1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết hôn trái pháp luật BTHK Luật Hôn nhân và gia đình

15 274 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 105,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a,

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 2

1 Khái niệm kết hôn, kết hôn trái pháp luật 2

II CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ CÁCH XỬ LÝ 3

1 Các trường hợp kết hôn trái pháp luật 3

2 Xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật 3

Trong tố tụng dân sự, về nguyên tắc, Toà án chỉ xét xử khi có đơn khởi kiện của cá nhân, tổ chức hoặc quyết định khởi tố của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 3

III THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP 11

1 Thực tiễn 11

2 Giải pháp 11

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngày nay, khi kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì đi kèm với đó là hoàn cảnh sống thay đổi, tâm lý con người thay đổi và các mối quan hệ giữa con người với con người cũng thay đổi kéo theo đó dẫn tới những hành vi trái pháp luật trong đó có hành vi kết hôn trái pháp luật Việc hình thành quan hệ hôn nhân trái pháp luật ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội, gây ra những hậu quả xấu cho các thành viên trong gia đình, cho những người xung quanh và để lại nhiều hệ lụy xấu cho xã hội Trong khi

đó, hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về Hôn nhân và gia đình nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế; chưa thể dự liệu cũng như điều chỉnh một cách toàn diện các trường hợp phát sinh cũng như hậu quả pháp lý mà hôn nhân trái pháp luật cũng như hậu quả pháp lý của hôn nhân trái pháp luật Vì thế, việc nghiên cứu về hôn nhân trái pháp luật và hậu quả pháp lý của hôn nhân trái pháp luật trong tình hình hiện nay là điều hết sức cần thiết

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT

1 Khái niệm kết hôn, kết hôn trái pháp luật

a) Kết hôn

Khoản 5 Điều 3, Luật HNGĐ năm 2014 quy định:

“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.”

Theo đó, Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định hai yếu tố để công nhận kết hôn đúng pháp luật là phải đáp ứng được các điều kiện kết hôn theo pháp luật quy định và có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 3

Có thể thấy, hệ thống pháp luật HNGĐ đã ghi nhận và bảo hộ quyền tự do kết hôn của nam nữ, đồng thời quy định việc kết hôn chỉ có giá trị pháp lý khi hai bên tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn

b) Kết hôn trái pháp luật

Khoản 6 Điều 3, Luật HNGĐ năm 2014 quy định:

“Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.”

Theo đó, việc kết hôn là trái pháp luật chỉ xảy ra khi việc kết hôn đó đã được ghi nhận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tức là đã có đăng ký kết hôn đồng thời, có một bên nam nữ hoặc cả hai bên vi phạm một trong các điều kiện kết hôn theo luật định Như vậy, trường hợp không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì về mặt pháp lý không được coi là kết hôn trái pháp luật

c) Huỷ kết hôn trái pháp luật

Huỷ kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lý đối với những trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhằm đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh Luật HNGĐ

II CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ CÁCH

XỬ LÝ

1 Các trường hợp kết hôn trái pháp luật

Theo Điều 8, Luật HNGĐ năm 2014, các điều kiện để kết hôn bao gồm

“1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

Trang 4

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

Do đó, những trường hợp kết hôn sau là trái pháp luật:

- Do vi phạm về độ tuổi kết hôn

- Do vi phạm về sự tự nguyện

- Do kết hôn với người bị mất năng lực hành vi dân sự

- Do kết hôn giữa những người đồng tính

- Do kết hôn với những người cùng dòng máu về trực hệ; có họ trong phạm vi ba đời

- Do kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng và con dâu, mẹ

vợ và con rể, con riêng của một bên với bố dượng hoặc mẹ kế

2 Xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật

2.1 Huỷ kết hôn trái pháp luật

2.1.1 Người có quyền yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Trong tố tụng dân sự, về nguyên tắc, Toà án chỉ xét xử khi có đơn khởi kiện của cá nhân, tổ chức hoặc quyết định khởi tố của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền

Điều 10 Luật HNGĐ 2014 quy định:

“1 Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.

2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:

Trang 5

a) Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản

2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.”

Có thể thấy phạm vi người có quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật rất rộng Việc kết hôn trái pháp luật không những vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính những người kết hôn mà còn ảnh hưởng đến những người khác như vợ, chồng, con cái của họ,… và ảnh hưởng tới lợi ích xã hội Vì vậy để bảo vệ quyền lợi của các cá nhân, bảo vệ lợi ích gia đình và

xã hội, pháp luật cần quy định rộng rãi những người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

2.1.2 Các trường hợp huỷ kết hôn trái pháp luật

a) Do vi phạm độ tuổi kết hôn

Theo Điều 14 Luật HNGĐ năm 2014 và Điều 4 TTLT 01/2016 thì trường hợp kết hôn do vi phạm độ tuổi sẽ được xử lý như sau:

Trường hợp tại thời điểm kết hôn mà hai bên chưa đủ tuổi kết hôn thì:

- Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên đủ độ tuổi kết hôn

- Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc

có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật Trường hợp có đơn khởi kiện đơn

Trang 6

yêu cầu tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan

hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm huỷ việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại điều 12 Luật HNGĐ

- Trường hợp hai bên cùng yêu cầu tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì tòa án giải quyết cho ly hôn Trường hợp này quyền, nghĩa vụ của cha mẹ con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật HNGĐ; quan hệ tài sản nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật HNGĐ

Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Toà án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không đủ tuổi kết hôn thì:

- Nếu có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì Toà án quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật;

- Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhân quan hệ hôn nhân thì Toà án bác yêu cầu của họ và quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật

d) Do bị cưỡng ép lừa dối

Cũng như trong trường hợp huỷ kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn, không phải tất cả trường hợp vi phạm sự tự nguyện khi kết hôn đều bị Toà án tuyên bố huỷ, mà tuỳ từng trường hợp khi có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật lại có cách xử lý khác nhau

Theo Điều 11 Luật HNGĐ, Điều 4 TTLT 01/2016: Tại thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà sự vi phạm chưa được khắc phục,

Trang 7

một trong hai bên thể hiện việc không yêu thương, không đồng cảm hoặc chỉ có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của họ thì Toà án quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật Nếu tại thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, các bên đã khắc phục sự vi phạm, tức là họ

đã yêu thương chung sống hoà thuận và cả hai bên đều yêu cầu Toà án công nhận quan hệ hôn nhân thì Toà án không huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà ra quyết định công nhận quan hệ hôn nhân của họ tại thời điểm họ

đủ điều kiện kết hôn

e) Do vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Theo Điều 11 Luật HNGĐ, Điều 2, 4 TTLT 01/2016 thì:

Tại thời điểm có giải quyết, nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên vẫn đang tồng tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp thì Toà án sẽ quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật, hoặc tuy không còn tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp nào khác nhưng không có bên nào yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của họ thì Toà án vẫn quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật Trường hợp tại thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên không tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp và cả hai bên đều yêu cầu Toà án công nhận quan hệ hôn nhân của họ thì Toà án sẽ ra quyết định công nhận quan hệ hôn nhân của họ tại thời điểm họ đủ điều kiện kết hôn

f) Do kết hôn giả tạo

Thực tế trong trường hợp này, hai bên nam nữ không có mục đích là cùng xây dựng gia đình mà lại hướng tới một mục đích khác Đây là hành vi trái với nguyên tắc cơ bản của Luật HNGĐ năm 2014 nên mọi trường hợp kết hôn giả tạo nếu bị phát hiện đều sẽ bị Toà án tuyên bố huỷ

g) Do kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự

Theo quy định tại Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014 thì người mất năng lực hành vi dân sự không thể kết hôn Tuy nhiên, người mất năng lực hành vi dân sự sẽ đủ điều kiện kết hôn khi họ được phục hồi năng lực hành vi của

Trang 8

mình theo quyết định của Toà án Khi có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật nếu bên mất năng lực hành vi dân sự đã được phục hồi năng lực hành

vi dân sự và cả hai bên có yêu cầu công nhân quan hệ hôn nhân của họ thì Toà án không huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà ra quyết định công nhận quan hệ hôn nhân của họ tại thời điểm họ đủ điều kiện kết hôn (tại thời điểm quyết định phục hồi năng lực hành vi dân sự có hiệu lực) Tuy nhiên, nếu tại thời điểm giải quyết, có một bên vẫn bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc đã được phục hồi nhưng chỉ có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của họ thì Toà án sẽ quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật

h) Do kết hôn với những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

Trong mọi trường hợp, khi có yêu cầu thì Toà án sẽ ra quyết định huỷ kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều cấm trên Đây là quy định cần thiết để đảm bảo chất lượng dân số, hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình hiện đại, phát triển

i) Do kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau; giữa bố chồng và con dâu; giữa mẹ vợ và con rể; giữa con riêng của một bên với bố dượng hoặc mẹ kế

Khác với trường hợp trên, việc kết hôn giữa những người này không gây hậu quả về mặt sinh học mà xuất phát từ truyền thống đạo đức của dân tộc

ta Vì vậy khi có yêu cầu, Toà án sẽ ra quyết đỉnh huỷ việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều cấm trên

j) Do kết hôn giữa những người cùng giới tính

Hiện nước ta vẫn chưa thừa nhận hôn nhân đồng tính dù đã bỏ quy định cấm kết hôn Tuy nhiên đối với những người chuyển giới, họ có quyền tai đổi hộ tịch, thông tin về giới tính theo giới tính mới của họ

Trang 9

2.1.3 Hậu quả pháp lý của việc huỷ kết hôn trái pháp luật

Điều 12 Luật HNGĐ năm 2014 quy định:

“1 Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2 Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3 Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.”

- Về quan hệ nhân thân: Bên cạnh ly hôn, thì hủy kết hôn trái pháp luật cũng dẫn đến chấm dứt quan hệ hôn nhân Bởi vì, khi hôn nhân bị coi là trái pháp luật, thì Nhà nước không thừa nhận hai người trong quan hệ hôn nhân đó là vợ chồng, do đó, kể từ thời điểm các bên bắt đầu chung sống với nhau cho đến khi tòa hủy việc kết hôn trái pháp luật thì hai người chưa từng phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng hợp pháp Kể từ ngày quyết định hủy kết hôn trái pháp luật của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng Như vậy, nếu trước khi tòa

án hủy việc kết hôn trái pháp luật, hai bên đã thực hiện các quyền và nghĩa

vụ về nhân thân với nhau, thì khi có quyết định hủy của Tòa án các bên phải chấm dứt quyền và nghĩa vụ đó Tuy nhiên trên thực tế, chế tài buộc chấm dứt quan hệ nhân thân này rất khó thực hiện, bởi lẽ, đó là quan hệ tình cảm và những gì liên quan đến đời sống tinh thần Ngoại trừ những cuộc hôn nhân khi một trong hai bên bị lừa dối, cưỡng ép họ tự nguyện từ

bỏ cuộc hôn nhân trái pháp luật, thì rất nhiều trường hợp khi Tòa án đã hủy việc kết hôn trái pháp luật nhưng các bên vẫn duy trì mối quan hệ tình cảm, vẫn yêu thương chăm sóc lẫn nhau, là chỗ dựa tinh thần cho nhau trong cuộc sống Những cuộc hôn nhân như vậy, có nhất thiết phải xử hủy hay không?

Trang 10

- Về quan hệ giữa cha, mẹ, con: Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta quy định quan hệ giữa cha,

mẹ và con không phụ thuộc vào cuộc hôn nhân của cha mẹ có hợp pháp hay không, còn tồn tại hay chấm dứt Vì vậy, mặc dù hai người nam, nữ kết hôn trái pháp luật không được công nhận là vợ chồng, nhưng vẫn là cha và

mẹ của con chung, khi quan hệ hôn nhân đó bị hủy, thì "quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn" (khoản 2 Điều 12) Theo

đó, sau khi quyết định hủy có hiệu lực, hai bên vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không

có tài sản để tự nuôi mình Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Hai bên thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con, nếu không thỏa thuận được, thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con Về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu hai bên không có thỏa thuận khác Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con Việc thay đổi này được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên Sau khi đã chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó

Ngày đăng: 12/04/2018, 20:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w