Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như: phá sản, vỡ nợ, khánh tận… Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “phá sản” là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ do ki
Trang 1CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN
VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIÊ ̣T NAM
1.1 Khái niệm phá sản
Phá sản là hiện tượng kinh tế - xã hội phát sinh từ rất sớm trong lịch sử loài người Về nguồn gốc, thuật ngữ phá sản được diễn đạt bằng từ "bankruptcy" hoặc
"banqueroute" mà nhiều người cho rằng từ này bắt nguồn từ chữ "Banca Rotta" trong tiếng La Mã cổ, trong đó banca có nghĩa là chiếc ghế dài, còn rotta có nghĩa là bị gãy Banca rotta có nghĩa là "băng ghế bị gãy" Cũng có ý kiến cho rằng, từ phá sản bắt nguồn từ chữ ruin trong tiếng La tinh, có nghĩa là sự “khánh tận”
Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như: phá sản, vỡ nợ, khánh tận…
Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “phá sản” là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; “vỡ nợ” là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả
nợ Như vậy, trong cách hiểu thông thường, khái niệm phá sản là để chỉ cho một sự việc đã rồi, sự việc “phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ trả nợ”
Từ điển Luật học định nghĩa phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Theo quan điểm này, khái niệm phá sản chỉ mới xác định được một tình trạng có thể xảy ra đối với các chủ thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Nói cách khác, “phá sản” được hiểu tương đương với
“mất khả năng thanh toán”
Trong pháp luật Việt Nam, cả Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và Luật Phá sản năm 2004 đều không đưa ra định nghĩa về phá sản mà sử dụng khái niệm “tình trạng phá sản” Nếu áp dụng vào quan niệm của phần đông người dân, khái niệm lâm vào tình trạng phá sản dễ gây ra sự “hiểu nhầm” là doanh nghiệp “lâm vào tình trạng
Trang 2tài sản chẳng còn gì” Tuy vậy, các luật phá sản của Việt Nam vừa nêu đều có các quy định nhằm phục hồi doanh nghiệp chứ không chỉ có các quy định về tuyên bố phá sản
và thanh lý doanh nghiệp Do vậy, khái niệm tình trạng phá sản chưa phản ánh đầy đủ nội hàm như được quy định trong các luật này
Khác với các văn bản luật phá sản trước đây của Việt Nam đều không đưa ra định nghĩa cho khái niệm phá sản, Luật Phá sản năm 2014 đã đưa ra một định nghĩa pháp lý về phá sản, theo đó, “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” Khái niệm này đã tiếp cận phá sản dưới góc độ là một quyết định của tòa án chứ không phải là quá trình ban hành ra quyết định đó (thủ tục phá sản).1
1.2 Khái niệm pháp luật phá sản
Pháp luật phá sản là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Các quan hệ xã hội đó có thể được chia thành hai nhóm cơ bản là: (i) quan
hệ giữa các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, và (ii) quan
hệ giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quan hệ tố tụng phá sản) 2
Trong đó đối tượng điều chỉnh của pháp luâ ̣t Phá sản Vi ệt Nam bao gồm: doanh
nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là hợp tác xã) được thành lập trên lãnh thổ nươ ́ c Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi giải quyết phá sản3 và phạm vi điều chỉnh của pháp luật Phá sản Vi ệt Nam hiện hành là “trình tự, thủ
tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp
1
TS Dương Kim Thế Nguyên , Khái niệm phá sản , thủ tục phá sản và những liên hệ đến luật phá sản năm 2014, đăng trên https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/02/12/khi-niem-ph-san-thu-tuc-php-san-v-nhung-lin-he- den-luat-ph-san-nam-2014/ truy câ ̣p ngày 12/10/2017
2
Tạ Văn Giang, Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản Viê ̣t Nam , Luâ ̣n văn Tha ̣c sỹ,
Khoa Luâ ̣t – ĐHQG Hà Nô ̣i, năm 2011
3 Điều 2, Điều 3, Luâ ̣t Phá sản năm 2014
Trang 3bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành quyết định tuyên bố phá sản.” 4
Điều đó có nghĩa là pháp luật phá sản không chỉ là pháp luật về thanh toán mà còn là pháp luật về quản trị doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính nhằm cứu vớt doanh nghiệp đó.5
1.3 Những đặc điểm của thủ tục phá sản và vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường
1.3.1 Những đặc điểm của thủ tục phá sản
Thủ tục giải quyết một vụ phá sản (tố tụng phá sản) được coi là một loại tố tụng
tư pháp đặc biệt Do tính chất đặc biệt này nên trong pháp luật tố tụng, thủ tục phá sản bao giờ cũng được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật riêng biệt Tính chất đặc biệt của thủ tục phá sản được thể hiện ở những điểm sau :
Thứ nhất, là thủ tục đòi nợ tập thể: Thanh toán theo danh sách chủ nợ, tất cả các chủ nợ (chủ nợ đến hạn và chưa đến hạn)
Thứ hai, thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ được tiến hành trong hoàn cảnh đặc biê ̣t, được xem như biê ̣n pháp cuối cùng của quá trình đòi nợ
Thứ ba, hâ ̣u quả pháp lý thường gă ̣p cảu thủ tu ̣c phá sản là sự chấm dứt hoa ̣t
đô ̣ng cuả mô ̣t thương nhân
Thứ tư, thủ tục phá sản không thuần túy chỉ là đòi nợ mà còn là thủ tục có khả năng giúp con nợ phu ̣c hồi : Sau khi mở thủ tục phá sản, doanh nghiê ̣p không b ị bắt buộc phải thanh lý tài sản ngay mà được áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh
Thứ năm, phá sản là thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp
4 Điều 1, Luâ ̣t Phá sản năm 2014
5 ThS Nguyễn Thị Dung, Pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện,
Bản tin thông tin khoa học lập pháp, Số 01(27) năm 2017
Trang 41.3.2 Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường
Thứ nhất, pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ
Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ trước tiên là bảo vệ các quyền về tài sản của các chủ nợ Khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ
Luật Phá sản còn bảo đảm sự bình đẳng của các chủ nợ trong việc đòi nợ Không một con nợ nào được quyền đòi nợ một cách riêng lẻ Không một chủ nợ nào được con nợ trả nợ cho mình trong khi các chủ nợ khác chưa được trả nợ Tất cả các chủ nợ đều phải đợi đến khi Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp và cùng nhau chia
số tài sản còn lại của doanh nghiệp theo những tỷ lệ (trừ những chủ nợ có một sự đảm bảo đặc biệt cho món nợ của mình như có tài sản cầm cố, thế chấp)
Thứ hai, pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ
Pháp luật tạo điều kiện để cho con nợ khắc phục khó khăn để khôi phục sản xuất kinh doanh Chỉ khi nào không thể cứu vãn nổi mới tuyên bố phá sản Đồng thời, khi bị tuyên bố phá sản, người kinh doanh được giải thoát khỏi các khoản nợ khi đã giao lại toàn bộ tài sản còn lại để chi trả cho các chủ nợ Sau đó một thời gian họ có thể trở lại môi trường kinh doanh khi có cơ hội
Thứ ba, pháp luật phá sản góp phần vào bảo vệ lợi ích của người lao động
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì những người lao động trong doanh nghiệp sẽ phải chịu hậu quả trực tiếp, họ sẽ bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập để đảm bảo đời sống Sự bảo vệ của Luật Phá sản đối với người làm công thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp hoặc phản đối yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được tham gia
Trang 5quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương trước các khoản nợ khác của doanh nghiệp, …
Thứ tư, pháp luật phá sản phần bảo vệ trật tự kỉ cương trong xã hội
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng nhiều càng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản Như vậy nếu không có Luật để đưa vấn đề phân chia tài sản của con nợ theo một trật tự nhất định, nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan mà cứ để mạnh ai người nấy lấy một cách vô tổ chức thì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa chủ nợ với con nợ, giữa chủ nợ với nhau Bằng việc giải quyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ và giữa các chủ nợ với nhau, pháp luật về phá sản góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể có giữa họ với nhau, nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương của xã hội
Thứ năm, pháp luật phá sản góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, tái tạo tổ chức lại doanh nghiệp
Phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả về kinh tế xã hội nhất định nhưng phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn tiêu cực Phá sản là một giải pháp hữu hiệu trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, là sự đào thải tự nhiên đối với doanh nghiệp làm ăn yếu kém, góp phần duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả Vì vậy, Luật Phá sản là công cụ răn đe buộc các nhà kinh doanh luôn luôn phải năng động sáng tạo nhưng không được mạo hiểm và liều lĩnh, đồng thời, Luật Phá sản là cơ sở pháp lý
để xóa bỏ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư
Trang 6CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN TẠI VIỆT NAM 2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành pháp luật phá sản Việt Nam
Từ khi Việt Nam còn là một xã hội phong kiến, nhà làm luật thời đó cũng đã dự liệu đến trường hợp người mắc nợ không trả được nợ, và đưa ra những cách thức giải quyết tình trạng này Các quy định nhằm giải quyết mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ nằm rải rác trong các Đạo luật thời phong kiến, đặc biệt trong ba bộ luật lớn là bộ Quốc triều Hình luật, Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long
Thời Pháp thuộc, ban đầu người Pháp áp dụng Bộ luật Thương mại Pháp vào nhượng địa Nam Kỳ, sau Hòa ước Giáp Thân 1884 đạo luật này được áp dụng cho cả Bắc Kỳ, và sau 1892 thì áp dụng vào tất cả các tòa án Pháp tại Trung Kỳ Là một phần của thương luật Pháp, pháp luật về phá sản và thanh toán tư pháp được áp dụng trực tiếp vào nước ta mà không có một thử nghiệm đáng kể nào để chuyển hóa chúng thành tiếng Việt trong suốt một nửa thế kỷ đầu tiên của thời đô hộ
Sau đó, Bộ luật thương mại Trung phần được ban hành ngày 12/06/1942 theo
Dụ số 46 của Bảo Đại là đạo luật thương mại đầu tiên của người Việt Nam, có hiệu lực
từ 25/01/1944 và chính thức hết hiệu lực ở miền Nam ngày 20/12/1972 Việc hết hiê ̣u lực này là bởi chính quyền Cô ̣ng hòa Miền Nam Vi ệt Nam vào năm 1972 cũng đã ban hành đạo luật có tên Luật Thương mại miền Nam Vi ệt Nam trong đó có phần quy đ ịnh về Luâ ̣t Phá sản
Từ sau Giải phóng miền nam đến trước Đa ̣i hô ̣i Đảng toàn quốc lần thứ VI , Việt Nam theo mô hình kinh tế kế hoa ̣ch hóa tâ ̣p trung , không khuyến khích ca ̣nh tranh nên hầu như không hề tồn ta ̣i khái niê ̣m phá sản cũng như pháp luật quy định về phá sản
Trang 7Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế thị trường được thừa nhận
và phát triển, vấn đề phá sản doanh nghiệp mới được đặt ra, tuy nhiên lúc này nó mới chỉ được quy định trong hai văn bản pháp lý của Nhà nước ta là Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty (ban hành cùng ngày 21/12/1990)
Đến năm 1993, Nhà nước ta đã ban hành một văn bản pháp luật rất quan trọng
là Luật phá sản doanh nghiệp, trong đó không chỉ đưa ra khái niệm về "tình trạng phá sản" mà còn quy định về nhiều vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết một vụ phá sản cụ thể Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp đã bộc
lộ nhiều điểm hạn chế cần khắc phục Do đó, Luật phá sản 2004 đã ra đời thay thế Luật phá sản doanh nghiệp 1993.6
Sau mô ̣t thời gian áp du ̣ng , Luâ ̣t Phá sản năm 2004 cũng dần bộc lộ những hạn chế, để khắc phục những hạn chế đó cũng như nhằm hoàn thiện pháp luật về phá sản , Quốc Hô ̣i nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 ngày 19 tháng 6 năm 2014 đã thông qua Luâ ̣t phá sản 2014
2.2 Sự phát triển của pháp luật phá sản Việt Nam qua tƣ ̀ ng thời kỳ
2.2.1 Đôi ne ́ t về Luật Phá sản doanh nghiê ̣p năm 1993
Mốc đánh dấu quan tro ̣ng cho sự hình thành pháp luâ ̣t phá sản ở Viê ̣t Nam là Luâ ̣t Phá sản doanh nghiê ̣p năm 1993 được Quốc hô ̣i khóa IX thông qua ngày 15/6/2004 vớ i 6 chương và 52 điều Đây là đạo luật về phá sản đầu tiên của Nhà nước CHXHCN Việt Nam được ban hành trong khoảng thời gian ngắn ngủi khi chúng ta mới bước vào nền kinh tế thị trường Kinh nghiệm của chúng ta về kinh tế thị trường nói chung và về phá sản nói riêng còn rất hạn chế, ít ỏi Kinh nghiệm lập pháp về phá sản hoàn toàn không có Có thể nói Luâ ̣t Phá sản doanh nghiê ̣p năm 1993 được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài
6 Tạ Văn Giang, Điều ho ̀ a lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản Viê ̣t Nam , Luâ ̣n văn Tha ̣c sỹ,
Khoa Luâ ̣t – ĐHQG Hà Nô ̣i, năm 2011
Trang 8Đa ̣o luâ ̣t này ra đời đã đáp ứng phần nào yêu cầu củ a nền kinh tế thi ̣ trường để giải quyết các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản , tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh Tuy nhiên, về cơ bản, viê ̣c áp du ̣ng những quy
đi ̣nh của Luâ ̣t Phá sản doanh nghiệp 1993 trong thực tế còn gă ̣p quá nhiều khó khăn , vướng mắt, như pha ̣m vi áp du ̣ng he ̣p ; khái niệm tình trạng phá sản được quy định một cách phức tạp; thành phần chủ thể có quyền hoặc nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu giải quyế t phá sản được quy định còn hạn chế ; hòa giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiê ̣p được coi là mô ̣t giai đoa ̣n bắt buô ̣c trong tố tu ̣ng phá sản ở Viê ̣t Nam; về thẩm quyền của Chánh tòa kinh tế tro ng viê ̣c giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ; về viê ̣c tiến hành hay đình chỉ thủ tu ̣c phá sản khi có dấu hiê ̣u phạm tội Điều đó làm cản trở viê ̣c xử lý các doanh nghiê ̣p có khó khăn về tài chính , không thanh toán được các khoản nợ đến hạn Nhiều doanh nghiệp thực sự lâm vào tình trạng phá sản nhưng nếu vận dụng các quy định cụ thể của Luật Phá sản thì lại không giải quyết được hoă ̣c viê ̣c giải quyết bi ̣ kéo dài , không triê ̣t để Những ha ̣n chế đó đã đă ̣t ra yêu cầu cần phải có mô ̣t đa ̣o luâ ̣t mới về phá sản
2.2.2 Luâ ̣t Phá sản năm 2004 – Điểm mới và hạn chế
2.2.2.1 Như ̃ng điểm mới so với Luật Phá sản doanh nghiệp 1993
Luâ ̣t Phá sản 2004 ra đời đã mang đến nhiều đổi mới hơn cho pháp luâ ̣t phá sản
so với Luâ ̣t Phá sản doanh nghiệp năm 1993, cụ thể như sau:
Một là, hoàn thiện khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Đây là khái niệm cực kỳ quan trọng của pháp luật phá sản Tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ
Trong Luâ ̣t Phá sản doanh nghiệp 1993 khái niệm này dường như được xây dựng trên cơ sở kết hợp tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi nợ, quy định về thời hạn 3 tháng nợ
Trang 9lương liên tiếp với người lao động Tính định tính còn thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của con nợ… Khái niệm phá sản còn phải gắn với lý do khó khăn, thua
lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng Với khái niệm như vậy, trên thực tế các chủ nợ sẽ không bao giờ thực hiện được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ của mình bởi lẽ họ phải chứng minh là con nợ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh Chủ nợ chỉ có thể chứng minh là con nợ đã trễ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao con nợ trễ hạn thanh toán – không trả nợ thì chủ nợ
có thể không biết mà cũng không cần biết Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của con nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của con nợ Điều này hoàn toàn ngoài khả năng của con nợ
Luâ ̣t Phá sản 2004 (Điều3) khi đưa ra khái niệm lâm vào tình tra ̣ng phá sản đã không còn nêu ra nguyên nhân khó khăn , thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và thời hạn thua lỗ mà chỉ quy đi ̣nh “ Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.” Vớ i khái niê ̣m này , Luâ ̣t Phá sản 2004 đã quy đi ̣nh mềm dẻo hơn , đủ điều kiê ̣n xác định doanh nghiệp , hơ ̣p tác xã lâ m vào tình tra ̣ng phá sản sớm hơn , cụ thể chỉ cần
có các dấu hiệu sau đây : (i) có khoản nợ đến hạn phải thanh toán ; (ii) chủ nợ có yêu cầu; (iii) không có khả năng thanh toán các khoản nợ này
Hai là, quy đi ̣nh rõ , đầy đủ và hợp lí hơn về các chủ thể có quyền nộp đơn cũng như thủ tục nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Về chủ thể có quyền nô ̣p đơn , ngoài chủ nợ , người lao đô ̣ng làm viê ̣c trong doanh nghiệp, hơ ̣p tác xã như quy đi ̣nh của Luâ ̣t Phá sản doanh nghiệp 1993 thì Luật Phá sản 2004 mở rô ̣ng quyền nô ̣p đơn yêu cầu mở thủ tu ̣c phá sản cho mô ̣t số đối tươ ̣ng khác, bao gồm:chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước , cổ đông công ti cổ phần và thành viên hợp danh trong công ti hợp danh nhằm tạo thêm các kênh mới thúc đẩy
Trang 10viê ̣c làm đơn yêu cầu giải quyết phá sản , chấm dứt tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã thực chất không thể hoa ̣t đô ̣ng nhưng tồn ta ̣i về mă ̣t pháp lí
Về thủ tu ̣c nô ̣p đơn yêu cầu mở thủ tu ̣c phá sản Nếu các điều kiê ̣n mà chủ nợ phải đáp ứng khi nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản quy đi ̣nh trong L uâ ̣t Phá sản doanh nghiệp năm 1993 có phần hạn chế khả năng thu hồi vốn của các chủ nợ , xuất phát từ chính quy định thời hạn hai năm thua lỗ , khó khăn trong kinh doanh như là yếu tố bắt buô ̣c của viê ̣c lâm vào tình trạng khủng hoảng, cũng như quy định về nghĩa vụ của chủ
nơ ̣ phải chứng minh con nợ mất khả năng thanh toán vì thua lỗ trong kinh doanh thì Luật Phá Sản năm 2004 đã khắc phu ̣c ha ̣n chế đó bằng viê ̣c không bắt chủ nợ phải cung cấp cho Tòa án các giấy tờ , tài liệu chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ mất khả năng thanh toán mà chỉ cần thực hiê ̣n nghĩa vu ̣ chứng minh chủ nợ đã đòi nợ nhưng không đươ ̣c doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ thanh toán đúng hạn
Ngoài ra , Luâ ̣t Phá sản 2004 còn bổ sung quy định về thời hạn chủ doanh nghiệp, hơ ̣p tác xã hoă ̣c đa ̣i diê ̣n hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ phải nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ph á sản, thay vì bỏ ngỏ quy đi ̣nh này , tạo sơ hở cho chủ doanh nghiệp, hợp tác xã trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình
Ba là, quy đi ̣nh một nghĩa vụ pháp lý mới đối với các cơ quan bao gồm Tòa
án, Viê ̣n Kiểm sát , Thanh tra Nhà nước , cơ quan quản lý vốn , tổ chức kiểm toán hoặc cơ quan quyết đi ̣nh thành lập doanh nghiê ̣p
Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 20, Luâ ̣t Phá sản 2004, trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nếu nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì Toà
án, Viện kiểm sát, cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý vốn, tổ chức kiểm toán hoặc cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp mà không phải là chủ sở hữu nhà nước của doanh nghiệp có nhiệm vụ thông báo bằng văn bản cho những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết để họ xem xét việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trang 11Đồng thời, cơ quan thông báo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông báo đó
Bốn là, đa dạng hóa cách thức áp dụng các loại thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hơ ̣p tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 5 Luâ ̣t Phá sản 2004 thì thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm Nộp đơn yêu cầu
và mở thủ tục phá sản; Phục hồi hoạt động kinh doanh; Thanh lý tài sản, các khoản nợ
và Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, tùy vào từng trường hợp theo quy
đi ̣nh của pháp luâ ̣t, Thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục Phục hồi hoạt
đô ̣ng kinh doanh hay thanh lý tài sản , các khoản nợ hoặc quyết định chuyển từ áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản
nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản chứ không phải thông qua mô ̣t quy trình đầy đủ tất cả các thủ tu ̣c như Luâ ̣t Phá sản doanh nghi ệp năm 1993
Năm là, tăng cường các biê ̣n pháp bảo toàn tài sản của doanh nghi ệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhằm tạo khả năng phục hồi cho doanh nghi ệp, hợp tác xã đó
Luâ ̣t Phá Sản 2004 đã dành hẳn một chương về những biện pháp bảo toàn tài sản của con nợ với nhiều biện pháp chưa được biết đến trong Luâ ̣t Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Bao gồm:
- Cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu của Hội nghị chủ nợ nếu xét thấy người quản lý của doanh nghiệp không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh sẽ không
có lợi cho việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp (Điều 30);
- Bù trừ nghĩa vụ (Điều 48);
- Đình chỉ thi hành án dân sự (Điều 57);
Trang 12- Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản (Điều 58);
- Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55);
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 54);
- Chủ nợ không có bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 44)
Sáu là, quy đi ̣nh về quan hê ̣ giữa thủ tục phá sản với các thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế, thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục thi hành án dân sự
Luâ ̣t Phá sản năm 2004 đã cu ̣ thể hóa các quan hê ̣ giữa các thủ tu ̣c nêu trên , góp phần tăng tính minh ba ̣ch của pháp luâ ̣t phá sản đồng thời ta ̣o nên sự dễ dàng , thuâ ̣n lợi trong quá trình giải quyết mô ̣t vu ̣ viê ̣c phá sản mà có liên quan đến các thủ tu ̣c khác
Cụ thể, về quan hê ̣ giữa thủ tu ̣c phá sản và thủ tu ̣c tố tu ̣ng hình sự, theo quy đi ̣nh Điều 8 Luâ ̣t Phá sản năm 2004, trong quá trình tiến hành thủ tu ̣c phá sản, nếu phát hiê ̣n dấu hiê ̣u tô ̣i pha ̣m thì thẩm phán cung cấp tài liê ̣u (bản sao) cho Viê ̣n kiểm sát nhân dân
để xem xét việc khởi tố về hình sự và vẫn tiến hành thủ tục phá sản theo quy định
Về quan hê ̣ giữa thủ tu ̣c phá sản và thủ tu ̣c giải quyết tranh chấp dân sự , kinh tế: theo quy đi ̣nh Điều 57 Luâ ̣t Phá sản năm 2004, kể từ ngày Tòa án ra quyết đi ̣nh mở thủ tục phá sản , viê ̣c giải quyết vu ̣ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp ,
hơ ̣p tác xã lâm vào tình tra ̣ng phá sản là mô ̣t bên đương sự trong vụ án đó sẽ bị đình chỉ và giao cho Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản giải quyết
Về quan hê ̣ giữa thủ tu ̣c phá sản và thủ tục thi hành án đân sự , theo quy đi ̣nh Luâ ̣t Phá sản năm 2004, người được thi hành án có quyền nô ̣p đơn cho Tòa án yêu cầu thanh toán trong khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã như mô ̣t chủ nợ có đảm bảo, nếu có bản án, quyết đi ̣nh của Tòa án đã có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t kê biên tài sản của doanh nghiệp, hơ ̣p tác xã để bảo đảm thi hành
2.2.2.2 Như ̃ng hạn chế cần được hoàn thiê ̣n của Luật Phá sản 2004
Thứ nhất, chưa quy đi ̣nh về khái niệm phá sản
Mặc dù khái niệm này có sự hoàn thiện hơn so với Luâ ̣t Phá sản doanh nghiệp năm 1993 nhưng vẫn còn hạn chế ở tính thiếu triệt để của nó , cụ thể nó đã không quy
Trang 13định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ Vì vậy về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán
01 ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu cầu đòi nợ cũng có thể bị xem là lâm vào tình trạng phá sản Điều này có thể dẫn đến sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ Kinh nghiệm của một số nước khi xây dựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng thì thường có quy định về số nợ cụ thể, về thời hạn trễ hạn thanh toán nợ từ phía con nợ sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ.7
Thứ hai, phạm vi áp dụng theo quy định của luật là còn khá hẹp , chỉ áp dụng
“đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Thứ ba, về đối tượng áp dụng
Theo quy định, Luật Phá sản 2004 thủ tục phá sản ch ỉ áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mà không áp dụng với các chủ thể kinh doanh khác như cá nhân, hộ gia đình Do đó, có nhiều Tòa án đề nghị mở rộng đối tượng áp dụng của LPS theo hướng mọi tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh và có đăng ký kinh doanh nếu lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì đều có thể bị đưa
ra Tòa án để giải quyết theo thủ tục phá sản Các chủ thể kinh doanh trong đó có cá nhân, hộ gia đình cần được bình đẳng với các chủ thể kinh doanh khác (doanh nghiệp) trong việc sử dụng các cơ chế do pháp luật quy định, trong đó có cơ chế phá sản Nếu chẳng may thua lỗ thì các chủ thể này cũng được hưởng một cơ chế xử lý nợ như các tổ chức sản xuất kinh doanh khác để có cơ hội trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh Các chủ nợ cũng bảo đảm cơ chế đòi nợ đúng pháp luật, tránh tình trạng bắt xiết
nợ, gây mất trật tự an toàn xã hội như một số trường hợp xảy ra hiện nay Nhiều hộ gia đình có quy mô kinh doanh lớn, làm ăn với doanh nhân nước ngoài nên Luâ ̣t Phá sản
7 TS Nguyễn Tha ́i Phúc , Luâ ̣t Phá sản 2004 – Như ̃ng tiến bộ và hạn chế , đăng trên
https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/17/1789/ truy câ ̣p ngày 12/10/2017
Trang 14Việt Nam cũng cần sửa đổi cho phù hợp với luật phá sản c ủa thế giới, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới.8
Thứ tư, về áp dụng thủ tục phá sản
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luâ ̣t Phá sản thì : Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định cụ thể của Luật phá sản, Thẩm phán quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc thủ tục thanh lý tài sản; hoặc chuyển
từ áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản Tuy nhiên, pháp luật lại có không quy đ ịnh điều kiện chuyển đổi, trình tự, thủ tục chuyển đổi trên như thế nào, gây khó khăn, vướng mắc cho các Tòa án địa phương trong quá trình áp dụng quy định này.9
Trên đây chỉ là mô ̣t vài ha ̣n chế cơ bản của Luâ ̣t Phá sản năm 2004, cùng với các khuyết điểm về cách thức quy đi ̣nh khác đã đă ̣t ra yêu cầu thay đổi về văn bản pháp luâ ̣t điều chỉnh thủ tu ̣c phá sản , đó cũng là điều kiê ̣n ra đời của Luâ ̣t Phá sản hiê ̣n hành – Luâ ̣t Phá sản năm 2014
2.2.3 Luâ ̣t Phá sản năm 2014
2.2.3.1 Những điểm mới của Luật Phá sản năm 2014 so với Luật Phá sản năm 2004
Trên cơ sở kế thừa nền tảng của Luật cũ, Luật phá sản năm 2014 có nhiều nội dung mới, hoàn thiện hơn so với Luật phá sản năm 2004, cụ thể như sau10:
Một là, về phạm vi áp dụng, nếu như Luật phá sản năm 2004 quy định hiệu lực
của luật phá sản áp dụng “đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”11 thì Luật phá sản năm 2014 chỉ áp dụng