1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình tư pháp quốc tế

583 80 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 583
Dung lượng 7,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ có tính chất dân sự và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài còn đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế, về cơ bản, lại là các q

Trang 1

GIÁO TRÌNH

TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Trang 2

Giáo trình này đã được Hội đồng nghiệm thu giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội (thành lập theo Quyết định số 1282/QĐ-ĐHLHN ngày 05 tháng 5 năm 2016 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội) đồng

ý thông qua ngày 01 tháng 9 năm 2016 và được Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội cho phép xuất bản theo Quyết định số 250/QĐ-ĐHLHN ngày 15 tháng 02 năm 2017

Mã số: TPG/K - 19 - 07

2105-2019/CXBIPH/08-189/TP

Trang 4

TS TRẦN MINH NGỌC

TS VŨ THỊ PHƯƠNG LAN

Tập thể tác giả

1 TS TRẦN MINH NGỌC Chương 1, Chương 5

2 TS VŨ THỊ PHƯƠNG LAN Chương 2, Chương 8 (mục 2.1)

3 TS NGUYỄN THÁI MAI Chương 3 (mục 2, 3, 4), Chương 9

4 TS VŨ ĐỨC LONG Chương 3 (mục 1, 5)

6 TS HÀ VIỆT HƯNG Chương 6

7 PGS.TS HOÀNG PHƯỚC HIỆP Chương 7

8 PGS.TS ĐOÀN NĂNG Chương 8 (mục 1, 3, 4 và mục

2.2 - 2.8)

9 PGS.TS NÔNG QUỐC BÌNH Chương 10

10 TS NGUYỄN HỒNG BẮC Chương 11 (mục 1, 2), Chương 12

11 TS NGUYỄN TIẾN VINH Chương 11 (mục 3)

12 ThS TRẦN THÚY HẰNG Chương 13

Trang 5

Tư pháp quốc tế là môn khoa học pháp lí chuyên ngành được đưa vào giảng dạy rộng rãi trong các trường đại học đào tạo về luật trên thế giới cũng như ở Việt Nam Nhằm phục vụ công tác giảng dạy

và học tập môn Tư pháp quốc tế, ngay từ những năm 90 của thế kỉ trước, Trường Đại học Luật Hà Nội đã xuất bản và tái bản nhiều lần Giáo trình Tư pháp quốc tế Các Giáo trình Tư pháp quốc tế này đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của bạn đọc trên cả nước, góp phần làm phong phú thêm hệ thống lí luận về tư pháp quốc tế của Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta, không ít các vấn đề lí luận về tư pháp quốc tế đã được cập nhật, làm mới hơn so với trước đây Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo, năm 2017, Trường Đại học Luật Hà Nội đã tổ chức biên soạn mới cuốn Giáo trình Tư pháp quốc tế và lần này được tái bản có sửa đổi, bổ sung Cuốn Giáo trình Tư pháp quốc tế đề cập những nội dung cơ bản của khoa học tư pháp quốc tế nói chung, tư pháp quốc tế Việt Nam nói riêng trong bối cảnh mới, hi vọng sẽ nhận được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc

Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gắng hoàn thành Giáo trình, nhưng do tư pháp quốc tế có nội dung khá phức tạp, nên Giáo trình khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc gần xa, để trong những lần xuất bản tiếp theo, Giáo trình sẽ trở nên hoàn thiện hơn

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

Hà Nội, tháng 6 năm 2019

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 6

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

HĐTTTP Hiệp định tương trợ tư pháp SHCN Sở hữu công nghiệp

SHTT Sở hữu trí tuệ

Trang 7

1.3 Thuật ngữ và định nghĩa “Tư pháp quốc tế” 16

2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ

giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa

người nước ngoài với nhau tại Việt Nam

29

2.4 Nguyên tắc tôn trọng sự thoả thuận của các bên 30

Trang 8

1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ

1.1 Đối tượng điều chỉnh

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ và trở thành một xu thế không thể đảo ngược ở hầu hết các quốc gia, thế giới mà sự tồn tại của quốc gia này không thể tách rời khỏi các quốc gia khác Hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong thời đại ngày nay và là động lực quan trọng thúc đẩy sự phồn vinh của mỗi đất nước Trong quá trình hợp tác quốc tế ấy, xuất hiện các mối quan hệ đa dạng về nhân thân và tài sản phát sinh từ các lĩnh vực dân

sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình v.v giữa công dân, pháp nhân của các quốc gia với nhau Các quan hệ này dù xuất hiện ở những lĩnh vực khác nhau nhưng luôn mang hai đặc điểm quan trọng đó là: có “tính chất dân sự” và có “yếu tố nước ngoài” (hay yếu tố quốc tế) Bên cạnh các quan hệ nội dung có “tính chất dân sự” như: quan hệ dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình v.v trong quá trình giao lưu dân sự, thương mại quốc tế còn xuất hiện các quan hệ tố tụng dân sự quốc tế như: xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của toà án quốc gia, ủy thác tư pháp quốc tế, công nhận và cho thi hành phán quyết của toà án nước ngoài v.v Các quan hệ tố tụng này phát sinh khi cơ quan có thẩm quyền của quốc gia được yêu cầu giải quyết một vụ việc có tính chất dân sự và có yếu tố nước ngoài

Tư pháp quốc tế là một ngành luật mà đối tượng điều chỉnh của

nó bao gồm các quan hệ nội dung “có tính chất dân sự” có yếu tố nước ngoài và các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài Sự tồn tại của yếu tố nước ngoài trong các quan

hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là minh chứng rõ ràng nhất cho sự khác biệt giữa tư pháp quốc tế và luật dân sự với tư cách là hai ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia

Sự khác biệt giữa đối tượng điều chỉnh của hai ngành luật này còn

Trang 9

thể hiện ở chỗ, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế rộng hơn, bao gồm các quan hệ nội dung có tính chất dân sự và các quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài, trong khi đó, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự chỉ là các quan hệ dân sự nội địa Tư pháp quốc tế và công pháp quốc tế cũng có sự khác nhau cơ bản về đối tượng điều chỉnh Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ có tính chất dân sự và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài còn đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế, về cơ bản, lại là các quan

hệ chính trị giữa các chủ thể của luật quốc tế mà chủ yếu là giữa các quốc gia với nhau

Đến đây, câu hỏi cần được trả lời tiếp theo là, yếu tố nước ngoài trong các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế được thể hiện như thế nào?

Học lí và thực tiễn về tư pháp quốc tế chưa có sự thống nhất về cách hiểu đối với yếu tố nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế, song thường dựa vào ít nhất một trong ba dấu hiệu chính sau đây để kết luận một quan hệ nội dung có tính chất dân sự hoặc quan hệ tố tụng dân sự là có yếu tố nước ngoài hay không, cụ thể là:

Thứ nhất, dấu hiệu chủ thể tham gia quan hệ

Đây là trường hợp có ít nhất một bên chủ thể tham gia quan hệ là

“người nước ngoài” “Người nước ngoài” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là cá nhân người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài thậm chí là cả quốc gia nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế v.v

Ví dụ 1: Nam công dân Việt Nam 25 tuổi kết hôn với nữ công dân Nga 23 tuổi Hoặc, nam công dân Hoa Kỳ nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi

Ví dụ 2: Trong quá trình giải quyết một vụ việc về tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản giữa nguyên đơn là công dân Việt Nam đang cư trú tại Đà Nẵng và bị đơn là công dân Anh đang cư trú tại Bungari, toà án Việt Nam (toà án đang giải quyết vụ việc) đã yêu cầu

Trang 10

Toà án Bungari xác minh một số vấn đề về nhân thân và tài sản của công dân Anh trong thời gian người này cư trú tại Bungari thông qua thủ tục ủy thác tư pháp quốc tế

Dấu hiệu chủ thể còn có thể được thể hiện ở khía cạnh khác, đó

là trong một số quan hệ nhất định, các bên tham gia quan hệ mặc dù

có cùng quốc tịch nhưng các bên có trụ sở thương mại hay nơi cư trú

ở các nước khác nhau Trong trường hợp này, quan hệ phát sinh vẫn

là quan hệ có yếu tố nước ngoài

Ví dụ: Trong một quan hệ hợp đồng mua bán vải, bên bán là thương nhân có trụ sở thương mại tại Việt Nam, còn bên mua là thương nhân có trụ sở thương mại tại Pháp Theo Điều 1 Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế thì quan hệ hợp đồng trên chính là quan hệ hợp đồng có yếu tố quốc tế (yếu tố nước ngoài) Ví dụ khác, việc đăng kí kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau trong đó có một bên định cư ở nước ngoài được thực hiện tại ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam Theo pháp luật Việt Nam thì quan hệ này được xem là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.1

Thứ hai, dấu hiệu đối tượng của quan hệ

Theo dấu hiệu này, một quan hệ có tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ mà đối tượng của quan hệ này tồn tại ở nước ngoài Đối tượng của quan hệ có thể là tài sản hoặc lợi ích khác

Ví dụ 1: Bà M là công dân Việt Nam, khi chết không để lại di chúc Tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Bà M vào thời điểm chết là một biệt thự tại Hoa Kỳ Khi Bà M chết, những người thừa kế đối với tài sản của Bà là các con đẻ và con nuôi của Bà đều là công dân Việt Nam và đang cư trú tại Việt Nam Trong trường hợp này, quan

1

Quan hệ đăng kí kết hôn này được điều chỉnh bởi Điều 19 quy định tại Chương III:

“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” của Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình

Trang 11

hệ thừa kế tài sản phát sinh giữa những người cùng quốc tịch nhưng đối tượng của quan hệ là tài sản tồn tại ở nước ngoài nên quan hệ thừa kế này là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài

Ví dụ 2: Toà án Việt Nam thụ lí giải quyết một vụ việc tranh chấp về quyền sở hữu tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn đều là công dân Việt Nam và đều đang cư trú tại Việt Nam, nhưng tài sản liên quan tới tranh chấp là ngôi biệt thự tại Anh

Thứ ba, dấu hiệu về căn cứ làm phát sinh, thay đổi, thực hiện hay

Trong tư pháp quốc tế của Việt Nam, “yếu tố nước ngoài” được quy định tại Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Luật hôn nhân và gia đình 2014 v.v song cụ thể và đầy đủ nhất là các quy định tại Bộ luật dân sự 2015 và Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Nhìn chung, những quy định về yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế Việt Nam là khá hiện đại và phù hợp với tư pháp quốc tế của nhiều nước trên thế giới Khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

b) Các bên tham gia đ u là c ng dân iệt Nam, pháp nhân iệt Nam nhưng việc ác l p, thay đ i, thực hiện ho c chấm dứt quan hệ

đó y ra t i nước ngoài;

Trang 12

c) Các bên tham gia đ u là c ng dân iệt Nam, pháp nhân iệt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó nước ngoài.”

Tương tự, khoản 2 Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy

định: “ ụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc

một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, t chức nước ngoài;

b) Các bên tham gia đ u là c ng dân, cơ quan, t chức iệt Nam nhưng việc ác l p, thay đ i, thực hiện ho c chấm dứt quan hệ đó

y ra t i nước ngoài;

c) Các bên tham gia đ u là c ng dân, cơ quan, t chức iệt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó nước ngoài”

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan

hệ dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động,

tố tụng dân sự v.v có yếu tố nước ngoài Nói theo cách khác, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài

1.2 Phương pháp điều chỉnh

Mỗi ngành luật đều có phương pháp điều chỉnh riêng của mình, phù hợp với đặc điểm của đối tượng điều chỉnh cũng như mục tiêu, mục đích điều chỉnh của ngành luật đó Tư pháp quốc tế, với vị trí là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia, cũng có phương pháp điều chỉnh riêng biệt của nó, phù hợp với đối tượng điều chỉnh của ngành luật này là các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài Tư pháp quốc tế sử dụng hai phương pháp điều chỉnh cơ bản, đó là: phương pháp thực chất và phương pháp xung đột

1.2.1 Phương pháp thực chất

Phương pháp thực chất là phương pháp trực tiếp giải quyết ngay quan hệ pháp lí phát sinh bằng cách xác định trực tiếp quyền và

Trang 13

nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất được xây dựng trong pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

có liên quan Như vậy, khi áp dụng phương pháp thực chất để điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế cụ thể, vấn đề pháp lí có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết ngay bằng quy phạm pháp luật thực chất đã được xây dựng sẵn trong đó chỉ rõ quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa

vụ của các bên liên quan cũng như đưa ra giải pháp cụ thể cho các vấn đề có liên quan

Quy phạm pháp luật thực chất tồn tại trong điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, theo quy ước, được gọi là quy phạm pháp luật thực chất thống nhất

Ví dụ: Điều 11 Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc về

mua bán hàng hoá quốc tế quy định: “Hợp đồng mua bán kh ng cần

ph i được kí kết ho c ác nh n bằng văn b n hay ph i tuân thủ một yêu cầu nào khác v hình thức hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể c bằng những lời khai của nhân chứng”, hay, các điều kiện giao hàng mang tính tập quán trong

thương mại quốc tế như: FOB, CIF, DAF, v.v trong INCOTERMS (các điều kiện thương mại quốc tế) được tập hợp bởi Phòng Thương

mại Quốc tế (International Chamber of Commerce) cũng là những

quy phạm pháp luật thực chất thống nhất

Bên cạnh quy phạm pháp luật thực chất thống nhất, tư pháp quốc tế còn có quy phạm pháp luật thực chất nội địa (hay thông thường) là quy phạm pháp luật thực chất được xây dựng trong pháp luật quốc gia

Ví dụ: Khoản 2 Điều 161 Luật nhà ở 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài như sau:

“2 T chức, cá nhân nước ngoài quy định t i điểm b và điểm c kho n 1 Đi u 159 của Lu t này có các quy n của chủ s hữu nhà như c ng dân iệt Nam nhưng ph i tuân thủ các quy định sau đây:

Trang 14

a) Chỉ được mua, thuê mua, nh n t ng cho, nh n thừa kế và s hữu kh ng quá 30% số lượng căn hộ trong một toà nhà chung cư; nếu là nhà riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà li n k thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nh n t ng cho, nh n thừa kế và s hữu

kh ng quá hai trăm năm mươi căn nhà

Trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một đơn

vị hành chính cấp phường mà có nhi u nhà chung cư ho c đối với nhà riêng lẻ trên một tuyến phố thì Chính phủ quy định cụ thể số lượng căn hộ, số lượng nhà riêng lẻ mà t chức, cá nhân nước ngoài được mua, thuê mua, nh n t ng cho, nh n thừa kế và s hữu…”

Xét về nội dung của quy phạm pháp luật thực chất, có thể nhận

thấy, có hai loại quy phạm pháp luật thực chất: một là, quy phạm

pháp luật thực chất điều chỉnh các quan hệ pháp luật nội dung có yếu

tố nước ngoài như hợp đồng, sở hữu tài sản hữu hình, SHTT, hôn

nhân và gia đình, lao động v.v và hai là, quy phạm pháp luật thực

chất điều chỉnh các quan hệ tố tụng dân sự quốc tế như xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của toà án quốc gia, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài, v.v

Ví dụ sau đây là minh chứng cho sự tồn tại của quy phạm pháp luật thực chất trong tố tụng dân sự quốc tế Khoản 1 Điều 469 Bộ

luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Toà án iệt Nam có thẩm quy n

gi i quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:

a) Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài t i iệt Nam; b) Bị đơn là cơ quan, t chức có trụ s t i iệt Nam ho c bị đơn

là cơ quan, t chức có chi nhánh, văn phòng đ i diện t i iệt Nam đối với các vụ việc liên quan đến ho t động của chi nhánh, văn phòng đ i diện của cơ quan, t chức đó t i iệt Nam;…”

Trang 15

Khoản 1 Điều 424 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Phán

quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được em ét c ng nh n và cho thi hành t i iệt Nam:

a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hoà

ã hội chủ nghĩa iệt Nam cùng là thành viên của đi u ước quốc tế

v c ng nh n và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài; b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài kh ng thuộc trường hợp quy định t i điểm a kho n này trên cơ s nguyên tắc có đi có l i” 1.2.2 Phương pháp ung đột

Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh quan hệ một cách gián tiếp Phương pháp này không đưa ra phương án giải quyết trực tiếp ngay quan hệ mà điều chỉnh quan hệ bằng cách lựa chọn một hệ thống pháp luật cụ thể trong số những hệ thống pháp luật có liên quan, rồi dùng hệ thống pháp luật được chọn ra ấy để giải quyết quan hệ Như vậy, bằng phương pháp này, quan hệ pháp

lí phát sinh chỉ được giải quyết thấu đáo khi áp dụng trực tiếp các quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật của quốc gia được viện dẫn tới (được chọn để điều chỉnh quan hệ) Muốn chọn ra hệ thống pháp luật cụ thể để giải quyết vấn đề pháp lí phát sinh, tư pháp quốc tế đã xây dựng nên hệ thống các quy phạm pháp luật xung đột (quy phạm xung đột) Đây chính là hệ thống quy phạm pháp luật giúp cho việc lựa chọn pháp luật được thực hiện trên thực tế Quy phạm pháp luật xung đột được xây dựng trong pháp luật quốc gia

và điều ước quốc tế hữu quan Cũng giống như quy phạm pháp luật thực chất, quy phạm pháp luật xung đột trong điều ước quốc tế được gọi là quy phạm pháp luật xung đột thống nhất, còn quy phạm pháp luật xung đột trong pháp luật quốc gia được gọi là quy phạm pháp luật xung đột nội địa (hay thông thường)

Ví dụ: Khoản 1 Điều 129 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy

định: “Nghĩa vụ cấp dưỡng tuân theo pháp lu t của nước nơi người

Trang 16

yêu cầu cấp dưỡng cư trú Trường hợp người yêu cầu cấp dưỡng

kh ng có nơi cư trú t i iệt Nam thì áp dụng pháp lu t của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng là c ng dân”

Hoặc, khoản 1 Điều 20 HĐTTTP Việt Nam - Bungari quy định:

“Các đi u kiện kết h n giữa c ng dân của hai nước kí kết sẽ ác định theo pháp lu t của nước kí kết mà người kết h n là c ng dân”

Rõ ràng, phương pháp xung đột là phương pháp phức tạp, khó áp dụng hơn so với phương pháp thực chất Tuy nhiên, phương pháp xung đột lại là phương pháp đặc thù và chủ yếu của tư pháp quốc tế bởi chính phương pháp này mới đảm bảo cho việc điều chỉnh quan

hệ tư pháp quốc tế khách quan nhất, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan trong quan hệ được bảo vệ triệt để nhất

1.3 Thuật ngữ và định nghĩa “Tư pháp quốc tế”

Trên bình diện quốc tế, thuật ngữ “Tư pháp quốc tế” (Private

International Law) còn có tên gọi khác là “Xung đột pháp luật”

(Conflict of Laws) Các nước theo truyền thống Luật chung (Common Law) như Hoa Kỳ, Anh, Australia thường sử dụng thuật

ngữ “xung đột pháp luật” để chỉ một bộ phận của pháp luật quốc gia điều chỉnh vụ việc có tính chất dân sự và có yếu tố nước ngoài.1

Trong khi đó, Nga, Ba Lan, Thụy Sỹ, Venezuela và các nước theo

truyền thống Luật dân sự (Civil Law) như Pháp, Đức, Hy Lạp, Italia

lại thường sử dụng thuật ngữ “Tư pháp quốc tế” cũng để chỉ một ngành luật thuộc hệ thống pháp luật quốc gia.2

edition, London Sweet and Maxwell, 1969, tr 5

2

C F FORSYTH assisted by T W BENNETT, Private international law, the Rustica

press, 1981, tr 3; Mặc dù còn có những quan điểm khác nhau về vị trí của tư pháp quốc tế song đa số học giả và các nhà lập pháp ở các nước trên thế giới ngày nay đều cho rằng, tư pháp quốc tế là một phần của hệ thống pháp luật quốc gia

Trang 17

quốc tế” cũng không được sử dụng thống nhất ở nhiều nước Ở Pháp,

Hy Lạp, Italia, Ba Lan, Thụy Sỹ hay Tây Ban Nha, “Tư pháp quốc tế”

được biết đến với tên tiếng Anh là Private International Law, trong khi đó ở Đức, Nga, Áo và Scotland có tên gọi khác là International

Private Law

Thực ra, tên gọi Private International Law, International Private

Law hay Conflict of Laws đều không phản ánh đúng nội dung của

ngành luật này Với tên gọi như vậy, một số người mới nghiên cứu

có thể lầm tưởng tư pháp quốc tế là công pháp quốc tế hay là một phần của công pháp quốc tế Tuy nhiên, tư pháp quốc tế hoàn toàn

không phải là công pháp quốc tế (Public International Law) dù giữa

chúng có những mối liên hệ nhất định Trong khi công pháp quốc tế điều chỉnh chủ yếu quan hệ chính trị giữa các quốc gia thì tư pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài Yếu tố “quốc tế” trong quan hệ tư pháp quốc tế cũng không phản ánh mối quan hệ quốc tế giữa các quốc gia mà chỉ muốn đề cập tới các vụ việc có tính chất dân sự mà trong đó, các bên tham gia hoặc các vấn đề có liên quan khác có sự liên hệ với hơn một quốc gia.1

Tư pháp quốc tế ở mỗi nước là độc lập với nhau và có sự khác biệt về phạm vi điều chỉnh Tư pháp quốc tế của Anh, Hoa Kỳ, Australia chỉ tập trung giải quyết ba vấn đề đó là: xung đột pháp luật, xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của toà án quốc gia, công nhận và cho thi hành phán quyết của toà án nước ngoài Tư pháp quốc tế ở các nước khác như Italia và Đức thì có phạm vi điều chỉnh hẹp hơn, chỉ tập trung vào vấn đề xung đột pháp luật Trong khi đó, các nước như Pháp, Nga, Ba Lan, Thụy Sỹ thì ngoài vấn đề xung đột pháp luật, xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế, công nhận và cho thi hành phán quyết của toà án nước ngoài, trọng tài quốc tế, tư pháp quốc tế còn điều chỉnh cả những vấn đề nội dung không có

1 CLARKSON and JONATHAN HILL, Jaffey on the conflict of laws, 2nd edition, Lexisnexis UK, 2002, tr 3

Trang 18

xung đột pháp luật như: quy chế pháp lí của người nước ngoài ở nước sở tại, quốc tịch của cá nhân, SHTT quốc tế v.v 1

Về phương diện lịch sử, tư pháp quốc tế đã trải qua quá trình hình thành và phát triển tương đối lâu dài, mà cái nôi của nó được xem là ở châu Âu lục địa Ngay từ thời kì La Mã cổ đại đã xuất hiện những nền tảng cho sự phát triển của học thuyết về xung đột pháp luật Vào thời kì này, trong đế chế La Mã rộng lớn, chỉ những công dân La Mã mới chịu sự điều chỉnh của luật dân sự La Mã, trong khi

đó, những cư dân của các tỉnh (người nước ngoài) thuộc đế chế La

Mã phải tuân theo luật của các tỉnh đó Vào giai đoạn sau, khoảng thế kỉ thứ 5, pháp luật La Mã đã chấp nhận việc áp dụng luật nhân thân (luật quốc tịch) cho tộc người barbarian xâm lược La Mã cũng như chính người La Mã Mặc dù đã có những quy định sơ khai theo kiểu quy phạm tư pháp quốc tế song, các học thuyết về tư pháp quốc

tế đã không xuất hiện trong thời kì này

Bước tiếp theo của lịch sử tư pháp quốc tế được đánh dấu bằng

sự xuất hiện “lí thuyết về quy chế” (statute theory) của Bartolus (1314 - 1357) vào thế kỉ 14 ở Italia Lí thuyết này đã ảnh hưởng sâu rộng tới các học thuyết về xung đột pháp luật (tư pháp quốc tế) trên toàn lãnh thổ châu Âu thời kì đó cũng như nhiều thế kỉ sau Nội dung cơ bản của “lí thuyết về quy chế” là xây dựng các quy phạm xung đột theo từng nhóm quan hệ chuyên biệt để điều chỉnh Nhóm các quan hệ nhân thân chịu sự điều chỉnh của “quy chế pháp

lí nhân thân” (the statute personal hay statuta personalia), còn nhóm

quan hệ tài sản chịu sự điều chỉnh của “quy chế pháp lí tài sản”

1 JEAN DERRUPPE (Nhà pháp luật Việt - Pháp), Tư pháp quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 12 - 13; R.H.GRAVESON, the conflict of laws, sixth

edition, London Sweet and Maxwell, 1969, tr 16 - 21; CLARKSON and

JONATHAN HILL, Jaffey on the conflict of laws, 2nd edition, Lexisnexis UK,

2002, tr 1 - 3; xem Bộ luật liên bang về tư pháp quốc tế của Liên bang Thụy Sỹ năm 1987, Đạo luật về tư pháp quốc tế của Ba Lan năm 2011, Bộ luật tố tụng dân

sự Cộng hoà Pháp năm 1981

Trang 19

(the statute real hay statuta realia).1 Có thể nói, lí thuyết của Bartolus

đã đánh dấu bước phát triển mới về khoa học tư pháp quốc tế ở châu

Âu và có ảnh hưởng sâu sắc tới việc hình thành các phương pháp giải quyết xung đột pháp luật sau này

Vào thế kỉ 16, các luật gia Pháp mà điển hình là D’Argentre và Dumoulin đã dẫn đầu việc phát triển các lí thuyết về tư pháp quốc tế

Cả hai học giả này đều chấp nhận “lí thuyết về quy chế” của người Italia nhưng Dumoulin đã mở rộng hơn phạm vi các quan hệ pháp luật chịu sự điều chỉnh của “quy chế pháp lí nhân thân” Trong khi

đó, D’Argentre lại đưa ra lí thuyết về “luật lãnh thổ” (territorial

theory of law) trong đó đề cao hiệu lực áp dụng của luật chủ yếu

trong phạm vi lãnh thổ đã ban hành ra luật, còn việc áp dụng luật nước ngoài chỉ là ngoại lệ hãn hữu

Nửa sau thế kỉ 19 được chứng kiến sự ảnh hưởng rộng rãi của

“học thuyết quốc tịch” (the nationalist doctrine) của Mancini ở nhiều

quốc gia châu Âu lục địa Học thuyết này coi trọng yếu tố quốc tịch, lấy yếu tố quốc tịch làm căn cứ áp dụng luật điều chỉnh các quan hệ Nhiều đạo luật của các quốc gia châu Âu thời kì này đã tiếp thu “học thuyết quốc tịch” của Mancini để mở rộng phạm vi áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch, như: Bộ luật dân sự của Italia 1865, Bộ luật dân sự của Tây Ban Nha 1889, Bộ luật dân sự của Đức 1900

Bên cạnh học thuyết của Mancini, giai đoạn này còn xuất hiện ý

tưởng về “các nguyên tắc toàn cầu về xung đột pháp luật” (universal

principles of conflict of laws) của Karl von Savigny, một học giả

người Đức Trong tác phẩm của ông được xuất bản năm 1849, Savigny đã đưa ra các giải pháp mang tính toàn cầu để giải quyết xung đột pháp luật bằng cách xây dựng một số quy phạm xung đột

có hiệu lực áp dụng cho tất cả các quốc gia có liên quan Tuy nhiên, vào thời kì đó, học thuyết này không nhận được sự ủng hộ rộng rãi

1 R.H.GRAVESON, The conflict of laws, sixth edition, London Sweet and

Maxwell, 1969, tr 32

Trang 20

của các quốc gia châu Âu, mà bằng chứng là sự thắng thế của học thuyết quốc tịch, được thể hiện rõ trong nội dung của các đạo luật có liên quan tới tư pháp quốc tế của các quốc gia châu Âu

Ở Anh, nguồn gốc của “xung đột pháp luật” được bắt đầu vào thế

kỉ 17, đánh dấu bằng sự lên ngôi của vua James I vào năm 1603 Trước thời điểm này, Toà án Anh, nhìn chung, áp dụng Luật Anh để giải quyết các vụ việc Nhưng sau năm 1603, với một số trường hợp ngoại lệ, toà án được phép giải quyết theo luật nước ngoài Cho tới tận thời điểm kết thúc thế kỉ 18, nước Anh chưa sáng tạo ra bất kì học thuyết thực sự nào về xung đột pháp luật, tuy nhiên các thẩm phán ở đây đã tiếp thu và chấp nhận các học thuyết về lãnh thổ và chủ quyền (territorial and sovereignty theory) của hai luật gia người Hà Lan là Huber (1636 - 1694) và John Voet (1647 - 1714) Học thuyết này cũng được luật gia nổi tiếng người Hoa Kỳ Joseph Story (1779 - 1845) tiếp thu và phát triển thành một học thuyết riêng có ảnh hưởng sâu rộng tới sự phát triển của vấn đề xung đột pháp luật tại Anh và Hoa

Kỳ trong nửa đầu thế kỉ 19 Lí thuyết riêng của người Anh về xung đột pháp luật xuất hiện sớm nhất vào năm 1825 trong tác phẩm

Foreign Judgments của Henry và sau đó là colonial and foreign laws

năm 1838 của Burge Các học giả lỗi lạc của nước Anh về “xung đột pháp luật” chỉ xuất hiện vào nửa sau của thế kỉ 19 với hai đại diện là Westlake và Dicey nhưng những ảnh hưởng của các tác phẩm của họ đối với các quyết định của toà án là rất lớn lao Nhìn chung, các học thuyết về xung đột pháp luật ở Anh, Hoa Kỳ và các nước khác theo truyền thống Common Law thường đề cao hệ thuộc luật nơi cư trú

(law of domicile) trong giải quyết xung đột pháp luật Điều này lại trái ngược với nguyên tắc luật quốc tịch (law of nationality) được đề

cao trong luật các nước theo truyền thống Civil Law

Ngày nay, các học thuyết hiện đại cũng như thực tiễn về tư pháp quốc tế có khuynh hướng phát triển đa dạng các giải pháp giải quyết xung đột pháp luật trên cơ sở kế thừa các lí thuyết về tư pháp quốc tế trước đây, nhằm đáp ứng yêu cầu điều chỉnh đối với từng trường hợp

Trang 21

cụ thể, tránh xây dựng các giải pháp mang tính học thuật, không có khả năng áp dụng hiệu quả trong thực tế Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá, việc thúc đẩy các giải pháp có tính quốc tế bằng cách xây dựng các điều ước quốc tế có chứa đựng quy phạm xung đột và quy phạm thực chất cũng là một giải pháp ngày càng được các quốc gia quan tâm

Ở Việt Nam, dưới góc độ xây dựng và áp dụng pháp luật, tư pháp quốc tế hình thành và phát triển gắn liền với từng bước phát triển chung của đất nước Sau khi thống nhất đất nước, nước ta đã lựa chọn phát triển kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp Quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế, chính trị, khoa học kĩ thuật của nước ta chủ yếu diễn ra với các nước XHCN dựa trên những nguyên tắc phi thị trường Có rất ít quan hệ được thiết lập với các nước tư bản chủ nghĩa Trong bối cảnh chung đó, tư pháp quốc tế gần như bị “lãng quên” bởi thiếu những tiền đề cho sự phát triển của

nó Nội dung và số lượng các quan hệ tư pháp quốc tế rất đơn giản

và hạn chế chủ yếu chỉ bao gồm các quan hệ có sự tham gia của cá nhân, pháp nhân nước ngoài, mà chưa mở rộng sang các quan hệ có những yếu tố nước ngoài khác, và khi phải áp dụng pháp luật để giải quyết quan hệ, thì đó sẽ là pháp luật Việt Nam.1

Sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI vào năm 1986,

do công cuộc đổi mới đất nước được tiến hành mạnh mẽ đã dẫn tới xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng các quan hệ tư pháp quốc tế

Để kịp thời đáp ứng yêu cầu điều chỉnh pháp luật trong tình hình mới, nhiều văn bản pháp luật trong lĩnh vực tư pháp quốc tế đã được

1 Ví dụ: Thông tư số 11/TATC ngày 12/7/1974 của Toà án nhân dân tối cao về thủ tục giải quyết li hôn có yếu tố nước ngoài quy định thẩm quyền của toà án Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề li hôn và khẳng định rằng, khi giải quyết vấn đề này thì toà án Việt Nam phải áp dụng pháp luật Việt Nam Hay, tại Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam, quy định trong vấn đề quyền sở hữu, thừa kế, chọn ngành, chọn nghề, quyền và nghĩa vụ học tập, lao động, cư trú, đi lại của người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt Nam, do pháp luật Việt Nam quy định

Trang 22

ban hành, mà tiêu biểu là: Hiến pháp 1992, Bộ luật hàng hải 1990,

Bộ luật lao động 1994, Luật hàng không dân dụng 1991, Luật quốc tịch Việt Nam 1988, Luật hôn nhân và gia đình 1986, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 (sửa đổi, bổ sung năm 1990 và 1992), Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh lãnh sự 1990, Pháp lệnh hải quan 1990, Pháp lệnh thi hành

án dân sự 1993, Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam 1988, Pháp lệnh bảo hộ quyền SHCN 1989, Pháp lệnh bảo

hộ quyền tác giả 1994, Pháp lệnh thừa kế 1990 v.v Bên cạnh việc ban hành những văn bản pháp luật trong nước, Nhà nước ta cũng đã tiếp tục tham gia một số điều ước quốc tế song phương và đa phương trong các lĩnh vực thương mại và hàng hải, hàng không quốc tế, đầu

tư nước ngoài, bảo hộ quyền SHCN, tương trợ tư pháp v.v Có thể nói, các quy định được xây dựng kịp thời trong thời điểm này đã khắc phục được phần nào tình trạng thiếu pháp luật điều chỉnh quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở một số lĩnh vực nhất định Ngoài

ra, các quy định của tư pháp quốc tế Việt Nam trong giai đoạn này

đã chính thức cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài đối với một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trên cơ sở sự dẫn chiếu của các quy phạm pháp luật xung đột nội địa và thống nhất Tuy nhiên, đánh giá một cách tổng quát, hệ thống các quy phạm tư pháp quốc tế Việt Nam vẫn còn rất ít về số lượng, chưa đa dạng về nội dung điều chỉnh

và nằm phân tán trong các văn bản pháp luật khác nhau Khắc phục thực tế này, nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Bộ luật dân sự 1995 đã được ban hành với Phần thứ bảy về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Sự ra đời của Bộ luật dân sự

1995 với Phần thứ bảy về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là bước tiến quan trọng trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của tư pháp quốc tế Việt Nam Phần thứ bảy Bộ luật dân sự 1995 bao gồm 13 điều luật, đã xây dựng được những nguyên tắc chung nhất cho việc xác định pháp luật điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài căn bản và nội dung những nguyên tắc này đã có sự

Trang 23

tương đồng nhất định với tư pháp quốc tế trên thế giới Nhưng, việc xây dựng phần thứ bảy Bộ luật dân sự 1995 của nước ta chỉ dừng lại

ở những vấn đề đã rõ ràng, nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc trong thực tế phát triển kinh tế, giao lưu quốc tế,1

vì vậy, vẫn còn nhiều quan hệ tư pháp quốc tế khác chưa được quy định trong Phần thứ bảy Bộ luật dân sự 1995 Những thiếu hụt này đã được dần bổ sung vào nội dung điều chỉnh của các văn bản pháp luật có liên quan khác như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996, Luật thương mại

1997, Luật hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi 1995, Luật hôn nhân và gia đình 2000, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 v.v Đồng thời với những thay đổi nhanh chóng của hệ thống văn bản pháp luật trong nước, hàng loạt điều ước quốc tế mới với các nước cũng đã được nước ta kí kết hoặc gia nhập trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: thương mại, đầu tư, SHTT, nuôi con nuôi, vận tải quốc tế v.v Với sự ra đời của nhiều đạo luật quan trọng mà điểm nhấn là

Bộ luật dân sự 1995 cho thấy, tư pháp quốc tế Việt Nam giai đoạn này đã được nâng lên tầm cao mới cả về kĩ thuật lập pháp lẫn nội dung điều chỉnh, và có đóng góp tích cực vào quá trình điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong giao lưu dân sự quốc tế, trở thành một yếu tố quan trọng đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta Tuy nhiên, thực tiễn hội nhập quốc tế của nước ta cũng như nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã tiếp tục đặt ra hàng loạt vấn đề lí luận và thực tiễn mới mà tư pháp quốc tế cần phải giải quyết Chính vì vậy, chúng ta đã xây dựng và thông qua Bộ luật dân sự mới vào năm

2005, trong đó có Phần thứ bảy về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với những sửa đổi, bổ sung mới thiết thực và cụ thể hơn Bên

1 Tờ trình số 5529/PC ngày 30/9/1995 của Chính phủ trình Quốc hội về việc tiếp thu ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp và đại biểu Quốc hội, chỉnh lí Dự thảo Bộ

luật dân sự có ghi rõ “đây là một vấn đ phức t p, chúng ta l i chưa có kinh

nghiệm trong thực tế, do đó việc quy định ph i th n trọng, trước mắt chỉ quy định các vấn đ đã rõ nhằm đáp ứng yêu cầu bức úc trong thực tế phát triển kinh tế, giao lưu quốc tế hiện nay”

Trang 24

cạnh các quy định của Bộ luật dân sự 2005 điều chỉnh quan hệ dân

sự có yếu tố nước ngoài, nhiều quy định liên quan tới những giao dịch dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài khác cũng đã được bổ sung vào các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan như: Luật thương mại 2005, Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006, Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005, Luật đầu tư 2005, Luật nhà ở 2005, Luật SHTT 2005, Luật trọng tài thương mại 2010 v.v

Năm 2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Đây là bản Hiến pháp được đánh giá có những thay đổi toàn diện, quan trọng, tạo động lực mới cho sự phát triển của đất nước trong bối cảnh nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và nhiều thiết chế quốc tế quan trọng khác Nhằm cụ thể hoá Hiến pháp 2013, cũng như điều chỉnh kịp thời bằng pháp luật những đòi hỏi cấp bách từ những biến động nhanh chóng trong thực tiễn đời sống dân sự quốc

tế thời kì hội nhập, một lần nữa lại đặt ra cho ngành tư pháp quốc tế nước ta phải có những thay đổi mới Rất nhiều đạo luật trong lĩnh vực tư pháp quốc tế đã và đang trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung, một

số đạo luật đã được ban hành mới như: Luật hôn nhân và gia đình

2014, Luật nhà ở 2014, Luật doanh nghiệp 2014, Luật đầu tư 2014,

Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 v.v Nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương trong các lĩnh vực khác nhau của tư pháp quốc tế cũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo các cơ quan chức năng tích cực nghiên cứu tham gia như: Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế (CISG 1980),1 một số điều ước quốc tế trong khuôn khổ hội nghị La Haye về tư pháp quốc tế, Công ước về giải quyết tranh chấp giữa nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài năm 1965 v.v

1 Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã gia nhập Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế (CISG 1980) và trở thành thành viên thứ 84 của Công ước này

Trang 25

Dưới góc độ nghiên cứu, hiện nước ta có nhiều lí thuyết về tư pháp quốc tế, trong đó tiêu biểu như: Giáo trình Tư pháp quốc tế của Đại học Luật Hà Nội do TS Bùi Xuân Nhự chủ biên, Giáo trình Tư pháp quốc tế của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.TS Nguyễn Bá Diến chủ biên, Giáo trình Tư pháp quốc tế Việt Nam do PGS.TS Mai Hồng Quỳ và TS Đỗ Văn Đại chủ biên, Giáo trình Tư pháp quốc

tế của Viện Đại học Mở Hà Nội do TS Trần Minh Ngọc và CVCC Hoa Hữu Long chủ biên v.v và nhiều sách chuyên khảo, tham khảo của các tác giả khác Về cơ bản, những học lí này đều tập trung nghiên cứu các vấn đề xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật trong các quan hệ tư pháp quốc tế cụ thể, vấn đề tố tụng dân sự quốc tế (xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế, ủy thác tư pháp quốc tế, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài v.v.), vấn đề trọng tài quốc tế

Có thể nhận thấy, trong giai đoạn hiện nay, cùng với quá trình

mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta, tư pháp quốc tế đã dần được chú ý dưới cả góc độ học thuật và thực tiễn pháp lí Tuy nhiên, việc nghiên cứu khoa học tư pháp quốc tế cũng như công tác xây dựng và áp dụng ngành luật này ở Việt Nam vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức cho dù đã có những thành tựu nhất định Mặc dù Việt Nam chưa có đạo luật riêng về tư pháp quốc tế, song quan điểm lập pháp chính thống cũng như quan điểm của đa số các học giả tại Việt Nam, ngày nay, đều khẳng định, tư pháp quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia, bao gồm các quy phạm pháp luật, nguyên tắc pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài Cũng giống như các ngành luật khác thuộc hệ thống pháp luật quốc gia, tư pháp quốc tế là một ngành luật có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng biệt

2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM

Nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế Việt Nam là những tư

Trang 26

tưởng chính trị, pháp lí cơ bản, có tính bao trùm, toàn diện, ổn định, chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng, giải thích và áp dụng tư pháp quốc tế Việt Nam Bên cạnh những nguyên tắc chung của pháp luật nước ta, tư pháp quốc tế Việt Nam còn có những nguyên tắc cơ bản thể hiện đặc trưng riêng của ngành tư pháp quốc tế Việt Nam, đó là:

2.1 Nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lí giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau

Nội dung cơ bản của nguyên tắc là Nhà nước Việt Nam không phân biệt đối xử giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau trên thế giới Các chế độ sở hữu này được đối xử bình đẳng với nhau

về mặt pháp lí, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, xã hội mà quốc gia theo đuổi Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, đó là bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia Bởi chế độ sở hữu là yếu tố then chốt quyết định hình thức và nội dung của hệ thống pháp luật quốc gia, cho nên, công nhận sự bình đẳng về mặt pháp lí giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau cũng có nghĩa là tôn trọng các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới

Nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó không những đảm bảo cho hoạt động giải thích và áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế Việt Nam được vận hành một cách khách quan, trơn tru, không hề có định kiến, áp đặt, mà còn đảm bảo sự bình đẳng về pháp lí giữa các chủ thể đến từ các quốc gia khác nhau khi tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế, góp phần thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế phát triển

Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã gián tiếp ghi nhận nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lí giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau trên thế giới, cụ

thể như sau: “Nước Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam thực hiện

nhất quán đường lối đối ngo i độc l p, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa d ng hoá quan hệ, chủ

Trang 27

động và tích cực hội nh p, hợp tác quốc tế trên cơ s t n trọng độc

l p, chủ quy n và toàn vẹn lãnh th , kh ng can thiệp vào c ng việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên

hợp quốc và đi u ước quốc tế mà Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt

Nam là thành viên; là b n, đối tác tin c y và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc l p dân tộc, dân chủ và tiến bộ ã hội trên thế giới”

2.2 Nguyên tắc quyền miễn trừ của quốc gia

Nội dung cơ bản của nguyên tắc quyền miễn trừ của quốc gia là, trong quan hệ tư pháp quốc tế, nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không một cơ quan nhà nước nào được phép xét xử, áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo cho vụ kiện, thi hành án đối với quốc gia cũng như áp dụng các biện pháp như tịch thu, sai áp, bắt giữ v.v các tài sản thuộc sở hữu của quốc gia

Như vậy, nguyên tắc quyền miễn trừ của quốc gia đảm bảo cho quốc gia khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế được hưởng quyền miễn trừ về tư pháp và miễn trừ đối với tất cả tài sản thuộc sở hữu của quốc gia Nguyên tắc này cũng giống như nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lí giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, đó là bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

Quyền miễn trừ của quốc gia trong lĩnh vực tư pháp quốc tế được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, chẳng hạn như: Công ước Brussels 1926 về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền nhà nước, Công ước Vienna 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Vienna 1963 về quan hệ lãnh sự, Công ước của Liên hợp quốc năm 2004 về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia, Luật về quyền miễn trừ nhà nước dành cho quốc gia nước ngoài của Hoa Kỳ năm 1976, Luật về quyền xét xử dân sự của nước Nhật với nước ngoài năm 2009 v.v

Trang 28

Ngày nay, trong tư pháp quốc tế hiện đại, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã từ bỏ quyền miễn trừ tuyệt đối, thay vào đó là chấp nhận nguyên tắc quyền miễn trừ hạn chế (tương đối) của quốc gia Theo

đó, quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ trong mọi quan hệ tư pháp quốc tế có liên quan mà quốc gia tham gia, trong một số trường hợp cụ thể, quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ, chẳng hạn như: giao dịch thương mại, hợp đồng lao động với cá nhân, bồi thường thiệt hại về người và tài sản v.v 1

Cho đến nay, dù chưa có đạo luật riêng về quyền miễn trừ của quốc gia ở Việt Nam, tuy nhiên, tư pháp quốc tế Việt Nam hiện hành

đã có quy định về từ bỏ quyền miễn trừ của quốc gia trong những trường hợp cụ thể Điều 100 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“1 Nhà nước Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam, cơ quan nhà nước trung ương, địa phương chịu trách nhiệm v nghĩa vụ dân

sự do mình ác l p với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

a) Đi u ước quốc tế mà Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam là thành viên có quy định v việc từ bỏ quy n miễn trừ;

b) Các bên trong quan hệ dân sự có tho thu n từ bỏ quy n miễn trừ; c) Nhà nước Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam, cơ quan nhà nước trung ương, địa phương từ bỏ quy n miễn trừ

2 Trách nhiệm v nghĩa vụ dân sự của nhà nước, cơ quan nhà nước của nước ngoài khi tham gia quan hệ dân sự với Nhà nước Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam, cơ quan nhà nước trung ương, địa phương, pháp nhân, cá nhân iệt Nam được áp dụng tương tự kho n 1 Đi u này”

Trang 29

2.3 Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là, khi tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế, về cơ bản, người nước ngoài được đối xử bình đẳng với nhau và với công dân Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị v.v Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia, người nước ngoài phải chịu những hạn chế nhất định so với công dân Việt Nam, ví dụ như: người nước ngoài không được tham gia bầu

cử, ứng cử các chức danh nhà nước, không được làm việc trong một

số ngành nghề liên quan tới an ninh quốc gia, không được sở hữu nhà với thời hạn không xác định v.v

Đây cũng là nguyên tắc xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, đó là nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác

Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam được thể hiện rõ nét trong tư pháp quốc tế Việt Nam

Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định: “1 Mọi người đ u bình đẳng

trước pháp lu t; 2 Kh ng ai bị phân biệt đối ử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, ã hội”; và Điều 48 quy định

thêm: “Người nước ngoài cư trú iệt Nam ph i tuân theo Hiến

pháp và pháp lu t iệt Nam; được b o hộ tính m ng, tài s n và các quy n, lợi ích chính đáng theo pháp lu t iệt Nam”

Cụ thể hoá Hiến pháp 2013, khoản 2 Điều 673 Bộ luật dân sự

2015 nêu rõ: “Người nước ngoài t i iệt Nam có năng lực pháp lu t

dân sự như c ng dân iệt Nam, trừ trường hợp pháp lu t iệt Nam

có quy định khác”; khoản 2 Điều 465 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

cũng có quy định tương tự: “Khi tham gia tố tụng dân sự, người

nước ngoài, cơ quan, t chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đ i diện t i iệt Nam của cơ quan, t chức nước ngoài, t chức quốc tế,

Trang 30

cơ quan đ i diện của t chức quốc tế t i iệt Nam, nhà nước nước ngoài có quy n, nghĩa vụ tố tụng như c ng dân, cơ quan, t chức iệt Nam”; và khoản 4 Điều 5 Luật đầu tư 2014 quy định: “Nhà nước đối ử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và t o đi u kiện thu n lợi để nhà đầu tư thực hiện ho t động đầu tư kinh doanh, phát triển b n vững các ngành kinh tế”

2.4 Nguyên tắc tôn trọng sự thoả thuận của các bên

Một điểm đáng lưu ý trong tư pháp quốc tế Việt Nam hiện nay

là, nguyên tắc tôn trọng sự thoả thuận của các bên trong một số lĩnh vực mà pháp luật cho phép đã được áp dụng khá phổ biến Nội dung

cơ bản của nguyên tắc là, pháp luật cho phép các bên trong quan hệ thoả thuận lựa chọn luật áp dụng đối với quan hệ đó Tuy nhiên, không phải mọi lĩnh vực mà tư pháp quốc tế điều chỉnh các bên đều được phép lựa chọn luật áp dụng, về cơ bản, các bên chỉ được phép lựa chọn luật áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nguyên tắc tôn trọng sự thoả thuận của các bên trong một số lĩnh vực mà pháp luật cho phép của tư pháp quốc tế Việt Nam hoàn toàn phù hợp với tư pháp quốc tế hiện nay trên thế giới Điều đó góp phần bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong giao dịch tư pháp quốc tế, thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế phát triển

Có thể thấy rõ nguyên tắc này trong nội dung một số đạo luật có

liên quan như, khoản 4 Điều 4 Luật đầu tư năm 2014 quy định: “Đối

với hợp đồng trong đó có ít nhất một bên tham gia là nhà đầu tư nước ngoài ho c t chức kinh tế quy định t i kho n 1 Đi u 23 của

Lu t này, các bên có thể tho thu n trong hợp đồng việc áp dụng pháp lu t nước ngoài ho c t p quán đầu tư quốc tế nếu tho thu n

đó không trái với quy định của pháp lu t iệt Nam”

Khoản 1 Điều 687 Bộ luật dân sự 2015 quy định rõ: “Các bên

được tho thu n lựa chọn pháp lu t áp dụng cho việc bồi thường thiệt h i ngoài hợp đồng, trừ trường hợp quy định t i kho n 2 Đi u này ” Tương tự, khoản 1 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Trang 31

“Các bên trong quan hệ hợp đồng được tho thu n lựa chọn pháp

lu t áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định t i các kho n 4, 5 và 6 Đi u này Trường hợp các bên kh ng có tho thu n

v pháp lu t áp dụng thì pháp lu t của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng”

2.5 Nguyên tắc có đi có lại

Nhằm bảo hộ triệt để quyền, lợi ích chính đáng của công dân, pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài cũng như công dân, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam khi các chủ thể này tham gia vào các quan

hệ tư pháp quốc tế, tư pháp quốc tế Việt Nam đã xây dựng nguyên tắc có đi có lại trong một số trường hợp cụ thể

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là, quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam được xây dựng và đảm bảo thực thi trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ mà công dân, pháp nhân Việt Nam được quy định và đảm bảo thực thi ở nước ngoài tương ứng Tùy theo quan hệ giữa Việt Nam và nước ngoài mà nguyên tắc có đi có lại thực chất hoặc hình thức sẽ được áp dụng

Ví dụ: Khoản 1 Điều 423 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

“B n án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài sau đây được

em ét c ng nh n và cho thi hành t i iệt Nam:

a) B n án, quyết định v dân sự, h n nhân và gia đình, kinh doanh, thương m i, lao động, quyết định v tài s n trong b n án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài được quy định t i đi u ước quốc tế mà nước đó và Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam là thành viên;

b) B n án, quyết định v dân sự, h n nhân và gia đình, kinh doanh, thương m i, lao động; quyết định v tài s n trong b n án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài mà nước đó và Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam chưa cùng là thành viên của đi u ước quốc tế có quy định v c ng nh n và cho thi hành b n án, quyết định của Toà án nước ngoài trên cơ s nguyên tắc có đi có l i…”

Trang 32

Hay, khoản 3 Điều 465 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

“Nhà nước iệt Nam có thể áp dụng nguyên tắc có đi có l i để h n chế quy n tố tụng dân sự tương ứng của người nước ngoài, cơ quan,

t chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đ i diện t i iệt Nam của

cơ quan, t chức nước ngoài mà Toà án của nước đó đã h n chế quy n tố tụng dân sự đối với c ng dân, cơ quan, t chức iệt Nam, chi nhánh, văn phòng đ i diện t i nước ngoài của cơ quan, t chức iệt Nam”

Điều 4 Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong

thương mại quốc tế 2002 chỉ rõ: “Nhà nước iệt Nam áp dụng Đối

ử tối huệ quốc và Đối ử quốc gia trong thương m i quốc tế trên cơ

s các nguyên tắc bình đẳng, có đi có l i và cùng có lợi”

3 NGUỒN CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Cũng giống như các ngành luật khác, tư pháp quốc tế có nguồn điều chỉnh riêng biệt phù hợp với đối tượng điều chỉnh của nó Nguồn của tư pháp quốc tế là các yếu tố trong đó chứa đựng cơ sở pháp lí điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế.1

Theo nghĩa này, tư pháp quốc tế có các loại nguồn sau đây:

3.1 Pháp luật quốc gia

Đây là loại nguồn phổ biến và chủ yếu của tư pháp quốc tế Loại nguồn này còn được biết đến với tên gọi là nguồn quốc nội bao gồm một hệ thống các văn bản pháp luật do quốc gia ban hành cùng với các án lệ Sở dĩ pháp luật quốc gia trở thành nguồn chủ yếu của tư

pháp quốc tế bởi hai lí do chính Thứ nhất, các quan hệ tư pháp quốc

tế không phải là các quan hệ chính trị quốc tế (quan hệ giữa các chủ thể của Luật quốc tế) mà chỉ thuần túy là các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài, vì vậy, mỗi quốc gia trước tiên sẽ xây dựng những quy định riêng phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mình để điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc

1 Cơ sở pháp lí điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế có thể là quy phạm pháp luật (bao gồm cả quy phạm án lệ), nguyên tắc, tư tưởng, quan điểm v.v

Trang 33

tế Thứ hai, mặc dù điều ước quốc tế cũng có thể là nguồn của tư

pháp quốc tế nhưng việc xây dựng điều ước quốc tế để điều chỉnh mọi lĩnh vực của tư pháp quốc tế là không khả thi bởi không thể thống nhất hoá mọi nội dung của luật các nước trong điều kiện pháp luật, nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới

là rất khác nhau

Văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất là hiến pháp Tuy nhiên,

có nước không có hiến pháp rõ rệt với vai trò là một đạo luật gốc do

cơ quan lập pháp ban hành như: Anh, các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất.1

Sau hiến pháp là các đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành Văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lí thấp hơn là các văn bản dưới luật thường do các cơ quan hành pháp, tư pháp ban hành Các quy phạm tư pháp quốc tế có thể được xây dựng rải rác trong hiến pháp, luật, văn bản dưới luật v.v nhưng cũng có thể được pháp điển thành các đạo luật chuyên biệt Một số nước xây dựng ngành tư pháp quốc tế theo cách thứ nhất, ví dụ: Pháp, Đức, Italia, Anh, Hoa Kỳ v.v trong khi đó, một số nước khác lại chọn cách thứ hai để xây dựng các đạo luật riêng về tư pháp quốc tế như: Bộ luật Liên bang về Tư pháp quốc tế của Liên bang Thụy Sỹ năm 1987, Đạo luật về Tư pháp quốc tế của Ba Lan năm 2011, Đạo luật về Tư pháp quốc tế của Venezuela năm 1998, Đạo luật về Tư pháp quốc tế của Áo năm 1978, Bộ luật Tư pháp quốc tế của Vương quốc Bỉ năm

2004, Bộ luật Tư pháp quốc tế của Bungari năm 2005

Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn của tư pháp quốc tế

1 Theo Michel Fromont (Nhà pháp luật Việt - Pháp, Các hệ thống pháp lu t cơ b n

trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 23, 150), trong hệ thống pháp luật

hồi giáo, các nguyên tắc pháp luật được xây dựng trên kinh Cô - ran và các truyền thống có liên quan đến cuộc đời của Nhà tiên tri Đó chính là lí do căn bản giải thích vì sao ở Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, kinh Cô - ran chính là hiến pháp Còn ở nước Anh, các văn bản luật do Nghị viện Anh ban hành có giá trị pháp lí cao nhất trong trật tự thứ bậc các quy phạm pháp luật Không có sự phân biệt về hình thức giữa luật hiến pháp và luật thông thường Do đó, ở Anh, không đặt ra vấn đề kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật

Trang 34

thường được áp dụng ở một quốc gia để giải quyết quan hệ tư pháp quốc tế trong những trường hợp sau đây:

Thứ nhất: khi có sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột trong điều

ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia

Thứ hai: khi trong hợp đồng quốc tế có thoả thuận áp dụng pháp

luật quốc gia nhất định

Thứ ba: khi cơ quan giải quyết tranh chấp (thường là trọng tài

quốc tế) lựa chọn luật áp dụng cho tranh chấp là pháp luật quốc gia nhất định

Ở Việt Nam, hiện nay pháp luật quốc gia là loại nguồn chủ yếu của tư pháp quốc tế Các quy phạm tư pháp quốc tế được xây dựng rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau để điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế tương ứng Đầu tiên phải kể tới Hiến pháp

2013 là nguồn quan trọng và có hiệu lực pháp lí cao nhất Trong Hiến pháp 2013 chứa đựng nhiều quy phạm có tính nguyên tắc của

ngành tư pháp quốc tế Việt Nam, chẳng hạn như: “Nước Cộng hoà

ã hội chủ nghĩa iệt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngo i độc l p, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa d ng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nh p, hợp tác quốc tế trên cơ s t n trọng độc l p, chủ quy n và toàn vẹn lãnh th ,

kh ng can thiệp vào c ng việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và đi u ước quốc tế mà

Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam là thành viên; là b n, đối tác

tin c y và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc l p dân tộc, dân chủ và tiến bộ ã hội trên thế giới” (Điều 12); “1 Người

iệt Nam định cư nước ngoài là bộ ph n kh ng tách rời của cộng

đồng dân tộc iệt Nam; 2 Nhà nước Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam khuyến khích và t o đi u kiện để người iệt Nam định cư nước ngoài giữ gìn và phát huy b n sắc văn hoá dân tộc iệt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần ây dựng

Trang 35

quê hương, đất nước” (Điều 18); “Người nước ngoài cư trú iệt Nam ph i tuân theo Hiến pháp và pháp lu t iệt Nam; được b o hộ tính m ng, tài s n và các quy n, lợi ích chính đáng theo pháp lu t iệt Nam” (Điều 48); “… Nhà nước khuyến khích, t o đi u kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, t chức khác đầu tư, s n uất, kinh doanh; phát triển b n vững các ngành kinh tế, góp phần

ây dựng đất nước Tài s n hợp pháp của cá nhân, t chức đầu tư,

s n uất, kinh doanh được pháp lu t b o hộ và kh ng bị quốc hữu hoá” (Điều 51)

Các nguyên tắc hiến định điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế đã được cụ thể hoá trong các đạo luật và văn bản dưới luật có liên quan như: Luật hôn nhân và gia đình 2014; Luật đầu tư 2014; Luật nhà ở 2014; Luật doanh nghiệp 2014; Luật hộ tịch 2014; Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Bộ luật dân sự 2015 v.v Nghị định của Chính phủ số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình; Nghị định của Chính phủ số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật nhà ở; Nghị định của Chính phủ

số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư; Nghị định của Chính phủ số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch; Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật trọng tài thương mại v.v

3.2 Điều ước quốc tế

Bên cạnh pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế Sự xuất hiện ngày càng nhiều các điều ước quốc tế về tư pháp quốc tế cho thấy sự nỗ lực to lớn của các quốc gia trong việc thống nhất hoá luật nội dung của các nước nhằm làm đơn giản hoá và hài hoà hoá việc điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế, góp phần thúc đẩy giao lưu dân sự, thương mại quốc tế phát triển Do sự khác biệt trong nội dung pháp luật của các nước, nên

Trang 36

việc thống nhất hoá luật nội dung các nước bằng các điều ước quốc

tế còn chưa nhiều về số lượng, chưa phong phú về lĩnh vực điều chỉnh, đặc biệt còn ít các điều ước quốc tế chứa đựng các quy phạm thực chất

Không phải điều ước quốc tế nào cũng là nguồn của tư pháp quốc tế mà chỉ những điều ước quốc tế chứa đựng quy phạm tư pháp quốc tế mà Việt Nam tham gia mới trở thành nguồn của tư pháp quốc tế Trên thực tế, số lượng điều ước quốc tế là nguồn của tư pháp quốc tế thay đổi theo từng lĩnh vực điều chỉnh Chiếm số lượng lớn hơn cả là các điều ước quốc tế điều chỉnh lĩnh vực hợp đồng, hôn nhân và gia đình, SHTT, tương trợ tư pháp về dân sự Tiếp sau là các điều ước quốc tế về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lao động, thừa kế, v.v

Điều ước quốc tế có thể được phân loại thành điều ước quốc tế

đa phương và điều ước quốc tế song phương (dựa trên tiêu chí số lượng các nước tham gia điều ước quốc tế) Trong điều ước quốc tế

đa phương thì có điều ước quốc tế đa phương được nhiều nước trên thế giới tham gia và điều ước quốc tế đa phương khu vực chỉ dành cho một số nước trong một khu vực xác định Điều ước quốc tế còn được phân loại thành điều ước quốc tế khung và điều ước quốc tế chi tiết (dựa trên tiêu chí nội dung của điều ước quốc tế) Có nhiều điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực tư pháp quốc tế,1

Trang 37

một số điều ước quốc tế đa phương tiêu biểu sau đây:

- Công ước La Haye 1961 về xung đột pháp luật liên quan đến hình thức định đoạt tài sản bằng di chúc

- Công ước La Haye 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại

- Công ước La Haye 1971 về luật áp dụng đối với tai nạn giao thông

- Công ước La Haye 1978 về luật áp dụng đối với chế độ tài sản hôn nhân

- Công ước La Haye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế

- Hiệp định TRIPs 1994 về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT

- Công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả

- Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền SHCN

- Thoả ước Madrid 1891và Nghị định thư Madrid 1989 về đăng

kí quốc tế nhãn hiệu hàng hoá

- Hiệp ước Washington 1970 về hợp tác đối với sáng chế (PCT)

- Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài

- Công ước Vienna 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế

- Nghị định (Regulation) số 593/2008 của Liên minh châu Âu ngày 17/6/2008 về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ hợp đồng (Rome I)

của toà án nước ngoài trong lĩnh vực dân sự và thương mại, thủ tục tố tụng dân sự, tống đạt giấy tờ, hợp pháp hoá giấy tờ nước ngoài, thu thập chứng cứ, hợp đồng, con nuôi quốc tế, li hôn, di chúc v.v

Tính đến nay, đã có khoảng 70 quốc gia và 01 tổ chức (Liên minh châu Âu) trở thành thành viên của Hội nghị La Haye về tư pháp quốc tế Hiện Việt Nam là thành viên của Hội nghị này và đã tham gia hai công ước của Hội nghị, cụ thể là Công ước La Haye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc

tế vào ngày 16/12/2010 và Công ước La Haye 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy

tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại vào ngày 16/3/2016

Trang 38

- Nghị định (Regulation) số 864/2007 của Liên minh châu Âu ngày 11/7/2007 về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ ngoài hợp đồng (Rome II) v.v

Điều ước quốc tế với vai trò là nguồn của tư pháp quốc tế thường được áp dụng ở một quốc gia để điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế trong những trường hợp sau đây:

Thứ nhất, có điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên chứa

đựng quy phạm điều chỉnh trực tiếp quan hệ phát sinh

Thứ hai, quy phạm pháp luật xung đột trong pháp luật quốc gia

hoặc điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên dẫn chiếu tới

Thứ ba, điều khoản về luật áp dụng trong hợp đồng quốc tế có

quy định việc áp dụng điều ước quốc tế cụ thể

Thứ tư, điều ước quốc tế được áp dụng khi cơ quan giải quyết

tranh chấp (thường là trọng tài quốc tế) lựa chọn luật áp dụng cho tranh chấp là điều ước quốc tế

Cho đến nay, Việt Nam đã là thành viên của nhiều điều ước quốc

tế đa phương và song phương trong lĩnh vực tư pháp quốc tế Về điều ước quốc tế đa phương, có thể liệt kê một số điều ước quốc tế quan trọng sau đây:

- Công ước La Haye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (Việt Nam gia nhập năm 2010)

- Công ước La Haye 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại (Việt Nam gia nhập năm 2016)

- Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài (Việt Nam gia nhập năm 1995)

- Hiệp định TRIPs 1994 về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (có hiệu lực tại Việt Nam vào 11/01/2007)

- Công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả (Việt Nam gia nhập năm 2004)

Trang 39

- Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền SHCN (Việt Nam gia nhập năm 1981)

- Thoả ước Madrid 1891 về đăng kí quốc tế nhãn hiệu hàng hoá (Việt Nam gia nhập năm 1981)

- Hiệp ước Washington 1970 về hợp tác đối với sáng chế (Việt Nam gia nhập năm 1993)

- Công ước năm 1966 của Liên hợp quốc về các quyền kinh tế,

xã hội và văn hoá (Việt Nam gia nhập năm 1982)

- Công ước năm 1966 của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị (Việt Nam gia nhập năm 1982)

- Công ước Vienna 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Vienna 1963 về quan hệ lãnh sự (Việt Nam gia nhập năm 1980)

- Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (Việt Nam kí kết cùng các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm 1998) v.v Bên cạnh việc tham gia ngày càng nhiều vào các điều ước quốc

tế đa phương về tư pháp quốc tế, Việt Nam còn tích cực, chủ động kí kết các điều ước quốc tế song phương với nhiều nước có liên quan

về lĩnh vực này, ví dụ:

- Các HĐTTTP và pháp lí kí kết giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước như: với Tiệp Khắc năm 1982 (Cộng hoà Séc

và Cộng hoà Slovakia kế thừa), Cu Ba năm 1984, Hungary năm

1985, Bungari năm 1986, Ba Lan năm 1993, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào năm 1998, Cộng hoà Liên bang Nga năm 1998, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1998, Cộng hoà Pháp năm 1999, Ucraina năm 2000, Mông Cổ năm 2000, Belarus năm 2000, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên năm 2002, v.v

- Các hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài như: với Italia năm 1990, Vương quốc Thái Lan năm 1991, Cộng hoà Liên bang Đức 1993, Namibia năm 1993, Ba Lan năm 1994, Cu Ba

Trang 40

năm 1995, Cộng hoà Áo năm 1995, Uzbekistan năm 1996, Anh và Bắc Ireland năm 2002, Nhật Bản năm 2003, Iran năm 2009, v.v

- Các hiệp định thương mại (hoặc thương mại và hàng hải) như: với Hoa Kỳ năm 2000, Namibia năm 2003, Cộng hoà Liên bang Nga năm 1993, Iran năm 2002, Nhật Bản năm 2008, Chi Lê năm 2011, v.v

- Các hiệp định về lãnh sự như: với Ba Lan năm 1979, Bungari năm 1979, Hungari năm 1979, Mông Cổ năm 1979, Tiệp Khắc năm

1980 (Cộng hoà Séc và Cộng hoà Slovakia kế thừa), Cu Ba năm

1981, Cộng hoà Pháp năm 1981, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào năm 1985, Nicaragua năm 1985, Iraq năm 1990, Ucraina năm 1994, Rumani năm 1995, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1998, Australia năm 2003, v.v

Theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế, khi có sự quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia thì sẽ ưu tiên áp dụng quy định trong điều ước quốc tế Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này không giống nhau ở các nước Ở

Việt Nam, khoản 2 Điều 665 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường

hợp đi u ước quốc tế mà Cộng hoà ã hội chủ nghĩa iệt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Phần này và lu t khác

v pháp lu t áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của đi u ước quốc tế đó được áp dụng” Như vậy, về

nguyên tắc, điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng hơn các quy định

pháp luật trong nước ở Việt Nam

3.3 Tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành từ lâu đời, được sử dụng thường xuyên, liên tục và được các quốc gia thừa nhận rộng rãi

Tập quán quốc tế vừa là nguồn của công pháp quốc tế, vừa là nguồn của tư pháp quốc tế Tuy nhiên, chỉ những tập quán quốc tế chứa đựng quy phạm liên quan tới lĩnh vực tư pháp quốc tế mới có thể trở thành nguồn của tư pháp quốc tế Trên thực tế, tập quán quốc

Ngày đăng: 02/08/2020, 13:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w