sinh thì vẫn như vậy

Trang 22

Học sinh trong giờ Vật lí đang tiến hành các thí nghiệm

Chính vì vậy, chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo được xây dựng sao cho 100% học sinh tham gia, được rèn luyện,

và 100% học sinh được đánh giá trong các hoạt động đó Ngoài ra, kết quả hoạt động này sẽ được tính đến trong các kỳ thi chuyển cấp, tuyển chọn vào các loại hình học tập khác nhau…

Trang 23

Đối với loại chương trình thứ nhất, chúng tôi đề xuất đổi mới giờ sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp Hai giờ sinh hoạt này

là không thể thiếu được trong quản lý nhà trường và quản lý lớp học

Tuy nhiên, trong chương trình phổ thông mới, học sinh sẽ được tham gia trực tiếp và chủ động hơn vào các hoạt động này, phối kết hợp chặt chẽ với nhà trường, thầy cô chủ nhiệm lớp, tổng phụ trách Đoàn Đội… để tổ chức lồng ghép các chủ đề giáo dục có tính thời sự, tính địa phương bên cạnh việc thực hiện các nghi lễ trong nhà trường và yêu cầu về quản lý học sinh

Trang 24

Yếu tố thứ 2: Thầy tận tâm mong mỏi trò học tốt, có tương lai tốt, thậm chí tốt hơn mình.

Yếu tố thứ 3: Thầy nắm chắc tri thức cơ bản để dạy và có đam mê cập nhật tri thức mới, có khả năng mở rộng tri thức cơ bản ra những lĩnh vực nằm ngoài phần mình dạy.Tức là Thầy cũng có đam mê học suốt đời và mở rộng tri thức của bản thân, thì mới mong dạy trò đi theo đam mê học tập suốt đời được

Việc đại diện của Đề án chia sẻ về việc hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể thực hiện thế này hay thế khác, tất cả đều khó

“định hình” được, vì đã là sáng tạo, thì làm sao bảo người này giống người kia, Thầy này dạy giống Thầy khác, nhất là mỗi Thầy lại ở trong một hoàn cảnh khác nhau, đối tượng học sinh khác nhau, cơ sở vật chất và môi trường học hoàn toàn khác nhau?

Hãy để cho Người Thầy được tự do sáng tạo cách thức họ dạy, họ chia sẻ với học sinh của họ

Điều quan trọng mà ban Đề án và Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể làm là hãy hỏi họ - những Người Thầy của chúng ta, xem

họ cần hỗ trợ điều gì, để họ có thể tự do sáng tạo dạy học, và rồi, từ đó, mới hy vọng có trải nghiệm sáng tạo cho học sinh được

Đây chính là nền tảng cho dân chủ trong lớp học, mà Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã khẳng định là tiêu chuẩn để chúng tađổi mới giáo dục

4 Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông

HĐTNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định Dưới đây là một số hình thức tổ chức của HĐTNST trong nhà trường phổ thông:

4.1 Hoạt động câu lạc bộ (CLB)

Trang 25

Câu lạc bộ là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với thầy cô giáo, với những người lớn khác Hoạt động của CLB tạo cơ hội để học sinh được chia sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của học sinh như: kĩ năng giao tiếp, kĩnăng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp ảnh, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,… CLB là nơi để học sinh được thực hành các quyền trẻ em của mình như quyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; quyền được tự

do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin,… Thộng qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dục hiểu và quan tâmhơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em CLB hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì và có thể được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: CLB học thuật; CLB thể dục thể thao; CLB văn hóa nghệ thuật; CLB võ thuật; CLB hoạt động thực tế; CLB trò chơi dân gian…

4.2 Tổ chức trò chơi

Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với học sinh nói riêng Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung

kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà chơi”.

Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của HĐTNST như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn,…

4.3 Tổ chức diễn đàn

Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia của học sinh thông qua việc các em trựctiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người lớn khác có liên quan Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực Thông qua diễn đàn, học sinh có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau Vì vậy,

Trang 26

diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý kiến của mình một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè

và những người khác Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh

Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho học sinh được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định mình Qua các diễn đàn, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và những người lớn có liên quan nắm bắt được những băn khoăn, lo lắng và mong đợi của các em về bạn bè, thầy cô, nhà trường và gia đình,… tăng cường cơ hội giao lưu giữa người lớn và trẻ em, giữa trẻ em với trẻ em và thúc đẩy quyền trẻ em trong trường học Giúp học sinh thực hành quyền được bày tỏ ý kiến, quyền được lắng nghe và quyền được tham gia,… đồng thời giúp các nhà quản lí giáo dục và hoạch định chính sách nắm bắt, nhận biết được những vấn đề mà học sinh quan tâm từ đó có những biện pháp giáo dục và xây dựng chính sách phù hợp hơn với các em

4.4 Sân khấu tương tác

Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vởkịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung nào của cuộc sống Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng phát hiện vấn đề,

kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống,…

4.5 Tham quan, dã ngoại

Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối với học sinh Mục đích của tham quan, dã ngoại

là để các em học sinh được đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà máy… ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em

Trang 27

Nội dung tham quan, dã ngoại có tính giáo dục tổng hợp đối với học sinh như: giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử, truyền thống của Đảng, của Đoàn, của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể được tổ chức ở nhà trường phổ thông là: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa; Tham quan các công trình công cộng, nhà máy, xí nghiệp; Tham quan các cơ

sở sản xuất, làng nghề; Tham quan các Viện bảo tàng; Dã ngoại theo các chủ đề học tập; Dã ngoại theo các hoạt động nhân đạo…

Học sinh

xếp hàng vào viếng lăng Bác

Trang 28

4.6 Hội thi / cuộc thi

Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình

tổ chức HĐTNST

Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thíchhứng thú trong quá trình nhận thức Hội thi/cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh, thi kể chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi học sinh thanh lịch,… có nội dung giáo dục về một chủ

đề nào đó Nội dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ chức dưới hình thức hội thi/cuộc thi Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thimới hấp dẫn

4.7 Tổ chức sự kiện

Tổ chức sự kiện trong nhà trường phổ thông là một hoạt động tạo cơ hội cho học sinh được thể hiện những ý tưởng, khả năng sáng tạo của mình, thể hiện năng lực tổ chức hoạt động, thực hiện và kiểm tra giám sát hoạt động Thông qua hoạt động tổ chức sự kiện học sinh được rèn luyện tính tỉ mỉ, chi tiết, đầu óc tổ chức, tính năng động, nhanh nhẹn, kiên nhẫn, có khả năng thiết lập mối quan hệ tốt, có khả năng làm việc theo nhóm, có sức khỏe và niềm đam mê Khi tham gia tổ chức sự kiện học sinh sẽ thể hiện được sức bền cũng như khả năng chịu được áp lực cao của mình Ngoài ra, các em còn phải biết cách xoay xở và ứng phó trong mọi tình huống bất kì xảy đến Các sự kiện học sinh có thể tổ chức trong nhà trường như: Lễkhai mạc, lễ nhập học, lễ tốt nghiệp, lễ kỉ niệm, lễ chúc mừng,…; Các buổi triển lãm, buổi giới thiệu, hội thảo khoa học, hộidiễn nghệ thuật; Các hoạt động đánh giá thể lực, kiểm tra thể hình, thể chất của học sinh; Đại hội thể dục thể thao, hội thi đấu giao hữu; Hoạt động học tập thực tế, du lịch khảo sát thực tế, điều tra học thuật; Hoạt động tìm hiểu về di sản văn hóa,

Trang 29

về phong tục tập quán; Chuyến đi khám phá đất nước, trải nghiệm văn hóa nước ngoài…

4.8 Hoạt động giao lưu

Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để cho học sinh được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó Qua đó, giúp các em có tình cảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách Hoạt động giao lưu có một số đặc trưng sau:

- Phải có đối tượng giao lưu Đối tượng giao lưu là những người điển hình, có những thành tích xuất sắc, thành đạt trong các lĩnh vực nào đó, thực sự là tấm gương sáng để học sinh noi theo, phù hợp với nhu cầu hứng thú của học sinh

- Thu hút sự tham gia đông đảo và tự nguyện của học sinh, được học sinh quan tâm và hào hứng

- Phải có sự trao đổi thông tin, tình cảm hết sức trung thực, chân thành và sôi nổi giữa học sinh với người được giao lưu Những vấn đề trao đổi phải thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú của học sinh, đáp ứng nhu cầu của các em

Với những đặc trưng trên, hoạt động giao lưu rất phù hợp với các HĐTNST theo chủ đề Hoạt động giao lưu dễ dàng được

tổ chức trong mọi điều kiện của lớp, của trường

4.9 Hoạt động chiến dịch

Hoạt động chiến dịch là hình thức tổ chức không chỉ tác động đến học sinh mà tới cả các thành viên cộng đồng Nhờ các hoạt động này, học sinh có cơ hội khẳng định mình trong cộng đồng, qua đó hình thành và phát triển ý thức “mình vì mọi người, mọi người vì mình” Việc học sinh tham gia các hoạt động chiến dịch nhằm tăng cường sự hiểu biết và sự quan tâm của học sinh đối với các vấn đề xã hội như vấn đề môi trường, an toàn giao thông, an toàn xã hội,… giúp học sinh có ý thứchành động vì cộng đồng; tập dượt cho học sinh tham gia giải quyết những vấn đề xã hội; phát triển ở học sinh một số kĩ năng cần thiết như kĩ năng hợp tác, kĩ năng thu thập thông tin, kĩ năng đánh giá và kĩ năng ra quyết định

Mỗi chiến dịch nên mang một chủ đề để định hướng cho các hoạt động như: Chiến dịch giờ trái đất; Chiến dịch làm sạch môi trường xung quanh trường học; Chiến dịch ứng phó vơi biến đổi khí hậu; Chiến dịch bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng ngập mặn; Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn; Chiến dịch tình nguyện hè, Chiến dịch ngày thứ 7 tình nguyện… Để thực

Trang 30

hiện hoạt động chiến dịch được tốt cần xây dựng kế hoạch để triển khai chiến dịch cụ thể, khả thi với các nguồn lực huy động được và học sinh phải được trang bị trước một số kiến thức, kĩ năng cần thiết để tham gia vào chiến dịch.

4.10 Hoạt động nhân đạo

Hoạt động nhân đạo là hoạt động tác động đến trái tim, tình cảm, sự đồng cảm của học sinh trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Thông qua hoạt động nhân đạo, học sinh biết thêm những hoàn cảnh khó khăn của người nghèo, người nhiễm chất độc da cam, trẻ em mồ côi, người tàn tật, khuyết tật, người già cô đơn không nơi nương tựa, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những đối tượng dễ bị tổn thương trong cuộc sống,… để kịp thời giúp đỡ, giúp họ từng bước khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, vươn lên hòa nhập với cộng đồng Hoạt động nhân đạo giúp các em học sinh được chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm và giá trị vật chất của mình với những thành viên trong cộng đồng, giúp các em biết quan tâm hơn đến những người xung quanh từ đó giáo dục các giá trị cho học sinh như: tiết kiệm, tôn trọng, chia sẻ, cảm thông, yêu thương, trách nhiệm, hạnh phúc,… Hoạt động nhân đạo trong trường phổ thông được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Hiến máu nhân đạo; Xây dựng quỹ ủng hộ các bạn thuộc gia đình nghèo, có hoàn cảnh khó khăn; Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam; Quyên góp cho trẻ em mổ tim trong chương trình “Trái tim cho em”; Quyên góp

đồ dùng học tập cho các bạn học sinh vùng cao; Tổ chức trung thu cho học sinh nghèo vùng sâu, vùng xa…

5 Một số phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho hoạc sinh phổ thông

HĐ TNST coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của HS, về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể Đây là những HĐGD được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để HS trải nghiệm và sáng tạo Điều đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức HĐ TNST phải đa dạng, linh hoạt, HS tự hoạt động, trải nghiệm là chính

Ở đây có 4 phương pháp chính, đó là:

5.1 Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ)

GQVĐ là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, GQVĐ của HS Các em được đặt trong tìnhhuống có vấn đề, thông qua việc GQVĐ giúp HS lĩnh hội tri thức, KN và phương pháp

Trang 31

Trong tổ chức HĐ TNST, phương pháp GQVĐ thường được vận dụng khi HS phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động.

Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, giúp các em có cách nhìn toàn diện

hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày Để phương pháp này thành công thì vấn

đề đưa ra phải sát với mục tiêu hoạt động, kích thích HS tích cực tìm tòi cách giải quyết Đối với tập thể lớp, khi GQVĐ

GV phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi khi giáo dục HS

Phương pháp trên được tiến hành theo các bước cụ thể như sau:

Bước 1: Nhận biết vấn đề

Trong bước này GV cần phân tích tình huống đặt ra giúp HS nhận biết được vấn đề để đạt yêu cầu, mục đích đặt ra Do đó, vấn đề ở đây cần được trình bày rõ ràng, dễ hiểu đối với HS

Bước 2: Tìm phương án giải quyết

Để tìm ra các phương án GQVĐ, HS cần so sánh, liên hệ với cách GQVĐ tương tự hay kinh nghiệm đã có cũng như tìm phương án giải quyết mới Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lí ở giai đoạn tiếp theo.Khi có khó khăn hoặc không tìm được phương án giải quyết thì cần quay trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại và hiểuvấn đề

Bước 3: Quyết định phương án giải quyết

GV cần quyết định phương án GQVĐ, khi tìm được phải phân tích, so sánh, đánh giá xem có thực hiện được việc GQVĐ hay không Nếu có nhiều phương án giải quyết thì cần so sánh để xác định phương án tối ưu Nếu các phương án đã đề xuất

mà không giải quyết được vấn đề thì tìm kiếm phương án giải quyết khác Khi quyết định được phương án thích hợp là đã kết thúc việc GQVĐ

5.2 Phương pháp sắm vai

Trang 32

Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp HS thực hành cách ứng xử, bày tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên

cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em.Sắm vai thường không có kịch bản cho trước mà HS tự xây dựng trong quá trình hoạt động Đây là phương pháp giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào cách ứng xử cụ thể mà các em quan sát được Việc "diễn" không phải là phần quan trọng nhất của phương pháp này mà là xử lí tình huống khi diễn và thảo luận sau phần diễn đó

Mục đích của phương pháp trên không phải chỉ ra cái cần làm mà bắt đầu cho một cuộc thảo luận Để bắt đầu cho một cuộc thảo luận thú vị người sắm vai nên làm một cái gì đó sai, hoặc phải thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn Nếu

người sắm vai làm đúng mọi chuyện thì chẳng có gì để thảo luận

Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các KN giao tiếp cho HS Thông qua sắm vai, HS được rèn

luyện, thực hành những KN ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó

Về mặt tâm lý học, thông qua các hành vi, cá nhân nhận thức và giải quyết tốt hơn vấn đề của bản thân, vai trò lĩnh hội được trong quá trình sắm vai cho phép HS thích ứng với cuộc sống tốt hơn Trong trò chơi cũng như trong cuộc sống, các

em mong muốn có được một vai yêu thích, khi sắm một vai HS bước ra từ chính bản thân mình Điều này trở thành phương tiện để thể hiện niềm vui, nỗi buồn, mối quan tâm, băn khoăn, mong muốn được chia sẻ, sự do dự, ngập ngừng, của chính các em Thông qua các vai được sắm trong trò chơi, HS thể hiện các khía cạnh khác nhau trong tính cách như: sự ưa thích, tình cảm, sự hiểu biết về nhân vật mà các em đang sắm vai đó và những người bạn đang chơi cùng với hành động của chúng

là điều đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt đối với HS

Phương pháp sắm vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm:

- Nêu tình huống sắm vai (phù hợp với chủ đề hoạt động; phải là tình huống mở; phù hợp với trình độ HS)

- Cử nhóm chuẩn bị vai diễn (có thể chuẩn bị trước khi tiến hành họat động): yêu cầu nhóm sắm vai xây dựng kịch bản thể hiện tình huống sao cho sinh động, hấp dẫn, mang tính sân khấu nhưng không đưa ra lời giải hay cách giải quyết tình

Trang 33

huống Kết thúc sắm vai là một kết cục mở để mọi người thảo luận.

- Thảo luận sau khi sắm vai: khi sắm vai kết thúc, người dẫn chương trình đưa ra các câu hỏi có liên quan để HS thảo luận

Ví dụ, trong tình huống trên câu hỏi thảo luận có thể là: 1) Bạn hiểu thế nào là tình yêu? Tình yêu khác gì so với tình bạn khác giới? 2) Tình cảm của bạn trong tình huống trên đã thực sự là tình yêu chưa? 3) Có nên yêu ở tuổi học trò không? Vì sao?,

- Thống nhất và chốt lại các ý kiến sau khi thảo luận

Trò chơi được giới hạn bởi không gian và thời gian, có qui tắc tổ chức (luật chơi do nội dung chơi quy định) Đặc thù này sẽquy định quy mô, số lượng người chơi, điều kiện, vật chất, cũng như xác định tính chất, phương pháp hành động, tổ chức vàđiều khiển hành vi cũng như những mối quan hệ lẫn nhau của người chơi

Trò chơi là một hoạt động mang tính sáng tạo cao, thể hiện ở việc lựa chọn chủ đề chơi, phân vai tạo ra tình huống, hoàn cảnh chơi, sử dụng phương tiện thay thế trong các trò chơi sáng tạo, lựa chọn các phương thức hành động và phân chia tình huống chơi để giải quyết nhiệm vụ chơi trong những trò chơi có luật

Trò chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện HS, giúp các em nâng cao hiểu biết về thế giới hiện thực xung quanh, kích thích trí thông minh, lòng ham hiểu biết, học cách giải quyết nhiệm vụ Ngoài ra, trò chơi là phương tiện giáo

Trang 34

dục phẩm chất nhân cách cho HS Các phẩm chất nhân cách được hình thành thông qua chơi như tính hợp tác, tính đồng đội, tính tập thể, tính kỷ luật, tự chủ, tích cực, độc lập, sáng tạo, sự quan tâm lo lắng đến người khác, thật thà, dũng cảm, kiên nhẫn,…Trò chơi còn là phương tiện giáo dục thể lực cho HS, giáo dục thẩm mỹ, hình thành các KN giao tiếp, KN xã hội,

Trò chơi là một phương thức giải trí tích cực, hiệu quả, mang lại niềm vui, sự hứng khởi, hồn nhiên, yêu đời cho HS, để các em tiếp tục học tập và rèn luyện tốt hơn

Về mặt tâm lý học, trong quá trình diễn ra trò chơi tất cả các thành viên của nhóm đều tham gia hết mình và từ đó các em sẽ

được trải nghiệm, bởi vì mỗi cá nhân cũng như cả nhóm đang sống trong một tình huống khác với những gì các em đã sống

trong cuộc sống thực

Việc tổ chức trò chơi được GV tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị trò chơi

- Xác định đối tượng và mục đích của trò chơi: thông thường, trò chơi nào cũng có tính giáo dục, phụ thuộc vào các góc độ tiếp cận khác nhau đối với loại, dạng trò chơi và người sử dụng, tổ chức trò chơi Vì thế xác định đối tượng và mục đích trò chơi phù hợp là công việc cần thiết khi tổ chức trò chơi

- Cử người hướng dẫn chơi (GV)

- Thông báo kế hoạch, thời gian, nội dung trò chơi đến HS

- Phân công nhiệm vụ cho các lớp, tổ nhóm, đội chơi để chuẩn bị điều kiện phương tiện (lực lượng; phục trang như quần áo,khăn, cờ; còi; phần thưởng) cho cuộc chơi

Bước 2: Tiến hành trò chơi

- Ổn định tổ chức, bố trí đội hình: tùy từng trò chơi, địa điểm tổ chức, số lượng người chơi mà GV bố trí đội hình, phương

Trang 35

tiện cho phù hợp, có thể theo hàng dọc, hàng ngang, vòng tròn hay chữ U,

- GV xác định vị trí cố định hoặc di động sao cho mọi khẩu lệnh các em đều nghe thấy, các động tác HS quan sát, thực hiện được, ngược lại bản thân GV phải phát hiện được đúng, sai khi các em chơi

- GV giới thiệu trò chơi phải ngắn gọn, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ thực hiện, bao gồm các nội dung sau: Thông báo têntrò chơi, chủ đề chơi; Nêu mục đích và các yêu cầu của trò chơi; Nói rõ cách chơi và luật chơi Cho HS chơi nháp/chơi thử

1 -2 lần Sau đó HS bắt đầu chơi thật

- Dùng khẩu lệnh bằng lời, còi, kẻng, chuông, trống để điều khiển cuộc chơi

- GV hay nhóm trọng tài cần quan sát, theo dõi kỹ, chính xác để đánh giá thắng thua và rút kinh nghiệm

Trang 36

Trò chơi : "Gọi đúng tên tôi"

5.4 Phương pháp làm việc nhóm

Làm việc theo nhóm nhỏ là phương pháp tổ chức dạy học - giáo dục, trong đó, GV sắp xếp HS thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, từ đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm

Trang 37

Làm việc nhóm có ý nghĩa rất lớn trong việc:

- Phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm của HS, tạo cơ hội cho

các em tự thể hiện, tự khẳng định khả năng, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao

- Giúp HS hình thành các KN xã hội và phẩm chất nhân cách cần thiết như: KN tổ chức, quản lí, GQVĐ, hợp tác, có trách

nhiệm cao, tinh thần đồng đội, sự quan tâm và mối quan hệ khăng khít, sự ủng hộ cá nhân và khuyến khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, xác định giá trị của sự đa dạng và tính gắn kết

- Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân người học được khẳng định

và phát triển Nhóm làm việc sẽ khuyến khích HS giao tiếp với nhau và như vậy sẽ giúp cho những em nhút nhát, thiếu tự tin có nhiều cơ hội hòa nhập với lớp học,

Để phương pháp làm việc nhóm thực sự phát huy hiệu quả, GV cần lưu ý một số vấn đề sau:

a) Thiết kế các nhiệm vụ đòi hỏi sự phụ thuộc lẫn nhau

Có một số cách sau đây để tạo ra sự phụ thuộc giữa HS trong nhóm với nhau như:

- Yêu cầu HS chia sẻ tài liệu; - Tạo ra mục tiêu nhóm; - Cho điểm chung cả nhóm;

- Cấu trúc nhiệm vụ như thế nào để HS phụ thuộc vào thông tin của nhau;

- Phân công các vai trò bổ trợ và có liên quan lẫn nhau để thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm, từ đó tạo ra sự phụ thuộc tích cực

b) Tạo ra những nhiệm vụ phù hợp với KN và khả năng làm việc nhóm của HS

Khi thiết kế nhiệm vụ cho nhóm GV cần lưu ý các vấn đề sau: - Đưa ra nhiệm vụ phù hợp với khả năng và đảm bảo thời gian cho HS tham gia đầy đủ nhưng không bắt chúng chờ đợi quá lâu để được khuyến khích hay nhiệm vụ quá nặng nhọc;

Trang 38

- Điều tiết sự đi lại của HS xung quanh lớp học.

c) Phân công nhiệm vụ công bằng giữa các nhóm và các thành viên

GV cố gắng xây dựng nhiệm vụ như thế nào để mỗi thành viên trong nhóm đều có công việc và trách nhiệm cụ thể, từ đó tạo ra vị thế của họ trong nhóm, lớp Muốn vậy, các nhiệm vụ phải được thiết kế cụ thể, giao việc rõ ràng và mỗi thành viên phải tiếp nhận nhiệm vụ đó, có trách nhiệm giải quyết vì tập thể, nhóm

d) Đảm bảo trách nhiệm của cá nhân

Để cá nhân có trách nhiệm với công việc của mình GV cần: - Giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên trong nhóm;

- Thường xuyên thay đổi nhóm trưởng cũng như người đại diện nhóm báo cáo;

- Sử dụng quy mô nhóm nhỏ, đặc biệt với nhiệm vụ chung có tính chất tìm hiểu, thu thập tư liệu hoặc các nhiệm vụ thực hành, thí nghiệm;

- Phân công HS trong nhóm đảm nhận các vai trò khác nhau như phân tích ở trên;

- Đánh giá mức độ tham gia của cá nhân đối với kết quả công việc của nhóm hoặc yêu cầu mỗi HS hoàn thành công việc trước khi làm việc nhóm

e) Sử dụng nhiều cách sắp xếp nhóm làm việc khác nhau

Có nhiều cách sắp xếp nhóm làm việc như: - Hình thành nhóm theo nhiệm vụ;

- Hình thành nhóm học tập theo quy tắc ngẫu nhiên (đếm theo số thứ tự tương đương với số nhóm muốn hình thành Có thể

thay đổi bằng cách đếm theo tên các loài hoa, con vật, cho thêm vui nhộn;

Trang 39

- Phân chia nhóm theo bàn hay một số bàn học gần nhau, hoặc dùng đơn vị tổ của HS để làm một hay một số nhóm, theo

giới, mức độ, thói quen làm việc, khả năng của HS;

- Một vài người lại thích để HS tự chọn, tuy nhiên, điều này thích hợp nhất đối với những lớp ít HS, những lớp mà các em

đã biết rõ về nhau

g) Hướng dẫn HS phương pháp, KN làm việc nhóm (KNLVN)

KNLVN là yếu tố quyết định thành công của học theo nhóm Với lợi thế linh hoạt và chủ động về thời gian, nội dung, HĐGD sẽ rất tốt cho việc rèn luyện KNLVN và thực hành các KN xã hội khác Vì vậy, để rèn luyện KNLVN cho HS có hiệu quả, khi tiến hành làm việc theo nhóm trong HĐ TNST, GV cần tiến hành theo các bước sau:

1 Chuẩn bị cho hoạt động:

- GV hướng dẫn HS trao đổi, đề xuất vấn đề, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cách thực hiện và lập kế hoạch; tự lựa chọn nhóm theo từng nội dung; phân công nhóm trưởng và các vai trò khác cho từng thành viên;

- Hướng dẫn từng nhóm phân công công việc hợp lí, có liên quan, phụ thuộc nhau;

- Chú trọng HS vào một số KNLVN cần thiết cho hoạt động (chọn 2 - 3 KN để nhấn mạnh): giải thích sự cần thiết; làm rõ khái niệm và cách thể hiện; tạo ra tình huống để luyện tập; tổ chức cho HS tự nhận xét, đánh giá; yêu cầu HS thể hiện các

KN đó trong hoạt động

2 Thực hiện:

- GV quan sát, nắm bắt thông tin ngược từ HS xem các nhóm có hiểu rõ nhiệm vụ không?, có thể hiện KNLVN đúng

không?, các vai trò thể hiện như thế nào?;

- Giúp đỡ những nhóm vận hành đúng hướng và duy trì mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; - Khuyến khích,động viên các nhóm hoặc cá nhân làm việc tốt;

Trang 40

- Can thiệp, điều chỉnh hoạt động của nhóm khi thấy cần thiết,

3 Đánh giá hoạt động: Ở bước này GV cần:

- Lôi cuốn HS nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động của nhóm, mức độ tham gia của từng thành viên;

- Gợi mở cho HS phân tích sự phối hợp hoạt động giữa các thành viên trong nhóm, thể hiện các KNLVN;

- Điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở đánh giá đúng sự cố gắng của từng nhóm, chú trọng phân tích những KNLVN mà HS đã thể hiện;

- Đưa ra kết luận gồm kết quả hoạt động và mức độ thể hiện các KNLVN (cái gì đã làm tốt, cần rèn luyện thêm và rèn luyệnnhư thế nào)

Tùy theo tính chất và mục đích của từng hoạt động cụ thể cũng như điều kiện, khả năng của các em mà GV có thể lựa chọn một hay nhiều phương pháp phù hợp Điều quan trọng là phương pháp được lựa chọn cần phát huy cao độ vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của HS và khai thác tối đa kinh nghiệm các em đã có

– Hoạt động TNST hướng đến những phẩm chất và năng lực chung như đã được đưa ra trong Dự thảo Chương trình mới, ngoài ra hoạt động TNST còn có ưu thế trong việc thúc đẩy hình thành ở người học các năng lực đặc thù sau:

– Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động;

– Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống;

– Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân;

– Năng lực định hướng nghề nghiệp;

Ngày đăng: 09/05/2018, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w