Hơn nữa, việc nghiên cứu đề tài này còn mong muốn đề xuất một số giải pháp giúp cho công tác giáo dục, bảo tồn và phát huy những đặc trưng văn hóa cư trú truyền thống của người Chăm ở Đồ
Trang 1KHOA VĂN HÓA HỌC
NGUYỄN THỊ NGA
VĂN HÓA CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI CHĂM
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MS: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHÚ VĂN HẲN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian theo học chương trình Cao học tại Trường Đại học Khoa học
xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, được quý Thầy Cô nhiệt tình cung cấp
kiến thức chuyên ngành Văn hóa học, tôi đã chọn đề tài Văn hóa cư trú của người
Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Với tôi, đây
là một đề tài hoàn toàn mới lạ, rất ít tư liệu và khoảng cách không gian cũng là một vấn đề đáng ngại, nhưng Tiến sĩ Phú Văn Hẳn – với tư cách người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi học tiếng Chăm nhằm hoàn thành đề tài nghiên cứu mà mình đã chọn
Tôi xin kính gửi đến quý Thầy Cô khoa Văn hóa học và các Thầy Cô thỉnh giảng lời cám ơn chân thành nhất
Do không được sinh trưởng ở vùng sông nước, nên những am hiểu của tôi về khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tộc người Chăm ở đây còn nhiều hạn chế; tuy nhiên, tôi cũng đã dành không ít thời gian, công sức và cả tâm huyết của mình khi thực hiện đề tài này ngay cả việc ghi danh học tiếng Chăm để có điều kiện tìm hiểu tốt hơn, tận tường hơn về văn hóa cư trú của tộc người mà mình đang theo đuổi nghiên cứu
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng việc thiếu sót trong quá trình thực hiện luận văn là điều không thể tránh khỏi, vì vậy, tôi rất mong được sự góp ý chân tình của quý Thầy Cô, bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ……….2
MỤC LỤC ……… 3
MỘT SỐ QUY ƯỚC ……… 5
DẪN NHẬP ……… 6
1 Lý do chọn đề tài ……… 6
2 Mục đích nghiên cứu ………7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……….7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 13
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ……….14
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu ………14
7 Bố cục luận văn ………15
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ………17
1.1 Cơ sở lý luận ……… 17
1.1.1 Một số khái niệm về cư trú ………17
1.1.2 Khái niệm về văn hóa cư trú ……… 20
1.2 Cơ sở thực tiễn ………23
1.2.1 Sự hình thành và phát triển cư trú của người Chăm ở Nam Bộ ……23
1.2.2 Không gian cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long…28 CHƯƠNG 2 VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI CHĂM TRONG CƯ TRÚ.44 2.1 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Chăm trong cư trú 41
2.1.1 Văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên của người Chăm trong cư trú.41 2.1.2 Văn hóa đối phó với môi trường tự nhiên của người Chăm trong cư trú 52 2.2 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Chăm trong cư trú ….58 2.2.1 Trong phạm vi gia đình ……… 59
2.2.2 Trong phạm vi xã hội ………63
CHƯƠNG 3 SO SÁNH VĂN HÓA CƯ TRÚ GIỮA TỘC NGƯỜI CHĂM VỚI NGƯỜI VIỆT Ở ĐBSCL ………70
Trang 43.1 Những tương đồng trong văn hóa cư trú giữa cộng đồng người Chăm với
người Việt ở ĐBSCL ……….70
3.1.1 Môi trường cư trú ……… 71
3.1.2 Quan niệm chung về cư trú ………72
3.1.3 Nguyên vật liệu xây dựng nhà ở ……… 73
3.2 Những đặc trưng khác biệt trong văn hóa cư trú giữa cộng đồng người Chăm với người Việt ………75
3.2.1 Hình thái cấu trúc nhà ở ……… 75
3.2.2 Cấu trúc nhà ở ………76
3.2.2.1 Nhà ở của người Việt ……… 76
3.2.2.2 Nhà sàn của người Chăm ……… 77
3.2.2 Quan hệ với cộng đồng cùng cư trú……… …… 80
3 3 Một số đề xuất, giải pháp ……… 82
3.3.1 Những tồn tại còn hạn chế ……… 82
3.3.2 Và những giải pháp ……….84
KẾT LUẬN ………90
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 93
PHẦN PHỤ LỤC ………108
Trang 5MỘT SỐ QUY ƯỚC
1 TP.HCM : viết tắt của thành phố Hồ Chí Minh
2 NXB : viết tắt của Nhà xuất bản
3 KHXH : viết tắt của Khoa học Xã hội
4 KHXH&NV: viết tắt của Khoa học Xã hội và Nhân văn
5 Cb : Chủ biên
6 ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
7 HTX : Hợp tác xã
8 Khu vực Tây Nam Bộ: được hiểu là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
9 Sơ đồ ở trang 24 và sơ đồ đính kèm do họa sĩ thiết kế Nguyễn Di Linh vẽ lại từ Intrenet
10 Các hình ảnh minh họa trong đề tài, có một số được sưu tầm từ Internet, một số do các tác giả khác cung cấp (có chú thích tên bên dưới ảnh), phần còn lại do chính tác giả nghiên cứu đề tài chụp lại trong quá trình đi điền dã thực tế
11 Làng của người Chăm có lúc được viết là palei, có lúc viết là palay đều được hiểu nghĩa giống như nhau Palei là cách viết thống nhất trong đề tài chúng tôi chọn, còn palay hay paley là khi chúng tôi trích dẫn buộc phải ghi lại nguyên văn của công trình tham khảo
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Đồng bằng sông Cửu Long là nơi chung sống lâu đời của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm… Mỗi dân tộc, về một phương diện nào đó, đều lưu giữ lại những nét văn hóa riêng của mình So sánh các cộng đồng tộc người sinh sống cùng nhau ở Đồng bằng sông Cửu Long để tìm ra nét đặc trưng văn hóa trên cơ sở địa - văn hóa và địa - lịch sử Hơn nữa, việc nghiên cứu đề tài này còn mong muốn đề xuất một số giải pháp giúp cho công tác giáo dục, bảo tồn và phát huy những đặc trưng văn hóa cư trú truyền thống của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa của khu vực ĐBSCL
Trong số 54 dân tộc Việt Nam hiện nay, có năm tộc người thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo, bao gồm các tộc người: Chăm, Êđê, Giarai, Raglai, và Churu Các tộc người này thuộc loại hình nhân chủng Indonesien, có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polynesien trong họ ngôn ngữ Nam Đảo Hiện nay tổng dân số của năm tộc người này có trên 600.000 người, chiếm tỷ lệ gần 6,8% dân số của Việt Nam Theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam, người Chăm xếp thứ
14 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam: Tổng điều tra dân số năm
1999, người Chăm có 132.873 người; năm 2008 là 145.000 người; năm 2009 có 161.729 người [Nguồn: Số liệu thống kê dân số các năm] Những tộc người này vốn được hình thành và phát triển lâu đời trên các địa bàn của núi rừng nam Trường Sơn – Tây Nguyên và vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ Người Chăm là một trong số năm dân tộc vừa kể trên, có lịch sử sinh sống lâu đời ở đất nước Việt Nam và cư trú chủ yếu tập trung ở các tỉnh của Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Nghiên cứu văn hóa của người Chăm, tìm ra nét đặc trưng văn hóa cư trú nói riêng và văn hóa Chăm nói chung luôn được các nhà nghiên cứu trong lãnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn quan tâm Nhưng nghiên cứu một cách toàn diện các phong tục, sinh hoạt tập quán của tộc người này dưới góc nhìn văn hóa học thì còn
Trang 7nhiều vấn đề bỏ ngỏ Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài “Văn hóa cư trú của
người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long” để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành
văn hóa học với mong muốn nghiên cứu văn hóa đời sống cư trú của một tộc người sinh sống lâu đời bên cạnh các dân tộc Kinh, Hoa, Kh’mer ở Đồng bằng sông Cửu Long để làm sáng tỏ những đặc trưng riêng biệt của tộc người đã được bảo tồn trong quá trình cộng cư với các tộc người khác hàng thế kỷ
2 Mục đích nghiên cứu
Văn hóa cư trú là kết quả của sự sắp đặt không gian sinh sống của cộng đồng người sáng tạo ra trong quá trình lao động tương tác với môi trường tự nhiên và xã
hội Do vậy, đề tài Văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long
mục đích làm rõ những giá trị vật chất và tinh thần trong đời sống do người Chăm tạo ra trong không gian cư trú của họ ở khu vực ĐBSCL
Nghiên cứu văn hóa cư trú của người Chăm không chỉ dừng lại việc tìm hiểu những giá trị do cộng đồng người Chăm sáng tạo ra trong quá trình hình thành nhà
ở, chỗ ở, không gian nơi cư trú mà còn góp phần làm rõ đặc điểm văn hóa tộc người
ở khu vực Tây Nam Bộ
Ngoài việc trình bày một cách hệ thống văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi còn so sánh những đặc trưng văn hóa cư trú của cộng đồng người Chăm với cộng đồng người Việt cùng cộng cư ở vùng đất này
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Văn hóa Chăm nói chung
Về văn hóa Chăm nói chung, cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu
ở trong nước và ngoài nước Với một bề dày về lịch sử, văn hóa của dân tộc Chăm
là một trong những di sản văn hóa đồ sộ, phong phú trong kho tàng văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam, là một mảng màu làm nên sự đa dạng, sinh động trên bức tranh toàn cảnh của nền văn hóa Việt Với nhiều lớp văn hóa tích tụ, bồi đắp trong quá trình lịch sử dài lâu, văn hóa Chăm cho đến nay vẫn luôn là đối tượng hấp dẫn của
Trang 8các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Thật vậy, trong tư liệu nghiên cứu về văn hóa các dân tộc, tư liệu nghiên cứu về văn hóa Chăm là nhiều nhất trải dài suốt từ đầu công nguyên đến nay (từ Tiền Hán thư, Hậu Hán thư, Lương sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tống Sử v.v cho đến ngày nay, các nhà khoa học vẫn tiếp tục) Theo thống kê của Nguyễn Hữu Thông và các tác giả của Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật miền Trung thì đã có 2.278 công trình, bài viết khoa học về văn hóa Chăm của các tác giả trong và ngoài nước đã được xuất bản [Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật tại miền Trung - Huế 2002]
Từ lâu, người nước ngoài sớm quan tâm nghiên cứu tộc người Chăm, có thể
kể đến A Cabaton với bài viết Notes sur l’Islam dans l’Indochine françaisz in trong Revue du Monde Musulman I vào năm 1906 từ trang 27-47; bài viết Musulmans de
l’Indochine française của M Ner in trong Bulletin d’Extrême Orient, XLI, xuất bản
năm 1941 từ trang 151-200; bài viết L’Introduction de l’Islam au Campa của P
Manguin trong Bulletin d’Extrême Orient, LXVI xuất bản năm 1979 từ 255-287 Các bài viết vừa kể trên chủ yếu giới thiệu về sự hiện diện của vương quốc Champa
và người Chăm trong lịch sử Gần đây, ngày càng nhiều công trình nghiên cứu về Champa và văn hóa Chăm được xuất bản tại Pháp, Hoa Kỳ, Malaysia và một số quốc gia khác có thể kể như: Champaka (do IOC – Hội bảo tồn văn hóa Champa thế giới chủ trì, Vijaya (ở Hoa Kỳ), Bangsa Bangsa Campa (do Dohamide chủ biên) Ngày nay, ngoài những công trình tư liệu bằng giấy viết về văn hóa Chăm còn có sự góp mặt của Internet như phim phóng sự của nữ phóng viên người Pháp Agnès de
Féo nói về Đời sống những người Muslim Việt Nam ở Đồng bằng sông Cửu Long
[Musulmans de Mekong 2009] trình bày những sinh hoạt và phong tục của người Chăm Islam sinh sống ở khu vực Tây Nam Bộ
Ở Việt Nam, có nhiều công trình khoa học đáng chú ý của các tác giả người
Việt và người Chăm Nhà khảo cổ học Nghiêm Thẩm có bài viết với tựa đề Tôn
giáo của người Chăm tại Việt Nam in trong tạp chí Quê Hương số 32, 33 năm 1962; Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam của Nguyễn Văn Luận xuất
bản năm 1974 tại Sài Gòn Ngoài ra còn khá nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan
Trang 9tâm và viết về tộc người Chăm ở Nam Bộ đăng trên tạp chí “Bách khoa” trước năm
1975 của các tác giả Dohamide, Dorohime, Lưu Quí Tân, Dương Tấn Phát, …
Từ sau 1975 cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về người Chăm trên
phương diện ngôn ngữ và dân tộc học đã công bố, như: Phan Lạc Tuyên với Từ Tây
Nguyên đến Đồng Nai, Bùi Khánh Thế với Cơ cấu tiếng Chăm (luận án PTS, Hà
Nội, 1981) đã nói đến người Chăm Nam Bộ là một bộ phận của người Chăm ở Việt Nam và ông cũng đi sâu phân tích lịch sử hình thành phương ngữ Chăm ở miền Tây Nam Bộ Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tổ chức khảo sát, điền dã các vùng người Chăm cư trú và có nhiều tác phẩm có giá trị cao ra đời
phục vụ công tác nghiên cứu như Người Chăm ở Thuận Hải xuất bản năm 1989 do
Phan Xuân Biên (cb) Công trình đã mô tả rất công phu về cuộc sống của cộng đồng Chăm ở Ninh Thuận- Bình Thuận (Thuận Hải) bao gồm tất cả sinh hoạt, tôn giáo tín ngưỡng mẫu hệ Chăm Sau đó, Năm 1991, nhóm tác giả Phan Xuân Biên, Phan An,
Phan Văn Dốp xuất bản tiếp công trình Văn hóa Chăm Với học giả Trần Quốc Vượng, năm 1998, ông đã nhắc đến văn minh Champa qua bài viết Miền Trung Việt
Nam và văn hóa Chămpa in trong Việt Nam – Cái nhìn Địa – Văn hóa từ trang
308-339 Năm 2006, Phan Quốc Anh với Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở
Ninh Thuận là một công trình nghiêm túc, trình bày rất khoa học và chi tiết về
phong tục tập quán cổ truyền của người Chăm ở Ninh Thuận
Nghiên cứu về lãnh vực văn hóa nghệ thuật, các công trình như Nghệ thuật
biểu diễn truyền thống Chăm (1995) của Lê Ngọc Canh và Tô Đông Hải; năm 1998,
tại Trung tâm Văn hóa dân tộc thành phố Hồ Chí Minh xuất bản Bước đầu tìm hiểu,
phục hồi múa cung đình Chăm của Đặng Hùng; Viện Âm nhạc xuất bản Vai trò âm nhạc trong lễ hội dân gian Chăm Ninh Thuận năm 1999 của nhà nghiên cứu văn
hóa dân gian Hải Liên Các công trình này đã phác thảo toàn cảnh về văn hóa Chăm với những đặc trưng đa dạng trong tiến trình phát triển song phần trình bày về cư trú
của người Chăm còn sơ lược không mang tính thuyết phục Văn hóa Champa -
huyền thoại và sự thật xuất bản năm 1994 cùng với Văn hóa cổ Champa do nhà
xuất bản Văn hóa Dân tộc ấn hành năm 2002 của Ngô Văn Doanh chủ yếu giới
Trang 10thiệu lịch sử hình thành và phát triển mỹ thuật, kiến trúc các tháp Champa ở miền Trung Luận án PTS của Phan Văn Dốp (Viện KHXH tại TP Hồ Chí Minh) năm
1993 với nhan đề Tôn giáo của người Chăm đã trình bày các nhóm tôn giáo của
người Chăm hiện nay Tác giả cho rằng người Chăm có đạo Bàlamôn, Hồi giáo -
Islam, Bani Năm 2001, Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản công trình Gia đình và hôn
nhân của người Chăm ở Việt Nam của Bá Trung Phụ đã mô tả, trình bày chủ yếu về
cộng đồng Chăm Bani
Về ngôn ngữ và tôn giáo, luận án tiến sĩ 2003 của Phú Văn Hẳn với công
trình Cơ cấu ngữ âm và chữ viết tiếng Chăm và tiếng Melayu đã trình bày khái quát
trong phần mở đầu về các cộng đồng người Chăm ở nước ta trong đó giới thiệu tổng quan về cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ Cùng năm 2003, công trình của giáo sư
Sử học Ngô Văn Lệ ra đời Một số vấn đề về văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông
Nam Á trong đó có bài viết đề cập đến văn hóa Chăm nhìn từ khía cạnh tôn giáo
Các công trình khác như: Văn học Chăm xuất bản năm 1993, Văn hóa - xã hội
Chăm - nghiên cứu và đối thoại 2003 của Inrasara nói đến nét đẹp của văn hóa thổ
cẩm Chăm, sự phong phú trong văn chương Chăm Còn công trình Nghề dệt Chăm
truyền thống do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên năm 2003, đưa ra những dẫn chứng
nghề dệt Chăm ở An Giang, ở phường 1 của Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh được thừa kế các phương thức kỹ thuật, kỹ năng truyền thống, góp phần đưa ra các sản
phẩm có giá trị về văn hóa, kinh tế và xã hội Lễ hội của người Chăm của Sakaya
xuất bản năm 2003 giới thiệu các lễ hội văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng người
Chăm ở Ninh Thuận Văn hóa lối sống của người theo Hồi giáo của Nguyễn Mạnh
Cường năm 2010 trình bày lịch sử hình thành đạo Hồi, tìm hiểu người Chăm Việt Nam đến với đạo Hồi từ bao giờ, và giới thiệu khái quát tổ chức xã hội của cộng đồng Chăm Islam ở Nam bộ nói chung và ở An Giang nói riêng
Về văn hóa Chăm ở Nam Bộ, nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và không ít sinh viên đã có sự quan tâm đặc biệt Vào năm 2005, một nhóm tác giả đã tập hợp các bài nghiên cứu về người Chăm thành phố Hồ Chí Minh và cho xuất bản
công trình Đời sống văn hóa xã hội cộng đồng Chăm thành phố Hồ Chí Minh do
Trang 11Phú Văn Hẳn làm chủ biên, đề cập tới nhiều lĩnh vực từ thực trạng kinh tế, văn hóa,
xã hội đến tôn giáo, hôn nhân, gia đình, văn học nghệ thuật, giáo dục, tổ chức cộng đồng của người Chăm thành phố Hồ Chí Minh đến tổ chức tôn giáo tại thánh đường Ngay trong lời tựa của cuốn sách, tác giả Phú Văn Hẳn đã nhận xét: “Văn hóa của dân tộc Chăm vốn là một đề tài rộng lớn đã được giới khoa học và hoạt động văn hóa trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu từ hơn một thế kỷ qua” [Phú Văn Hẳn 2005: 8]
Ngoài ra, Ban biên tập công trình Đời sống văn hóa xã hội cộng đồng Chăm
thành phố Hồ Chí Minh gồm các nhà giáo tâm huyết như Thành Phần, Phú Văn
Hẳn, Lý Tùng Hiếu, Inrasara1 và Lý Dusô - Phó Chi hội trưởng Chi hội Văn học Nghệ Thuật Chăm cũng có hàng loạt bài viết, sách về văn hóa Chăm
3.2 Về văn hóa Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long
Song song với các công trình lớn của các tác giả nổi tiếng trên, còn có một số
luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của các tác giả như: Nguyễn Đệ với đề tài Ảnh
hưởng của tôn giáo trong văn hóa vật chất của nhóm Chăm Nam Bộ; Huỳnh Ngọc
Thu với đề tài “Kinh tế - xã hội của cộng đồng Chăm thành phố Hồ Chí Minh” Vũ Quang Thiền 1994 với công trình Những phong tục lạ độc đáo của Đông Nam Á; công trình Cộng đồng người Malay ở thành phố Hồ Chí Minh của Võ Thị Mỹ 1997; Nguyễn Thái Bình năm 2002 với Người Chăm ở Tây Ninh Hoặc giới thiệu những văn hóa cổ truyền của cộng đồng Chăm như Văn hóa mẫu hệ Chăm – Luận văn
Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học của Nguyễn Thị Diễm Phương 2009 Năm 2010,
Vũ thị Thu Huyền với công trình nghiên cứu Văn hóa của người Chăm Islam Nam
Bộ đã đưa ra cái nhìn tổng thể, khái quát văn hóa Chăm Islam, và đặc biệt là có sự
so sánh mối quan hệ giữa Islam phụ hệ với văn hóa cổ truyền mẫu hệ Chăm
Về văn hóa cư trú Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long, có công trình Nhà ở,
trang phục – ăn uống của các dân tộc Đồng bằng sông Cửu Long của Phan Thị Yến
1
Học giả chuyên nghiên cứu văn hoá Chăm
Trang 12Tuyết 1993, phân tích đời sống vật chất của các dân tộc đang sinh sống tại ĐBSCL trong đó có cộng đồng Chăm Islam về ăn uống, trang phục, nhà cửa Luận văn thạc
sĩ của Võ Thị Mỹ với đề tài Văn hóa tổ chức cộng đồng của người Chăm ở Nam
Bộ” (2008) trình bày kỹ lưỡng về đời sống của người Chăm ở các tỉnh của ĐBSCL
Luận văn thạc sĩ Văn hóa của người Chăm Islam Nam Bộ của Vũ Thị Thu Hiền
trình bày khía cạnh văn hóa tôn giáo Islam của người Chăm ở Nam Bộ
Tóm lại, những công trình về văn hóa Chăm từ trước tới nay đa phần là tập trung vào nghiên cứu lịch sử và những di tích đền tháp, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của vương quốc Champa xưa Những công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm, đặc biệt là cộng đồng Chăm Islam ở Đồng bằng sông Cửu Long trong lãnh vực văn hóa cư trú còn hạn chế Đa số các công trình nghiên cứu theo phương pháp dân tộc chí và dân tộc học, chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu văn hóa cư trú của người Chăm Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là nghiên cứu theo phương pháp văn hóa học Vì vậy, ít nhiều chưa có sự so sánh, phân tích, bóc tách các lớp văn hóa, phân tích những yếu tố văn hóa nội sinh và văn hóa ngoại sinh, những truyền thống bản địa và truyền thống ảnh hưởng từ các tôn giáo mà người Chăm tiếp nhận trong suốt chiều dài lịch sử
Tuy nhiên, trong số các công trình nêu trên cũng có đề tài xem xét văn hóa Champa từ góc nhìn văn hóa học và cung cấp các kiến thức giá trị ở các khía cạnh phong tục, tập quán, hôn nhân, gia đình, những sinh hoạt sáng tạo văn hóa vật chất
và tinh thần của người Chăm góp thêm sự hiểu biết về văn hóa tộc người, là tài liệu hết sức phong phú cho việc nghiên cứu văn hóa cư trú của người Chăm Islam ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có chọn lọc, kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước với thái độ trân trọng và chân thành biết ơn, đồng thời tăng cường sưu tầm tư liệu điền dã ở An Giang để đưa ra những tư liệu mới, những phát hiện mới trong văn hóa cư trú của cộng đồng Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 13Cuối cùng, việc nghiên cứu đề tài này còn mong muốn đề xuất một số giải pháp giúp cho công tác giáo dục, bảo tồn văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long Hơn nữa, ủng hộ chính sách của Nhà nước về việc nâng cao trình độ dân trí và ý thức được rằng “giáo dục là chìa khóa mở được tất cả các cửa” cho nên nghiên cứu văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long hầu đóng góp những ý kiến tích cực khách quan bổ ích trong công tác phát triển và xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán trong cộng đồng Chăm hội nhập cộng đồng tích cực hơn bởi họ vốn có nếp sinh hoạt tương đối khép kín
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long thông qua việc xây dựng nhà ở, xóm làng, những vấn đề liên quan đến ứng xử của người Chăm trong không gian cư trú với môi trường tự nhiên và xã hội ở khu vực Tây Nam Bộ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về chủ thể văn hóa: Nghiên cứu cộng đồng Chăm sống ở các tỉnh thuộc
Đồng bằng sông Cửu Long mà cụ thể, tập trung ở An Giang vì nơi này có mật độ người Chăm sinh sống cao nhất so với 13 tỉnh, thành phố trong khu vực Trong chừng mực cho phép, luận văn sẽ so sánh văn hóa cư trú của tộc người Chăm vùng này với văn hóa cư trú của tộc người Việt ở ĐBSCL2 để làm sáng tỏ những nét tương đồng và khác biệt về cư trú của các tộc người trong cùng khu vực
- Về không gian văn hóa: Tập trung nghiên cứu tìm hiểu không gian cư trú
của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long mà điển hình là tỉnh An Giang – nơi người Chăm sống tập trung đông nhất so với các tỉnh thành khác ở Tây Nam Bộ
- Về thời gian văn hóa: Nghiên cứu văn hóa cư trú của người Chăm ở An
Giang nói riêng, ĐBSCL nói chung trong quá khứ và hiện tại để tìm hiểu quá trình
2
Tộc người đóng vai trò chủ đạo trong nền văn hóa Việt Nam
Trang 14đô thị hóa, hiện đại hóa đã có những tác động nhất định đến truyền thống cư trú của tộc người Chăm nơi đây
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Về phương diện khoa học
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về văn hóa cư trú, văn hóa ứng
xử với môi trường tự nhiên và xã hội của người Chăm với mong muốn thông qua đó
sẽ góp phần làm rõ hơn về truyền thống bảo tồn văn hóa tộc người Chăm ở vùng sông nước, cũng như bổ sung và hoàn chỉnh thêm về bức tranh văn hóa các cộng đồng tộc người đang sinh sống tại Đồng bằng sông Cửu Long
5.2 Về phương diện thực tiễn
Những nghiên cứu về văn hóa cư trú của người Chăm có thể đem đến cho các cơ quan chức năng những ý tưởng mới trong việc quy hoạch khu dân cư trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa ở địa phương cũng như có những chính sách liên quan đến phát triển dân số của tộc người Chăm
Ngoài ra, luận văn còn mong muốn góp phần giúp lãnh đạo ngành văn hóa
và các ban ngành liên quan có cái nhìn khách quan và đề ra giải pháp phù hợp trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người mà cụ thể là người Chăm ở khu vực ĐBSCL
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Về quan điểm tiếp cận
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng các kiến thức liên
ngành như: xã hội học, dân tộc học, địa lý học, lịch sử học, kiến trúc, văn hóa dân gian,… và kết hợp những kiến thức đó với cách tiếp cận nghiên cứu văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc nhìn văn hóa học
6.2 Về phương pháp nghiên cứu
Trang 15Để làm rõ vấn đề Văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu
Long của luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc được vận dụng để tiếp cận, phân tích các
vấn đề liên quan văn hóa cư trú như một hệ thống, xem xét văn hóa ứng xử của người Chăm Đồng bằng sông Cửu Long đối với môi trường tự nhiên và xã hội thông qua các hoạt động sáng tạo của họ trong quá trình cư trú
- Vận dụng phương pháp lịch sử nhằm làm rõ nguồn gốc, sự vận động, quá
trình giao lưu, tiếp biến của văn hóa cư trú truyền thống của người Chăm trong quá trình hình thành và phát triển không gian cư trú ở ĐBSCL trên cả bình diện đồng đại và lịch đại
- Phương pháp so sánh giúp luận văn tìm ra những tương đồng và khác biệt
trong văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long so với cộng đồng người Việt cùng cộng cư được thuận lợi và mang tính khoa học
- Phương pháp thống kê, điền dã, miêu tả được vận dụng trong các chuyến đi
thực tế tại các vùng cư trú của người Chăm ở ĐBSCL, chủ yếu là An Giang nơi cộng đồng Chăm sinh sống đông nhất, góp phần bổ sung tư liệu thực tiễn để đề tài mang tính thuyết phục cao
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề chung: Nội dung chương 1 nhằm giới thiệu các
khái niệm về văn hóa và văn hóa cư trú; quá trình tộc người Chăm sinh sống và cộng cư với các tộc người khác ở Đồng bằng sông Cửu Long Đây là cơ sở lý luận
đễ triển khai nội dung của hai chương sau một cách khoa học
Chương 2 Văn hóa ứng xử của người Chăm trong cư trú: Chương 2 đặt
trọng tâm nghiên cứu cách thức người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội để phục vụ cho nhu cầu cư trú của mình
Trang 16Chương 3 So sánh cư trú của người Chăm với cộng đồng người Việt:
Vấn đề cốt lõi của chương nhấn mạnh những điểm tương đồng và khác biệt trong cư trú giữa tộc người Chăm – Việt cùng cộng cư tại Đồng bằng sông Cửu Long Đồng thời chúng tôi cũng xin đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm về cư trú
Theo Từ điển tiếng Việt, cư trú được định nghĩa ngắn gọn như sau: “cư trú (dt)3: nơi ở hàng ngày” [Nguyễn Văn Xô 2001:160] Nhóm tác giả Minh Tân, Thanh Nghị, Xuân Lãm trong Từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản cũng đưa ra khái niệm tương tự cho rằng cư trú chính là việc ở thường ngày tại một nơi nào đó” [Minh Tân¸ Thanh Nghị, Xuân Lãm 1998: 317]
Trong từ điển tiếng Anh, cư trú (residence4) là nhà hay nơi cư ngụ chính được người chủ sử dụng từ trước hay hiện thời Về mặt kiến trúc, nơi cư trú tiêu biểu là một ngôi nhà, dinh thự, túp lều hay những lâu đài to lớn Residence là “sự ở,
sự cư ngụ, quá trình cư trú, quá trình ở; thời gian cư trú” hay “chỗ ở, nơi cư trú, nhà
ở, nhà”5
Theo Nghị Định 56/2010 ngày 25/05/2010 định nghĩa về cư trú như sau:
“Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú” [Nghị Định 56/2010, ngày 25.4.2010] Một khái niệm tương tự khác: “Cư trú là nơi một người thường xuyên sinh sống và được xác định bằng việc đăng ký hộ khẩu thường trú” [Điều 48 – Bộ luật Dân sự]
Tóm lại, theo từ điển tiếng Anh và tiếng Việt, cư trú là nhà ở, là nơi con người sinh sống lâu dài hay tạm thời
Trang 18Trong thực tế, bất kỳ một tộc người nào dù có những tập quán cư trú khác nhau nhưng cũng có một điểm chung là cư trú gắn kết thành một cộng đồng dù lớn
dù nhỏ tùy thuộc vào mật độ dân số tộc người Theo trình độ phát triển của xã hội, các tộc người trên thế giới chọn cho mình một tập quán cư trú sao cho phù hợp với
lễ tục văn hóa của cộng đồng và từ đó hình thành quy luật cư trú chung cho toàn xã hội loài người trên thế giới Điển hình, các nhà nghiên cứu về đô thị học đã đưa ra một kết luận về quy luật cư trú của các cộng đồng người trong xã hội như sau: Khi
đô thị phát triển với quy mô dân số ngày càng đông và thành phần ngày càng phức tạp, người ta dần dần phát hiện ra hiện tượng các nhóm cư dân khác nhau trong cộng đồng cứ tách dần nhau ra, cư trú ở những nơi riêng biệt Đô thị càng phát triển, hiện tượng đó càng rõ nét
Cư trú tách biệt là một thuật ngữ của xã hội học đô thị, chỉ hiện tượng những nhóm người do sự phân tầng xã hội khác nhau mà cư trú ở những khu vực khác nhau trong cùng một đô thị Đó là một trong những hiện tượng tạo nên sinh thái học
đô thị Hiện tượng cư trú tách biệt định hình và biến đổi các mô hình theo sự phát
triển của đô thị Người ta cho rằng quá trình lớn lên về không gian của một đô thị có thể theo ba hướng khác nhau
Hướng thứ nhất là phát triển theo các tuyến giao thông Đây là hướng phát triển mang tính cổ điển của đô thị, khi mà đô thị chủ yếu được hình thành theo các tuyến buôn bán Theo hướng này, mô hình cư trú tách biệt được hình thành theo cự
ly cách xa tuyến giao thông của các tầng lớp dân cư Tầng lớp thượng lưu là những người cư trú gần đường giao thông nhất, theo đó cự ly cách đường giao thông tỷ lệ nghịch với đẳng cấp xã hội của người cư trú Nhà ở càng xa đường địa vị xã hội càng thấp
Hướng phát triển thứ hai của đô thị là theo các vòng tròn đồng tâm Theo đó,
từ một khu vực ban đầu đô thị cứ rộng dần ra vùng ngoại vi xung quanh, mà dấu vết
dễ nhận biết là các con đường vành đai Ở hướng phát triển này, tầng lớp thượng
Trang 19lưu chiếm khu trung tâm, các tầng lớp khác theo thứ tự đẳng cấp mà cách dần khu trung tâm
Một biến thể khác kết hợp cả hai hướng phát triển nói trên là kiểu hình rẽ quạt Theo đó, từ trung tâm có các tuyến giao thông xuyên ra vùng ngoại vi Các tầng lớp xã hội theo đẳng cấp từ cao đến thấp, lần lượt xa dần khu trung tâm và các tuyến đường rẻ quạt Đó là ba mô hình tương đối rõ nét và phổ biến Ngày nay khi các đô thị lớn chọn cho mình mô hình phát triển theo kiểu hạt nhân - vệ tinh, thì các mô hình trên càng có nhiều biến thể đa dạng hơn
Thậm chí gần đây đã xuất hiện khái niệm “thành phố ngủ” để chỉ các đô thị
vệ tinh, nơi yên tĩnh và đầy đủ tiện nghi để cho tầng lớp thượng lưu nghỉ ngơi, sau
đó vào khu trung tâm làm việc Dĩ nhiên cư dân đô thị là một cộng đồng có tính cơ động xã hội cao nên tính cơ động nhà ở cũng cao mà điển hình và phổ biến nhất là hiện tượng người có địa vị xã hội thấp có nhà ở khu trung tâm với nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan sẵn sàng bán nhà chuyển ra khu ngoại ô cư trú, hình thành những khu cư trú tách biệt
“Cư trú tách biệt không đơn thuần chỉ là hiện tượng về nhà ở, nó là sự phản ánh một cách sinh động và sâu sắc sự phân tầng xã hội, trên cả ba khía cạnh: địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập); địa vị chính trị (quyền lực) và địa vị xã hội (uy tín) Theo đó, xã hội càng phân tầng sâu sắc thì hiện tượng cư trú tách biệt càng rõ nét
Có lẽ đó cũng là một lý do khiến cho các nhà xã hội học Pháp từ thập kỷ 60 của thế
kỷ trước đã đề xuất khái niệm “giai cấp nhà ở”
Tuy nhiên, những mô hình cư trú này tuy có tạo ra sự khác biệt, nhưng đó là sản phẩm được tạo ra do những chính sách khác nhau về nhà ở, hoặc nhiều trường hợp là do hậu quả của chiến tranh Nó không thật đúng nghĩa là mô hình cư trú tách biệt, một sản phẩm của thị trường Do đó, nó cũng chưa thật sự phản ánh sự phân tầng xã hội, vì dưới thời bao cấp xã hội ta đang trong tình trạng “chia đều sự nghèo khổ”, sự phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội là chưa đáng kể Sau gần ba mươi
Trang 20năm đổi mới, kinh tế xã hội vận hành theo cơ chế mới, một mô hình cư trú tách biệt mới đang vận động để từng bước định hình”6
Trong thời công xã nguyên thủy, con người cư trú trong những hang động thiên nhiên mà họ tìm thấy, trú ngụ bất cứ nơi đâu họ có thể tồn tại và đến thời chiếm hữu nô lệ thì xã hội đã tiến lên một bước, tài sản làm ra phong phú hơn nên phân chia giai cấp, người giàu có thì ở trong những lâu đài nguy nga, tráng lệ còn người nô lệ thì ở nơi xó bếp hay trong những túp lều nhỏ Đến giai đoạn phong kiến, xã hội phân chia thành hai giai cấp chính: địa chủ và nông dân Nơi cư trú của các địa chủ là các trang trại rộng lớn, còn giai cấp bần nông thì ở trong những ngôi nhà tranh rách nát nghèo nàn Đến thời tư bản chủ nghĩa, mức độ phân hóa càng rõ rệt, người giàu và người nghèo dĩ nhiên cư trú trong những ngôi nhà hoàn toàn trái ngược nhau Nhưng tựu trung, nơi cư trú là nơi con người đang sống tạm thời hoặc suốt đời
Như vậy, từ thời nguyên thủy xa xưa cho đến ngày nay, trong suốt quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển của loài người, mỗi cá nhân đều biết tìm cho mình một nơi cư trú thích hợp tùy vào hoàn cảnh địa vị Dân tộc Việt Nam cũng thế và rất xem trọng nơi cư trú, thể hiện qua các câu tục ngữ: “Sống cái nhà, già cái mồ” Ngôi nhà là nơi cư trú khi còn sống và là không gian cư trú nhỏ, còn không gian cư trú lớn gồm nhiều nhà ở của các gia đình độc lập kế cận nhau được người Việt gọi
là làng và người Chăm gọi là palei
1.1.2 Khái niệm về văn hóa cư trú
Văn hóa là một khái niệm rất rộng và mỗi nhà nghiên cứu về văn hóa có cách hiểu và định nghĩa khác nhau Năm 1952, Kroeber và Kluckolm đã sưu tầm được
164 định nghĩa khác nhau về văn hóa, “ theo thống kê của các nhà nghiên cứu, đã
có gần 400 định nghĩa về văn hóa” [Vũ Thị Thu Huyền 2010:16] Hiện nay, con số định nghĩa về văn hóa vẫn đang tiếp tục tăng lên Trong số rất nhiều định nghĩa
khác nhau có một định nghĩa kinh điển của E.B.Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên
6
http://faxuca.blogspot.com/2011/12/hien-tuong-cu-tru-tach-biet-o-vinh.html
Trang 21thuỷ (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871 được nhiều người chấp nhận:
“Văn hoá là tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,
luật pháp, thói quen và bất kỳ năng lực hay hành vi nào khác mà mỗi một cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội đạt được” Đây là định nghĩa khoa học về văn
hóa ra đời sớm nhất ở Châu Âu Trong định nghĩa này, E.B.Tylor xác định văn hóa
là biểu hiện hành vi, tư duy và tình cảm đã ăn sâu hay bị ảnh hưởng qua học hỏi và
là điểm đặc thù của một nhóm người chứ không phải của một cá nhân Hành vi thể hiện ở các hành động, trong khi tư duy và tình cảm thể hiện nội tâm và tri thức của con người
Ở một mức độ nhất định, văn hóa có liên quan đến các quy chuẩn hay phong cách xử sự truyền thống của một nhóm người hình thành qua thời gian Ở mức độ sâu sắc hơn, văn hóa là những giá trị mặc nhiên được chia sẻ trong một nhóm người, ấn định cái gì quan trọng, cái gì tốt và cái gì xấu Những giá trị này nhất quán với quy tắc nhóm, nghĩa là các quy tắc xử sự phản ánh các giá trị, và ngược lại, các giá trị phản ánh quy tắc xử sự
Nghiên cứu văn hóa theo phương pháp hệ thống – loại hình, Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2008: 20] Định nghĩa này rút ra được bốn đặc trưng: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch
sử đồng thời hàm chỉ một hệ tọa độ ba chiều mà trong đó văn hóa tồn tại: Con người – chủ thể văn hóa, môi trường tự nhiên và xã hội – không gian văn hóa và quá trình hoạt động – thời gian văn hóa Như vậy, tác giả giúp cho chúng tôi có cái nhìn biện chứng khách quan trong việc đánh giá sự vật, hiện tượng
Nguyễn An Ninh quan niệm: “Văn hóa chính là linh hồn của một dân tộc”.Trong khi đó,Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân
Trang 22tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [UNESCO 1989: 5]
Ngoài ra, trong công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần
Ngọc Thêm đã phân tích văn hoá ứng xử của người Việt với môi trường tự nhiên trong vấn đề nhà ở như đối phó với thời tiết, khí hậu Đây là công trình cần thiết giúp chúng tôi xây dựng nền tảng nghiên cứu văn hóa cư trú dưới góc nhìn văn hóa học
Kết hợp giữa khái niệm cư trú và khái niệm văn hóa, có thể hiểu rằng văn hoá cư trú được xem như một hệ thống các giá trị, các quan niệm về nhân sinh, đạo đức, các chuẩn mực xã hội, và hành vi do chủ thể là một cộng đồng người, một tộc người cụ thể nào đó tạo ra trong quá trình sinh sống, được thể hiện trong cách ứng
xử của họ với xã hội, với môi trường tự nhiên trong suốt quá trình sinh sống ở khu
vực nào đó Hay nói cách khác, văn hóa cư trú là dạng văn hóa vật thể và phi vật thể
bao gồm tất cả cơ sở hạ tầng như nhà cửa, xóm làng, hang động, … và kiến trúc thượng tầng như tín ngưỡng, tôn giáo, đời sống tâm linh của con người
Theo Nguyễn Thanh Tùng, thì văn hóa cư trú được hiểu “là một hệ thống hoàn chỉnh các thiết chế, các hoạt động của con người trong mối quan hệ giữa con người và không gian sống” Tuy nhiên, với chúng tôi, khái niệm này chưa thật sự khái quát hết vấn đề cư trú vì có thể có sự khiếm khuyết về một phương diện nào đó trong không gian sống hoặc thiết chế nhưng cư trú thì vẫn phải diễn ra và vì vậy tất yếu cũng song hành một văn hóa tương ứng Điều này đồng nghĩa với quan niệm cho rằng văn hoá cư trú là những giá trị tinh thần gắn liền với các hoạt động vật chất Các giá trị tinh thần này được dùng để đánh giá các hành vi, do đó, được chia
sẻ và phổ biến rộng rãi giữa các thế hệ thành viên trong làng, xóm, palei, nơi cư trú như một chuẩn mực đạo đức để nhận thức, tư duy và cảm nhận trong mối quan hệ với các vấn đề mà họ phải đối mặt Văn hoá cư trú không chỉ tạo ra tiêu chí cho cách thức cư trú hằng ngày mà còn tạo ra những khuôn mẫu chung về quan điểm và
Trang 23động cơ trong cư trú Mặt khác, văn hoá cư trú của mỗi dân tộc được hình thành ngay từ khi xuất hiện lao động, ngôn ngữ trong đời sống xã hội của dân tộc đó Vì vậy, tự nó là một nhu cầu của văn minh và là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển
Từ các quan điểm trên, chúng tôi xin đưa ra quan điểm của mình về văn hóa
cư trú như sau: “Văn hóa cư trú là kết quả của sự sắp đặt không gian sinh sống của
con người trong môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội”
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Sự hình thành và phát triển cư trú của người Chăm ở Nam Bộ
Ở Việt Nam, người Chăm có quan hệ gần gũi với các dân tộc Êđê, Grarai, Churu, Raglai,… và cùng chung nguồn gốc với các tộc người Malayo – Polenesian trên vùng đảo và bán đảo thuộc Đông Nam Á – Thái Bình Dương Tổ tiên của họ vốn là người từ vùng lục địa ven biển phía Nam Trung Quốc theo đường thủy và đường bộ qua bán đảo Mã Lai rồi tỏa ra các vùng Đông Nam châu Á, và có một bộ phận đã dừng chân ở vùng duyên hải miền Trung và Trường Sơn Tây Nguyên (Việt Nam), trong đó có người Chăm “Người Chăm, theo các nhà khảo cổ, vốn là giống dòng Mã Lai - Đa đảo, một vùng thuộc văn minh hải đảo nhận ảnh hưởng văn hóa
Ấn - Hồi mà hiện nay vẫn còn theo chế độ mẫu hệ Họ di cư sang miền Nam Trung phần và Nam phần nhiều thế kỷ trước Tây lịch, mang theo và bảo vệ mọi phong tục, tập quán cùng chế độ gia đình mẫu hệ của họ” [Nguyễn Khắc Ngữ 1967: 29] Trong quá khứ, khi sang vùng đất Việt Nam và định cư ở lại, họ sống tập trung lại thành từng cộng đồng nhỏ co cụm Theo thời gian, việc tăng dân số cơ học
và hoàn cảnh lịch sử, chiến tranh loạn lạc buộc họ phải phiêu tán ra nhiều vùng khác để sinh sống nhưng vẫn bảo tồn từng nhóm cộng đồng và đó là điều kiện tiên quyết để họ có thể duy trì và bảo tồn văn hóa truyền thống tộc người suốt trong nhiều thế kỷ trải qua biết bao biến cố lịch sử - xã hội “Người Chăm ở Việt Nam ngày nay dựa vào đặc điểm cư trú được phân thành ba nhóm cộng đồng: Chăm Hroi, Chăm Panduranga và Chăm Nam Bộ” [Phú Văn Hẳn (cb) 2005: 16]
Trang 25Nhóm Chăm Hroi bao gồm những người Chăm hiện đang sống rải rác từ Nha Trang trở ra, chủ yếu là vùng Phú Yên và Bình Định Người Chăm Hroi có nguồn gốc từ những người Chăm cổ và là một bộ phận của cộng đồng Chăm Việt Nam Họ duy trì một xã hội mẫu hệ truyền thống “sống tập trung ở các huyện Vân Canh (tỉnh Bình Định) và Đồng Xuân, Sơn Hòa, sông Hinh (tỉnh Phú Yên), dưới chân dãy Trường Sơn, hai bờ thượng lưu sông Đà Rằng và trên cao nguyên Vân Hòa” [Phú Văn Hẳn (cb) 2005: 16] Người Chăm Hroi tuy nổi tiếng với nghề làm gốm thủ công nhưng đa số sống bằng nghề làm ruộng và nương rẫy “Người Chăm Hroi nói tiếng Chăm nhưng không còn lưu truyền chữ viết cổ (loại Akhar Thrah) như người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, và cũng không dùng chữ viết theo mẫu tự Arab như người Chăm ở Nam Bộ7” [Phú Văn Hẳn (cb) 2005:16]
Nếu nhóm Chăm Hroi định vị theo địa bàn cư trú từ Nha Trang trở ra thì nhóm Chăm Panduranga ngược lại, được tính từ Nha Trang trở vào, gồm cộng đồng Chăm cư trú ở Ninh Thuận, Bình Thuận Đây là hai nhóm Chăm đông nhất Việt Nam chiếm trên 60% tổng số người Chăm trên cả nước
Nhóm Chăm Nam Bộ bao gồm những người Chăm trước đây sống ở miền Nam Trung Bộ, sau đó sang Campuchia rồi trở về nước Việt Nam Như vậy, nhóm Chăm Nam Bộ có cùng nguồn gốc với người Chăm Hroi và người Chăm Panduranga ở Ninh Thuận - Bình Thuận Do nguyên nhân lịch sử, họ đã rời Việt Nam đến các nước như Campuchia, Thái Lan, Malaysia vào những thế kỷ trước Từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ thứ XX, một số đã tìm về cư trú ở Nam Bộ và đương nhiên văn hóa xã hội của cộng đồng người Chăm này đã có ít nhiều thay đổi
so với cộng đồng gốc qua quá trình tiếp biến giao lưu với văn hóa Islam
Một nhà nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ cho rằng: “Người Chăm Nam Bộ nguyên là di dân người Chăm ở Chân Lạp, gọi là người Côn Man Năm 1756, sau khi người Côn Man bị quân Chân Lạp đuổi đánh, Nguyễn Cư Trinh đã tâu xin chúa Nguyễn và đưa họ về định cư ở Châu Đốc, Tây Ninh Về sau, người Chăm ở Châu
7
Còn gọi là Chăm An Giang NV
Trang 26Đốc (An Giang) tiếp tục di dân đến Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương” [Lý Tùng Hiếu 2009] Nhiều nhà nghiên cứu cũng xác định rằng: “giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, do chính quyền ở Campuchia lúc bấy giờ ngược đãi, một số người Chăm từ Campuchia chuyển sang lánh nạn ở vùng biên giới của ngước ta trở về định cư sinh sống ở Châu Đốc Lúc này, triều Nguyễn thực hiện chính sách “phên dậu” như “tận dân di binh”, “di man đôn man”
để che chở cho các đồn ải biên phòng nên đã cho các đợt chuyển cư của người Chăm về định cư ở vùng đất cù lao để bảo vệ vùng Châu Đốc” [Mạc Đường, 1991:51- 64]
Người Chăm ĐBSCL vốn thuộc nhóm người Chăm ở Trung Bộ của nước Việt di chuyển sang Campuchia vào khoảng thế kỷ thứ XV-XVI (Hiện nay vẫn còn một bộ phận đang sinh sống ở Campuchia) Đến khoảng đầu thế kỷ XVIII, một số người Chăm này từ Campuchia theo sông Hậu và định cư ở tỉnh Châu Đốc trước đây (nay thuộc tỉnh An Giang) Cộng đồng Chăm tập trung cư trú ở một số huyện đầu nguồn sông Hậu thuộc tỉnh An Giang như Châu Phú, Tân Châu, …mà “Châu Phú là một huyện nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh An Giang, phía Tây giáp huyện Tịnh Biên, phía Đông Bắc giáp huyện Phú Tân, phía Đông Nam giáp huyện Chợ Mới, phía Tây Bắc giáp Thị xã Châu Đốc, phía Nam giáp huyện Châu Thành; Sông Hậu từ biên giới Campuchia chảy qua các xã Khánh Hòa, Mỹ Phú, Vĩnh Thạnh Trung, Thạnh Mỹ Tây, Thị trấn Cái Dầu, Bình Long, Bình Mỹ, Bình Thủy qua nhiều cồn Lưu lượng nước sông Hậu rất lớn mang lại nguồn nước ngọt quanh năm cho Châu Phú” [Phạm Thanh Hải 2010: 45] Hoạt động kinh tế của người Chăm ở ĐBSCL khá đa dạng, một số ít là đánh cá, chài lưới trên sông Hậu và các sông nhánh Một số người Chăm dệt thủ công các loại vải, và buôn bán dạo hàng vải các loại Một số ít người Chăm khác sản xuất nông nghiệp gieo trồng lúa nước, các loại
hoa màu, cây ăn trái “Châu Phú có khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm 2 mùa
là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa hay còn gọi là mùa nước nổi kéo dài suốt 5 tháng từ tháng 7 đến tháng 11, lũ lớn, nước ngập nhà cửa, ruộng đồng, đường sá…” [Phạm Thanh Hải 2010: 45]
Trang 27Cũng như các cộng đồng tộc người khác trong xã hội, người Chăm đi đến đâu, định cư nơi nào học cũng xác lập cho mình niềm tin tín ngưỡng để cáo thể vững tin vào cuộc sống Bàn sâu hơn về tín ngưỡng tộc người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long, Trần Trọng Lễ có viết: “Đến 1966, người Chăm định cư ở vùng đất Châu Đốc Hồi giáo trở thành tôn giáo chi phối sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của người Chăm Kinh Coran là tất cả, là lẽ sống, là đạo đức của con người, là cách ứng xử và pháp luật quản lý palay” [Trần Trọng Lễ 2011: 32] Hiện nay, người Chăm có mặt hầu hết ở các tỉnh thành Nam Bộ với số dân “24.288 người” [Lý Tùng Hiếu 2009]; chỉ riêng ở tỉnh An Giang, người dân sống tập trung đông nhất (so với
cả vùng Nam Bộ) và có “14.209 người” [Nguồn: Theo điều tra dân số 1/4/2009] Đặc biệt, với tính cách sinh hoạt khép kín, người Chăm ở An Giang lại chỉ sống tập trung vào một vài nơi tạo thành những cộng đồng nhỏ hơn ở một số huyện thị trong tỉnh như: An Phú, Tân Phú, Châu Thành, Tân Châu và thị xã Châu Đốc
(xem Sơ đồ phân vùng cư trú của người Chăm ở An Giang)
(Tiếng Việt)
4
An Phú
Nhơn Hội Ka Kôi Koh Ghoi Cồn quan thuế
6
Châu Phú
Khánh Hòa Khánh An Koh Taboong Cồn cây gậy
8
Tân Châu Châu Phong
Phũm Xoài Puk Paok Ấp chòm xoài
9 Châu Thành Vĩnh Hanh Di cư về từ 1979 và sống bằng nghề ruộng rẫy
Bảng 1 Tên gọi của một số làng người Chăm ở An Giang
Trang 28Trong quá trình khai phá khẩn hoang, người Chăm mà hoàn cảnh lịch sử đã đưa đẩy, lưu lạc đến định cư tại các tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long trong đó đông nhất ở An Giang Koh Taboong (nay thuộc xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú,
An Giang) là một trong bảy làng Chăm tỉnh An Giang đã hình thành từ một cồn cát nhô lên dọc theo một bên bờ Hậu giang, được phù sa màu mỡ của con sông bồi đắp lần hồi thành một cù lao, ngăn cách với đất liền bằng một con rạch Ngoài Koh Taboong còn có sáu làng Chăm khác là Mat Chruk, Koh Kabuak, Puk Paok, Plao
Ba, Koh Ghoi, Koh Kaghia, Sabâu, với địa danh Việt tương ứng là Châu Giang, Đa Phước, Châu Phong, La Ma hoặc Vĩnh Trường, Búng lớn hoặc Búng Bình Thiên,
Đồng Cô Ky (xem Bảng 1)
Châu Giang là tên gọi Hán - Việt do người Kinh dùng để chỉ một cù lao giữa dòng Cửu Long do phù sa bồi đắp, một xã đối diện với Châu Thành huyện Châu Phú, nằm bên kia bờ sông Hậu Châu Giang gợi lên vẻ đẹp sông nước thơ mộng đồng thời cũng là trung tâm giao thương của nghề trồng dâu, ươm tơ, dệt lụa vốn là nghề truyền thống của người Chăm trong tương quan trao đổi hàng hóa với người Việt, Hoa, Kh’mer và các cư dân thuộc quần đảo Mã Lai Tên các làng Chăm thường bắt đầu bằng từ “Koh” theo tiếng Chăm có nghĩa là “cù lao”, riêng tên Mat Chruk là tiếng Kh’mer Sự lẫn lộn từ ngữ Kh’mer vào tên gọi làng Chăm chứng tỏ Mat Chruk là địa danh đã sẵn có từ trước khi người Chăm đến định cư
1.2.2 Không gian cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.2.1 Đặc điểm về địa – văn hóa
Đồng bằng sông Cửu Long còn có tên gọi là miền Tây Nam Bộ, gồm 13 tỉnh thành: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang,
Long An, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, và Vĩnh Long (xem Sơ đồ
vị trí địa lý của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đính kèm)
Trong thực tế, Đồng bằng sông Cửu Long là một phần của vùng đất Nam Bộ Khái quát về môi trường tự nhiên của Nam Bộ, Trần Ngọc Thêm đã phân tích một cách khoa học như sau: “Bối cảnh tự nhiên - xã hội của Nam Bộ được tạo nên bởi
Trang 29bốn hằng số: Hằng số 1: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện: gần xích đạo nhưng mùa hè không quá nóng và ẩm như miền Bắc ở sâu trong lục địa, không quá khô và quanh năm không bao giờ bị bão lớn như miền Trung Hằng số 2: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế: Việt Nam với Đông Nam Á; Việt Nam với thế giới phương Tây; ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương Hằng số 3: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của cư dân nhiều tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer…), đến từ khắp mọi miền đất nước (Bắc – Trung - Nam) và khu vực Mức độ “tứ xứ” cao nhất nước: “Anh về Bình Định thăm cha, Phú Yên, thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.” Hằng số 4: Văn hóa Nam Bộ là sản phẩm của quá trình dương tính hóa trong không gian và thời gian” [Trần Ngọc Thêm 2006]
Hầu hết toàn bộ diện tích bề mặt đất Đồng bằng sông Cửu Long bị bao phủ bởi thủy triều biển “Môi trường tự nhiên vùng đồng bằng sông cửu Long chủ yếu là sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nên từ xa xưa con người đã biết tận dụng môi trường tự nhiên để tạo dựng nơi ở, nơi buôn bán trao đổi hàng hóa, hình thành cảng chợ…” [Lâm Nguyên Hồng 2010: 78] Sông ngòi kênh rạch còn có tác dụng nâng cao năng suất sinh học của hệ sinh thái và bồi đắp phù sa từ bờ Đông sang bờ Tây,
mở rộng đồng bằng Nhà nghiên cứu Đinh Thị Dung nhận xét về khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như sau: “Về mặt văn hóa, do là vùng đất còn tương đối mới, chỉ có một ít cư dân Khmer lập Phum (sóc-srok) ở những nơi đất cao, nên Tầm Phong Long dễ dàng tiếp nhận lưu dân tứ xứ, đủ các tộc người, các tôn giáo Những tộc người như Chăm, Hoa, Việt đều là lưu dân đi khai phá đất mới Họ đều là những người xa rời vùng đất cội nguồn” [Nhiều tác giả 2006: 36] Theo Ngô Văn Lệ, thì:
“Đồng bằng sông Cửu Long là nơi duy nhất ở nước ta có các tộc người thiểu số sinh sống bên cạnh người Việt Ngày nay ở đồng bằng sông Cửu Long bên cạnh người Việt còn có thành viên của nhiều tộc người cùng cư trú” [Nhiều tác giả 2006: 36]
“Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành Đồng bằng sông Cửu Long Với lượng nước trung bình hàng năm vào khoảng 4000
tỷ mét khối, vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, sông Cửu Long đã phối hợp
Trang 30với biển Đông để tạo ra những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo hai bên bờ các con sông Các giồng cát ven biển và đất phèn lắng tụ trầm tích, những đầm lầy trũng mặn và tương đối thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau” [Nguyễn Thị Thoa 2011: 33] Với đất đai màu mỡ và chuỗi sông rạch chằng chịt nên kinh tế ở miền Tây Nam Bộ chủ yếu phát triển nông nghiệp như: lúa gạo, trái cây, rau quả tươi…và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp bằng cách con người ở vùng đất mới này tận dụng, khai thác thời gian nhàn rỗi của nghề nông và các loại sản vật của thiên nhiên ban tặng để sản xuất nhiều mặt hàng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt đa dạng của con người trong và ngoài khu vực tây Nam Bộ thậm chí vượt qua cả phạm vi nước ngoài
Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều đặc điểm riêng biệt của chế độ thủy triều mà người dân sinh sống nời đây đều hiểu rõ: “Hằng ngày, tùy theo vị trí, sông nào cũng có từ hai con nước trở lên (nước lớn và nước ròng) Những ngày Rằm và
ba mươi (âm lịch), có những con nước lớn hơn những con nước bình thường làm chao động cả mặt sông vì sự vận động của chúng” [Lê Bá Thảo 2009:260] Hiện tượng thủy triều ở sông Cửu Long mang tính chất hỗn hợp Ảnh hưởng của triều biểu hiện ở toàn bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long không những mực nước sông
và kênh rạch bị ảnh hưởng mà còn làm cho dòng chảy bị đảo ngược Đi kèm với thủy triều là sự xâm nhập của nước bị nhiễm mặn Đây là một khó khăn lớn cho hoạt động nông nghiệp và dân sinh về vấn đề nước sinh hoạt
Theo các nhà khí tượng học, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt “Nhiệt độ trung bình hằng năm từ 24 đến 27 độ, biên độ nhiệt trung bình năm 2 đến 3 độ, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm thấp, ít có bão hoặc nhiễu loạn thời tiết Có hai mùa rõ rệt: mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau” [Nguyễn Minh Tuệ (cb) 2010: 303] Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất bồi do phù sa từ thượng nguồn và vùng Biển hồ chảy xuống kết hợp với sự lắng
tụ phù sa của sông Mê-Kông, hàng năm đều có mùa nước nổi, mực nước tùy năm ở một số nơi có thể dâng cao lên đến ba mét Các tộc người dân sinh sống nơi đây da
Trang 31số làm nông nghiệp và phổ biến là trồng lúa nước Cứ khởi đầu mùa lúa sạ; nước tràn vào các cánh đồng tạo môi trường thích hợp cho các loài cá nước ngọt đẻ trứng sinh sôi nẩy nở, rồi đến mùa nước giựt8, nước chảy ngược ra các vàm kinh rạch để
đổ ra biển người dân lại được mùa thu hoạch các loại thủy sản
Dưới tác động chu kỳ của thiên nhiên, dòng chảy sông Cửu Long thay đổi theo thời gian, hai bên bờ thường diễn ra hiện tượng bên lở bên bồi Giáo sư Lê Bá Thảo là nhà địa lý hàng đầu của Việt Nam trong công trình “Thiên nhiên Việt Nam” khi nhận định về Đồng bằng sông Cửu Long đã từng thốt lên: “Dù có đi lang thang trong châu thổ này nhiều ngày đến thế nào đi nữa, người đi đường không thành thạo cũng khó
mà nhận ra được sự đổi thay trong hình thái của nó” [Lê Bá Thảo 2009: 262]
Thật vậy, bề mặt của Đồng bằng sông Cửu Long trông thật bằng phẳng, những ruộng lúa ngọn cao đều tăm tắp và những con kênh đầy nước mênh mông Với diện tích lên đến 39.952 km2, Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điều kiện thuận lợi, khí hậu nhiệt đới ẩm nhưng tính cách á xích đạo rất phù hợp cho sự sinh trưởng của thực vật, do vậy người ta hay truyền miệng câu: “Làm chơi, ăn thiệt” Điều kiện tự nhiên của vùng đất này giúp cho cây cối sinh trưởng dễ dàng: “Những người đến làm ăn ở đất này cách đây vài chục năm đều kể lại rằng lúa mọc trên đất phù sa thành những búi dày to “như bắp chân”, cao đến lưng người tuy ít hạt” [Lê
Bá Thảo 2009: 266] Thực tế đã chứng minh: Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất Việt Nam
Trong điều kiện địa lý, tự nhiên thuận lợi đó, người Chăm do tụ cư sau các tộc người Kh’mer và Việt, Hoa cho nên cũng tìm cách chọn cho mình những địa thế thích hợp để tập hợp cộng đồng sinh sống tạo thành các palei Địa thế các làng Chăm tuy không liền nhau nhưng có đặc điểm cùng nằm dọc theo hai bên bờ sông Cửu Long Như vậy, nơi cư trú và đời sống của cộng đồng Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long chịu nhiều ảnh hưởng, tác động của thủy triều lên xuống, của hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Thực tế cho thấy, người Chăm thường tập trung
8
Nước giựt: cách nói của người miền Tây Nam Bộ, ý ám chỉ mùa nắng ở vùng này
Trang 32sinh sống trên những cù lao giữa sông như cù lao Tân Phong, cù lao Năm Thôn ở Tiền Giang; cù lao Tây, cù lao Cái Vừng ở Bến Tre, cù lao Châu Giang, cù lao Đa Phước ở An Giang v.v… Theo thống kê cho đến năm 2001, thì toàn tỉnh An Giang
có 2.039 hộ người Chăm với số dân lên khoảng 13.060 người, trong đó nam có khoảng 5.904 người, nữ có khoảng 7.516 người”
Cũng theo Nguyễn Mạnh Cường, xét trong 2.039 hộ Chăm có 1.247 hộ theo nghề tiểu thủ công nghiệp, 171 hộ làm thương nghiệp, 132 hộ ngư nghiệp, 135 hộ chăn nuôi, và làm các ngành khác là 359 hộ [Nguyễn Mạnh Cường 2010: 177]
(xem Bảng 2) Như vậy, nghề tiểu thủ công nghiệp là nghề được người Chăm An Giang ưa thích nhất (xem Hình 1) Về mặt kinh tế, tác giả Nguyễn Mạnh Cường đã
thống kê như sau: “Số hộ có mức sống giàu: 172 hộ, số hộ có mức sống khá: 473
hộ, số hộ có mức sống trung bình: 809 hộ, số hộ có mức sống nghèo: 287 hộ, số hộ cần cứu trợ là: 298 hộ [Nguyễn Mạnh Cường 2010: 175] Đa số mức sống của các
hộ gia đình người Chăm ở An Giang chỉ đạt mức trung bình
Bảng 2: Thống kê hộ hoạt động ngành nghề chính của người Chăm ở An Giang 1.2.2.2 Đăc điểm về sử - văn hóa
Cộng đồng Chăm đang sinh sống ở Tây Nam Bộ vốn thuộc nhóm người Chăm ở duyên hải miền Trung di chuyển vào, trong đó có một bộ phận sang
Trang 33Campuchia vào khoảng thế kỷ thứ XV-XVI rồi vào Đồng bằng sông Cửu Long Dần dần, họ tụ cư sống tập trung hình thành cộng đồng Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng đầu thế kỷ XVIII
Có nhiều truyền thuyết về đợt di cư của người Chăm từ đất Campuchia về đến đất Châu Đốc (An Giang) Vốn là một cuộc hành trình gian nan đã được các nhà biên khảo Pháp ghi lại một phần trong lịch sử Vương quốc Kh’mer, cho thấy người Chăm dời cư sang đất Kh’mer bao gồm nhiều thành phần lãnh đạo, đã từng cầm quân chiến đấu Đến năm 1782, một lãnh đạo Champa là Đon Set xua quân từ Thabaung Khmum tiến đánh kinh đô U-đong tạo điều kiện cho người Chăm thiết lập các khu định cư riêng biệt tại Phnom Penh, Chruy Chagwa (một cù lao nằm chắn ngang sông Mekong và Tonle Sap) Nhưng khi Đon Set chết, người Chăm phải nương nhau theo dòng sông Cửu Long thoát thân về phía Nam, định cư ở Mat Chruk (An Giang) vì miền đất mới này yên bình “đất lành, chim đậu” Nhiều người Chăm đã được triều đình nhà Nguyễn tuyển dụng và khi Thoại Ngọc Hầu khởi công đào kinh Vĩnh Tế chạy dài dọc theo biên giới ra đến đất Hà Tiên, người Chăm đã được huy động vào lực lượng bảo vệ an ninh, có công ăn việc làm “an cư lạc nghiệp”, dần dần họ tản ra sinh sống ở các tỉnh thành phía Nam: Tây Ninh, Kiên Giang, Bình Dương, Bình Phước và thành phố Hồ Chí Minh
Nói đến người Chăm mà không đề cập đến tôn giáo là một điều thiếu sót Không có người Chăm nào không có tôn giáo Thật vậy, tôn giáo và tín ngưỡng bao trùm lên toàn bộ sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày của người Chăm “Hầu hết người Chăm Nam Bộ đều theo đạo Islam và lấy Kinh Qur’an làm kim chỉ nam cho hoạt động tín ngưỡng của mình” [Phú Văn Hẳn 2005 (cb):18]
Ảnh hưởng của văn hóa Islam trong cộng đồng người Chăm khá đậm nét Islam theo tiếng Ả Rập có nghĩa là sự tuyệt đối phục tùng và tôn thờ một Allah duy nhất Danh từ “Hồi giáo” là từ của người Việt là dùng để chỉ “Islam giáo” hay
Trang 34“những người theo Islam giáo”9 Tôn giáo Islam có ảnh hưởng rất sâu đậm trên mọi lãnh vực của đời sống cộng đồng Chăm An Giang “Người Chăm Nam Bộ do hầu hết
theo đạo Hồi nên chế độ gia đình thiên về phụ hệ, mặc dù chế độ mẫu hệ cổ truyền vẫn còn được bảo lưu Hình thức tổ chức xã hội cổ truyền là các palay cũng đã chuyển hoá thành các jammaah là hình thức tổ chức cộng đồng cơ sở tập hợp những
gia đình cư trú quây quần bên cạnh các thánh đường Hồi giáo (masjid, surau)” [Lý Tùng Hiếu 2009]
Hình 1: Phụ nữ Chăm dệt vải ở làng Koh Kaboak (Cồn tơ tằm)
huyện An Phú, tỉnh An Giang Ảnh: Nguyễn Thị Nga
Về phương diện dân số, người Chăm tại Việt Nam có một nửa sống tập trung
ở hai tỉnh Ninh Thuận – Bình Thuận và một số tỉnh khác như Phú Yên và Bình
9
Cách gọi này bắt nguồn từ Trung hoa, dân tộc Hồi Hột sống nơi vùng Tân Cương theo đạo Islam rất đông, nên người ta gọi tôn giáo của họ là Hồi giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Hoa nên gọi những ai theo đạo Islam là người Hồi giáo Tín đồ Chăm Islam tin tưởng tuyệt đối vào 5 điều căn bản sau đây: (1) Tin tưởng Thượng đế duy nhất (Allah), (2) Tin có các vị Thiên thần (Makaikat), (3) Tin có Kinh thánh (Qur’an), (3) Tin có các vị Thiên sứ (Muhammad là Thiên sứ cuối cùng của Allah), (5) Tin có định mệnh (Mọi việc đều do Thượng đế Allah an bài)
Trang 35Định theo tín ngưỡng Balamon, nay chủ yếu theo Bani (tín ngưỡng địa phương); một nửa còn lại sinh sống tại An Giang, Đồng Tháp và Tây Ninh theo đạo Islam Một số nơi khác như Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Tây nam Bình Định và tây bắc Phú Yên có người Chăm thuộc nhóm Hroi Bộ phận ở đây không theo tôn giáo
mà chủ yếu lưu truyền tín ngưỡng dân gian Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo (Malayo-Polynesian) của hệ ngôn ngữ Nam Đảo (Autronesian) Văn hóa Chăm đang trong quá trình chuyển đổi, nhiều tầng lớp văn hóa cổ truyền cùng với văn hóa mới hội nhập, chuyển hóa lẫn nhau Cái mới, cái tiến bộ dần thay thế cái cũ, cái lạc hậu Các giá trị, các quan niệm tập quán, phong tục … ăn sâu vào ý thức và tổ chức palei chi phối nếp sống, tư duy của từng thành viên Chăm Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng cố gắng bảo tồn văn hóa truyền thống tộc người trong sinh hoạt hằng ngày Ví dụ, trong hôn nhân, Islam theo chế độ phụ hệ nhưng người Chăm Islam vẫn còn lưu giữ chút ít văn hóa mẫu hệ là rước rể về nhà cha mẹ vợ
Tộc người Chăm càng ngày càng có nhiều người học cao như cử nhân, thạc
sĩ, tiến sĩ… Vì vậy họ có nhiều đóng góp vào xã hội, cụ thể là năm 2005 tại An
Giang, người Chăm thành lập Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang
Người Chăm trông có vẻ sống rụt rè, khép kín nhưng thật ra, họ có tính đoàn kết cũng như sống bình đẳng với nhau Tính thống nhất thể hiện trong việc toàn bộ cá nhân trong cộng đồng Chăm cùng đồng ý nhất trí bầu ra những người đại diện cho cộng đồng mình cũng như đại diện điều hành Jammaah “Những người đứng đầu (tổ chức như một Ban quản trị) không được hưởng lương hay trợ cấp từ ngân quỹ của cộng đồng, có nhiệm vụ chăm lo các sinh hoạt thuộc nội bộ cộng đồng, tương trợ nhau trong cuộc sống và lao động sản xuất” [Vũ thị Thu Huyền 2010: 70]
Có nhà nghiên cứu nhận xét rằng: “Tính bình đẳng jammaah thể hiện ở sự không phân biệt đẳng cấp trong nội bộ cộng đồng Tính chất đẳng cấp không được chấp nhận trong cộng đồng jammaah Ngoại trừ Allah và thiên sứ của ngài là Muhammad thuộc về một cấp độ, mọi tín đồ đều bình đẳng Các chức vụ từ Imam
Trang 36trở xuống thường không phải là chức vụ cố định mà được luân phiên giữa những người có khả năng và đạo hạnh” [Vũ thị Thu Huyền 2010: 72]
Người Chăm quan niệm cái được trân trọng nhất ở người Chăm là đạo đức
và hiểu giáo lý, vì vậy, ai thực hiện cuộc hành hương trở về thường được cộng đồng Chăm tôn kính nhưng nếu anh ta không có đạo lý sâu rộng và đạo hạnh tốt thì niềm tôn kính ấy sẽ giảm dần hoặc mất đi Thánh đường luôn tọa lạc ở trung tâm các jammaah, là mảnh đất có địa thế đẹp, cao ráo sạch sẽ, tiện đi lại cho tín đồ Màu sơn của thánh đường thường là màu xanh và trắng, tượng trưng cho linh hồn và sự sống Màu xanh là màu của hòa bình, của hy vọng “Thánh kinh Coran coi đó là màu đẹp
đẽ và tươi mới nhất, nên giáo chủ rất ưa màu xanh” [Nguyễn Văn Luận 1974: 245]
Hình 2+3: Thánh đường Mubarat của người Chăm
xã Phú Hiệp, Phú Tân, An Giang Ảnh: Nguồn Internet
“Tại các khu cư trú jammaah của người Chăm đều có các masjid hoặc surau (nơi cầu nguyện) với lối kiến trúc độc đáo riêng Những ngôi nhà dành cho việc cầu nguyện này không chỉ là biểu trưng tôn giáo mà còn là nơi hội tụ của các thành viên của cộng đồng Đó là nơi diễn ra các ngày lễ hội, lễ cầu nguyện hàng ngày, hội họp… là nơi nhắc nhở nhau đừng xao nhãng giáo luật Islam, là trung tâm sinh hoạt
cộng đồng” [Phú Văn Hẳn 2008: 69] (xem ảnh 2 và 3 )
Trước đây, “người phụ nữ Chăm không đến thánh đường cũng chỉ là một tập quán Nếu có đến, họ phân cách khu riêng biệt hành lễ chứ không đứng chung với nam giới” [Nguyễn Văn Luận 1974: 209] Dần theo thời gian, trong quá trình cùng
Trang 37cộng cư với các tộc người Việt, Hoa, Kh’mer và sự giao lưu trong nghề nghiệp đặc biệt là giao thương mua bán, người Chăm dù ra sức bảo tồn nề nếp, tập quán sinh hoạt cổ truyền trong cộng đồng nhưng không vì thế mà sống khép kín như trước đây Họ đã có sự thoáng hơn trong tư duy và cách ứng xử với xã hội cũng có phần thân thiện, cởi mở Điều này đồng nghĩa với việc phụ nữ và nam giới cũng nhạt dần khoảng cách giới tính, sự bình đẳng giới dần dần được chú trọng, quan tâm
Hiện nay, khoảng cách nam nữ trong cộng đồng người Chăm Nam Bộ đã được cải thiện đáng kể và xu hướng tiến bộ của xã hội ít nhiều cũng tác động đến cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ Do có sự mở rộng giao lưu về các phương diện kinh tế, văn hóa, giao tiếp với các cộng đồng cùng cộng cư, dù theo đạo Hồi nhưng phụ nữ Chăm không nhất thiết cứ phải che kín mặt mỗi khi ra ngoài giao tiếp với xã
Trang 38đúng giáo lý Islam còn “người Chăm Bani không có một hệ thống giáo lý ổn định” [Nguyễn Mạnh Cường 2010: 195] Khi tôn giáo Islam du nhập vào, một bộ phận người Chăm đã kết hợp với văn hóa bản địa, lấy phong tục, tập quán, tín ngưỡng Bàlamôn và thiết chế gia đình mẫu hệ làm nền tảng Vì vậy, các lễ nghi của cộng đồng Chăm Bani chịu nhiều ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian, từ đó cộng đồng Chăm Bani có nhiều nét riêng không nằm trong hệ thống tổ chức quốc tế như Chăm Islam ở Nam Bộ
Trang 39TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có nhiều cộng đồng người cùng cộng cư trong đó có tộc người Chăm Người Chăm, còn gọi là người Chàm, người Chiêm Thành, người Chiêm, , hiện cư ngụ chủ yếu tại Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Thái Lan và Hoa Kỳ Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chăm ở Việt Nam có dân số 161.729 người, cư trú tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố
nhưng cư trú tập trung tại một số tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ (xem Bảng 3), xếp
thứ 14 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam [Theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam 2008]
Bảng 3: Bảng phân bố dân cư của người Chăm ở Việt Nam
Nguồn: Theo Tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009
Trang 40Nếu chia theo địa bàn cư trú, người Chăm sống ở hai khu vực: Trung Bộ và Nam Bộ Nếu chia theo tôn giáo, cộng đồng Chăm gồm 3 nhóm: Nhóm Hroi, Nhóm Panduranga và Nhóm Chăm Nam Bộ So với các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long,
An Giang là tỉnh có số lượng người Chăm sống tập trung đông nhất hình thành một
số palei nhằm bảo văn hóa truyền thống của tộc người
Về không gian, văn hóa Chăm nằm trong cơ tầng văn hóa Đông Nam Á với tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước, đồng thời chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa
Ấn Độ thông qua các tôn giáo mà người Chăm tiếp nhận Về thời gian, xuất phát từ
cơ tầng văn hóa Đông Nam Á bản địa, vào đầu công nguyên, người Chăm tiếp nhận Bàlamôn giáo, tiếp đó là Phật giáo, Ấn giáo Càng về sau, người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, An Giang nói riêng lại tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của Hồi giáo Văn hóa Chăm là sự hỗn dung tín ngưỡng và tôn giáo Tín ngưỡng bản địa là cái có trước Về sau, tôn giáo du nhập vào dân tộc Chăm qua quá trình giao lưu lâu dài đã hình thành nên văn hoá truyền thống Chăm như ngày hôm nay
Về phương diện lịch sử, cộng đồng Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long có nguồn gốc từ miền duyên hải Trung Bộ qua sinh sống ở Campuchia Sau đó, do những tác động của lịch sử - xã hội tác động một số trong cộng đồng người Chăm lưu tán đó đã trở về Việt Nam và định cư tập trung đa phần ở An Giang Nhóm người Chăm này chủ yếu có tín ngưỡng tôn thờ thánh Ahla, một Đức thánh theo tôn giáo Islam
Mặc dù cùng cộng cư với các tộc người khác như Việt, Hoa, Kh’mer, nhưng người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, An Giang nói riêng vẫn giữ gìn phong tục tập quán của cộng đồng và có cuộc sống tương đối khép kín Đây cũng là giải pháp giúp cộng đồng người Chăm bảo tồn được những giá trị văn hóa
cổ truyền trong quá trình hiện đại hóa – đô thị hóa đã và đang làm mất dần bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam mà các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học từng lên tiếng cảnh báo trong xu hướng cởi mở, hội nhập thế giới toàn cầu hiện nay