1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp

16 525 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 122,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, về mặt xã hội vốn đã rất phức tạp thì việc xác định đúng mối quan hệ cha, mẹ và con tưởng chừng như dễ dàng nhưng thực tế lại rất khó khăn bởi con người là tổng hòa các mối qu

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Vấn đề xác định cha, mẹ cho con đã được quy định tương đối sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng và của cả xã hội nói chung, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, đồng thời thể hiện mục đích cao cả vì sự phát triển toàn diện của trẻ em, của gia đình và của toàn xã hội Trên thực tế, việc xác định cha mẹ cho con không phải lúc nào cũng dễ dàng, đặc biệt đối với trường hợp con ngoài giá thú, khi những quy định của pháp luật về vấn đề này còn nhiều bất cập

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON

1 Khái niệm xác định cha, mẹ, con

a) Khái niệm cha, mẹ, con và xác định cha, mẹ, con

Dưới góc độ sinh học, quan hệ cha, mẹ, con là mối quan hệ huyết hệ tự nhiên Việc xác định cha, mẹ, con chính là sự nghiên cứu, tìm kiếm mối quan hệ di truyền, huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau Về mặt tự

Trang 2

đến mang thai và khi người phụ nữ đó sinh ra một đứa trẻ thì chính sự kiện sinh đẻ chính là sự kiện trực tiếp xác định mối quan hệ mẹ con và tiếp theo

là sự suy đoán người đàn ông đã quan hệ sinh lý với người mẹ đứa trẻ sẽ là cha của đứa trẻ đó Tuy nhiên, về mặt xã hội vốn đã rất phức tạp thì việc xác định đúng mối quan hệ cha, mẹ và con tưởng chừng như dễ dàng nhưng thực tế lại rất khó khăn bởi con người là tổng hòa các mối quan hệ

xã hội và đặc biệt những mối quan hệ tình cảm lại vô cùng tế nhị, hơn nữa

do sự phát triển của khoa học kỹ thuật (như trường hợp cho trứng, cho tinh trùng, cho phôi; sử dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản,…) đã phần nào làm thay đổi quan niệm truyền thống về xác định mối quan hệ huyết thống này

Do vậy, xác định cha, mẹ con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối

qan hệ huyết thống giữa gai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ, dựa trên quan hệ huyết thống hoặc dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định 1

b) Khái niệm con trong giá thú và ngoài giá thú

Con trong giá thú là con mà cha mẹ có hôn nhân hợp pháp

Con ngoài giá thú là con mà cha mẹ không phải là vợ chồng trước pháp luật, hoặc tuy cha mẹ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng

Con của cha mẹ chung sống như vợ chồng có giá trị pháp lý là con trong giá thú khi cha mẹ của người con đó đăng ký kết hôn hoặc quan hệ giữa cha mẹ được thừa nhận bằng một bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án

Con của cha mẹ kết hôn trái pháp luật bị hủy là con ngoài giá thú

1 Nguyễn Thị Lan, Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ

Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr20.

Trang 3

2 Ý nghĩa của việc xác định cha, mẹ, con

Việc xác định cha, mẹ, con là một vấn đề mang tính thực tiễn và cấp thiết, chứa đựng nhiều ý nghĩa về mặt xã hội và pháp lý

Về mặt xã hội, việc xác định cha, mẹ, con là cơ sở đảm bảo cho việc nâng

cao ý thức trách nhiệm đối với gia đình, là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích gia đình và xã hội Đồng thời, việc xác định cha, mẹ, con trong mọi trường hợp đã góp phần xóa bỏ tư tưởng lạc hậu, phân biệt đối xử giữa các con, đem lại cuộc sống hòa bình cho mọi đứa trẻ Trong thời đại khoa học kỹ thuật càng phát triển, việc xác định cha, mẹ, con dựa trên những tiêu chuẩn,

cơ sở hợp lý sẽ góp phần làm ổn định các mối quan hệ xã hội và công tác quản lý dân số, hộ tịch của Nhà nước

Về mặt pháp lý, việc xác định cha, me, con luôn được coi trọng, bởi nó liên quan đến rất nhiều mối quan hệ pháp lý khác đặc biệt là trong pháp luật Hôn nhân và gia đình

3 Căn cứ pháp lý

Điều 88 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:

“1 Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời

kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2 Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”

Trang 4

II XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON KHI CHA MẸ KHÔNG CÓ HÔN NHÂN HỢP PHÁP

1 Căn cứ xác định

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không quy định cụ thể về căn cứ pháp lý cho việc xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp Tuy nhiên theo tinh thần các điều luật trong chế định xác định cha, mẹ, con,

có thể khẳng định rằng việc xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp là có cơ sở pháp lý

Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về xác định con quy định: "Người

không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình"

Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về quyền nhận cha, mẹ quy định:

"Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha"

Đây cũng là cơ sở pháp lý để thực hiện việc xác định cha, mẹ, con khi cha

mẹ không có hôn nhân hợp pháp

Vấn đề chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con được hướng dẫn tại Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP Theo đó, chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều

44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

“1 Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2 Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan

Trang 5

hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ

em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.”

4 Thủ tục xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp

a Thủ tục đăng ký khai sinh

Thủ tục đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú cũng tương tự như trường hợp khai sinh cho con trong giá thú Chỉ có sự khác biệt đôi chút là ngoài UBND cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ có thẩm quyền đăng

kí khai sinh còn là UBND cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng kí khai sinh cho trẻ (Khoản 1 Điều 15 NĐ 123/2015/NĐ-CP) Dù cha, mẹ của đứa trẻ không có giấy chứng nhận kết hôn, tức là, đứa trẻ sinh ra khi cha

mẹ của nó không có hôn nhân hợp pháp, thì trẻ em đó vẫn được khai sinh bình thường Nhưng phần ghi về cha trong sổ hộ tịch và giấy khai sinh của trẻ để trống Nếu tại thời điểm khai sinh trẻ em đó mà có người cha đến nhận con thì UBND cấp xã sẽ kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh (Khoản 3 Điều 15 NĐ 123/2015/NĐ-CP) Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết như quy định tại khoản 3 Điều 15 NĐ 123, ngoài ra phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống (Khoản 4 Điều 15 NĐ 123/2015/NĐ-CP)

Trang 6

c) Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con

• Thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ con:

- Đối với việc đăng ký nhận cha, mẹ, con trong nước do UBND cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận cha, mẹ, con thực hiện (Điều 24 Luật Hộ tịch 2014)

- Đối với việc nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài do UBND cấp huyện nơi cư trú của người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng

ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau mà một hoặc cả hai bên thường trú tại Việt Nam (Điều 43 Luật hộ tịch 2014)

- Đối với việc đăng ký nhận cha mẹ con giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do UBND cấp xã ở khu vực biên giới thực hiện (Khoản 1 Điều 19 NĐ 123/2015/NĐ-CP)

• Thủ tục đăng ký tiến hành nhận cha, mẹ, con

- Giấy tờ cần thiết cho việc nhận cha, mẹ, con bao gồm: tờ khai đăng

ký việc nhận cha, mẹ, con và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch (Khoản 1 Điều 25 Luật Hộ tịch 2014) Điều quan trọng nhất trong việc đăng ký nhận cha, mẹ, con mà pháp luật đặc biệt coi trọng là sự tự nguyện của các chủ thể trong mối quan hệ đó Vì thế quy định về chứng cứ chứng minh quan

hệ cha, mẹ, con là hoàn toàn phù hợp và bắt buộc phải có Chứng cứ

để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con được quy định cụ thể tại Điều

11 TT số 15/2015/TT-BTP Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thất việc nhận cha, mẹ, con là

Trang 7

đúng sự thật và không có tranh chấp thì UBND cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con Nếu cần phải xác minh thêm thì thời hạn không kéo quá 5 ngày

- Đối với việc đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài phải có thêm một số giấy tờ cần thiết khác như bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ

có giá trị thay hộ chiếu để chứng minh về nhân thân Thời hạn giải quyết là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ Trong quá trình giải quyết việc nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài có thời gian niêm yết công khai là 7 ngày liên tục để xem xét việc khiếu nại, tố cáo (Điều 44 Luật Hộ tịch 2014).Từ đó thẩm tra kĩ càng hồ sơ xin nhận cha, mẹ, con trước khi quyết định đăng ký nhận cha, mẹ, con Thủ tục này là rất cần thiết, nhưng trong thủ tục nhận cha, mẹ, con trong nước lại không đề cập đến

- Đối với việc nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới cần có thêm bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng Thời hạn giải quyết là 7 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và được niêm yết tại trụ sở UBND và báo cáo Chủ tịch UBND xã quyết định Nếu cần xác minh thêm thì thời hạn không quá 12 ngày làm việc (Khoản 2, khoản 3 Điều 19 NĐ 123/2015/NĐ-CP)

• Thủ tục giải quyết tranh chấp về xác định cha, mẹ, con khi cha, mẹ không có hôn nhân hợp pháp

- Quyền khởi kiện

+ Một người có quyền yêu cầu xác định một người là cha, là mẹ, là con của mình

+ Cha, mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên hoặc của người

đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người đó

Trang 8

+ Cha, mẹ, người giám hộ của người đã thành nuên mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu xác định con cho người đó

+ Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu xác định con cho người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

Khoản 3 Điều 69 BLTTDS 2015 quy định: "Đương sự là người từ đủ

18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự hoặc pháp luật có quy định khác" Đối với những người chưa đủ tuổi quy định thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải

do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Tuy nhiên, trong trường hợp người mẹ là người chưa thành niên muốn xác định cha cho con mình thì pháp luật cần có quy định ngoại lệ để xác định tư cách chủ thể của họ khi tham gia tố tụng, vì đây là vụ án rất đặc biệt, thường gắn liềm với nhân thân của chủ thể không thể chuyển giai cho người khác

- Chứng cứ chứng minh trong vụ án xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp

Để chứng minh tư cách cha mẹ, con trong trường hợp này phải dựa trên những cơ sở hợp lý để xác định tư cách người cha, người mẹ, người con về mặt huyết thống Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương

sự Đương sự có thể đưa ra bất kì chứng cứ chứng minh nào để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con Hiện này BTP đã ban hành thông

tư số 11 /2015 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP trong đó có quy định về chứng cứ chứng minh cha, mẹ, con ở Điều 11

- Thủ tục hoà giải

Việc xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ khômg có hôn nhân hợp pháp được tiến hành qua hai thủ tục như đã phân tích ở trên Nếu cá đương

sự tự nguyện thì áp dụng thủ tục hành chính, còn khi có tranh chấp

Trang 9

mới giải quyết ở toà án Do đó, việc hoà giải cũng cần xác định là một thủ tục đặc biệt

III THỰC TIỄN ÁP DỤNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON KHI CHA MẸ KHÔNG CÓ HÔN NHÂN HỢP PHÁP

1 Thực tiễn

Trong thực tế, việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp cha mẹ không

có hôn nhân hợp pháp còn gặp nhiều vướng mắc nhất định:

- Về việc đăng ký tự nguyện nhận cha, mẹ, con:

+ Trong trường hợp người cha đăng ký nhận con, UBND khi nhận được tờ đăng ký nhận con phải xác định tại thời điểm đó người khai nhận đã có giấy chứng nhận kết hôn với mẹ của đứa trẻ hay chưa Đây cũng là vướng mắc trên thực tế Hiện nay, một số UBND, khi tiến hành làm thủ tục cho một người đăng ký nhận con, nếu tại thời điểm đó họ đã đăng ký kết hôn với người mẹ cuả đứa trẻ thì cán bộ tư pháp hộ tịch sẽ căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn, mặc nhiên bổ sung họ tên của người đó vào phần họ tên cha trong giấy khai sinh của đứa trẻ (nếu đứa trẻ đã được khai sinh trước đó) mà không cần phải thông qua thủ tục đăng ký nhận con nữa Nếu sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng tiến hành đăng ký khai sinh cho con với

tư cách là con trong giá thú Nếu người đó không đăng ký kết hôn mới mẹ đứa trẻ thì khi đó mới làm thủ tục đăng ký nhận con Trong khi đó một số UBND lại vẫn tiến hành thông qua thủ tục đăng ký nhận con cho dù người

đó đã đăng ký kết hôn với người mẹ của đứa trẻtrước đó Bởi vì như vậy mới đảm bảo đúng tinh thần của Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “ Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”

Trang 10

+ Thực tế đã và đang xảy ra hiện tượng người mẹ đứa trẻ đã thông tin không đúng sự thật về nhân thân của mình khi sinh con tại cơ sở y tế Từ đó dẫn tới giấy chứng sinh cũng không có những thông số chính xác về họ tên người mẹ, nơi thường trú, tạm trú Điều này gây ra rất nhiều khó khăn cho việc xác định cha, mẹ, con Hoặc trường hợp khi sinh con người mẹ lấy tên

và địa chỉ giả sau khi sinh con bỏ lại, bệnh viện xác định theo địa chỉ thì không đúng Do vậy, coi như đứa trẻ bị bỏ rơi, sau khi làm các thủ tục cần thiết đã cho đứa trẻ đi làm con nuôi người khác Một thời gian sau, người

mẹ đã quay lại muốn nhận đứa trẻ đó là con mình theo thủ tục hành chính

có được không, nếu người hiện đang là cha, mẹ nuôi của đứa bé không đồng ý

- Về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con:

+ Các loại giấy tờ dùng để làm chứng cứ chưa được quy định cụ thể và mang tính khả thi cao Ở khoản 1 Điều 11 TT15/2015 quy định về những giấy tờ làm chứn cứ chứng minh quan hệ cha mẹ con gồm:" Văn bản của

cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con" Ở đây, quy định chứng cứ chứng minh quan hệ cha con có thể bằng văn bản của cơ quan y tế, thì vấn đề đặt ra, văn bản của cơ quan y tế xác nhận phải dựa trên

cơ sở pháp lý nào, ngoại trừ kết quả giám định ADN và cơ quan y tế cấp nào có thẩm quyền xác nhận? Đây là quy định mà cho đến nay, cơ quan hộ tịch và cán bộ hộ tịch địa phương hầu như chưa đưa ra lời giải đáp thoả đáng

+ Thực tiễn xét xử các tranh chấp về quan hệ cha mẹ và con cho thấy, những chứng cứ đa số là gián tiếp, sức thuyết phục không cao Trong số các chứng cứ đề xác định cha, mẹ, con thì các kết luận giám định về y học là có

Ngày đăng: 12/04/2018, 20:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w