1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

153 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 715,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ được biểu hiện thông qua quan niệm về tự nhiên, quan niệm về con người và về xã hội. Những yếu tố triết học đó vừa mang những giá trị lịch sử, giá trị thời đại, đồng thời vẫn còn những hạn chế nhất định về thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Tín ngưỡng dân gian là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần ra đời

và lưu truyền trong nhân dân từ xa xưa Trải qua bao thăng trầm, tín ngưỡngdân gian đã đi vào mạch sống của từng cộng đồng người, tạo nên những nétvăn hóa đậm đà của mỗi dân tộc Tín ngưỡng dân gian tồn tại trên cơ sở củaphương thức sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, nó phản ánh đời sốngtinh thần của con người trong quá trình lao động sản xuất, cải tạo tự nhiên,xây dựng đất nước và góp phần giáo dục đạo đức, nhân cách, điều chỉnhhành vi các cá nhân con người Bên cạnh đó, nó còn góp phần bảo lưu vàgìn giữ bản sắc văn hóa của người Việt, củng cố sự cố kết cộng đồng, gópphần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

Ngay sau khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, trên tinh thần vậndụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quán triệt phương hướngchỉ đạo của Đảng trong điều kiện mới, Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị năm

1990 Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới đã xác định tín

ngưỡng, tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài và có ý nghĩa quan trọng đốivới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lầnthứ 7 – BCH Trung ương khóa IX năm 2003 cũng nêu: “Giữ gìn và pháthuy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có côngvới Tổ quốc, dân tộc và nhân dân; tôn trọng tín ngưỡng của đồng bào cóđạo ” [dang cong san viet nam, van kien hôi nghi lan 7, tr.52] Đặc biệt,ngày 29 tháng 6 năm 2004, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Lệnh số18/2004/L – CTN công bố Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, được Uỷ banthường vụ Quốc hội khoá 11 thông qua ngày 18/6/2004 và cho đến nay tạiđiều 24 Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa và sửa đổi, bổ sung quy định củahiến pháp năm 1992 về quyền tự do tín ngưỡng như sau: “Mọi người cóquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ

Trang 2

quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Không ai được xâm phạm tự do tínngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Từ đó cho đến nay, trong các kì đại hội VIII, IX, X, XI, XII vấn đề tôn giáo,tín ngưỡng dần dần được bổ sung và hoàn thiện Cương lĩnh Xây dựng đấtnước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chothấy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, coi

đó là một phần không thể thiếu trong cộng đồng người Việt Nam Đặc biệt,trong những năm gần đây, trước những diễn biến theo chiều hướng gia tăng

và ngày càng phức tạp của các lễ hội truyền thống, hàng loạt các công văn,công điện của Thủ tướng Chính phủ, của Ủy ban nhân dân các tỉnh về chỉđạo, quản lý hoạt động tín ngưỡng ở các địa phương trong cả nước

Vùng đồng bằng Bắc Bộ được coi là một cái nôi văn hóa của đất nước.Phương thức sản xuất nông nghiệp là cơ sở chủ yếu cho việc ra đời các loạihình văn hóa dân gian trong đó có các loại hình tín ngưỡng dân gian Chotới nay, tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ khôngchỉ là sự biểu hiện văn hóa đặc trưng của vùng mà còn là một trong nhữngđặc trưng nổi bật cho văn hóa dân tộc Hiện nay, hoat động tín ngưỡng dângian ở vùng đồng bằng Bắc Bộ diễn ra ngày càng mạnh mẽ, bùng phát nhiềusinh hoạt tín ngưỡng bị biến tướng, có nhiều hiện tượng tiêu cực đan cài như

mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, tình trạng thương mại hóa làm mất đinét đẹp văn hóa trong sinh hoạt tín ngưỡng của vùng Chính vì vậy, việcquản lý và có những chính sách tích cực bám sát các sinh hoạt tín ngưỡngdân gian được các cấp lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở quan tâm sâu sắc

Để xây dựng được các biện pháp hiệu quả không thể không kể đến giá trị,vai trò không nhỏ của các công trình chuyên biệt nghiên cứu về tín ngưỡngdân gian nói chung và tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ nóiriêng của các nhà khoa học Do vậy, thực hiện sự chỉ đạo của các cấp lãnhđạo có thẩm quyền, các nhà khoa học đã tích cực nghiên cứu, truy tìm bảnchất hiện tượng văn hóa tinh thần vô cùng nhạy cảm – sinh hoạt tín ngưỡng

Trang 3

dân gian của vùng và trên phạm vi cả nước Tuy vậy, trong thực tế nghiêncứu hiện nay, có không ít các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân giandưới các góc độ tiếp cận khác nhau như tôn giáo, chính trị, văn hóa… song,tiếp cận nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian dưới góc độ triết học chưa cónhiều công trình đề cập tới Nếu có tiếp cận dưới góc độ triết học thì đó cóthể là sự đan xen vào các công trình tiếp cận chủ yếu trên các lăng kínhkhoa học xã hội khác Do vậy, cần một thế giới quan triết học trong việc giải

mã tín ngưỡng dân gian sẽ giúp chúng ta hiểu được bản chất của nó Từ đó,cùng với các ngành khoa học khác, góp phần trong việc xây dựng các giảipháp nhằm điều chỉnh các hoạt động tín ngưỡng của vùng mang tính tíchcực, giữ được giá trị văn hóa truyền thống, đào thải các yếu tố tiêu cực làviệc làm hết sức cần thiết

Với lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” làm

đề tài luận án tiến sĩ Triết học

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của ngườiViệt vùng đồng bằng Bắc Bộ; từ đó rút ra giá trị và hạn chế của nó

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng dângian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới góc độ triết học

- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời, tồn tại của tín ngưỡngdân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

- Làm rõ những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của ngườiViệt vùng đồng bằng Bắc Bộ

- Rút ra các giá trị và hạn chế của các yếu tố triết học trong tín ngưỡngdân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùngđồng bằng Bắc Bộ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Một số tín ngưỡng dân gian chủ yếu của người Việt vùng đồng bằngBắc Bộ: Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, hệ thống tínngưỡng thờ Thành Hoàng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

+ Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vềtín ngưỡng, tôn giáo

+ Luận án được trình bày trên cơ sở các tài liệu thu thập được qua cáccông trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các bài báo, tạp chí

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Bên cạnh việc sử dụng phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng

và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả còn sử dụng kết hợp đồng bộ hệ thống

các phương pháp như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừutượng hóa, logic - lịch sử

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Làm rõ khái niệm tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng dân gian củangười Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới góc độ tiếp cận triết học

- Luận án làm rõ những yếu tố triết học cơ bản trong tín ngưỡng dângian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ; từ đó luận án rút ra những giátrị và những hạn chế của nó

6 Ý nghĩa của luận án

+ Về mặt lý luận:

Luận án góp phần khẳng định thế giới quan triết học trong văn hóatruyền thống của dân tộc Việt Nam và góp phần cho việc nghiên cứu những

Trang 5

giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung và tín ngưỡng dân gian nóiriêng.

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,luận án gồm 4 chương, 9 tiết

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài luân án

Trang 6

Việc Bộ Chính Trị ra Nghị quyết số 24-NQ/TW (16/10/1990) về tăngcường công tác tôn giáo, tín ngưỡng trong tình hình mới đã đáp ứng kịpthời nhu cầu đổi mới về nhận thức tôn giáo và công tác tôn giáo, tín ngưỡng.Những quan điểm mới hết sức quan trọng của Nghị quyết 24 đã gợi mở chocác nhà nghiên cứu cách tiếp cận toàn diện, đa chiều về tín ngưỡng, tôn giáo

và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là tín ngưỡng dân gian - một dạngthức sinh hoạt văn hóa tinh thần hết sức đa dạng phong phú song cũng vôcùng phức tạp Kể từ đó, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã ra đời,luận giải nhiều vấn đề quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn đờisống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Việc tổng quan các công trìnhnghiên cứu về tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng dângian vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, giúp cho tác giả luận án nắm bắtđược tình hình chung về lĩnh vực nghiên cứu Xuất phát từ mục đích nghiêncứu của đề tài, tác giả đã tìm hiểu và phân loại các công trình nghiên cứu cóliên quan tới tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ thành các lĩnhvực chủ yếu sau:

1.1.1 Những công trình tiêu biểu bàn về khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian nói chung

* Những công trình tiêu biểu bàn về khái niệm tín ngưỡng; phân biệt tín ngưỡng với tôn giáo và mê tín dị đoan; phân loại tín ngưỡng.

- Thứ nhất, các công trình tiêu biểu bàn về khái niệm tín ngưỡng

Đã có rất nhiều tác giả bàn về khái niệm tín ngưỡng dưới nhiều khía

cạnh khác nhau Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam [, nep cu tin nguong 1996, quyen 1] tác giả Toan Ánh cho rằng,

nguồn gốc xuất phát cho sự hình thành tín ngưỡng là do “xuất phát từ sứcmạnh không thể khống chế của thiên nhiên nên con người ta đâm ra sợ hãi,

và do vậy, để tồn tại yên ổn, họ đã tôn thờ và tin tưởng vào những sức mạnhhữu hình hay vô hình khác” [nep cu tin nguong 1996, tr.17] Có thể thấyrằng, nếu chỉ dừng lại ở nguyên nhân cho rằng do con người sợ hại trước

Trang 7

sức mạnh của thiên nhiên mà hình thành nên tín ngưỡng là chưa đủ Bởi lẽ,

do nhận thức còn hạn chế, con người chưa thể giải thích được các hiệntượng của tự nhiên thì còn có rất nhiều nguyên nhân khác Bên cạnh đấy,tác giả Toan Ánh cũng chưa chỉ ra nguyên nhân tại sao mà đến hiện nay, tínngưỡng vẫn còn tồn tại mặc dù nhận thức của con người đã nâng lên, cáchiện tượng tự nhiên đã được giải thích bằng lý lẽ khoa học Tác giả chỉ rarằng, khi nói đến tín ngưỡng Việt Nam là nói tới niềm tin, sự tôn sùng thànhkính đối với lực lượng siêu nhiên, nên “đừng đem khoa học ra mà giải thích;trên lĩnh vực tín ngưỡng, có nhiều lý lẽ riêng mà lý lẽ khoa học không thểgiải thích nổi dù với sự chứng minh hiển nhiên” [nep cu tin nguong 1996,tr.17] Và do vậy, theo tác giả “… nói đến tín ngưỡng là bao hàm ý nghĩangưỡng mộ và tin tưởng một cách say mê” [nep cu tin nguong 1996, tr.17]

Có nghĩa rằng, khi nói tới tín ngưỡng, tức là đang nói tới niềm tin mãnh liệtvào một hiện tượng nào đó Nhưng trong xã hội hiện đại, không vì lý lẽ đó

mà bác bỏ vai trò của khoa học trong việc đi tìm câu trả lời cho nguồn gốchình thành nên tín ngưỡng Hiện nay, xu hướng vận động của hoạt động tínngưỡng ngày càng rầm rộ, thậm chí biến tướng theo nhiều cung bậc khácnhau Dù các nhà khoa học cũng đã vào cuộc, song, với “… sự chứng minhhiển nhiên…” [nep cu tin nguong 1996, tr.17] như tác giả nói vẫn chưa tạonên được niềm tin đối với những người có tín ngưỡng là vì trình độ nhậnthức của người dân chưa thực sự đồng đều Chính vì vậy, trong những nămgần đây, hoạt động tín ngưỡng không những không thuyên giảm mà cònbùng nổ một cách dữ dội ở khắp các làng quê

Khác với cách giải thích của tác giả Toan Ánh, khi bàn về tín ngưỡng,

trong cuốn Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam [tim hieu ban sac van hoa

viet nam], tác giả Trần Ngọc Thêm nhận định rằng niềm tin vào cái thiêng

là cơ sở cho sự hình thành tín ngưỡng Tác giả viết:“ Tín ngưỡng được hiểu

là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng cao cả, siêu nhiên, haynói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào cái thiêng liêng, đối lập với cái

Trang 8

trần tục, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin,

nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào cái thiêng liêng Do

vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố

cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống đời sống vậtchất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống, tình cảm…” [tim hieuban sac van hoa viet nam, tr.16]

Cùng quan điểm với các tác giả Trần Ngọc Thêm, trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam [tin nguong va van hoa tinnguong, ngo duc thinh], tác giả Ngô Đức Thịnh cũng nhất trí cho rằng “…tín ngưỡng với tư cách như một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêngcủa con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển xãhội cụ thể.” [tin nguong va van hoa tin nguong, ngo duc thinh, tr.17] Theokhái niệm này, có thể hiểu rằng, tín ngưỡng là một hoạt động tinh thần củacon người, biểu hiện bằng niềm tin vào “cái thiêng” và hành động theo niềmtin đó Và ở các trình độ xã hội khác nhau thì niềm tin vào “cái thiêng” thayđổi Xét theo lịch sử ra đời của của tín ngưỡng có thể cho thấy ở thời kìnguyên thủy, xã hội loài người mới được manh nha, tương ứng với đó làtrình độ thấp cả về phương diện kinh tế và nhận thức Lúc này, tín ngưỡngcủa con người chủ yếu biểu hiện ở sự “phục tùng” tuyệt đối trước sức mạnhkhông thể khống chế của tự nhiên – niềm tin này vì thế mà trở nên mùquáng Bước sang xã hội hiện đại, trình độ xã hội phát triển và đạt đượcnhững thành tựu nhất định, đã phần nào chế ngự được sức mạnh của thiênnhiên, cải tạo và bắt nó phục vụ lợi ích của con người Lúc này, tín ngưỡngcon người có những sự thay đổi Bên cạnh việc người ta tin tưởng vào “cáithiêng” nhưng không phải tin tưởng tuyệt đối, tin tưởng một cách mù quáng

mà tin tưởng vì sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng, tin vì giá trị nhân văn của nó.Luận giải tín ngưỡng trên cơ sở niềm tin vào cái thiêng cũng là quan

điểm của tác giả Nguyễn Đức Lữ trong cuốn Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam [52] Khi bàn về khái niệm tín ngưỡng, tác giả chỉ rõ

Trang 9

nội hàm của tín ngưỡng là “lòng tin, sự ngưỡng vọng của con người của conngười vào một lực lượng siêu nhiên nào đó – một lực lượng siêu thực hư ảo,

vô hình” [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.6] Theotác giả, nội hàm của tín ngưỡng cũng bao hàm nội hàm của tín ngưỡng dângian Niềm tin là điểm xuất phát của mọi tín ngưỡng [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.6] Tác giả chỉ rõ: “Niềm tin đó còn tồn tại,chừng nào con người chưa làm chủ được tự nhiên, xã hội và bản thân” Vớiquan điểm này, tác giả luận án cũng hoàn toàn nhất trí Bởi vì, khi conngười ta gặp những tai ương, trắc trở, rơi tình trạng không lối thoát, thì lúcđấy, bao trùm trong suy nghĩ của sự nhận thức còn hạn hẹp thì khi đó họ hivọng sẽ được che chở, niềm tin rằng mình sẽ được giải thoát khỏi tai ươngbởi lực lượng thần bí nào đó – tín ngưỡng được hình thành Tác giả kết luận

“tín ngưỡng là chỉ niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiệntượng, một lực lượng, một học thuyết nào đó, mà thông thường, được chỉ làmột niềm tin tôn giáo”[Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam,tr.186]

Không giải thích tín ngưỡng trên cơ sở của niềm tin, hay là biểu hiệncủa sự sợ hãi trước sức mạnh siêu nhiên của con người, tác giả Nguyễn

Minh San trong cuốn Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam [ Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam ] có cách tiếp cận mới về tín ngưỡng Tác giả cho

rằng “Tín ngưỡng là biểu hiện của ý thức, về một hiện tượng thiêng liêng, một sức mạnh thiêng liêng do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho một hiện tượng một sức mạnh chỉ cảm thụ mà chưa nhận thức được Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hóa của con người được hình thành tự phát trong mối quan hệ giữa con người với chính mình, với người khác và với giới tự nhiên” [ Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam , tr.7].Như vậy, khi hiểu tín ngưỡng là biểu hiện của ý thức thì theo tác giả tínngưỡng là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh đời sốngtinh thần của con người trong mối quan hệ của con người với chính nó và

Trang 10

giới tự nhiên Chính điểm khác biệt khi luận giải về tín ngưỡng của tác giảNguyễn Minh San đã góp phần chỉ rõ hơn về nguồn gốc hình thành tínngưỡng, bản chất của tín ngưỡng và giá trị của nó cũng như hạn chế trongquá trình nhận thức của tư duy con người về thế giới Đồng quan điểm với

tác giả Nguyễn Minh San, tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam [ Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam] cũng chỉ rõ: “Tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống cộngđồng con người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng conngười ấy tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gâythành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, tr.22] Đó cũng là quan điểm của tác giả Lê

Như Hoa trong cuốn Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam [ Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam ] chỉ rõ “… các tín ngưỡng, về bản chất là những hệ thống

tri thức, chúng không chỉ giải thích những hiện tượng riêng biệt, mà còn chophép nhận thức thế giới như một cái toàn thể,…” [Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.22] và “tùy theo sự phát triển của nhận thức mà con người cóphương thức hành động tương ứng” Quan điểm này của tác giả đã chỉ rất rõnguồn gốc của sự nảy sinh các hình thái tín ngưỡng là do sự phản ánh hiệnthực khách quan vào đầu óc con người Sự phản ánh ấy có sự biến thiêntheo trình độ nhận thức của chủ thể phản ánh Song suy cho cùng, theo tácgiả luận án, cho dù tín ngưỡng về bản chất là hệ thống tri thức, nhưng hệthống tri thức ấy chỉ mang tính rời rạc, cảm tính, chủ quan và chưa thực sự

có căn cứ khoa học để minh chứng tính đúng đắn của nó Nên tín ngưỡngmới rơi vào trạng thái nửa tích cực, nửa tiêu cực Cái tích cực ở chỗ, xét vềcội nguồn hình thành, tín ngưỡng phản ánh ước mơ của con người có đượccuộc sống bình yên trước sức mạnh của các hiện tượng tự nhiên, ước mơ cóđược mùa màng bội thu, cây cối tươi tốt và ước mơ sau khi chết có được sựche chở của tổ tiên, thần linh - những vị thần mà họ chưa bao giờ thấynhưng lại luôn hiện hữu trong tâm thức từ đứa trẻ nhỏ đến người già lão

Trang 11

Cái tiêu cực ở chỗ, nó bị lợi dụng bởi những kẻ có hành vi “buôn thần, bánthánh” – vì vốn dĩ, tín ngưỡng không có cơ sở khoa học thực sự, nó đượcgiải thích bằng niềm tin và niềm tin trở thành nền tảng vững chắc cho tínngưỡng tồn tại.

- Thứ hai, các công trình tiêu biểu nghiên cứu, bàn về sự khác nhaugiữa tín ngưỡng và tôn giáo với mê tín dị đoan

Có thể kể đến một số quan điểm trong công trình nghiên cứu như sau:Theo quan niệm của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam [ Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam], khi bàn về sự tương đồng hay khác biệt giữa khái niệm tínngưỡng và tôn giáo thì theo tác giả, đây là hai khái niệm khác nhau Tác giảchỉ rõ nếu xét về khía cạnh niềm tin thì cả tín ngưỡng và tôn giáo đều cầnphải có, nhưng tín ngưỡng “không phải là hình thức thấp của tôn giáo, lạicàng không phải là tôn giáo, dù là tôn giáo dân tộc”.[Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, tr.23] Về khía cạnh này, tác giả luận giải vì tínngưỡng “…không hề có giáo chủ, giáo lý, giáo hội, và các đình, đền, miếukhông phải là giáo đường, không phải là nơi giảng kinh truyền đạo, mà chỉ

là nơi diễn ra thờ tự, lễ hội Nhất là về mục đích của nó thì khác hẳn tôngiáo, niềm tin của nó không hướng tới cứu cánh cho cái chết” [Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, tr.23] Đó cũng là quan điểm của tácgiả Ngô Đức Thịnh trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam [Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam ] cũng nhận định rằng

sự khác nhau căn bản giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở “…hình thức biểu hiện

và trình độ tổ chức…” [Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam ,tr.17] Điều đáng chú ý, tác giả sử dụng thuật ngữ “đạo” làm cơ sở luận giảicho khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo Theo tác giả “… đạo theo nghĩa rộng

nó có thể bao gồm cả một số hình thức tín ngưỡng và tôn giáo, còn đạo theonghĩa hẹp hơn là để chỉ một số hình thức tín ngưỡng phát triển có xu hưỡngtrở thành tôn giáo sơ khai hay là tôn giáo dân gian” [Tín ngưỡng và văn hóa

Trang 12

tín ngưỡng ở Việt Nam , tr.17] Tín ngưỡng khác tôn giáo, vì theo tác giả, tínngưỡng “chưa có hệ thống giáo lý, mà mới chỉ có huyền thoại”, ngược lạitôn giáo có “hệ thống giáo lý, giáo luật chặt chẽ”, tín ngưỡng “chưa có hệthống thần điện và còn mang tính chất đa thần”, trong khi đó tôn giáo “Thầnđiện đã thành hệ thống…”, tín ngưỡng “gắn với cá nhân, cộng đồng làng xã,chưa thành giáo hội”, tôn giáo thì ngược lại có “Tổ chức giáo hội, hội đoànkhá chặt chẽ, hình thành hệ thống giáo chức”… [Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam , tr.18] Như vậy, theo cách lý giải của tác giả cho tathấy, giữa tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm khác biệt Khi nói tới tínngưỡng, người ta nghĩ đến niềm tin vào “cái thiêng”, tin vào một sức mạnhsiêu nhiên nào đó không cần một sự ràng buộc nào về nghi lễ hay tổ chức,người ta có thể tin hoặc có thể từ bỏ nó bất cứ lúc nào Còn tôn giáo, đócũng là niềm tin vào “cái thiêng”, nhưng thực hiện niềm tin đó có hệ thống,

có tổ chức, có sự ràng buộc cả về tinh thần và vật chất Nhưng sự ràng buộc

về vật chất là sự tự nguyện (tự nguyên bị mê hoặc) Thống nhất với nhữngquan điểm kể trên, tác giả Nguyễn Đức Lữ chủ biên trong cuốn Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam [ Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam] cũng chỉ ra rằng “tín ngưỡng là chỉ niềm tin và sựngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một họcthuyết nào đó, mà thông thường, được chỉ là một niềm tin tôn giáo”[Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.186] và “Tín ngưỡng theonghĩa rộng, bao hàm trong nó có tôn giáo, còn theo nghĩa hẹp (đức tin) làmột bộ phận cấu thành tôn giáo ”[Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.186] Đứng trên góc độ thế giới quan mác xít, trong cuốn

Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt

ở Đồng bằng Bắc Bộ [ Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng

Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ ] của tác giả Trần Đăng Sinh đã

đưa ra điểm tương đồng và khác biệt khi so sánh tín ngưỡng với tôn giáo.Điểm tương đồng giữa tín ngưỡng và tôn giáo đó là “niềm tin vào cái siêu

Trang 13

thực, đấng thiêng liêng là hạt nhân của tín ngưỡng và tôn giáo Tín ngưỡng

và tôn giáo đều có chức năng đền bù hư ảo nỗi khổ đau hiện thực của conngười” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ , tr.28] Điểm khác biệt ở chỗ, “tín ngưỡng

có kết cấu đơn giản, nó hình thành và tồn tại dựa trên cơ sở niềm tin vào cácphép lạ, đấng siêu nhiên, vào thế giới vô hình như thần linh, tổ tiên, âm ty,địa ngục, ma, quỷ…” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng

Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ , tr.30], còn “tôn giáo thì có kết

cấu phức tạp với các yếu tố thế giới quan, nhân sinh quan, ý thức, tâm lý,tình cảm, niềm tin, đức tin…” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ , tr.30]

Bên cạnh đó, khi bàn về tín ngưỡng, tôn giáo hầu hết các công trìnhnghiên cứu của các nhà khoa học có danh tiếng đều đề cập tới việc phân biệtgiữa tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan Tuy nhiên có nhiều

ý kiến trái chiều nhau song phần lớn đều thống nhất cho rằng giữa chúng có

sự khác biệt Chẳng hạn như trong công trình Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ

[Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ ] của tác giả Trần Đăng Sinh chỉ rõ “nếu tín

ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ của chủ thể vào lực lượng siêu nhiên…”thì “mê tín chỉ là niềm tin mù quáng, mê muội vào những cái thần bí…” và

“mê tín thường đối lập với lẽ phải, gây ra những hậu quả xấu đối với conngười và xã hội” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ , tr.31] Còn, theo tác giả “mê tín

đến mức độ cuồng tín, mê muội, mất lý trí, suy đoán tùy tiện, tin vào nhữngđiều quái dị, không có trong thực tế thì trở thành mê tín dị đoan” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ , tr.31] Và vì thế ta có thể thấy rõ hơn khi phân biệt tín

ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan khi nghiên cứu công trình Góp phần tìm

Trang 14

hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam [ Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam] của tác giả Nguyễn Đức Lữ làm chủ biên dẫn chứng “…lại có người cho rằng tín ngưỡng hay tín ngưỡng tôn giáo cũng là mê tín, vìhai loại đều chỉ một niềm tin không có thực trong xã hội Vì thế trong tôngiáo đều trong nó yếu tố mê tín Vậy, đã là tín ngưỡng, tôn giáo là mê tínnhưng bản chất của nó lại không phải là dị đoan” [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.182] Do vậy, “tác giả đề nghị không nênchống mê tín mà chỉ chống di đoan hoặc chống mê tín dị đoan, để chỉ mộtniềm tin đã bị biến dạng, quái dị, xằng bậy” [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.183] Theo tác giả, vì mê tín dị đoan “đã bước rakhỏi giới hạn mà được xã hội thừa nhận, tức là niềm tin ở mức mê muội, đôikhi phi nhân tính, phản văn hóa gây nên những hậu quả tiêu cực cho xã hội

và cho chính những người có hành vi đó” [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.187] Với cách lý giải của tác giả, có thể hiểu rằng:giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan có điểm tương đồng và khácbiệt Chính cái khác biệt đó là sự biểu hiện của những kẻ đã lợi dụng niềmtin tín ngưỡng, tôn giáo để cầu lợi cá nhân nên khi chúng ta cần chống lại dịđoan hoặc mê tín dị đoan Vì bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo đều hướngthiên, hướng con người đến bến bờ chân – thiện – mỹ Nó chỉ trở nên xấu đikhi nó bị những kẻ xấu lợi dụng, biến nó thành hoạt động mê tín, dị đoantrong xã hội

- Thứ ba, những công trình tiêu biểu nghiên cứu, bàn về cách thức phânloại tín ngưỡng

Khi bàn tới vấn đề này cũng có rất nhiều các tác giả quan tâm nghiêncứu Tuy nhiên dưới các góc độ tiếp cận khác nhau nên cách thức phân loạicũng có sự khác biệt Song, về cơ bản vẫn chỉ rõ cơ sở để phân biệt các hìnhthức tín ngưỡng chủ yếu Cụ thể như sau: Trong công trình Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam [Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam ] của tác giả Toan Ánh, khi

đề cập tới vấn đề về các hình thức tín ngưỡng, tác giả chỉ ra và mô tả rất chi

Trang 15

tiết, cặn kẽ về các hình thức tín ngưỡng của người dân và chia ra các loạihình chủ yếu sau: Thờ phụng Tổ tiên, thờ các vị thần thánh linh thiêng: Thờthần linh, thờ Thổ công, Thần tài, Tiên sư, Thánh sư, Nghệ sư;… Cách phânchia như vậy cho ta thấy tác giả đã dựa trên đặc trưng của đối tượng sùngbái để phân chia các loại hình tín ngưỡng Song nó vẫn chưa thực sự baoquát hết được các linh vực tín ngưỡng của người dân Trong công trình Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam [Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam ]của tác giả Nguyễn Minh San lại phân chia tín ngưỡng thành ba loại chủ yếu

đó là: “Tín ngưỡng phồn thực ;Tín ngưỡng sùng bái con người; Tín ngưỡngsùng bái tự nhiên Với cách phân chia như vậy cho ta thấy, tác giả đã dựatrên việc phân loại tín ngưỡng dựa trên phạm vi đối tượng sùng bái Đó làđiểm khác biệt trong cách phân chia tín ngưỡng so với cách phân chia của

tác giả Toan Ánh Còn trong tác phẩm Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam [11] của tác giả Nguyễn Đăng Duy đã phân chia các loại hình tín

ngưỡng của Việt Nam thành ba nhóm cơ bản: “- Tín ngưỡng thờ cúng Tổtiên; - Tín ngưỡng thờ Thần; - Tín ngưỡng thờ Mẫu” Như vậy, về căn bảncũng dựa trên đối tượng tín ngưỡng, song tác giả Nguyễn Đăng Duy còndựa trên phạm vi tác động rộng hay hẹp để phân loại tín ngưỡng Bên cạnh

đó, dựa trên cơ sở hình thái học, trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam [84] của tác giả Ngô Đức Thịnh làm chủ biên đã phânloại tín ngưỡng như sau: 1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (gia tộc, dòng họ,quốc gia) tô tem giáo; 2 Tín ngưỡng cá nhân (vòng đời)…; 3 Tín ngưỡngnghề nghiệp…; 4 Tín ngưỡng thờ Thần (đạo thờ Thần) [Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tr.20] Như vậy, có thể thấy, tuy cách phân loạitín ngưỡng khác nhau do có sự khác nhau dưới góc độ tiếp cận Nhưng khinghiên cứu những công trình đó đã giúp cho tác giả luận án có thêm dữ liệukhi tiếp cận, phân loại tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằngBắc Bộ riêng

Trang 16

* Nhóm những công trình tiêu biểu nghiên cứu về khái niệm tín ngưỡng dân gian.

Trong cuốn Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam [ Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam] của tác giả Nguyễn Đăng Duy Khibàn về khái niệm tín ngưỡng dân gian, khác với các nhà nghiên cứu khác,tác giả Nguyễn Đăng Duy lại cho rằng “… ở Việt Nam từ xa xưa cho tớinay không hề có cái gọi là tôn giáo mà chỉ có các hình thái tín ngưỡng: tínngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thần và tín ngưỡng thờ Mẫu”[Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam , tr.24] và không thể gọi các

loại hình tín ngưỡng này là “tín ngưỡng dân gian” được; bởi “… vì không

hề có cái gọi là tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng bác học, tín ngưỡng quý tộc

mà chỉ có tín ngưỡng nói chung của cộng đồng người” [Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam , tr.25]… Có thể thấy rằng, khi đã nói tới cái

gọi là “dân gian” nghĩa là nói tới tính phổ biến trong quần chúng nhân dân,

ra đời từ hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, gắn liền với sinhhoạt vật chất của người dân mang tính dung dị, gần gũi mà sâu sắc Điềunày cũng giống như văn học dân gian vậy, câu chữ dễ hiểu, cách hành vănmộc mạc, dân dã, gần gũi mà vẫn mang được tính chất triết lý nhân sinh sâuđậm Vì lẽ đó, theo tác giả luận án không thể không có cái gọi là tín ngưỡngdân gian

Khác với quan điểm đã nêu trên, trong công trình Tín ngưỡng dân gian

ở Việt Nam [ Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam ] của tác giả Lê Như Hoa làm

chủ biên thừa nhận có cái gọi là tín ngưỡng dân gian và đã nêu lên kháiniệm về nó Theo tác giả, tín ngưỡng dân gian có thể hiểu như sau “là hìnhthái tôn giáo sơ khai, chúng được hình thành trên cơ sở những tâm cáchnguyên thủy (primitive mentality) để nhận thức hiện thực và tác động đếnhiện thực bằng các kĩ xảo (các biện pháp ma thuật) của thuyết hồn linh”[Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.23] Có thể nhận thấy rằng, khi đã nóiđến tính dân gian của tín ngưỡng thì không thể có cái gọi là tín ngưỡng dân

Trang 17

gian là tôn giáo sơ khai được Vì khi nói tới tôn giáo là nói tới những lễnghi, giáo lý, giáo luật, giáo hội, kể cả tôn giáo sơ khai, nguyên thủy thìchúng đều có tất cả các yếu tố cấu thành đó Còn tín ngưỡng dân gian, chỉđơn giản là một một loại hình tín ngưỡng ra đời và tồn tại cùng với hoạtđộng thực tiễn của người dân trong xã hội, nó được nảy sinh dựa trên sựphản ánh của ý thức người trong quá trình lao động sản xuất, phản ánh sựngưỡng mộ, ngưỡng vọng và cả sự sợ hãi trước sức mạnh của những lựclượng siêu nhiên, vô hình Nó ăn sâu bén rễ trong lòng người dân, nó có tínhchất lây lan tự phát và không có tính ràng buộc chặt chẽ như tôn giáo Bêncạnh đó, trên cơ sở “thuyết hồn linh” của Tylor tác giả chỉ ra “Thuyết hồnlinh cơ sở của hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Việt” [Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.24] Căn cứ trên thực tiễn và căn cứ vào cách lý giảicủa tác giả cho thấy, ở nước ta, “bằng thuyết hồn linh, chúng ta có thể “giảimã” được vô số các hiện tượng Folklor của các tộc người khác nhau” và tácgiả đã chỉ ra một số hiện tượng như xây tượng nhà mồ ở Tây Nguyên, tụcthờ cúng Tổ tiên… Luận điểm này cung cấp cho tác giả luận án có đượccách nhìn sâu sắc hơn để có thêm cơ sở lý giải nguồn gốc cho việc hìnhthành tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ

Xem xét dưới góc độ văn hóa học, trong cuốn Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam [ Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam] của tác giả Nguyễn Đức Lữ làm chủ biên Khi bàn về khái niệmtín ngưỡng dân gian, tác giả cho rằng, tín ngưỡng dân gian “là một nhân tốcấu thành văn hóa” [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam,tr.8] và “cần được xem như là một yếu tố, một bộ phận của văn hóa dângian” [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.8] Tác giả

khẳng định tín ngưỡng dân gian “cũng có thể xem là loại hình tín ngưỡng, tôn giáo do chính nhân dân – trước hết là nhân dân lao động – sáng tạo ra

trên cơ sở những tri thức phản ánh sai lạc dưới dạng kinh nghiệm cảm tính

từ cuộc sống thường nhật của bản thân mình” [Góp phần tìm hiểu tín

Trang 18

ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.8] Để lý giải cho khẳng định này, tác giảchỉ rõ sự tương đồng giữa tôn giáo và tín ngưỡng dân gian như “Nhiều tôngiáo và tín ngưỡng dân gian cũng dùng lửa, hương… làm vật xúc tác chomối quan hệ giữa tin và đối tượng tin; cũng dùng trang phục phù hợp vớiđối tượng tin; cũng có sự kiêng kị giới tính trước ngày lễ, cũng tự xác địnhcho mình một tâm thế khác ngày thường, khi thực hiện hành vi cũng bộc lộniềm tin trước đối tượng tin…” [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, tr.10] Thực tế cho thấy mọi loại hình tín ngưỡng dân gian chưahẳn đã là tôn giáo Vì khi đã nói đến tôn giáo tức nói đến một tổ chức xã hội

có giáo chủ, giáo lý, giáo luật hết sức chặt chẽ và có tổ chức nghiêm ngặt.Còn tín ngưỡng dân gian, dù có được sáng tạo ra cho dù là người dân laođộng hay tầng lớp xã hội nào đó cũng chỉ là những sinh hoạt văn hóa tinhthần của cộng đồng người có thể tin theo hoặc không hoặc tin nhưng từ bỏ

Và nó phản ánh những nhận thức về tự nhiên, con người và các mối quan hệcủa con người với tự nhiên, xã hội một cách lệch lạc, cảm tính, được lý giảibằng những câu chuyện thần thoại, những điển tích, điển cố… mang tínhchất là những dạng nhận thức sơ khai của con người về thế giới Còn cách

mà tác giả dẫn chứng, đó chỉ là những biểu hiện của niềm tin, mà niềm tincủa cả hai loại hình này giống nhau là đều có niềm tin mãnh liệt vào đốitượng chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy sự hiện hữu của nó Còn sự khác biệtgiữa tín ngưỡng dân gian và tôn giáo không phải ở niềm tin mà ở các khíacạnh khác

Ngoài những công trình nghiên cứu tín ngưỡng dân gian được xuất bảndưới dạng sách thì cũng có một số công trình nghiên cứu tín ngưỡng dângian dưới dạng các bài báo trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành như:Nguyễn Quốc Phẩm (1998) “Góp phần bàn về tín ngưỡng dân gian và mê

tín dị đoan”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 11; Nguyễn Đăng Duy (2000),

“Cần đính chính lại cách gọi tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 1; Hồng Nhuệ (2003), “Tản mạn về tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí

Trang 19

Nghiên cứu tôn giáo số 2; Nguyễn Tri Nguyên (2004) “Bản chất và đặc trưng của tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí di sản và văn hóa số 7; Hồ Bá

Thâm (2005), “Tín ngưỡng dân gian – một lĩnh vực trong đời sống tâm

linh”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 4; Đặng Nghiêm Vạn (2007), “Tôn giáo hay tín ngưỡng”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 1;…

1.1.2 Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ

* Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến

sự hình thành, tồn tại của tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ

Tính cho đến thời điểm hiện tại, qua sự khảo sát của tác giả luận ánchưa có bất cứ công trình khoa học độc lập nào chuyên nghiên cứu về tínngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ Nhìn chung, những nghiên cứu

về tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ được đanxen trong các nghiên cứu về tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng, tín ngưỡngdân gian cả nước nói chung Do vậy, khi tổng quan các công trình nghiêncứu đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời của tín ngưỡng dân giancủa người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, tác giả luận án lấy dữ liệu dựa trêncác công trình nghiên cứu chung về tín ngưỡng dân gian Từ đó bóc tách cácnghiên cứu về tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ Có thể kể đếncác công trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời, tồn tại của tínngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ như sau:

Trước hết, đó là các công trình nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của cácyếu tố thuộc về địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và lịch sử cho sự

ra đời, tồn tại của tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng dân gianvùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng Có thể kể đến các công trình như sau:

Công trình “Tín ngưỡng dân gian Việt Nam” của tác giả Lê Như Hoa.

Trong công trình này, tác giả chỉ rõ nguồn gốc hình thành của tín ngưỡngqua việc phân tích điều kiện địa lý, lịch sử và phương thức sản xuất đã tácđộng mạnh mẽ và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời của các hình

Trang 20

thái tín ngưỡng dân gian của người Việt Chẳng hạn như, về nguồn gốc nhậnthức, tác giả chỉ rõ: “Ở thời kì sơ khai, khi mà cuộc sống con người rất gầngũi với vạn vật của tự nhiên, con người thường xuyên, trực tiếp phải đối mặtvới thiên nhiên; đời sống của họ lệ thuộc chủ yếu vào tự nhiên thì thiênnhiên là đối tượng nhận thức chính của họ” [Tín ngưỡng dân gian Việt Nam,tr.31] và “… bởi chính môi trường tự nhiên đã quy định môi trường nôngnghiệp (chăn nuôi hay trồng trọt); và do đó, nó đã định hướng ứng xử chocác cư dân sống trong môi trường ấy; làm nảy sinh những tín ngưỡng đặcthù của từng môi trường” [Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tr.31] Về nguồngốc xã hội, tác giả chỉ rõ “… tính chất đặc thù của một bán đảo… nôngnghiệp ra đời… trồng lúa được đẩy lên vị trí đứng đầu của nền nông nghiệptrồng trọt trên lãnh thổ Việt Nam… Đây chính là mầm mống dẫn tới nhữngnhận thức và những ứng xử, tức mầm mống của những tín ngưỡng…” [Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tr.31;32] và “… tín ngưỡng của cư dân ViệtNam, với tư cách là sự nhận thức được tập trung vào cây lúa và công việctrồng lúa” [Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tr.34] Quan điểm đó của tác giả

Lê Như Hoa đã chỉ ra điều kiện địa lý - tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến sựhình thành tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng dân gian của ngườiViệt nói riêng

Cùng chung quan điểm của tác giả Lê Duy Hoa, trong công trình “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam”[Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” ] của tác giả Ngô Đức Thịnh tuy không trực tiếp bàn về

các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại của tín ngưỡng dân gian nói chung vàtín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, song cũng đã cónhững quan điểm thống nhất về các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, vănhóa, lịch sử là xuất phát điểm cho sự ra đời và tồn tại của tín ngưỡng Trongcông trình này, tác giả Ngô Đức Thịnh trình bày cụ thể từng loại tín ngưỡng

và cơ sở hình thành của nó Qua công trình này cho tác giả luận án cái nhìn

Trang 21

sâu sắc, toàn diện hơn về nguồn gốc ra đời, cũng như cơ sở hình thành nêntín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Công trình “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ]của tác giả Trần Đăng Sinh Có thể nói đây là một trong số ít công trìnhchuyên nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ tiếp cậndưới góc độ triết học Trong công trình này, khi bàn về nguồn gốc, cơ sởhình thành, tồn tại của tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên – là một trong các loạihình sinh hoạt tín ngưỡng dân gian phổ biến của người Việt vùng đồng bằngBắc Bộ, tác giả cho rằng đó là do chính phương thức sản xuất nông nghiệptrồng lúa nước Cùng với đó là yếu tố xã hội, kết cấu tổ chức làng - nước cóảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời của tín ngưỡng dân gian vùng đồngbằng Bắc Bộ

Trong công trình “Đại cương lịch sử Triết học Việt Nam” [ “Đại cương lịch sử Triết học Việt Nam” ] của tác giả Nguyễn Hùng Hậu cũng chỉ

rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời của tín ngưỡng dân gian nói chung,tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng Tác giả chỉ rõ xét vềmặt kinh tế “sở hữu chỉ tồn tại với tư cách là sở hữu tập thể về ruộng đất không có sở hữu tư nhân về ruộng đất và đó là tất cả các hiện tượng củaphương Đông, là chìa khóa để hiểu toàn bộ phương Đông” [“Đại cương lịch sử Triết học Việt Nam, tr.43] Đó chính là phương thức sản xuất Á châu

mà tác giả nhắc tới Khi đi nghiên cứu phân tích phương thức sản xuất đó,tác giả kết luận, đó chính là một trong những nguyên do cơ bản để hiểu, đểgiải thích về sự ra đời của các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có

tín ngưỡng dân gian Công trình “Khía cạnh triết học trong tín ngướng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” [91] của tác giả Nguyễn Hữu

Thụ cũng bàn về cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu – là một trong nhữngsinh hoạt tín ngưỡng nổi bật của vùng Tác giả chỉ rõ, sự ảnh hưởng của các

Trang 22

yếu tố địa lý – tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và lịch sử thúc đẩy sự rađời và tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu nằm trong tín ngưỡng dân gian củavùng.

Tiếp theo, các công trình nghiên cứu chỉ ra sự ảnh hưởng của yếu tốtôn giáo đến sự hình thành, tồn tại của tín ngưỡng dân gian trong đó có tínngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Hầu hết các côngtrình tác giả luận án lựa chọn để khảo sát đều chung một quan điểm là sựảnh hưởng mạnh mẽ của ba tôn giáo lớn đó là Phật Giáo, Nho giáo và Đạogiáo đến sự ra đời, tồn tại của tín ngưỡng dân gian trong đó có tín ngưỡngdân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Có thể kể đến một số cáccông trình tiêu biểu như: công trình “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam ” [ Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam] của Ngô ĐứcThịnh chỉ ra rằng các tín ngưỡng bản địa, nhất là tín ngưỡng thờ cúng Tổtiên đều cởi mở “…tiếp thu ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng, nhất là ĐạoKhổng” [Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tr.21], ngoài ra nócòn chịu ảnh hưởng của cả các tôn giáo khác như Đạo giáo, Phật giáo [Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tr.33] Bên cạnh đó, tác giả cònkhẳng định “… vai trò của đạo hiếu - một trong những tư tưởng cốt lõi nhấtcủa Nho giáo trong việc xây dựng hệ nguyên lý cho việc thờ cúng tổ tiên”,

và như vậy “…học thuyết Nho giáo (nội dung) và Đạo giáo (nghi thưc)”[Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tr.59] Cùng quan điểm nêutrên, trong công trình “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian Việt Nam”của tác giả Nguyễn Đức Lữ khẳng định, khi có sự du nhập của các tôn giáongoại lai như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đã có ảnh hưởng lớn đến sự tồntại của tín ngưỡng dân gian nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: “…khi Nhogiáo vào Việt Nam, với tư tưởng đề cao gia đình, dòng tộc, biến nước thànhNhà, xem chữ hiếu là nền tảng đạo lý… thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đượcnâng lên một tầm cao mới” Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tr.81] Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Lữ thì tín ngưỡng,

Trang 23

trong đó tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc cũng chịu ảnh hưởng của các tôngiáo như Phật giáo, Lão giáo Trong đó, theo tác giả “các hội đền mangdáng dấp nghi lễ của Nho giáo đồng thời cũng có dấu hiệu của Phật giáo ởhội chùa” [Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tr.102] Sựảnh hưởng của các tôn giáo đến sự ra đời, tồn tại của tín ngưỡng dân giannói chung trong đó có tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ được

công trình “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” [11] của Nguyễn

Đăng Duy phân tích và khẳng định sự giao lưu tiếp biến giữa các tôn giáo

và tín ngưỡng dân gian là khách quan trong quá trình tồn tại Do có sự ảnhhưởng của các tôn giáo dẫn đến các nghi lễ, nội dung tín ngưỡng dân gianđược đầy đủ hơn, được nâng lên một tầm cao mới Dưới góc độ triết họcnghiên cứu về sự ảnh hưởng của tôn giáo đến sự tồn tại của tín ngưỡng dângian phải kể đến công trình “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” [67] của TrầnĐăng Sinh Qua những nghiên cứu của mình, tác giả khẳng định “các tínngưỡng, tôn giáo ngoại nhập, trong đó đặc biệt là tam giáo có vai trò to lớntrong sự hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của ngườiViệt vùng đồng bằng Bắc Bộ” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, tr.96]

Ngoài những công trình vừa nêu trên, còn có thể kể đến các công trình

khác như: “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm; Công trình “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Duy; công trình “Tín ngưỡng dân gian Việt Nam” của Lê Như Hoa; công trình “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Lữ (chủ biên), công trình “Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” của Nguyễn Hữu Thụ; Công trình “Tôn giáo, tín ngưỡng các dân tộc ở Việt Nam” của tác giả

Nguyễn Văn Minh và nhiều công trình khác có đề cập, nghiên cứu đến cơ

sở hình thành, tồn tại của tín ngưỡng dân gian nói chung trong đó có tín

Trang 24

ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Hầu hết trong sốcác công trình được khảo sát ít có các công trình nghiên cứu khái quát về sựảnh hưởng của tôn giáo đến sự ra đời, tồn tại của tín ngưỡng dân gian trong

đó có tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ Tuy nghiên, từ việcnghiên cứu các quan điểm về sự ảnh hưởng của các tôn giáo đến các loạihình tín ngưỡng cụ thể là cơ sở cho tác giả luận án có cơ sở dữ liệu khoahọc phụ vụ cho quá trình nghiên cứu vấn đề đặt ra trong luận án

* Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về các yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

Qua khảo sát của tác giả luận án, tính đến thời điểm hiện tại, số lượngcác công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian dưới góc độ triết học làrất ít Điển hình trong số đó là công trình của tác giả Trần Đăng Sinh và tácgiả Nguyễn Hữu Thụ Song, qua khảo sát, tác giả luận án nhận thấy, các yếu

tố triết học trong tín ngưỡng dân gian nằm rải rác trong các công trìnhnghiên cứu chung dưới các góc độ tiếp cận khác nhau Cụ thể như sau:

* Những công trình tiêu biểu nghiên cứu những yếu tố triết học về tự nhiên trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Trước hết, nghiên cứu dưới góc độ triết học có các công trình:

Công trình Những khía cạnh Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay [67] của tác giả TrầnĐăng Sinh Khi bàn về khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổtiên, tác giả đã chỉ rõ những khía cạnh triết học đó là những “quan niệm vềvũ trụ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng BắcBộ” [Những khía cạnh Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay , tr.96] Cụ thể trong quan niệm vềvũ trụ trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên đó là những quan niệm về khônggian, thời gian – tức những phương thức tồn tại của vật chất Không giantrong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên theo tác giả đó là “Không gian trong tâmlinh người Việt mang tính đa diện, đa chiều”, không chỉ có “tám phương

Trang 25

trời” mà còn có “mười phương đất”, “Trời bao giờ cũng gắn liền với đất, âmvới dương, cao với thấp, đực với cái, nắng với mưa” [Những khía cạnh Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay , tr.110] Tác giả còn chỉ rõ “không gian trong tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên của người Việt còn được thể hiện rõ nét trong việc xác địnhkhông gian thờ cúng” [Những khía cạnh Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay , tr.110] Tác giảkết luận quan niệm về không gian “ít nhiều mang tính tự nhiên, chất phác,song nhìn chung là thần bí và duy tâm, thể hiện sự nhận thức của chủ nhânnền kinh tế nông nghiệp kém phát triển” [Những khía cạnh Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay ,tr.110] Còn quan niệm về thời gian, tác giả khẳng định “Việc thờ cúng tổtiên tại gia đình tiến hành quanh năm, xuất phát từ quan niệm về đạo Hiếucủa con cháu đối với tổ tiên, lòng hiếu thảo của con cháu được biểu hiện khátập trung ở các ngày sóc, vọng hàng tháng và lễ tiết chung nhất hàngnăm…” [Những khía cạnh Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay , tr.112], bên cạnh đó, trong tưduy của người Việt theo tác giả họ quan niệm thời gian có ngày tốt, xấu, nênviệc “chọn ngày, giờ “xấu” ,“tốt” để tiến hành công việc thành thói quantrong nếp nghĩ” [Những khía cạnh Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay , tr.112] Nếu chỉ phântích khía cạnh thời gian như vậy, phải chăng đó có phải là điều gượng épcho quan niệm về thời gian được biểu hiện trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiênhay không? Vì thời gian trong triết học là khái niệm gắn liền với hình thứctồn tại của vật chất Vậy, nếu quan niệm con người có phần xác và phần hồntức có không gian khác nhau, tồn tại ở hai thế giới với hệ quy chiếu về thờigian khác nhau – tức có sự biến đổi của không gian và thời gian trong quanniệm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên v.v

Trang 26

Trong công trình Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ [91] của tác giả Nguyễn Hữu Thụ Khi

bàn tới quan niệm về tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với tự nhiêntrong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, tr.123], tác giả luận giải trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ởđồng bằng Bắc Bộ “trong quan niệm của tín ngưỡng thờ Mẫu, cái tự nhiên

mà người Việt tìm cách giải thích không phải là cái quá xa lạ với conngười… mà chính là cái không gian mà người Việt đang sống, là những yếu

tố chi phối trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp của họ Đó là đất,nước, cây, các hiện tượng thuộc về thời tiết…” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, tr.124].Trong đó, trời “… được hiểu là không gian sinh sống của nhiều vị thánhthần, trong đó có Mẫu Thượng Thiên…” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, tr.127], đất được

“tôn vinh là Mẹ - Mẫu Địa” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, tr.130], nước “… là yếu tốmang tính âm, là gốc của mọi sự sinh sôi nảy nở của các loài cây trồng…

Mẹ Nước – được gọi là Mẫu Thủy…” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, tr.131] và trong tínngưỡng thờ Mẫu, theo tác giả còn có “Mẫu Thượng Ngàn có nhiệm vụ coisóc vùng rừng núi” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, tr.132] Còn về mói quan hệ giữa conngười với tự nhiên trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồngbằng Bắc Bộ được tác giả phân tích chi tiết, mang đậm màu sắc triết học.Tác giả nhận định “Trong mối quan hệ thứ nhất (quan hệ Mẹ với con), khicoi tự nhiên là mẹ… thì có thể hiểu rằng người Việt coi… giới tự nhiên đãsinh ra con người, hay nói cách khác con người đã được sinh ra từ giới tựnhiên, được tự nhiên nuôi dưỡng và che chở bằng nguồn của cải vô tận của

Trang 27

mình” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

ở đồng bằng Bắc Bộ , tr.140] Và mối quan hệ thứ hai “quan hệ giữa người con với người mẹ (sự kính trọng, tôn trọng người mẹ)” [ Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ,tr.140]

Ngoài ra, có thể kể đến quan điểm của các tác giả khi nghiên cứu về tínngưỡng dân gian nhưng không trực tiếp đề cập dưới góc độ triết học cũng

đã chỉ ra yếu tố triết học về tự nhiên ẩn chứa trong tín ngưỡng dân gian nóichung trong đó có tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc

Bộ như: công trình “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Duy; công trình “Tư tưởng Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Thục; công trình “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” của tác giả Ngô Đức Thịnh; công trình “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian

ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Lữ và nhiều các công trình nghiên

cứu dưới dạng các bài viết trên các báo và tạp chí khác Hầu hết các côngtrình nêu trên đều thừa nhận, trong quá trình lao động sản xuất, tự nhiên làđối tượng nhận thức chủ yếu của con người Họ phản ánh tư duy của mình

về tự nhiên được gửi gắm trong tín ngưỡng dân gian thông qua việc xâydựng lên hình ảnh các vị thần mang trong mình sức mạnh siêu nhiêu, đồngthời gửi gắm nhiều ước mơ, sự khát khao chinh phục, chiến thắng tự nhiêncủa cư dân người Việt

* Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về những yếu tố triết học về con người trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Trước hết là những công trình nghiên cứu bàn luận yếu tố triết học vềcon người được tiếp cận dưới góc độ triết học, có thể kể đến các công trìnhsau:

Công trình “ Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” của tác giả Trần Đăng Sinh

Trang 28

Khi xét đến quan niệm về con người trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên củangười Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, theo tác giả “con người sinh ra, có sự khácnhau, ai sống lâu, ai chết non, ai được đầu thai… đều do hai thần trên trời làNam Tào và Bắc Đẩu quyết định” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, tr.114],

“người Việt tin rằng khi chết đi thân xác con người trở về với đất mẹ… cònlinh hồn bay lên trời” [Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, tr.115] – tức chết không phải

là hết, mà là về với một thế giới khác… Về quan niệm nhân sinh quan trongtín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tác giả phân tích giá trị của nó thể hiện ở cáckhía cạnh như: Thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ là sựthể hiện đạo hiếu làm người; thể hiện ý thức tưởng nhớ về cội nguồn; là nétđẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng

Trong công trình “Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ ” của tác giả Nguyễn Hữu Thụ Khi

nghiên cứu yếu tố triết học về con người trong tín ngưỡng thờ Mẫu, tác giảluận giải trong quan niệm của các tín đồ tín ngưỡng thờ Mẫu thì “cá nhân là

do căn số của con người quy định và được sắp xếp từ trước” [“Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ,tr.103] Còn quan niệm về mối quan hệ giữa con người với xã hội trong tínngưỡng thờ Mẫu, tác giả nhận định tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ởđồng bằng Bắc Bộ phần nào phản ánh mối quan hệ giữa con người với xã

hội thống qua “khát vọng giải phóng con người (mà trước hết là người phụ nữ) khỏi những ràng buộc và chế ngự của các thể chế xã hội…” [ “Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, tr.104] Theo tác giả, tín ngưỡng thờ Mẫu còn phản ánh những

“mong muốn, khát vọng về tự do, hướng thiện, về cuộc sống hạnh phúc củacon người trong quan hệ với xã hội” [“Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, tr.114] và “thể hiện truyền

Trang 29

thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam” [“Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ,tr.114].

Ngoài ra, có thể kể đến quan điểm của các tác giả khi nghiên cứu chỉ rayếu tố triết học về tự nhiên ẩn chứa trong tín ngưỡng dân gian nói chungtrong đó có tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

như: công trình “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Duy; công trình “Tư tưởng Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Thục; công trình “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” của tác giả Ngô Đức Thịnh; công trình “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian

ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Lữ; công trình “Tôn giáo, tín ngưỡng các dân tộc ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Minh Như vậy, có thể

thấy rằng, hầu hết trong các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước

về quan niệm con người trong tín ngưỡng dân gian nói chung trong đó có tínngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ đều khẳng địnhyếu tố con người được phản ánh sắc nét trong tín ngưỡng dân gian về nguồngốc, số phận, cuộc sống của họ trong xã hội hiện tại cũng như sau khi chết

là sống ở một thế giới khác Tuy chưa được cụ thể, hệ thống nhưng nhữngcông trình đó là tài liệu quý báu để tác giả luận án có thể nghiên cứu sâuhơn, khái quát hơn, hệ thống hóa các yếu tố triết học về con người trên bìnhdiện thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ

* Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về những yếu tố triết học về

xã hội trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

Cho tới nay, hầu hết chưa thực sự có công trình nào chuyên nghiên cứu

về yếu tố xã hội trong tín ngưỡng dân gian được tiếp cận dưới góc độ triết

học Tìm trong hệ thống các công trình khoa học có công trình “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” [67] của tác Trần Đăng Sinh và công trình “Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” [91]

Trang 30

của tác giả Nguyễn Hữu Thụ đề cập đến yếu tố triết học về xã hội trong hailoại hình tín ngưỡng chủ yếu của vùng là tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên và tínngưỡng thờ Mẫu Khi đề cập tới các vấn đề xã hội trong tín ngưỡng dângian của vùng, các tác giả đều nhất trí lựa chọn các phương án phân tích yếu

tố xã hội xuất phát từ các mối quan hệ con người được phản ánh trong đó;

từ đó nêu ra các giá trị ẩn chứa trong đó Đó là các truyền thống tốt đẹp củadân tộc như: uống nước nhớ nguồn, truyền thống yêu nước, đoàn kết, tươngthân tương ái; trân trọng các giá trị cao đẹp của con người, tôn vinh ngườiphụ nữ… Đó là những cơ sở quan trọng để tác giả luận án kế thừa và pháttriển luận điểm triết học của mình

Ngoài những công trình kể trên, nghiên cứu về yếu tố xã hội được rấtnhiều các các nhà khoa học đề cập Song hầu hết, yếu tố xã hội trong tínngưỡng dân gian được biểu hiện rời rạc trong các công trình nghiên cứu Có

thể kể đến một số các công trình chủ yếu sau: Công trình “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” của tác giả Ngô Đức Thịnh; công trình

“Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Lữ; công trình “Tục thờ thánh Mẫu ở Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Khánh; công trình “Tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng” của tác giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên); công trình “Tôn giáo, tín ngưỡng các dân tộc ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Minh; và nhiều các công trình khác…

Nhìn chung trong các công trình nghiên cứu nêu trên, đều luận bàn, lý giảicác vấn đề xã hội ẩn chứa trong tín ngưỡng dân gian trong đó có tín ngưỡngdân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Đó là sự đề cao vai tròcủa người phụ nữ và khát vọng giải phóng người phụ nữ; đó là tư tưởng đềđộc lập chủ quyền quốc gia dân tộc; đó là sự phản anh truyền thống yêunước, tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm; đó là tư tưởng cao đẹp vềviệc gìn giữ và phát huy giá trị đạo đức truyền thống…

1.2 Đánh giá về những nghiên cứu đã thực hiện và xác định các nội dung luận án cần hướng tới giải quyết

Trang 31

1.2.1 Đánh giá về những nghiên cứu đã thực hiện

+ Những công trình nghiên cứu, những bài viết mang tính tổng quan vềtín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian được tiếp cận dưới nhiều góc độ đề cập đếncác phương pháp tiếp cận có tính lý thuyết đối với các khái niệm công cụ vàcác hiểu biết lý thuyết cơ bản về các loại hình tín ngưỡng dân gian chủ yếu.Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tổng quan về tín ngưỡng dân giancũng như các lễ hội dân gian nói trên đều sử dụng cách tiếp cận dưới góc độvăn hóa học, tôn giáo học, lịch sử văn hóa, dân tộc học… nghĩa là theo lốimiêu tả và phân tích từ mặt khái niệm, phân loại tín ngưỡng, nội dung củasinh hoạt tín ngưỡng chủ yếu Tuy nhiên, tiếp cận, luận bàn về khái niệm tínngưỡng, tín ngưỡng dân gian dưới góc độ triết học chưa thực sự có côngtrình nào được đề cập tới

- Những công trình, những bài viết chuyên nghiên cứu về tín ngưỡngdân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ:

+ Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến

sự hình thành, tồn tại, việc phân loại, chỉ ra đặc điểm của tín ngưỡng dângian vùng đồng bằng Bắc Bộ Qua việc khảo sát các công trình, bài viếtnghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng dân gian, trong đó có tín ngưỡng dângian vùng đồng bằng Bắc Bộ cho thấy, hầu hết chưa có công trình chuyênsâu nào đề cập nghiên cứu riêng về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành,tồn tại, việc phân loại, chỉ ra đặc điểm của tín ngưỡng dân gian vùng đồngbằng Bắc Bộ

+ Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về các yếu tố triết học trongtín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Qua việc khảosát các công trình tiêu biểu cho thấy, một số nghiên cứu của các nhà khoahọc đã chỉ ra các yếu tố triết học ẩn chứa trong các loại hình tín ngưỡng dângian Đó là các yếu tố triết học về tự nhiên, về con người và về các mốiquan hệ xã hội Những quan niệm đó nằm rải rác trong hầu khắp các côngtrình dưới các góc độ tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, hiện tại chưa có công

Trang 32

trình, bài viết nào nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố triết học trong tínngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

1.2.2 Xác định các nội dung luận án cần hướng tới giải quyết

+ Luận án nghiên cứu và làm rõ khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng dângian, trên cơ sở đó làm rõ khái niệm của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộdưới góc độ tiếp cận triết học;

+ Luận án nghiên cứu làm rõ các yếu tố ảnh hướng đến sự ra đời, tồntại của tín ngưỡng của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ;

+ Luận án nghiên cứu phân loại tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằngBắc Bộ, chỉ ra các loại hình tín ngưỡng dân gian chủ yếu của vùng làmphạm vi nghiên cứu của luận án;

+ Luận án nghiên cứu chỉ rõ các đặc điểm đặc trưng của tín ngưỡngdân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ;

+ Luận án phân tích những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân giancủa người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, thông qua các yếu tố triết học về tựnhiên, con người và xã hội;

+ Luận án phân tích, đánh giá các giá trị và hạn chế của những yếu tốtriết học tín ngưỡng dân gian của người Việt ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ

Tiểu kết:

Tín ngưỡng dân gian là một loại hình sinh hoạt văn hóa không thểthiếu trong đời sống tinh thần của nhân dân Nó phản ánh đời sống tinh thầnphong phú của người Việt dưới dạng những tri thức kinh nghiệm, cảm tính,được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong dân gian qua nhiều thế hệ

Nó phản ánh ước nguyện tâm linh của con người và cả cộng đồng, là niềmtin vào “cái thiêng” thông qua những nghi lễ thờ cúng, gắn liền với phongtục, tập quán, truyền thống của vùng, miền

Tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng dân gian vùng đồngbằng Bắc Bộ nói riêng đã được rất nhiều các học giả trong và ngoài nướcnghiên cứu và khẳng định những giá trị bất biến của nó Nó không chỉ mang

Trang 33

đến cho nhân dân một đời sống tinh thần phong phú mà còn góp phần giáodục đạo đức, tư tưởng, lối sống

Với mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm phân tích, chỉ rõ những khíacạnh triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt ở đồng bằng Bắc

Bộ, trên cơ sở đó chỉ ra những giá trị và hạn chế của tín ngưỡng dân gianxét theo khía cạnh triết học Xác định mục đích nghiên cứu đó, tác giả đinghiên cứu các công trình của các học giả đi trước về tín ngưỡng và tínngưỡng dân gian nói chung và ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng để làm

cơ sở khoa học cho đề tài Với hệ thống tài liệu vô cùng phong phú, đượctiếp cận dưới các góc độ khác nhau, từ các công trình nghiên cứu lý thuyết

về tín ngưỡng dân gian nói chung, tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc

Bộ nói riêng, các số liệu điều tra và các công trình nghiên cứu về tín ngưỡngdân gian dưới khía cạnh triết học, tác giả có được những cơ sở khoa học choviệc hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án Góp phần vào việc bổ sungvào kho tàng lý luận về tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian của dân tộc ViệtNam nói chung Đặc biệt, với kết quả nghiên cứu của luận án, cho việc hiểuthấu đáo hơn về hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân vùngđồng bằng Bắc Bộ nói riêng và cả nước nói chung Khắc phục và loại bỏdần các hiện tượng mê tín dị đoan trong sinh hoạt tín ngưỡng Nhằm pháthuy những giá trị tốt đẹp góp phần gìn giữ văn hóa truyền thống của dân tộcViệt Nam ta

Do đó, việc nghiên cứu những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dângian vùng đồng bằng Bắc Bộ, chỉ ra những giá trị và hạn chế về mặt triếthọc góp phần điều chỉnh nhận thức đúng đắn cho người dân trong sinh hoạttín ngưỡng, tôn giáo là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lâu dài

Trang 34

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

2.1 Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian

2.1.1 Khái niệm tín ngưỡng

Từ trước đến nay, khi bàn về khái niệm tín ngưỡng đã có rất nhiều cáchọc giả quan tâm và lý giải trên nhiều khía cạnh khác nhau tùy thuộc vàogóc độ nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu Có thể thấy rằng khinghiên cứu tín ngưỡng, đa phần các tác giả thường gắn nó với khái niệm tôngiáo Có ý kiến khác lại cho rằng, tín ngưỡng là một cấp độ phát triển thấpcủa tôn giáo, là giai đoạn tiền tôn giáo Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận

án, tác giả không tham vọng bàn luận về các thuật ngữ, khái niệm mà chỉđưa ra các quan niệm của mình với mục đích dùng các quan niệm ấy để giảiquyết các vấn đề đặt ra trong luận án

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm với xuất phát điểm trong cáchgiải quyết vấn đề cơ bản của triết học khẳng định tính thứ nhất của ý thứctrong mối tương quan với vật chất để lý giải các hiện tượng trong lịch sử xãhội trong đó có tín ngưỡng Họ cho rằng tín ngưỡng là thuộc tính vốn cótrong ý thức của con người, là sản phẩm mang tính nội sinh của ý thức, tồntại không lệ thuộc vào hiện thực khách quan Như vậy, có thể thấy rằngthông qua lăng kính của chủ nghĩa duy tâm, tín ngưỡng tôn giáo mang trongmình một sức mạnh kì bí thuộc “tinh thần” tồn tại vĩnh hằng và là cái thiếtyếu mang lại sinh khí cho sự tồn tại của con người Với quan niệm như vậy,chủ nghĩa duy tâm đã thần bí hóa hiện tượng tín ngưỡng, không thấy đượcmối quan hệ giữa con người với hiện thực, không thấy được tính lịch sử, xãhội của tín ngưỡng

Đối lập với quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật khẳng

Trang 35

định rằng, tín ngưỡng, tôn giáo đều là sự phản ánh hiện thực khách quan,phản ánh lại chính ước mơ nguyện vọng của con người Triết học Mác-Lênin đưa ra quan niệm: tín ngưỡng là sản phẩm của lịch sử xã hội, thể hiệnniềm tin của con người vào một lực lượng siêu nhiên nào đó có khả năng

“cứu vớt” con người khỏi những bất công và bế tắc trong cuộc sống Nhưvậy, tín ngưỡng về bản chất, không phải là sản phẩm của thần thánh, là cáisiêu nhiên, thần bí mà là sản phẩm của xã hội Là một hiện tượng xã hội,không tách rời xã hội, mang bản chất xã hội, tín ngưỡng cũng là hiện tượngthuộc đời sống tinh thần của xã hội, chịu sự quy định của đời sống vật chất.Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, việc nghiên cứu và giải mã các vấn

đề tín ngưỡng đã được các học giả trong và ngoài nước để tâm nghiên cứusuốt trong thời gian qua Ở trên thế giới có thể kể đến các quan điểm của cáchọc giả dưới các lăng kính khoa học khác nhau Chẳng hạn như theo quanđiểm xã hội học về tín ngưỡng mà đại biểu tiêu biểu có thể kể đến nhưSpenser, Durkheim, M.Weber… cho rằng tín ngưỡng là một yếu tố cấu tạonên sự cố kết và thống nhất của tập thể, của nhóm xã hội, là “chất keo” kếtdính các cá nhân lại mà không phải thông qua bất kể một luật lệ thành vănnào cả Tín ngưỡng theo quan điểm của các học giả được hiểu đó là niềm tinvào các thế tục và cái thiêng liêng Cái thế tục và cái thiêng là tính chấtchung của mọi tín ngưỡng, tôn giáo Nhìn từ góc độ nhân loại học, tác giảTylor cho rằng tín ngưỡng, tôn giáo là sự biểu hiện của “lòng tin vào nhữngvật linh”, các vật ấy là mama hay wakan mang tính siêu nhiên và đều có linhhồn Theo quan điểm của Tylor thì tất cả mọi thứ từ mặt trời cho đến thựcvật cũng đều giống như động và và con người vì chúng đều có linh hồn vàđều có cuộc sống như con người Cũng tương đồng với hai quan điểm trên,học giả Max Muller dưới lăng kính của ngôn ngữ học xem tín ngưỡng làniềm tin và các vị thần Điều đặc biệt trong quan niệm của ông đó là ônggiải thích nguồn gốc hình thành nên các thuật ngữ trên đó là do “căn bệnhcủa ngôn ngữ”, do sự hỗn độn trong hệ thống danh từ, là sự nhân cách hóa

Trang 36

về thần linh, là hiện tượng biến đổi của ngôn ngữ: nomen (chỉ một hiệntượng nào đó) sau đó biến đổi thành numen (thần linh) Ngoài ra còn rấtnhiều các quan điểm khác của các học giả trên thế giới tiếp cận dưới các góc

độ khác nhau để giải thích về hiện tượng tín ngưỡng như W.Schmidt - từgóc độ dân tộc học, Jablokov, Troibi, Malinopxki – trên bình diện văn hóahọc… Những quan điểm trên về tín ngưỡng tuy được xem xét dưới nhữnggóc độ khác nhau nhưng phần lớn có những điểm chung nhất định: thừanhận đây là hoạt động tinh thần của con người dựa trên cơ sở niềm tin vàomột thực thể siêu nhiên nào đấy, tha hóa, biến đổi ít nhiều tác động đến đờisống hiện thực của con người

Ở nước ta, khi đề cập nghiên cứu về tín ngưỡng đã có rất nhiều cácquan điểm khác nhau của các học giả nổi tiếng cho đến nay vẫn còn nảysinh nhiều vấn đề cần bàn luận Có thể kể đến các quan điểm về tín ngưỡngcủa các tác giả nổi tiếng như Toan Ánh, Phan Kế Bính, Nhất Thanh, NgôĐức Thịnh… tiếp cận tín ngưỡng từ góc độ văn hóa dân gian xem tínngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua các lễhội, phong tục, tập quán và truyền thống của văn hóa dân tộc ta Tác giảĐào Duy Anh lại cho rằng: “Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối vớimột tôn giáo hay một chủ nghĩa” [Việt nam văn hoa su cuong, dao duy anh,tr.238] Đồng quan điểm với tác giả Đào Duy Anh, Nguyễn Duy Hinh, tácgiả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Tín ngưỡng là một yếu tố chính của tôngiáo, quy định sức mạnh của tôn giáo đó với cộng đồng” (Mượn trích dẫn

của tác giả Trần Đăng Sinh trong cuốn Những khía cạnh Triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tr.20) Tác giả Nguyễn Minh San trong cuốn “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã”, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội cho rằng: “Tín

ngưỡng là một biểu hiện của ý thức, về một hiện tượng thiêng liêng, mộtsức mạnh thiêng liêng do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suytôn, gán cho một hiện tượng một sức mạnh chỉ cảm thụ mà chưa nhận thứcđược Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá của con người được hình thanh

Trang 37

tự phát trong mối quan hệ giữa con người với chính mình, với người khác

và với giới tự nhiên” [tiep can tin nguong dan gian viet nam, nguyen minhsan, tr.7] Trong cuốn “Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam”, Nxb Thànhphố Hồ Chí Minh, tác giả Trần Ngọc Thêm lại xem xét tín ngưỡng trongquan hệ với văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là

tổ chức thứ hai của văn hóa cộng đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồngđược tổ chức theo tập tục, được lan truyền từ đời này truyền sang đời khác (phongtục) Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin và ngưỡng mộ vào thầnthánh do họ tự tưởng tượng ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổchức đời sống cá nhân rất quan trọng Từ tự phát lên tự giác theo con đường quyphạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… Tín ngưỡng trở thành tôngiáo” [tim hieu ban sac van hoa viet nam, tran ngoc them, tr.262] Bàn về điềunay, tác giả Nguyễn Văn Minh trong cuốn Tôn giáo, tín ngưỡng các dân tộc ởViệt Nam khẳng định rằng khi nghiên cứu về tín ngưỡng không thể tách rời mốiquan hệ với tôn giáo: “dù hiểu theo cách nào thì cũng không thể tách rời tôn giáo

và tín ngưỡng với nhau” [ton giao tin nguong cac dan toc viet nam, nguyn vanminh, tr.12] Theo tác giả, tín ngưỡng “được hiểu nôm na theo dân gian là đức tinhay niềm tin và sự ngưỡng vọng hay ngưỡng mộ” [ton giao tin nguong cac dantoc viet nam, nguyn van minh, tr.12] Trong pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáoChương I, điều 3 quy định như sau: “Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thểhiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh người có công với nước, vớicộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạtđộng tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử,văn hóa, đạo đức xã hội” [tr.10] Trong Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoahọc (do Hội đồng lý luận Trung Ương biên soạn) : “Tín ngưỡng là niềm tin,

sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một điều

gì đó và thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo” [giao trinh chu nghia

xa hoi khoa hoc 2004, tr.449]

Như vậy, những quan niệm trên của các tác giả tuy có phần khác nhau

Trang 38

về cách giải thích, song đều chứa đựng những yếu tố hợp lý nhất định Dovậy, dựa trên sự kế thừa những quan niệm trên về tín ngưỡng, xem xét dưới

lăng kính triết học, có thể hiểu tín ngưỡng như sau: Tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội, là một bộ phận của ý thức xã hội, ra đời từ thực tiễn hoạt động sản xuất vật chất, phản ánh lòng tin, sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một sức mạnh siêu nhiên, thần bí, phi hiện thực, là sự biểu hiện niềm tin dưới dạng tâm lý xã hội vào “cái thiêng” thông qua hệ thống lễ nghi, thờ cúng của cộng đồng người, mang tính lịch sử - xã hội.

Theo cách hiểu về tín ngưỡng nêu trên có thể thấy giữa tín ngưỡng vàtôn giáo có sự khác biệt nhất định Khi bàn về vấn đề này, hiện nay, có

nhiều quan điểm khác nhau khi sử dụng khái niệm “tín ngưỡng”, “tôn giáo”.

Có tác giả cho đây là hai vấn đề khác nhau, coi tín ngưỡng là sự phát triển ởtrình độ thấp so với tôn giáo, nhưng có tác giả lại đồng nhất chúng là một và

đều gọi chung là tôn giáo Trong Đại từ điển Tiếng Việt, từ “tín ngưỡng” được

hiểu là “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo” [dai tu dien tieng viet, tr.1646];còn “tôn giáo” có hai nghĩa: “1 Hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vàolòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh 2 Các đạo nói riêng như đạo Phật,đạo Thiên Chúa, đạo Hồi” [dai tu dien tieng viet, tr.1668] Tìm trong ngôn

ngữ quốc tế, từ “Tín ngưỡng” trong tiếng Anh là “Bilef”, trong tiếng Pháp là

“La croyance”; từ “Tôn giáo” trong tiếng Anh là “Religion” và trong tiếng Pháp là “Réligieuse” Bàn về vấn đề này Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn cho

rằng: “Ở nước ta, thuật ngữ tín ngưỡng có thể được hiểu theo hai nghĩa Khinói đến tự do tín ngưỡng, người ngoại quốc có thể hiểu đó là niềm tin nói

chung (belief, believe, croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyance religrieuse) Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believe theo nghĩa hẹp croyance religrieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành nên tôn

giáo” [ve ton giao tin nguong viet nam hien nay, dang nghiem van, tr.76]

Trang 39

Như vậy, nếu xét về mặt ngữ nghĩa của từ thì giữa tín ngưỡng và tôn giáo có

sự khác biệt căn bản

Cả trong lý luận và thực tiễn, tín ngưỡng và tôn giáo luôn có sự đanxen, hoà quyện với nhau nên sẽ rất khó khăn cho việc xác định đâu là tín

ngưỡng, đâu là tôn giáo Ranh giới để phân biệt chúng chỉ mang tính chất

tương đối Khái niệm tín ngưỡng (theo nghĩa rộng) có nội hàm rộng hơnkhái niệm tôn giáo (trong tín ngưỡng có tôn giáo) Mỗi tôn giáo có thể chỉ làmột hình thức (loại hình) tín ngưỡng cụ thể Về vấn đề nay tác giả Ngô ĐứcThịnh (trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb.KHXH, H 2001) đã lập bảng phân biệt [tin nguong va van hoa tin nguongviet nam, tr.18], tác giả Lê Như Hoa cũng đưa ra bảng để phân biệt sự giống

và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo [tin nguong dan gian o viet nam,

le duy hoa]

Như vậy, để nhận biết tín ngưỡng, tôn giáo cơ sở cho chúng ta có thểnhận biết được đó chính là niềm tin Niềm tin tôn giáo đã trở thành một hệthống luận thuyết được dựa trên nền tảng triết học duy tâm Còn trong tínngưỡng, niềm tin có khi chỉ là một đấng thiêng vô hình, không cần giáo chủ,không cần hệ thống giáo lý như niềm tin tôn giáo Bất cứ tôn giáo nào cũngcó: Giáo chủ, giáo hội, giáo lý, giáo luật, lễ nghĩa (Tín ngưỡng nói chungkhông nhất thiết - trừ tín ngưỡng được hiểu theo nghĩa một tôn giáo cụ thể).Mặt khác, tín ngưỡng thuần tuý là một thói quen được chấp nhận không cầnđến sự lý giải, còn tôn giáo ít nhiều cần đến những lý giải có tính logic Đóchính là những dấu hiệu để nhận biết, phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng Tương tự như vậy, giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan cũng có một ranh

giới khá mơ hồ và khó xác định Còn dị đoan là gì? Theo nghĩa Hán-Việt: dị:

khác thường, đoan: lắm mối, nhiều rắc rối, lắm vấn đề Dị đoan là nhữngđiều quái lạ, huyền hoặc do tin vào những điều nhảm nhí mà có Dị đoan là

hệ quả của mê tín, làm theo những điều quái dị không thật, không hợp lẽ

Trang 40

phải Dị đoan là mức độ cao hơn của mê tín Cũng có thể từ mê tín dị đoandẫn đến hiện tượng tôn giáo mới, tôn giáo lạ, tà giáo, tà đạo

Phân biệt ranh giới giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan cho đếnnay vẫn là vấn đề khó khăn và chưa thống nhất Qua sự phân tích nêu trên

có thể nhận thấy rằng, sự phân biêt rạch ròi giữa tín ngưỡng, tôn giáo va mêtín, di đoan là một việc làm khó Tuy nhiên, nhận thức bản chất của chúng làmột việc làm cần thiết để có những biện pháp kịp thời hạn chế những biểuhiện tiêu cực và phát huy những biểu hiện tích cực, góp phần lành mạnh hóađời sống người dân

2.1.2 Khái niệm tín ngưỡng dân gian

Đây còn là khái niệm còn đang có nhiều tranh luận, chưa thống nhất.Cho đến nay, chúng ta chưa tìm thấy một định nghĩa nào tương đối hoànchỉnh về khái niệm này Cũng chính từ sự chưa có sự phân định rạch ròi vềngữ nghĩa của hai khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo nên việc tìm hiểu nhữngthuật ngữ có liên quan như: tôn giáo nguyên thuỷ, tôn giáo sơ khai, tínngưỡng dân gian, tín ngưỡng dân dã tất yếu sẽ không tránh khỏi lúng túng.Trong khuôn khổ của luận án tiến sĩ, tác giả chỉ đưa ra quan điểm của mình

về khái niệm tín ngưỡng dân gian với mục đích sử dụng nó là công cụ đểgiải quyết các vấn đề liên quan trong luận án

Nếu nhìn từ góc độ văn hoá, tín ngưỡng dân gian được coi là một hìnhthức văn hóa tâm linh, là một thành tố cấu thành của văn hoá Như vậy, tínngưỡng dân gian cũng được xem như là một thành tố của văn hoá dân gian.Đây là quan điểm của Phan Kế Bính, Toan Ánh, Nguyễn Đức Lữ, TrầnQuốc Vượng, Trần Ngọc Thêm và nhiều tác giả khác Từ quan niệm đó, nếuvăn hoá dân gian được hiểu là loại hình văn hoá được ra đời từ sự sáng tạocủa nhân dân, thì tín ngưỡng dân gian cũng có thể được xem là loại hình tínngưỡng tôn giáo do chính nhân dân - trước hết là những người nông dân -sáng tạo ra trên cơ sở những tri thức phản ánh sai lệch dưới dạng kinhnghiệm, cảm tính từ cuộc sống hàng ngày Tín ngưỡng dân gian còn phản

Ngày đăng: 06/03/2020, 21:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w