Cây chè được các nhà quản lý và chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế của tỉnh xác định là cây góp phần tích cực cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, là một trong những loại cây hàng hoá chiến lược để thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo của tỉnh. Những tưởng, định hướng đó sẽ là bệ phóng để cây chè Hà Giang lên ngôi, nhanh chóng chiếm được thị phần trong thời kinh tế hội nhập; thương hiệu chè Hà Giang ngày càng được nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Trên thực tế, những năm qua, chè Hà Giang kém về sức cạnh tranh trên thương trường về tất cả các mặt cần và đủ của một sản phẩm hàng hoá. Là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là với sản phẩm chè San tuyết, xác định cây chè là cây chiến lược để xoá đói giảm nghèo nên lãnh đạo tỉnh đã tập trung chỉ đạo, đưa ra các chính sách cũng như giải pháp để khuyến khích đầu tư, phát triển SX, kinh doanh chè. Hiện nay sản lượng chè Hà Giang đứng thứ 5 toàn quốc và đứng thứ 3 trong xuất khẩu ra thị trường thế giới, toàn tỉnh Hà Giang có 15.064 ha chè, trong đó diện tích chè kinh doanh 12.536 ha, được trồng chủ yếu tại các huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Xín Mần, Quang Bình... chè Hà Giang chủ yếu là giống chè Shan tuyết. 34 Chè Shan tuyết ở Hà Giang là giống chè mang loài quý hiếm, chè Shan tuyết ở Hà Giang mọc ở độ cao trung bình từ 600 1.800 m so với mực nước biển nên có phẩm cấp, chất lượng tốt, hương vị độc đáo và đặc trưng riêng. Hà Giang là tỉnh có diện tích chè Shan tuyết lớn nhất cả nước với gần 16.000 ha, mỗi năm cho sản lượng chè búp tươi trên 30.000 tấn. Vì vậy, trong những năm gần đây tỉnh Hà Giang đã có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ đầu tư; trồng mới, thâm canh, chế biến, xuất khẩu đã thu hút được 13 Doanh nghiệp, trên 300 Hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác tham gia vào ngành chè. Xác định được giá trị và lợi ích kinh tế to lớn của cây chè nói chung và đặc biệt là cây chè Shan tuyết nói riêng, trong những năm qua Hà Giang đã chú trọng phát triển diện tích chè và coi cây chè là một trong những cây mũi nhọn để đầu tư chiến lược, coi phát triển cây chè là giải pháp xoá đói, giảm nghèo, hướng tới làm giàu bằng các sản phẩm chè Shan tuyết cho đại đa số người dân trong nông nghiệp và đồng bào dân tộc thiểu số các xã vùng cao. Tuy nhiên cây chè Hà Giang nói chung và chè Shan tuyết nói riêng hiện vẫn phát triển chưa như mong muốn. Theo ý kiến của giới chuyên môn, nguyên nhân là do diện tích chè không tập trung nên khó khăn cho việc triển khai SX lớn, áp dụng khoa học công nghệ và cơ giới hoá; mật độ vườn chè chưa đảm bảo; đầu tư thâm canh chưa được chú trọng. Chè ở Hà Giang chủ yếu được trồng bằng hạt, đến nay, nhiều diện tích chè đã bị già cỗi và có biểu hiện suy thoái. Ở các huyện vùng cao núi đất như Hoàng Su Phì, Xín Mần, cây chè được bà con các dân tộc phần lớn trồng theo lối quảng canh, chưa chú trọng vào đầu tư thâm canh. Khâu chế biến chè hầu như cũng làm thủ công hoàn toàn. Năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm chè đạt thấp, công tác quảng bá lại kém nên sức tiêu thụ sản phẩm cũng kém và hệ quả cuối cùng là người trồng chè có mức thu nhập thấp, đời sống không ổn định, nguy cơ tái nghèo cao. Từ ý nghĩa thực tiễn đó tôi tiến hành thực hiện đề tài “Giải pháp phát triển Chè Shan tuyết, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang” làm đề tài nghiên cứu luận văn chuyên ngành kinh tế nông nghiệp là hết sức cấp thiết. 1.1. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHÈ 1.1.1. Khái niệm về phát triển Phát triển là một khái niệm rộng, bao quát nhiều lĩnh vực trong xã hội. Vì thế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển: Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” 16. Theo ngân hàng thế giới (WB): phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do về con người 16. 1.1.2. Vài nét về cây chè và vai trò của chè với đời sống con người 1.1.2.1. Nguồn gốc cây chè Việt Nam Năm 1933, ông J.J B Denss, một chuyên gia về chè của Hà Lan, nguyên giám đốc viện nghiên cứu chè Buitenzorg ở Java (Inđônêxia), cố vấn của Công ty chè Đông Dương thời Pháp sau khi đi khảo sát các cây chè cổ ở huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang Việt Nam đã viết về nguồn gốc cây chè trên thế giới. Trong bài viết của ông có điểm cần chú ý là những nơi mà con người tìm thấy cây chè bao giờ cũng ở cạnh những con sông lớn, nhất là sông Dương Tử, sông Tsikiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Việt Nam, sông Mêkông ở Vân Nam, tất cả những con sông này đều bắt nguồn từ phía đông Tây Tạng. Vì lý do này ông cho rằng nguồn gốc của cây chè là từ các dãy núi này phân tán đi 20.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÙI THỊ NHƯ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHÈ SHAN TUYẾT,
HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Dũng
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Giải pháp phát triển chè Shan tuyết, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang” là công trình nghiên cứu độc lập của tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn này là trungthực, có nguồn gốc rõ ràng và hoàn toàn chưa được sử dụng để bảo vệ mộthọc vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện đề tài này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Bùi Thị Như
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Quý thầy cô giáo Khoa …… , phòng Đào tạo sau đại học của trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Xuân Dũng, người đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, động viên và tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, Chi cục thống kê huyện Vị Xuyên, tình Hà Giang, Uy ban nhân dân các xã Thượng Sơn, xã Cao Bồ huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn.
Ban Giám hiệu, Khoa Kinh tế của Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Hà Giang đã tạo mọi điều kiện về vật chất, thời gian, lẫn tinh thần để tôi yên tâm học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp những người luôn sát cánh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Do sự hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn, chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết nhất định Tôi mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của thầy cô và đồng nghiệp để luận văn thêm hoàn thiện.
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Như
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
1 1.1 Tình hình SX và xuất khẩu chè ở Việt Nam (2012 - 2014) 30
2 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng chè tỉnh Hà Giang (2012
4 3.1 Diện tích, năng xuất, sản lượng chè cho thu hoach của huyện
6 3.3 Kết quả phân tích một số thành phần dinh dưỡng đất trồng
10 3.7 Năng suất, sản lượng, thu nhập từ chè của các hộ điều tra 63
11 4.1
Ma trận SWOT thể hiện các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội,thách thức trong phát triển chè Shan tuyết ở huyện VịXuyên, tỉnh Hà Giang
81
Trang 6MỤC LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hà Giang là tỉnh vùng núi cao ở cực Bắc đất nước, có đường biên giớidài 274 km giáp với nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa Hà Giang thiệt thòi
vì có ít diện tích đất dành cho phát triển cây lúa nước, trồng các loại cây rau,
củ, quả hay các loại cây công nghiệp Tuy nhiên, bù lại, Hà Giang có Côngviên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, một số sản vật chỉ có ở vùngcao núi đá hay ở vùng cao núi đất; có diện tích đất trồng chè lớn thứ ba trong
cả nước (sau Lâm Đồng và Thái Nguyên)
Là một trong số những tỉnh nghèo nhất nước, Hà Giang luôn mongmuốn tìm cho mình hướng phát triển kinh tế để dân thoát nghèo Tìm mộthướng đi phù hợp với điều kiện tự nhiên xã hội, với trình độ nguồn nhân lựcđịa phương và hiệu quả kinh tế mang lại phải cao với tỉnh Hà Giang thậtkhông đơn giản Những năm qua, các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế trong
và ngoài tỉnh đã nhiều lần bàn thảo để tìm cho vùng đất có nhiều cái nhất(nghèo nhất, cao nguyên đá duy nhất, thiếu nước nhất…) một chiến lược pháttriển kinh tế thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo bền vững
Cây chè được các nhà quản lý và chỉ đạo điều hành phát triển kinh tếcủa tỉnh xác định là cây góp phần tích cực cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, là một trong những loại cây hàng hoá chiến lược để thực hiệnchương trình xoá đói giảm nghèo của tỉnh Những tưởng, định hướng đó sẽ là
bệ phóng để cây chè Hà Giang lên ngôi, nhanh chóng chiếm được thị phầntrong thời kinh tế hội nhập; thương hiệu chè Hà Giang ngày càng được nhiềungười trong và ngoài nước biết đến Trên thực tế, những năm qua, chè HàGiang kém về sức cạnh tranh trên thương trường về tất cả các mặt cần và đủcủa một sản phẩm hàng hoá
Là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và pháttriển, đặc biệt là với sản phẩm chè San tuyết, xác định cây chè là cây chiếnlược để xoá đói giảm nghèo nên lãnh đạo tỉnh đã tập trung chỉ đạo, đưa ra các
Trang 8chính sách cũng như giải pháp để khuyến khích đầu tư, phát triển SX, kinhdoanh chè Hiện nay sản lượng chè Hà Giang đứng thứ 5 toàn quốc và đứngthứ 3 trong xuất khẩu ra thị trường thế giới, toàn tỉnh Hà Giang có 15.064 hachè, trong đó diện tích chè kinh doanh 12.536 ha, được trồng chủ yếu tại cáchuyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Xín Mần, Quang Bình chè HàGiang chủ yếu là giống chè Shan tuyết [34]
Chè Shan tuyết ở Hà Giang là giống chè mang loài quý hiếm, chè Shantuyết ở Hà Giang mọc ở độ cao trung bình từ 600 - 1.800 m so với mực nướcbiển nên có phẩm cấp, chất lượng tốt, hương vị độc đáo và đặc trưng riêng
Hà Giang là tỉnh có diện tích chè Shan tuyết lớn nhất cả nước với gần 16.000
ha, mỗi năm cho sản lượng chè búp tươi trên 30.000 tấn Vì vậy, trong nhữngnăm gần đây tỉnh Hà Giang đã có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ đầu tư; trồngmới, thâm canh, chế biến, xuất khẩu đã thu hút được 13 Doanh nghiệp, trên
300 Hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác tham gia vào ngành chè
Xác định được giá trị và lợi ích kinh tế to lớn của cây chè nói chung vàđặc biệt là cây chè Shan tuyết nói riêng, trong những năm qua Hà Giang đãchú trọng phát triển diện tích chè và coi cây chè là một trong những cây mũinhọn để đầu tư chiến lược, coi phát triển cây chè là giải pháp xoá đói, giảmnghèo, hướng tới làm giàu bằng các sản phẩm chè Shan tuyết cho đại đa sốngười dân trong nông nghiệp và đồng bào dân tộc thiểu số các xã vùng cao.Tuy nhiên cây chè Hà Giang nói chung và chè Shan tuyết nói riêng hiệnvẫn phát triển chưa như mong muốn Theo ý kiến của giới chuyên môn,nguyên nhân là do diện tích chè không tập trung nên khó khăn cho việc triểnkhai SX lớn, áp dụng khoa học công nghệ và cơ giới hoá; mật độ vườn chèchưa đảm bảo; đầu tư thâm canh chưa được chú trọng Chè ở Hà Giang chủyếu được trồng bằng hạt, đến nay, nhiều diện tích chè đã bị già cỗi và có biểuhiện suy thoái Ở các huyện vùng cao núi đất như Hoàng Su Phì, Xín Mần,cây chè được bà con các dân tộc phần lớn trồng theo lối quảng canh, chưa chútrọng vào đầu tư thâm canh Khâu chế biến chè hầu như cũng làm thủ công
Trang 9hoàn toàn Năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm chè đạt thấp, công tácquảng bá lại kém nên sức tiêu thụ sản phẩm cũng kém và hệ quả cuối cùng làngười trồng chè có mức thu nhập thấp, đời sống không ổn định, nguy cơ táinghèo cao.
Từ ý nghĩa thực tiễn đó tôi tiến hành thực hiện đề tài “Giải pháp phát triển Chè Shan tuyết, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang” làm đề tài nghiên
cứu luận văn chuyên ngành kinh tế nông nghiệp là hết sức cấp thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu các giải pháp nhằm phát triển chè Shan tuyết ở huyện VịXuyên, tỉnh Hà Giang
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển Chè Shan tuyết
- Đánh giá thực trạng phát triển Chè Shan tuyết ở huyện Vị Xuyên, tỉnh
Hà Giang
- Đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển Chè Shan tuyết ở huyện
Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình SX Chè Shan Tuyết trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh HàGiang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
Đề tài đi sâu nghiên cứu tình hình SX và tiêu thụ Chè Shan tuyết củacác hộ gia đình, từ đó đề xuất ra các giải pháp phát triển SX chè cho địaphương
- Phạm vi về không gian:
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Phạm vi về thời gian:
Trang 10Đề tài tiến hành điều tra, nghiên cứu số liệu trong 3 năm từ năm 2012đến năm 2014 Từ đó đưa ra định hướng, giải pháp phát triển đến năm 2020.
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở thực tiễn và lýluận để phát triển cây Chè Shan tuyết ở Tỉnh Hà Giang ;
Là cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển Chè Shan tuyết đốivới khu vực miền núi phía Bắc
5 Những đóng góp mới của đề tài
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về phát triển Chè Shan tuyết trênđịa bàn huyện Vị xuyên, tỉnh Hà Giang
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng và những yếu tố ảnh hưởngđến phát triển Chè Shan tuyết trên địa bàn huyện Vị xuyên, tỉnh Hà Giang từnăm 2012 đến nay, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân
Đề xuất một số giải pháp phát triển chè shan tuyết trên địa bàn huyện
Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đâu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn;
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3: Thực trạng về phát triển Chè Shan tuyết huyện Vị Xuyên,tình Hà Giang giai đoạn năm 2012 - 2014;
- Chương 4: Một số giải pháp phát triển Chè Shan tuyết huyện VịXuyên, tình Hà Giang đến năm 2020
Trang 11Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC
PHÁT TRIỂN CHÈ SHAN TUYẾT 1.1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHÈ
1.1.1 Khái niệm về phát triển
Phát triển là một khái niệm rộng, bao quát nhiều lĩnh vực trong xã hội
Vì thế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển:
Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” [16].
Theo ngân hàng thế giới (WB): phát triển trước hết là sự tăng trưởng vềkinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác,đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do vềcon người [16]
Theo MalcomGills: phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơbản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân dongành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của mộtquốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên
Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiếnđều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinhthần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của pháttriển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền
tự do công dân của mọi người dân [21]
1.1.2 Vài nét về cây chè và vai trò của chè với đời sống con người
1.1.2.1 Nguồn gốc cây chè Việt Nam
Năm 1933, ông J.J B Denss, một chuyên gia về chè của Hà Lan,nguyên giám đốc viện nghiên cứu chè Buitenzorg ở Java (Inđônêxia), cố vấncủa Công ty chè Đông Dương thời Pháp sau khi đi khảo sát các cây chè cổ ởhuyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang - Việt Nam đã viết về nguồn gốc cây chè trênthế giới Trong bài viết của ông có điểm cần chú ý là những nơi mà con người
Trang 12tìm thấy cây chè bao giờ cũng ở cạnh những con sông lớn, nhất là sôngDương Tử, sông Tsikiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Việt Nam, sôngMêkông ở Vân Nam, tất cả những con sông này đều bắt nguồn từ phía đôngTây Tạng Vì lý do này ông cho rằng nguồn gốc của cây chè là từ các dãy núinày phân tán đi [20].
Năm 1976, viện sỹ hàn lâm khoa học Liên Xô K.M Demukhatzenghiên cứu sự tiến hoá của cây chè bằng cách phân tích chất càphêin trongchè mọc hoang dại và chè do con người trồng ở các vùng khác nhau trên thếgiới Trong đó có các vùng chè cổ của Việt Nam (Yên Bái, Lạng Sơn, NghệAn) Tác giả đã kết luận: Cây chè cổ ở Việt Nam tổng hợp các càphêin đơngiản hơn cây chè ở Vân Nam, Trung Quốc và như vậy phức tạp ở cây chè VânNam, Trung Quốc nhiều hơn ở cây chè Việt Nam Do đó tác giả đã đề xuất sơ
đồ tiến hoá của cây chè như sau: Cây hoa trà chè Việt Nam chè Vân Nam chè Trung Quốc - chè Assam Ấn Độ [20]
-Qua phân tích nhiều nhà khoa học đã cho rằng Việt Nam là một trongnhững cái nôi của cây chè Các vùng chè Lạng Sơn, Hà Giang và đặc biệt làkhu vực chè hoang với hơn 41 vạn cây chè tuyết cổ thụ ở Suối Giàng (huyệnNghĩa Lộ – Yên Bái) trên độ cao hơn 1300m so với mực nước biển là nhữngbằng chứng quan trọng cho giả thiết trên Ngoài những giống chè như chèTuyết san, Việt Nam đã nhập khẩu thêm một số giống chè mới có nguồn gốc
từ Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc
1.1.2.2 Vị trí, vai trò của chè đối với đời sống nhân dân
Chè là loại cây công nghiệp dài ngày, trồng 1 lần cho thu hoạch nhiềunăm, từ 30 đến 50 năm Trồng và thâm canh từ đầu, liên tục và sau 3 năm câychè đã được đưa vào kinh doanh, mang lại thu nhập kinh tế hàng năm vì năngsuất, sản lượng tương đối ổn định Từ chè búp tươi, tuỳ theo công nghệ vàcách chế biến sẽ tạo ra các loại sản phẩm chè khác nhau: Chè xanh, chè đen,chè vàng, chè túi lọc v.v Chè có nhiều vitamin có giá trị dinh dưỡng và bảo
vệ sức khoẻ Có tác dụng giải khát, bổ dưỡng và kích thích hệ thần kinh trung
Trang 13ương, giúp tiêu hoá các chất mỡ, giảm được bệnh béo phì, chống lão hoá Do
đó chè đã trở thành sản phẩm đồ uống phổ thông trên toàn thế giới Chè được
sử dụng hàng ngày và hình thành nên một tập quán tạo ra được nền văn hoá.Khoa học hiện đại đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu và đã tìm ra nhiều hoạt chất
có giá trị trong sản phẩm của cây chè; người ta có thể chiết suất từ cây chè lấy
ra những sinh tố đặc biệt như: càphêin, vitamin A, B1, B2, B6, đặc biệt làvitamin C dùng để điều chế thuốc tân dược cao cấp Vì thế chè không những
có tên trong danh mục nước giải khát, mà nó còn có tên trong từ điển y học,dược học Người Nhật Bản khẳng định chè đã cứu người khỏi bị nhiễm xạ vàgọi đó là thứ nước uống của thời đại nguyên tử, nạn nhân bom nguyên tửHirôxima ở các vùng trồng chè xanh đã sống khoẻ mạnh, đó chính là mộtbằng chứng sinh động về tác dụng chống phóng xạ của chè [20]
Chè là loại cây đã đi vào đời sống con người một cách sâu sắc, đậm đà.Uống trà đã trở thành một phong tục tập quán, là sở thích từ lâu đời của nhiềudân tộc trên thế giới Cũng giống như nhiều nước châu Á và Đông Nam Ákhác, ở Việt Nam tục uống trà đã có từ rất lâu đời Người Việt Nam biết đếntrà từ khá sớm, phương ngôn cổ truyền không ít những lời dạy về cách uốngtrà như: “rượu ngâm nga, trà liền tay” “trà tam rượu tứ ” Ấm trà, chén rượu
đã trở nên rất quen thuộc, thân thương đối với người Việt Nam từ già tới trẻ,
từ thành thị tới nông thôn Uống trà phải thưởng thức tới nước thứ ba mớithấy hết hương vị ngọt đậm của trà, là một loại hoạt động ăn, uống vừa có ýnghĩa thực dụng, vừa là biểu hiện của văn hoá ăn uống đỏi hỏi trình độthưởng thức cao và nâng nó lên thành nghệ thuật uống rượu, thưởng thức trà.Trà dù được chế biến, được uống theo cách nào vẫn biểu thị một nét văn hoáđộc đáo như trà đạo Đối với người Việt Nam mỗi khi có ấm trà xanh phathường mời hàng xóm láng giềng cùng thưởng thức Đạo trà Việt Nam thậttrân trọng ở cách dâng mời đầy ngụ ý, dù lòng vui hay buồn, dù trời mưa haynắng, khách cũng không thể từ chối khi chủ nhân trân trọng đưa mời; mời trà
đã là một ứng xử văn hoá lịch sự, lễ độ và lòng mến khách của chủ nhà
Trang 14Phong tục đó đã tạo nên một vẻ đẹp đặc trưng với những nét rất riêng, mangđậm chất Á Đông Với “trà tam, rượu tứ” của cổ nhân đã làm cho con ngườigiải toả được những lo toan thường nhật, làm phong phú thêm đời sống tinhthần và làm tăng ý nghĩa cho sinh hoạt đời thường, giúp con người xích lạigần nhau, ấm áp thắm đượm tình làng, nghĩa xóm Có thể khẳng định nền vănhoá trà Việt Nam đậm đà bản sắc đã tồn tại và toả hương [22].
Chè có giá trị sử dụng và là hàng hoá có giá trị kinh tế, SX chè manglại hiệu quả kinh tế khá cao góp phần cải thiện đời sống cho người LĐ Hiệnnay chè đã trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị của Việt Nam Ngoài ra thịtrường nội địa đòi hỏi về chè ngày càng nhiều với yêu cầu chất lượng ngàycàng cao Phát triển SX, đẩy mạnh tiêu thụ chè, góp phần quan trọng trongviệc tạo việc làm tăng thu nhập cho người trồng chè Đặc biệt là đồng bàotrung du và miền núi, nơi mà có cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém, vấn đềviệc làm còn gặp nhiều khó khăn và thu nhập vẫn còn thấp Như vậy, chè làloại cây có tiềm năng khai thác vùng đất đai rộng lớn của khu vực trung du vàmiền núi Bên cạnh đó nó còn có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệđất, bảo vệ môi trường sinh thái Nước ta có điều kiện khí hậu, đất đai phùhợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây chè, nhân dân ta lại có kinhnghiệm và tập quán trồng chè lâu đời Nước ta có nguồn LĐ dồi dào, khéo léotrong các khâu thu hoạch, chế biến chè, có các cơ sở nghiên cứu lâu năm vềchè Do đó tiềm năng khai thác và phát triển SX chè trong những năm tiếptheo là rất lớn và khả thi
1.1.3 Nội dung phát triển Chè Shan tuyết
1.1.3.1 Khái niệm về chè và Chè Shan Tuyết
- Cây chè tên khoa học: Cmaellia Sinensis là loài cây mà lá và chồi củachúng được sử dụng để chế biến chè;
- Chè Shan tuyết là thứ chè Shan lá to, lá nhỏ, búp và lá non có nhiềulông trắng như tuyết, sinh trưởng khỏe, chịu ẩm, chịu lạnh, năng suất cao vàchất lượng tốt
Trang 151.1.3.2 Vai trò của Chè Shan tuyết và phát triển chè Shan tuyết
Chè Shan tuyết cổ thụ mọc tự nhiên trên những ngọn núi cao quanhnăm sương phủ, khí hậu ôn hòa và có những cây vài trăm tuổi Mang lạinguồn lợi ích kinh tế không nhỏ cho đồng bào người dân tộc vùng cao, đồngthời theo nghiên cứu của các nhà khoa học, ngoài tác dụng giải nhiệt, mátgan, Chè Shan tuyết còn chống ung thư Bên cạnh đó, Chè Shan tuyết cònđược đánh giá cao bởi vị ngọt, ngậy, hương thơm đặc trưng; đặc biệt do mọctrên núi cao, không bao giờ phải bón phân hay phun thuốc trừ sâu nên đượcđánh giá là chè sạch “tuyệt đối”
Chè Shan tuyết đa tác dụng, ngoài giá trị phòng hộ khi trồng ở khu vựcđầu nguồn, búp chè Shan còn được chế biến thành 3 loại chè: Chè đen, chèxanh và chè vàng
Việt Nam là nước có tiềm năng về đất đai, khí hậu thuận lợi cho pháttriển cây chè, đặc biệt là Chè Shan tuyết Chè Shan tuyết là mặt hàng có thịtrường và giá cả ổn định, với ưu thế không kén đất như các loại cây trồngnhư: cà phê, hồ tiêu…, mà năng suất đem lại tương đối ổn định
Theo Tạp chí Thế giới Chè và nhiều báo khác đã đăng kết quả nghiêncứu, các viện hàm lâm khoa học, các trường đại học, các nhà khoa học trênthế giới đưa ra lời khuyên về việc nên uống Chè Shan tuyết cổ thụ thườngxuyên, bởi nó mang lại lợi ích cho sức khoẻ của con người, những tác dụng
mà chè Shan tuyết mang lại như:
- Tăng khả năng thần kinh trung ương, chống lão hoá
- Bổ gan, thận, chống béo phì
- Phòng chống nội chướng, phòng chống bệnh nhồi máu cơ tim
- Phòng chống viêm khẩu xoang, viêm yết hầu, viêm ruột
Trang 16Chè Shan tuyết thân cây to cao, tán rộng Vì thế, bên cạnh giá trị củabúp thì Chè Shan tuyết còn được trồng làm rừng phòng hộ, phủ xanh đấttrống đồi trọc Tác dụng của rừng phòng hộ đầu nguồn thì ai cũng hiểu, nógiúp cho việc giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôithoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạnhán và giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện… Tuynhiên đối với người dân vùng dân tộc thiểu số thì trồng rừng chưa cho ngaycái ăn cái mặc, trong khi thực hiện trồng rừng theo các chương trình, dự áncủa Nhà nước thì vẫn phải vất vả với nỗi lo cơm áo hằng ngày Nhưng vớirừng Chè Shan tuyết thì khác, cây nhanh cho thu hoạch mà vòng đời lại dài nókhông những có tác dụng phòng hộ mà còn bảo đảm cho người trồng rừngcuộc sống trước mắt cũng như lâu dài Vì vậy mà không cần tuyên truyền, vậnđộng, việc trồng rừng này rất nhanh chóng đi vào cuộc sống với tính tự giáccao của người dân
Nhận thấy nguồn sản phẩm quý giá của Chè Shan tuyết, cộng với việctỉnh Hà Giang có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinh trưởng, pháttriển, đặc biệt là giống Chè Shan tuyết vì vậy, trong cuộc “cách mạng” chuyểndịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi, tỉnh Hà Giang đã coi cây chè này là cây hànghóa chiến lược Góp phần hình thành nên những vùng SX hàng hóa tập trung,gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm Trong những năm qua, phát triển SXChè Shan tuyết đã góp phần sử dụng hiệu quả đất đai của toàn tỉnh, tạo việclàm cho nhiều người LĐ, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tếcủa vùng, chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc của đồng bào dân tộc nơi đây sangmột nền kinh tế SX hàng hóa, góp phần phân công LĐ giữa miền ngược vàmiền xuôi Đồng thời, Chè Shan tuyết cũng đem lại nguồn lợi tương đối lớncho ngân sách của địa phương Nhờ vậy, cây chè có sự phát triển đáng mừng
cả về chất lượng cũng như diện tích, bước đầu hình thành được vùng SX tậptrung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm
Trang 171.1.3.3 Nội dung phát triển Chè Shan tuyết
* Phát triển sản xuất của các nhóm hộ trồng chè
Việt Nam có nhiều địa phương có điều kiện thuận lợi để phát triển câychè nói chung và Chè Shan tuyết nói riêng như Yên Bái, Tuyên Quang, HàGiang Trong những năm trở lại đây nhận thấy được tiềm năng kinh tế tolớn từ Chè Shan tuyết đem lại, các hộ dân trồng chè Shan tuyết tại các địaphương đã tích cực hơn trong việc trồng và chăm sóc
Để phát triển SX chè Shan tuyết thuận lợi việc huy động nguồn vốn đầu
tư rất quan trọng, đa số hộ dân trồng chè Shan tuyết đểu được Nhà nước hỗtrợ nguồn vốn
Bên cạnh đó, để nâng cao năng suất, sản lượng các hộ SX chè được hỗtrợ, tạo mọi điều kiện để áp dụng tốt khoa học kỹ thuật trong quá trình SX,
LĐ của các hộ được tham gia vào các lớp tập huấn nâng cao kinh nghiệm, taynghề Tiếp nhận công nghệ trồng, chăm sóc và quản lý tiên tiến, đổi mớiphương pháp canh tác, đặc biệt chú trọng đến SX chè an toàn đạt tiêu chuẩn.Đẩy mạnh phát huy sức mạnh của mối liên kết 4 nhà (Nhà nông, Nhà doanhnghiệp, Nhà nước, Nhà khoa học) trong SX và tiêu thụ để mang lại tính toàndiện và hiệu quả
* Phát triển chè Shan tuyết thông qua tăng cường vai trò của chính quyền địa phương
Tăng cường công tác khuyến nông, đào tạo tay nghề cho người dântrồng chè giúp họ hiểu được những kiến thức kỹ thuật, công nghệ trong SX, làmột trong những chủ trương quan trọng của chính quyền địa phương nhằmphát triển tối đa ngành Chè Shan tuyết
Bên cạnh đó, địa phương cũng áp dụng chính sách phù hợp với đặcđiểm của ngành chè, đầu tư tín dụng, hỗ trợ về vốn thông qua nguồn vay ưuđãi, hỗ trợ chuyển giao KH - KT, giống, phân bón, cung cấp thông tin về thịtrường, đào tạo nhân lực và đầu tư xây dựng CSVC, kỹ thuật, hệ thống thủylợi và đầu tư trang thiết bị cơ giới cho các khâu thu hái và chế biến chè
Trang 18Tích cực trong công tác mở rộng thị trường, liên kết giữa các doanhnghiệp và nông dân trong SX chè nguyên liệu để hình thành SX theo hướng
SX gắn với thị trường
* Phát triển chè Shan tuyết kết hợp phát triển tiêu thụ
Để tìm được đầu ra ổn định cho chè Shan tuyết các hộ trồng chè cùngvới doanh nghiệp SX chè cần có sự đổi mới toàn diện Đẩy mạnh ứng dụng
KH - KT trong SX và chế biến, cải tiến mẫu mã, bao bì sản phẩm, SX sảnphẩm theo hướng đa dạng hóa và phù hợp với nhu cầu của thị trường Đồngthời, cần liên tục tổ chức tập huấn, đào tạo LĐ, nhân lực một cách toàn diện
và chuyên sâu, nâng cao năng suất và tay nghề
Đồng thời doanh nghiệp cần tập trung SX chè sạch, chè an toàn Quytrình chế biến chè cần đạt tiêu chuẩn vệ sinh ATTP, cải tiến dây chuyền SXtheo hướng hiện đại hóa, có hệ thống kiểm tra khắt khe trước khi đưa ra thịtrường
* Xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ
Điểm nổi bật của ngành chè Việt Nam, đó là thương hiệu chè Việt đãđược đăng ký và bảo hộ tại 70 thị trường quốc gia và khu vực Một số thịtrường lớn của chè Việt Nam như Nga, Đức, Trung Quốc, Pakistan,… Vớitrên 160 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu chè, Việt Nam đã xuất khẩu nhiềuloại sản phẩm trà, trong đó trà đen chiếm chủ yếu (khoảng 78% tổng sảnlượng xuất khẩu), còn lại là trà xanh và các loại sản phẩm trà khác từ chè.Ngoài tính kinh tế, cây chè còn mang tính xã hội Cây chè Việt Nam là câytrồng gắn với vùng trung du và vùng núi với trên 400.000 hộ nông dân thamgia SX; giá trị SX bình quân đạt bình quân là 68 triệu đồng/ha, có nơi đạt 90 -
100 triệu đồng/ha Vì vậy, cây chè có ý nghĩa xoá đói, giảm nghèo, tăng thunhập cho người dân ở vùng cao
Tuy năng suất chè Việt Nam đã đạt mức bình quân của thế giới, nhưnggiá bán thấp, chỉ bằng 60-70% giá bình quân trên thế giới Nguyên nhân chủyếu là do sản phẩm chè của Việt Nam còn nghèo nàn về chủng loại (chẳng
Trang 19hạn, trà đen xuất khẩu chiếm tới 78%); chất lượng, mẫu mã chưa hấp dẫn nênsức cạnh tranh thấp; giữa chế biến và SX nguyên liệu chưa gắn kết vớinhau…
Để ngành chè khắc phục được những tồn tại, phát triển bền vững, mạnh
mẽ hơn nữa, đòi hỏi người trồng chè, các nhà khoa học, nhà quản lý và cácdoanh nghiệp cần tiếp tục có những đóng góp cho sự nghiệp phát triển chèViệt Nam Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ Chútrọng hơn nữa phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH đối với các vùng trồng chènói chung và trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần xoá đóigiảm nghèo, nâng cao thu nhập của người dân, tạo mọi điều kiện cho ngànhchè góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá
* Nâng cao chất lượng chè Shan tuyết
SX chè theo tiêu chuẩn VietGAP là một hướng đi đúng đắn trong xuthế phát triển hiện nay Chỉ có tích cực chăm sóc, đầu tư tăng năng suất, chấtlượng cũng như việc thu hái đảm bảo phẩm cấp mới là lựa chọn tối ưu hiệnnay và lâu dài Đối với SX công nghiệp cũng vậy, các doanh nghiệp đã vàđang đầu tư sửa chữa, bảo dưỡng dây chuyền máy móc Nhiều doanh nghiệp
đã tiến hành ký kết hợp đồng tiêu thụ với người dân trong vùng nguyên liệu
và cung ứng phân bón, vật tư cho người làm chè
Song song với việc đầu tư, sửa chữa, bảo dưỡng máy móc của cácdoanh nghiệp, các ngành chức năng cũng cần kiểm tra, rà soát, đánh giá tất cảcác doanh nghiệp và chỉ cho hoạt động đối với các doanh nghiệp đảm bảo cácquy định của Nhà nước về vệ sinh ATTP
Một vấn đề mấu chốt để tạo nên một niên vụ chè thành công là cácdoanh nghiệp SX, kinh doanh chè cần liên doanh, liên kết chặt chẽ với ngườidân vùng nguyên liệu cũng như các doanh nghiệp để vừa có nguyên liệu ổnđịnh SX, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu chè Shantuyết vừa không bị các doanh nghiệp lớn hay các đối tác khác ép giá
Trang 201.1.3.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của chè Shan tuyết
Chè Shan tuyết là cây lâu năm, có 2 chu kỳ phát triển:
+ Giai đoạn cây chè con: Kể từ khi gieo hạt (hoặc giâm cành) đến khicây ra hoa lần đầu tiên;
+ Giai đoạn cây non: Bắt đầu từ khi ra hoa lần đầu tiên đến khi cây sinhtrưởng đầy đủ và định hình 3 - 4 năm;
+ Giai đoạn cây lớn, cây trưởng thành: Từ khi cây chè bước vào giaiđoạn kinh doanh đến khi có biểu hiện tạo tán mới (chè suy thoái);
+ Giai đoạn già cỗi: Bắt đầu từ khi có chồi mọc vượt từ gốc đến khi chègià cỗi chết
- Chu kỳ phát triển nhỏ:
Bao gồm hai quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinhthực Các mầm dinh dưỡng phát triển thành búp, lá tạo nên các đợt sinhtrưởng; các mầm sinh thực phát triển thành nụ, hoa, quả chè
Nhưng đặc điểm chính:
+ Sinh trưởng búp: Chồi lá phình lên → Mọc lá vảy ốc → Mọc lá cá →Mọc lá thật → Búp mù ngủ, nghỉ (sau một thời gian lại tái diễn)
+ Sinh trưởng cành:
Khi cây nhỏ: phân cành theo kiểu phân đơn, có thân chính rõ
Khi cây lớn: kiểu phân cành hợp trục, thân chính không rõ, chồi chè lớnlên, hái búp liên tục thì phân nhánh theo kiểu hợp trục nhiều ngả
Trang 21+ Sinh trưởng bộ rễ: Gồm rễ dẫn và rễ hút, sự phát triển của bộ rễ vàthân lá có hiện tượng xen kẽ nhau.
+ Sinh trưởng sinh thực:
Mầm sinh thực phồng lên thành nụ → nở hoa → thụ phấn → kết quả.Ngoài ra, cây chè Shan tuyết thường được đốn vào mùa đông, đồngthời với việc phát cỏ v.v… Sang xuân, vụ 1 hái vào tháng 3 - 4 âm lịch; vụ 2hái vào tháng 5 - 7 âm lịch; vụ 3 hái vào 8 - 9 âm lịch, nếu điều kiện thời tiếtthuận lợi thì có thể hái thêm một vụ nữa nhưng năng suất rất thấp do trời lạnh,khô cạn
1.1.3.5 Giá trị kinh tế của chè Shan tuyết
Chè Shan tuyết ở vùng núi phía Bắc là giống chè năng suất cao, trongđiều kiện tự nhiên 1 hecta chè Shan với mật độ 2800 - 3000 cây có thể chonăng suất từ 6 - 8tấn búp tươi/năm Hơn nữa do địa hình núi cao và tập quáncanh tác của đồng bào dân tộc không sử dụng phân vô cơ và thuốc hóa học vìvậy có thể coi chè Shan tuyết núi cao là sản phẩm hữu cơ có giá trị lớn, giábán chè xanh chế biến từ chè Shan cao hơn 2 - 5 lần chè vùng thấp
Đồng thời cây chè Shan tuyết ở vùng miền núi còn có tác dụng tích cựcvào việc tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc, hạnchế tập quán du canh, du cư, góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấucây trồng, hình thành vùng SX hàng hóa
Về mặt sinh thái: Chè Shan tuyết có nguồn gốc cây rừng, thích nghi caovới điều kiện sinh thái miền núi, nếu để phát triển tự nhiên cây chè sinhtrưởng rất khỏe tương đương với cây rừng Với những cây chè được tác độngcác biện pháp kỹ thuật (đốn hái) thường cây cao 6 - 7m, tán rộng 3 - 6m; vớiđặc điểm như vậy cây chè Shan được coi như thành phần cơ cấu cây rừng.Ngoài giá trị kinh tế do sản phẩm búp chè mang lại nó còn có tác dụng chephủ đất chống xói mòn, ổn định hệ sinh thái rừng Hiện nay phát triển cây chèShan tuyết ở các tỉnh miền núi là góp phần vào kế hoạch trồng 5 triệu harừng
Trang 221.1.3.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chè, chè Shan tuyết
* Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện Đất đai:
Đất đai là tư liệu SX chủ yếu, đặc biệt đối với cây chè, nó là yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm[4]
Chè Shan tuyết là một cây không yêu cầu khắt khe về đất so với một sốcây công nghiệp dài ngày khác Tuy nhiên để chè Shan tuyết sinh trưởng vàphát triển tốt, nương chè Shan tuyết có nhiệm kỳ kinh tế dài, khả năng chonăng suất cao, ổn định, chất lượng chè Shan tuyết ngon thì cây chè Shan tuyếtcũng phải trồng ở nơi có đất tốt, phù hợp với đặc điểm sinh vật học của nó
Qua nghiên cứu của các chuyên gia cho thấy đất trồng chè Shan tuyếttốt phải có điều kiện: Đất trồng chè Shan tuyết có độ cao lớn hơn 600m so vớimực nước biển, độ dốc từ 150 – 250 , độ chua (pHKCL) thích hợp nhất là 4,5 -5,5 Tính chất vật lý của đất: Tầng dày tối thiểu là 50cm, thành phần cơ giớiđất thích hượp từ thịt nhẹ đến thịt nặng Hóa tính đất chè Shan tuyết: Hàmlượng mùn trong đất phải trên 2,5%, dinh dưỡng trong đất ở mức độ chophép
- Thời tiết, khí hậu:
Độ ẩm, nhiệt độ và hàm lượng mưa là những yếu tố ảnh hưởng lớn đếnchè Shan tuyết Để chè Shan tuyết phát triển tốt thì nhiệt độ bình quân là 20–
260C, lượng mưa trung bình là 1500 – 2000mm/năm nhưng phải phân đều chocác tháng, ẩm độ không khí từ 80 – 85%, ẩm độ đất 70 – 80%, chè Shan tuyết
là cây ưa sáng tán xạ, thời gian chiếu sáng trung bình 9 giời/ngày Nhiệt độkhông khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của chèShan tuyết Chè Shan tuyết ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí dưới
100C hay trên 400C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắtđầu phát triển trở lại Thời vụ thu hoạch chè Shan tuyết dài, ngắn, sớm, muộn
Trang 23tùy thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên các giống chè Shan tuyếtkhác nhau có mức độ chống chịu khác nhau
Chè Shan tuyết vốn là cây thích nghi sinh thái vùng cận nhiệt đới bóngrâm, ẩm ướt Lúc nhỏ cây cần ít ánh sáng, một đặc điểm cũng cần lưu ý là cácgiống chè Shan tuyết lá nhỏ ưa sáng hơn các giống chè Shan lá to
* Nhóm nhân tố giống và kỹ thuật
- Giống chè:
Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chènguyên liệu và chè thành phẩm Có thể nói giống là tiền đề năng suất, chấtlượng chè thời kỳ dài 30- 40 năm thu hoạch, nên cần được hết sức coi trọng
Giống chè là giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu đượcđiều kiện sống khắc nghiệt và sâu bệnh Nguyên liệu phù hợp chế biến cácmặt hàng có hiệu quả kinh tế cao Cùng với giống tốt trong SX kinh doanhchè cần có một số cơ cấu giống hợp lý, việc chọn tạo giống chè là rất quantrọng trong công tác giống Ở Việt Nam đã chọn, tạo được nhiều giống chè tốtbằng phương pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3 Đây là một
số giống chè khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và chấtlượng búp cao, đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện tíchrộng, bổ sung cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương chècằn cỗi
Bên cạnh đặc tính của các giống chè, phương pháp nhân giống cũngảnh hưởng trực tiếp tới chè nguyên liệu Hiện nay có 2 phương pháp được ápdụng chủ yếu là trồng bằng hạt và trồng bằng cành giâm Đặc biệt phươngpháp trồng chè cành đến nay đã được phổ biến, áp dụng rỗng rãi và dần dầntrở thành biện pháp chủ yếu trên thế giới cũng như ở Việt Nam
- Áp dụng tiến bộ KH - KT
Cùng với giống mới việc áp dụng tiến bộ khoa học vào SX và chế biếncũng là điều kiện cần thiết để tạo ra năng suất cao và chất lượng tốt
Trang 24Tủ cỏ rác và tưới nước: Tủ cỏ rác tăng năng suất chè 30-50% do giữđược ẩm, tăng lượng mùn và các chất dinh dưỡng dễ tiêu trong đất Chè cũng
là cây trồng rất cần nước, nếu cung cấp nước thường xuyên thì năng suất chènguyên liệu sẽ tăng từ 25-40%
Đốn chè: là biện pháp kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất, chấtlượng chè Kết quả nghiên cứu ở Inđônêxia cho thấy hàm lượng càphêin củanguyên liệu chè đốn cao hơn nguyên liệu chè chưa đốn Ngoài phương phápđốn, thời vụ đốn cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng chè Thường tiếnhành đốn vào thời kỳ cây chè ngừng sinh trưởng, không ra búp từ ngày giữatháng 12 đến cuối tháng 1 hàng năm nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 1
Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp
kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng chè búp.Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng rãi, nó cóthể sống nơi đất rất màu mỡ cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi mà vẫn có thểcho năng suất nhất định Tuy nhiên muốn nâng cao được năng suất, chấtlượng thì cần phải bón phân đầy đủ Bón phân cho chè là biện pháp kinh tế kỹthuật cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng cho chè, nhưng biện phápnày cũng có những tác dụng ngược Bởi nếu bón phân không hợp lý sẽ làmcho năng suất và chất lượng không tăng lên được, thậm chí còn bị giảmxuống Nếu bón đạm với hàm lượng quá cao hoặc bón các loại phân theo tỷ lệkhông hợp lý sẽ làm giảm chất Tanin hoà tan của chè, làm tăng hợp chất Nitơdẫn tới giảm chất lượng chè Vì vậy bón phân cần phải bón đúng cách, đúnglúc, đúng đối tượng và cần cân đối các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu như: Đạm,lân, kali sao cho phù hợp
* Nhóm nhân tố về điều kiện KT - XH
- Thị trường:
Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của
cơ sở SX kinh doanh chè, của các đơn vị SX trong nền kinh tế thị trường: mỗinhà SX, mỗi cơ sở SX kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải trả lời 3 câu hỏi
Trang 25của kinh tế học đó là: SX cái gì, SX như thế nào và SX cho ai Câu hỏi SX cái
gì được đặt lên hàng đầu, mang tính định hướng Để trả lời được câu hỏi nàyngười SX phải tìm kiếm thị trường, tức là xác định nhu cầu có khả năng thanhtoán của thị trường đối với hàng hoá mà họ sẽ SX ra Thị trường đóng vai trò
là khâu trung gian nối giữa SX và tiêu dùng
Khi tìm kiếm được thị trường, người SX phải lựa chọn phương thức tổchức SX như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được là tối đa cònviệc giải quyết vấn đề SX cho ai, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ được thị trường,xác định rõ được khách hàng, giá cả và phương thức tiêu thụ Muốn vậy phảixem xét quy luật cung cầu trên thị trường Ngành chè có ưu thế hơn một sốngành khác, bởi sản phẩm của nó được sử dụng khá phổ thông ở trong nướccũng như quốc tế Nhu cầu về mặt hàng này khá lớn và tương đối ổn định.Hơn nữa chè không phải là sản phẩm tươi sống, sau khi chế biến có thể bảoquản lâu dài, chè mang tính thời vụ cũng ít gắt gao hơn các loại cây ăn quả.Chính nhờ những ưu điểm trên dễ tạo ra thị trường khá ổn định và khá vữngchắc, là điều kiện, là nền tảng để kích thích, thúc đẩy sự phát triển của ngànhchè
- Giá cả
Đối với người SX nông nghiệp nói chung, của người trồng chè nóiriêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá chè (giá chè búp tươi và chè búp khô)trên thị trường; giá cả không ổn định ảnh hưởng tới tâm lý người trồng chè
Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sốngcủa người SX nói chung, cũng như người làm chè, ngành chè nói riêng Do đóviệc ổn định giá cả, mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho sựphát triển lâu dài của ngành chè
- Nhân tố LĐ
Nhân tố LĐ luôn là yếu tố quyết định trong việc SX, trong SX chèShan tuyết cũng vậy, yếu tố con người mang lại năng suất, sản lượng, chấtlượng cho chè Shan tuyết Để sản phẩm chè Shan tuyết SX ra có năng suất
Trang 26cao, chất lượng tốt ngoài việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật racần phải có LĐ có trình độ tốt, có kinh nghiệm
Trong hai khâu: SX và chế biến, thì nhân tố LĐ đều quyết định đến sảnlượng và chất lượng của chè Shan tuyết Trong khâu SX, từ việc chọn giống,gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch tất cả đều phụ thuộc vào nhân tố LĐ LĐ
có tay nghề sẽ tạo ra năng suất và chất lượng cao
- Hệ thống cơ sở chế biến chè:
Sau khi hái được chè nguyên liệu (chè búp tươi) người ta sẽ tiến hànhchế biến, từ chè búp tươi tạo ra chè thành phẩm, sau đó mới đem đi tiêu thụtrên thị trường
Ngoài yêu cầu về chất lượng chè nguyên liệu, thì công tác tổ chức, chếbiến, quy trình chế biến cũng ảnh hưởng tới chất lượng chè thành phẩm Hạchtoán được giá thành từ đó quyết định được mức giá bán trên thị trường saocho phù hợp Hiện nay ngành chè Việt Nam đang có những bước tiến đáng kểtrong khâu chế biến, nhiều công ty, doanh nghiệp được thành lập, hay chuyểnđổi thành các công ty cổ phần tham gia liên kết với nước ngoài đưa vào sửdụng những dây chuyền hiện đại, công suất lớn đã đáp ứng được phần nàoyêu cầu của quá trình SX chè Tuy nhiên các doanh nghiệp này phần lớn chỉ
SX, chế biến chè đen để phục vụ xuất khẩu là chủ yếu
Một hình thức chế biến khác cũng đang được chú ý và áp dụng khá phổbiến là cách chế biến thủ công Ở các hộ nông dân trồng chè, việc SX chènguyên liệu và khâu chế biến luôn gắn liền với nhau Với hình thức này các
hộ trồng chè cố gắng phát huy cao độ những kỹ thuật cá nhân vừa có tínhtruyền thống, gia truyền vừa có tính khoa học để chế biến ra sản phẩm tốtnhất Thực tế cho thấy, hầu hết sản phẩm chè chế biến từ các hộ gia đình cóchất lượng cao hơn hẳn so với chế biến tại các nhà máy Như vậy việc xâydựng các cơ sở chế biến chè, từ nhỏ tới lớn, từ chế biến thủ công tới chế biếncông nghiệp là yêu cầu hết sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn quyết định tới
sự phát triển của ngành chè nói chung
Trang 27- Hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước:
Thành tựu về kinh tế của Việt Nam hơn 10 năm qua là do nhiều nhân
tố tác động, trong đó phải kể đến sự đóng góp tích cực của đổi mới quản lýkinh tế vĩ mô Sự đổi mới này được diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnhvực SX
Ngành chè cũng như các ngành SX khác, muốn mở rộng quy mô vàchất lượng trong SX kinh doanh, nhất thiết phải có hệ thống chính sách kinh
tế thích hợp nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với nhau đểtạo hiệu quả kinh doanh cao nhất
Kết quả SX phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế, một chính sáchkinh tế không phù hợp sẽ kìm hãm phát triển của ngành, ngược lại một chínhsách thích hợp sẽ kích thích SX phát triển Các chính sách này có thể tác độngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của ngành chè, tiêu biểu có thể kểđến là: Chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách thị trường và sảnphẩm
- Hỗ trợ của doanh nghiệp và chính quyền địa phương:
Một vấn đề mấu chốt để tạo nên một niên vụ chè thành công là cácdoanh nghiệp SX, kinh doanh chè cần liên doanh, liên kết chặt chẽ với ngườidân vùng nguyên liệu cũng như các doanh nghiệp để vừa có nguyên liệu ổnđịnh SX, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu chè Shantuyết vừa không bị các doanh nghiệp lớn hay các đối tác khác ép giá
Tăng cường công tác khuyến nông, đào tạo tay nghề cho người dântrồng chè giúp họ hiểu được những kiến thức kỹ thuật, công nghệ trong SX, làmột trong những chủ trương quan trọng của chính quyền địa phương nhằmphát triển tối đa ngành chè Bên cạnh đó, địa phương cũng áp dụng chính sáchphù hợp với đặc điểm của ngành chè, đầu tư tín dụng, hỗ trợ về vốn thông quanguồn vay ưu đãi, hỗ trợ chuyển giao KH - KT, giống, phân bón, cung cấpthông tin về thị trường, đào tạo nhân lực và đầu tư xây dựng CSVC, kỹ thuật,
Trang 28hệ thống thủy lợi và đầu tư trang thiết bị cơ giới cho các khâu thu hái và chếbiến chè
Tích cực trong công tác mở rộng thị trường, liên kết giữa các doanhnghiệp và nông dân trong SX chè nguyên liệu để hình thành SX theo hướng
* Sự hình thành và phát triển cây chè Shan tuyết ở Hà Giang
Hà Giang có tập đoàn chè Shan tuyết phong phú, lâu đời và nổi tiếngnhư Lũng Phìn, Cao Bồ Gồm hai dạng chính là Shan tuyết lá to và Shantuyết lá nhỏ với búp nhiều tuyết, đã được người Pháp điều tra thu thập tậpđoàn tại Phú Hộ từ những năm 1918
Tổng diện tích 14.400ha, xếp thứ 4 trong 32 tỉnh trồng chè cả nước, tuynhiên đa số là trồng phân tán xen cây rừng Giống Shan tuyết nếu trồng mật
độ 3000 cây/ha có thể đạt 8 – 10 tấn búp tươi/ha chè 15 tuổi Sản phẩm thủcông chủ yếu là chè vàng lên men một nửa không tốn nhiên liệu sấy khô, dễvận chuyển, tốn ít nhân công
Trang 29Các vùng chè Shan tuyết cổ thụ đều ở độ cao 700 – 800m so mặt biển,
có vùng trên 1500m, biên độ ngày và đêm theo mùa lớn, đặc biệt do ảnhhưởng của dãy Tây Côn Lĩnh lượng mưa rất cao tới 4800 mm/năm, nhưhuyện Bắc Quang, huyện Vị Xuyên tạo nên hương vị đặc sắc của hương vịchè Shan nói riêng và chè Hà Giang nói chung
Ở Hà Giang, chè Shan tuyết phân bố hầu khắp các huyện, trong đó cácvùng chè cổ thụ đều có độ cao từ 300 - 1000m Cho đến nay, một số vùngtrong tỉnh có tính đặc trưng cao cho các tiểu vùng sinh thái có chè shan như:Lũng Phìn - Đồng Văn đại diện cho vùng cao núi đá vôi; Phìn Hồ - Hoàng SuPhì đại diện cho vùng cao núi đất; Tham Vè, Bó Đướt - Vị Xuyên đại diệncho vùng chè cổ nhất Việt Nam Đây cũng chính là những địa phương có sảnphẩm chè Shan tuyết thơm ngon nổi tiếng Danh tiếng của chè Shan tuyếtLũng Phìn hay Phìn Hồ, Cao bồ, Thượng Sơn… không chỉ chinh phục đượcngười tiêu dùng mà cả với những người sành thưởng thức trà
Ngoài những vùng chè lâu đời trên, Hà Giang còn trồng nhiều chè ởvùng thấp Nhận thấy giá trị của cây chè Shan tuyết vùng cao, nhiều lâmtrường đã lấy hạt chè Shan tuyết vùng cao xuống trồng tại các vùng thấp nhưHùng An, Việt Lâm… tạo thành những vùng chè Shan tuyết tập trung chochất lượng tốt, năng suất cao
Về giống chè Shan tuyết Hà Giang có thể chia thành 2 dạng chính:
- Đó là chè Shan tuyết lá nhỏ, tiêu biểu chè Lũng Phìn với đặc điểmdạng tán hình mâm xôi hoặc dạng nến Chè tán dạng mâm xôi là chè Shantuyết lá nhỏ chiếm tỷ lệ lớn hơn chè tán dạng nến chè Shan tuyết lá to Dàibúp biến động từ 2,3-4,5 cm, trọng lượng búp biến động từ 0,4-1,09g/búp,thuận lợi cho chế biến chè xanh có ngoại hình đẹp Hàm lượng tanin biếnđộng từ 32,25- 37,32%, chất hoà tan 43,24 - 47,82%, đường khử 2,00-2,95%,cafein 3,05-3,45%, nhất là chất lượng thử nếm cảm quan điểm cao từ 16-18,2điểm trên nhiều mẫu chè
Trang 30- Dạng chè Shan tuyết lá to, tiêu biểu vùng chè cổ Bó Đướt, ThượngSơn - Vị Xuyên Loại chè này đặc biệt nhiều về mức độ lông tuyết ở cả búp lá
1 và một phần lá 2 Trọng lượng búp chè từ 0,92 1,02g, năng suất 1600 1850g/cây/lứa hái Về thành phần sinh hoá cho thấy tanin biến động từ 27,96-32,98%, chất hoà tan từ 35,81 - 40,56%, đường khử từ 1,22-1,90%, cafein từ2,85-3,00%
-Ngoài những chỉ tiêu sinh hoá ở mức rất có lợi cho chế biến chè chấtlượng cao, chè Shan tuyết Hà Giang là nguồn nguyên liệu sạch Bởi vì, chođến tận bây giờ, ở các vùng chè Shan tuyết lâu đời của Hà Giang, đồng bàovẫn không sử dụng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật mà chủ yếu là khaithác tự nhiên
Người dân thường đốn chè vào vụ Đông, đồng thời với việc phát cỏ,vun gốc… Sang xuân, vào thời điểm cuối tháng 3, đầu tháng 4, người dân bắtđầu thu hái chè vụ đầu tiên (đây là thời điểm chè cho chất lượng cao nhất).Tiếp tục thu hái vụ chè thứ 2 vào tháng 5 và tháng 6 (là vụ có năng suất caonhất trong năm) Vụ 3 vào tháng 8 và vụ 4 vào tháng 10, tháng 11 Vì vậy, cóthể khẳng định chè Shan tuyết Hà Giang là vùng nguyên liệu có giá trị để SXchè an toàn chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường, phù hợp với xuhướng phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay
Chè Shan tuyết Hà Giang là nguồn nguyên liệu sạch cho SX chè chấtlượng cao đã được các nhà SX trong nước và thế giới công nhận Trong thờigian tới, để nâng cao hơn nữa chất lượng cho thương hiệu chè Shan tuyết HàGiang thì công nghệ chế biến phải được đặt lên hàng đầu Với nguồn nguyênliệu tuyệt vời như chè Shan tuyết Hà Giang cộng với công nghệ chế biến hiệnđại đảm bảo sẽ cho ra đời những sản phẩm chè không thua kém bất cứ danhtrà nào trên thế giới [28]
Trang 311.1.3.8 Các hình thức (mô hình) phát triển cây chè Shan tuyết
Ở vùng Nậm Búng (Văn Chấn, Yên Bái) trồng chè Shan tuyết với mật
độ cao như trồng chè đồi Nơi đây có độ cao trên 600m, nhiệt độ bình quânhàng năm tương đối thấp rất thích hợp với cây chè Shan tuyết
Năm 2002, Lâm trường Văn Chấn đã tiến hành nhân giống bằngphương pháp giâm cành từ cây chè Shan cổ thụ được viện KH - KT Nông lâmnghiệp miền núi phía Bắc chọn lọc tại Suối Giàng và chuyển giao kỹ thuậtnhân trồng Thực tế cho thấy mật độ trồng dầy 16.000 cây/ha, năng suất, hiệuquả khả quan Tổng cộng có 243,9ha được trồng, đã hình thành một vùngnguyên liệu tương đối tập trung, những nương chè trồng từ những năm 2002,
2003 đến nay đã cho thu hoạch búp tươi, bình quân mỗi ha đạt 5-6 tấn búptươi/năm, mang lại thu nhập trên dưới 30 triệu đồng/năm Cây chè Shan đãtạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho gần 700 hộ dân vùng cao ở xãNậm Búng và Gia Hội, nhiều hộ nhờ chè đã tích lũy mua được những đồdùng sinh hoạt đắt tiền
Tại xã Xuân Sơn (Tân Sơn, Phú Thọ) trồng rừng bằng chè Shan tuyết,cho đến nay toàn Xuân Sơn trồng được 70 ha chè Shan theo dạng rừng phòng
hộ, đang bắt đầu cho thu nhập, bình quân mỗi năm cho thu từ 10 - 15 triệuđồng Chè sạch hoàn toàn không phun thuốc trừ sâu, không bón phân hóa học,chỉ mỗi công làm cỏ nên năng suất chưa cao Cây chè Shan tuyết 6 tuổi, đãcao trung bình khoảng 3m, tán 2m, hơn các cây khác về tán, lại có tuổi thọhàng mấy trăm năm, có thể cho thu nhập đều mà rừng luôn có cây phòng hộ.Những năm đầu, khi tán cây còn nhỏ, bà con vùng dự án thường làm nônglâm kết hợp như trồng sắn, lạc, đậu, cải nương v.v để lấy ngắn nuôi dài
Tháng 12/2011, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, Sở KH&CNTuyên Quang phối hợp với UBND Huyện Na Hang tổ chức hội thảo khoa họcthuộc dự án: Xây dựng mô hình trồng và thâm canh chè Shan tuyết theohướng tập trung tại huyện Na Hang Mục tiêu của dự án nhằm: Xây dựngvùng chè Shan tuyết tại xã Sinh Long, bằng những giống chè Shan tuyết chọn
Trang 32lọc để tạo vùng chè có năng suất cao, chất lượng tốt, tạo ra sản phẩm hànghoá đặc sản, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế chovùng dự án Các nội dung đã được triển khai và đạt được yêu cầu đề ra: đã tổchức tập huấn kỹ thuật về thâm canh chè Shan tuyết, kỹ thuật đốn, hái, chếbiến, bảo quản chè cho 220 lượt người dân; xây dựng được vườn ươm 5.000bầu để chuyển giao công nghệ giâm hom cành chè cho nông dân; trồng được
mô hình 10 ha tập trung chè sinh trưởng phát triển tốt
1.2 PHÁT TRIỂN CHÈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Phát triển chè trên thế giới
Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc sau đó phát triển ra các nướcĐông Nam Á và phía Bắc Ấn Độ rồi từ đó sang các nước Châu Phi và Châu
Mỹ La tinh Sản phẩm chè bắt đầu được buôn bán trên thế giới vào thế kỷ thứXVII Khi đó các Công ty của Hà Lan, của Anh mua chè từ Trung Quốc vàNhật Bản đưa sang thị trường Chân Âu Lúc này thị trường xuất khẩu chèchưa rộng lớn, nhưng tại đây sản phẩm chè đã tự khẳng định được vị trí vàchỗ đứng trên thị trường Quốc tế Theo đánh giá của Chuyên gia Đỗ NgọcQuý và Nguyễn Kim Phong thì cho đến nay chè đã được trồng tại 58 nướctrên khắp năm châu lục, được phân bố từ 330 vĩ bắc đến 490 vĩ nam, trong đóvùng trồng thích hợp nhất là 160 vĩ Nam đến 200 vĩ Bắc Về diện tích, đếnnay trên toàn thế giới có 4.657.000 ha chè Trong đó Châu Á chiếm 80% diệntích chè của toàn thế giới, các nước có diện tích chè lớn như: Trung Quốc, Ấn
Độ, Srilanca, Indonexia, Băngladesh, Việt Nam Về sản lượng SX ra và tiêuthụ trên toàn thế giới là 5.057.000 tấn
Các nước tiêu thụ chè có 115 nước, gồm Châu Âu có 28 nước, Châu
Mỹ có 19 nước, Châu Á có 29 nước, Châu phi có 34 nước và Châu ĐạiDương có 5 nước Mức tiêu thụ bình quân là 0,19kg/người/năm
1.2.2 Phát triển chè ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Châu Á Thái BìnhDương, có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát
Trang 33triển Chè được trồng ở Việt Nam từ khá lâu, nhưng nó chỉ thực sự được coi
là một loại cây công nghiệp, đưa vào SX đại trà với quy mô lớn, khi các đồnđiền chè đầu tiên do người Pháp xây dựng ở Việt Nam Ngành chè đến nay đã
có lịch sử phát triển gần 90 năm (1918-2007) Được coi là một trong nhữngngành SX có mầm mống công nghiệp sớm nhất ở nước ta trong số các ngànhchế biến công nghiệp dài ngày Trải qua gần một thế kỷ tồn tại và phát triểnngành chè đã trở thành ngành SX rất quan trọng, ta có thể chia thành một sốgiai đoàn chủ yếu sau:
* Giai đoạn trước năm 1954
Do thấy điều kiện để phát triển SX chè có nhiều thuận lợi, người Pháp
đã có chủ trương xây dựng một số đồn điền SX chè Năm 1990 một nhà tưsản người Pháp đã mở một số đồn điền chè với diện tích 6 ha ở Sông Thao -Phú Thọ; sau đó được phát triển ra các địa phương khác Trong giai đoạn nàychè phát triển rải rác ở các tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ, Nam Trung Bộ vàTây Nguyên Do canh tác quảng canh nên năng suất sản lượng còn thấp, chủyếu là tự SX và tiêu thụ
* Giai đoạn từ 1954-1975:
Năm 1954 hoà bình được lập lại, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội, hàng loạt các nông trường quốc doanh được thành lập Diện tích trồngchè ở miền Bắc đạt 28,1 vạn ha Đặc biệt chú ý ở giai đoạn này là liên hiệpchè lần đầu tiên được thành lập ở nước ta vào năm 1974, đánh dấu một bướcphát triển quan trọng của ngành chè Thời kỳ này công nghiệp chế biến bắtđầu phát triển, nhiều nhà máy chè đen thiết bị của Liên Xô, có công suất từ14- 40 tấn chè búp tươi/ngày, nhà máy chè xanh thiết bị của Liên Xô, TrungQuốc công suất 6-12 tấn chè búp tươi/ngày đã được xây dựng Diện tích chè
cả nước năm 1955 là 10.600 ha, năng suất 4,9 tạ/ha, sản lượng chè khô 5.194tấn; năm 1960 diện tích là 17.200 ha, năng suất 4,2 tạ ha, sản lượng 7.224 tấn;năm 1971 diện tích đã lên tới 31.300 ha, năng suất đạt 4,9 tạ ha, sản lượng là15.337 tấn
Trang 34Về tình hình tiêu thụ, thời kỳ này SX chủ yếu phục vụ tiêu dùng trongnước, một phần đem xuất khẩu, ở miền Bắc chủ yếu xuất khẩu chè đen sangthị trường Liên Xô và các nước Đông Âu, chè xanh xuất sang Bắc Phi.
* Giai đoạn 1975 - 1981:
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Đảng vàNhà nước tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển mạnh ngành chè Diện tích, năngsuất, sản lượng chè không ngừng được tăng lên Giai đoạn này có hai thời kỳkhác nhau được tính theo mốc về sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế
Thời kỳ 1975-1981: Là thời kỳ mà mọi việc từ quản lý đến tổ chức SXđến được sắp đặt từ trên Nhà nước giao kế hoạch, hoạch định giá cả, lỗ lãi đã
có Nhà nước chịu Người trồng chè và cơ sở chế biến chè chủ yếu tập trungvào việc giao nộp sản phẩm do đó việc SX chè cầm chừng, kém hiệu quả gâyách tắc, trì trệ trong SX và lưu thông sản phẩm chè Tuy nhiên diện tích chè
cả nước và sản phẩm vẫn tăng khá nhanh mặc dù năng suất vẫn còn rất thấp
và tăng chậm Tốc độ phát triển bình quân một năm là 2% về diện tích và4,9% về sản lượng Sản lượng xuất khẩu thời kỳ này trung bình mỗi năm đạttrên 5.000 tấn
* Giai đoạn 1982 đến nay:
- Nổi bật trong thời kỳ này là đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp bằngchỉ thị 100 của ban Bí thư TW Đảng năm 1981 Sau đó là Nghị Quyết 10 của
Bộ chính trị năm 1988 và các chính sách đổi mới quản lý kinh tế theo hướngphát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Cho đến nay ngànhchè đã có một hệ thống liên kết trong toàn ngành Năm 2000, tổng diện tíchchè là 81.692 ha, phân bổ trên 30 tỉnh trong cả nước Trong đó diện tích chèkinh doanh là 70.192 ha với năng suất chè búp tươi bình quân 4,23 tấn/ha, sảnlượng chè xuất khẩu là 42.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 60 triệuUSD Thị phần chè Việt Nam trên thế giới hiện nay là trên 4% [1]
Trang 35Năm 2003, diện tích chè cả nước 116.200ha, với sản lượng đạt 94.500tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu trên 81 triệu USD, thị trường xuất khẩu được
mở rộng trên 60 quốc gia khắp các châu lục trên thế giới
Năm 2006 so với năm 1999 diện tích trồng chè tăng 1,5 lần, đạt123.000ha, chè kinh doanh là 110.000ha, sản lượng đạt trên 143.000 tấn tràkhô, năng suất tăng 1,7 lần đạt 1,27 tấn trà khô/ha, xuất khẩu tăng 2,5 lần đạt105.116 tấn, kim ngạch xuất khẩu trên 111 triệu USD Cây chè là cây xóa đóigiảm nghèo, trên đất dốc đạt 1000 USD/ha/năm và 25 triệu đồng/ha ViệtNam đã trở thành nước thứ 7 về SX và thứ 6 về xuất khẩu trong 30 nướctrồng chè trên thế giới
Năm 2014 có khoảng 125.000ha đất trồng chè Trong đó, diện tích chèđang cho thu hoạch là 113.000ha, năng suất bình quân đạt 8 tấn búp tươi/1ha.Trong năm 2014, Việt Nam có khoảng 500 cơ sở SX chế biến chè, với tổngcông suất trên 500.000 tấn chè khô/năm Trong số 180.000 tấn chè khô củanăm 2014, Việt Nam xuất khẩu được 130.000 tấn, kim ngạch đạt 230 triệuUSD; sản lượng chè nội tiêu vào khoảng 33.000 tấn, doanh thu 2.300 tỷ đồng.Với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu trên, Việt Nam tiếp tục đứng ở vị tríthứ 5 trên thế giới, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya và Srilanka (những quốcgia xuất khẩu chè nhiều nhất thế giới)
Qua đây cho thấy ở Việt Nam cây chè có một vị trí quan trọng trongnền kinh tế quốc dân, nó thuộc nhóm ngành kinh tế mũi nhọn Do đó pháttriển trồng chè ở nước ta không những phát huy được vai trò kinh tế của hộgia đình, lợi thế của từng vùng, từng đơn vị để áp dụng các tiến bộ về giống,
kỹ thuật canh tác chế biến mà còn góp phần to lớn trong việc sử dụng có hiệuquả đất đai, LĐ nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy SX phát triển Góp phầnnâng cao đới sống vật chất, văn hoá tinh thần người dân Chính điều đó càngkhẳng định việc đầu tư phát triển cho ngành chè là một hướng đi đúng của cácđịa phương, các công ty, các cơ sở SX kinh doanh trong cả nước
Trang 36Bảng 1.1 Tình hình SX và xuất khẩu chè ở Việt Nam (2012 - 2014)
STT Các chỉ tiêu ĐVT 2012 Các năm 2013 2014
3 Sản lượng (búp tươi) Nghìn tấn 909,8 921,9 904
4 Xuất khẩu (búp khô) Nghìn tấn 146 145 130
Nguồn : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
1.2.3 Phát triển chè ở Hà Giang
Hà Giang là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinhtrưởng và phát triển đặc biệt là giống chè Shan tuyết Quá trình phát triển chècủa Hà Giang đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, tuy nhiên trong nhiềunăm qua cây chè vẫn đứng vững và được xác định là một trong những câykinh tế mũi nhọn của tỉnh Cây chè không chỉ là cây xoá đói giảm nghèo, phủxanh đất trống đồi núi trọc, mà còn là cây trồng góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp theo hướng tích cực Vì vậy Tại đại hội Đảng bộ Tỉnh lầnthứ XIV nhiệm kỳ 2005 - 2010 đã chỉ rõ: Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp, coicây chè là cây hàng hoá mũi nhọn của tỉnh, trồng mới 500ha/năm chủ yếu làgiống chè Shan, đưa diện tích chè Hà Giang lên trên 17.500ha vào năm 2010.Cải tạo, thâm canh nâng năng suất lên 70tạ/ha (Tăng gấp 2 lần so với năm2005), đưa sản lượng chè búp tươi đạt trên 100.000tấn/năm và sản lượng chè
khô xuất khẩu đạt trên 4.000 tấn/năm [34].
Những năm gần đây nhờ có chính sách khuyến khích phát triển, diệntích, năng suất, chất lượng chè hàng năm đều tăng Hiện tại cây chè là mộttrong những cây hàng hoá chiến lược trong phát triển kinh tế nông nghiệp củatỉnh Sản phẩm từ cây chè đã góp phần làm đời sống của nhân dân không chỉ
ổn định, mà còn có thể làm giàu thông qua việc phát triển SX - chế biến vàxuất khẩu chè
Trên địa bàn tỉnh phân ra thành 2 vùng SX tương đối rõ rệt, chè vùngthấp và chè vùng cao
Trang 37- Chè vùng thấp là vùng SX trọng điểm của tỉnh, diện tích chiếm 40%diện tích chè toàn tỉnh Chè được trồng tập trung ở các xã vùng thấp huyện VịXuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Xín Mần Nương chè có mật độ cây trồngtương đối đảm bảo so với quy trình kỹ thuật, năng suất bình quân đạt 63 tạ/hachiếm 60% sản lượng chè toàn tỉnh.
- Chè vùng cao diện tích chiếm 60% tổng diện tích chè của tỉnh, toàn
bộ diện tích này được trồng bằng giống chè Shan tuyết, thường là chè cổ thụđược trồng phân tán, vườn chè có mật độ trồng thưa, năng suất thấp Năngsuất trung bình đạt 17 tạ/ha, đây là vùng nguyên liệu chè có chất lượng caođược rất nhiều thị trường chấp nhận
1.2.3.1 Về diện tích , năng suất, sản lượng chè
- Năm 2014 toàn tỉnh có 20.468,1 ha, trong đó có 16.972 ha cho thuhoạch Diện tích chè tập trung chủ yếu ở 5 huyện: Bắc Quang, Quang Bình,
Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Xín Mần chiếm 87,9 % diện tích chè toàn tỉnh.Diện tích chè còn lại nằm rải rác ở tất cả các huyện, thành phố
Tỉnh đã xây dựng vùng chè thâm canh 15.000 ha bao gồm các xã vùngthấp các huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Hoàng Su Phì và XínMần Diện tích còn lại phát triển theo hướng SX chè hữu cơ Khoanh vùng,
hỗ trợ SX chè theo tiêu chuẩn VietGAP, dự kiến đến năm 2020 đạt 3.000 ha ;
- Năng suất chè bình quân của tỉnh qua các năm còn rất thấp, năm 2014năng suất chè búp tươi đạt 38,5 tạ/ha;
- Sản lượng Chè búp tươi toàn tỉnh đạt 65.347,7 tấn
1.2.3.2 Về cơ cấu giống chè và kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hái
- Cơ cấu giống chè trồng trên địa bàn tỉnh hiện nay chủ yếu là 2 nhómgiống chè chính: Chè Shan tuyết và chè Trung Du, trong đó: Giống Chè Shantuyết chiếm gần 90% diện tích (gồm chè Shan tuyết lá to và chè Shan tuyết lánhỏ; Chè Shan lá nhỏ có diện tích trên 200 ha trồng tập trung tại xã Lũng Phìnhuyện Đồng Văn có hương vị đặc trưng riêng của vùng chè Hà Giang, đây làloại chè mang hương vị đặc trưng riêng của vùng chè Hà Giang, đang được ưa
Trang 38chuộng trên thị trường) Diện tích chè còn lại là các giống khác như: ChèTrung du, chè Shan búp đỏ, PH1, LDP1, Kim Tuyến Qua kết quả khảonghiệm cho thấy các giống chè: Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên và PH11 đã sinhtrưởng và phát triển tốt, có thể nhân ra diện rộng nhằm đa dạng hoá sản phẩm, phùhợp với thị hiếu người tiêu dùng.
- Do đặc thù vùng núi cao, khô hạn nên hầu hết diện tích chè trồng trênđịa bàn tỉnh được trồng bằng phương pháp: Trồng chè bầu gieo hạt hoặc gieohạt trực tiếp Diện tích chè được trồng chủ yếu bằng hạt nên có năng suấtthấp Tỉnh đã khuyến khích sử dụng trồng chè bằng phương pháp trồng bầugiâm cành tại một số vùng thấp có điều kiện thâm canh Đến nay đã có 420,7
ha diện tích chè được trồng bằng giống chè bầu giâm cành (Bắc Quang 54,7ha; Quang Bình 64 ha; Vị Xuyên 105 ha; Xín Mần 103 ha; Yên Minh 65 ha;Đồng Văn 29 ha) bước đầu đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong việc thayđổi tập quán canh tác nhằm tăng năng suất, chất lượng cây chè trên địa bàntỉnh
- Đối với các khu vực SX chè tập trung thuộc các huyện như: BắcQuang, Quang Bình, Vị Xuyên do có điều kiện thuận lợi về đất đai như độdốc, địa hình và nguồn nước tưới nên phần lớn diện tích được canh tác áp,một số diện tích đã dụng theo đúng quy trình kỹ thuật vì thế năng suất cao và
ổn định Với các khu vực trồng chè khác, đặc biệt là khu vực núi cao, có độdốc lớn như các xã vùng cao của huyện Vị Xuyên, Hoàng Su Phì, Xín Mần,các huyện vùng cao núi đá do tập quán canh tác lạc hậu: Diện tích chè cónhiều khoảng trống do lúc trồng đầu tư không tuân theo quy trình kỹ thuật;chè chưa được đốn, hái và chăm sóc; đất không được cải tạo theo một quytrình hợp lý, không bón hoặc bón quá ít phân hữu cơ; thiếu hệ thống cây cảitạo đất cung cấp chất mùn, vừa là cây che bóng do vậy năng suất thường thấp
và không ổn định
- Thu hái chè là kỹ thuật quan trọng liên quan đến năng suất và chấtlượng chè Thu hoạch chè ở Hà Giang hiện nay chủ yếu bằng tay là chính,
Trang 39diện tích áp dụng thu hái bằng máy chủ yếu áp dụng đối với một số xã thuộctiểu vùng thấp của các huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên Việc thuhái chè hiện tại chưa áp dụng đầy đủ quy trình kỹ thuật, ngay cả những vùngchè tập trung thâm canh cao như huyện Vị Xuyên và Bắc Quang Theo đánhgiá của một số doanh nghiệp chè trên địa bàn, nhiều vụ chè người dân do chútrọng năng suất và tiết kiệm công LĐ nên đã dùng liềm thu hoạch, sản phẩmbúp tươi là những đoạn cành dài từ 15 đến 20cm ảnh hưởng rất nhiều đến chấtlượng chè và không thể chế biến trên những dây chuyền công nghệ hiện đại.
1.2.3.3 Hiện trạng SX chè an toàn
Để nâng cao chất lượng, nâng cao giá trị chè, áp dụng thực hiện SX chèhữu cơ đã được chứng nhận tại xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên và xã TiênNguyên, huyện Quang Bình Kết quả SX đã thực sự đem lại hiệu quả chongười SX, giá chè búp tươi tăng cao, thu nhập bình quân tăng lên gấp 3 đến 4lần so với SX thông thường (18.000 - 20.000 đồng/kg) Diện tích chè hữu cơngày càng được mở rộng, đến nay đã có 1.448 ha chè được cấp giấy chứngnhận (trong đó xã Cao Bồ 900 ha, xã Tiên Nguyên 548 ha)
Ngoài việc SX chè hữu cơ, SX chè theo hướng an toàn, chất lượng caocũng được chú trọng, đến nay hiện có 1.063,7 ha chè được cấp giấy chứngnhận SX chè theo tiêu chuẩn VietGAP Giá trị sản phẩm chè trên diện tíchđược cấp chứng nhận đã tăng từ 1,3 – 1,5 lần so với sản phẩm chè SX thôngthường
Công tác quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên chè được quản
lý chặt chẽ, các tổ xản xuất, hộ nông dân tham gia SX có sổ ghi chép rõ ràng
cụ thể về thời gian, số lượng, tên thuốc sử dụng, phân bón và thời gian thuhái Hàng năm các đơn vị, tổ chức, cá nhân được cấp chứng nhận có báo cáokết quả kiểm tra đánh giá gửi về là Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản
và thủy sản - đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT [32]
1.2.3.4 Tổ chức liên kết SX giữa vùng nguyên liệu và nhà máy chế biến
Trang 40Liên kết giữa SX chè với chế biến đã được tổ chức thực hiện tốt tại một
số đơn vị chế biến: Công ty Cổ phần chè Hùng An (huyện Bắc Quang), Công
ty TNHH thương mại Hùng Cường (huyện Vị Xuyên), Công ty TNHHHoàng Long (huyện Bắc Quang), Công ty TNHH Hiệp Thành (huyện QuangBình), Hợp tác xã Phìn Hồ (huyện Hoàng Su Phì) Các cơ sở chế biến đã cóhợp đồng thu mua bao tiêu 100% sản phẩm cho nông dân, giá thu mua củacác cơ sở chế biến tương đối cao và ổn định so với thị trường, người dân yêntâm SX, thường xuyên cung cấp ổn định nguyên liệu đầu vào cho các doanhnghiệp, cơ sở chế biến [32]
1.2.3.5 Quản lý các cơ sở chế biến
Đầu tư xây dựng thêm các cơ sở chế biến trong đó có 1 nhà máy tinhchế chế biến chè với công suất 5.000 tấn/năm Đến năm 2020 nâng công suấtcác nhà máy chế biến lên 820,7 tấn/ngày đáp ứng được nhu cầu SX, phát triểnkinh tế xã hội Áp dụng quy trình chế biến theo tiêu chuẩn HACCP, ISO
14000, SX chế biến chè đảm bảo vệ sinh ATTP
- Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 2 công ty cổ phần; 8 Công ty - Doanhnghiệp; trên 20 HTX đăng ký hoạt động SX kinh doanh và trên 300 cơ sở chếbiến nhỏ (quy mô hộ gia đình) Các đơn vị, cơ sở chế biến chè trên địa bàntỉnh đã có chuyển biến tích cực đến nay đã có một số nhà máy chế biến nhưCông ty TNHH thương mại Hùng Cường, Công ty Cổ phần chè Hùng An,Công ty cổ phần Bách San Đã đầu tư lắp đặt dây chuyền công nghệ cao, cócông xuất lớn, SX ra các sản phẩm chè có chất lượng tốt, đồng đều đượcnhiều thị trường trong nước và nước ngoài chấp nhận
- Xây dựng thương hiệu: Hiện chưa có thương hiệu chung cho sảnphẩm chè Hà Giang, một số sản phẩm đã xây dựng được nhãn hiệu như: ChèHùng Cường, Phìn Hồ, Hùng An, Bách San, Hoàng Long
- Tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm chè sau khi chế biến chủ yếu dùng để
sử dụng nội tiêu hoặc xuất nguyên liệu thô đi các tỉnh như Tuyên Quang, TháiNguyên, Hà Nội, Hải Phòng Giá bán sản phẩm còn rất thấp: Trung bình 1