Trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết được hoặc nếu các trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì trong thời hạn
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2
II MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH THỂ HIỆN SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 3
1 Đối với việc thay đổi trọng tài viên 3
2 Về việc triệu tập người làm chứng 4
3 Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc 4
4 Hủy phán quyết trọng tài 5
III THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 9
1 Về quy định Tòa án có thẩm quyền chỉ định, thay đổi trọng tài viên 9
2 Việc điều tra, xác minh chứng cứ, áp dụng các biện pháp khẩn cấp mất nhiều thời gian hơn so với Tòa án 10
3 Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 10
4 Về quy định Tòa án xét đơn hủy phán quyết của trọng tài 12
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong việc giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài thương mại, tòa án giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các cơ quan trọng tài bằng nhiều phương thức khác nhau Chúng có liên đới rất chặt chẽ với nhau, Tòa án có hỗ trợ tốt cho các cơ quan trọng tài thì mới tạo hiệu quả trong công việc của trọng tài và giảm thiểu được gánh nặng của mình trong hoạt động xét xử Vì vậy em
xin chọn đề tài: “Phân tích 4 quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thể
hiện sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại và bình luận thực tiễn áp dụng các quy định đó.”
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ SỰ
HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1 Trọng tài thương mại
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”
Tại khoản 2 Điều 3 Luật này có quy định về thỏa thuận trọng tài như sau:
“Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”
Hoạt động giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại chỉ phát sinh khi các bên có thỏa thuận trọng tài Các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài trước hoặc sau khi tranh chấp xảy ra Nếu các bên không
Trang 3có thỏa thuận về việc giải quyết vụ tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại thì Trọng tài thương mại không có thẩm quyền giải quyết vụ việc
đó Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đề cao sự thỏa thuận của các bên trong vụ tranh chấp Các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau về chọn hình thức trọng tài, chọn trọng tài viên, chọn quy tắc tố tụng, địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp…
2 Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài thương mại
So với việc giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án, việc giải quyết tranh chấp thương mại theo thủ tục trọng tài có nhiều ưu điểm như: giải quyết nhanh chóng, dứt diểm các tranh chấp thương mại; đảm bảo được sự thỏa thuận và định đoạt của các đương sự; quyết định của trọng tài là chung thẩm, không
bị kháng nghị, kháng cáo; đảm bảo bí mật và giữ uy tín cho các nhà kinh doanh…
Là tổ chức phi chính phủ, Trọng tài Thương mại ở tất cả các nước đều không mang trong mình quyền lực nhà nước khi giải quyết tranh chấp Điều này tạo nên cho Trọng tài những thuận lợi về việc chủ động trong quá trình tố tụng giải quyết tranh chấp, tôn trọng và bảo đảm cho các bên quyền tự do định đoạt tối đa về mọi lĩnh vực liên quan đến giải quyết tranh chấp Tuy nhiên cũng đặt ra cho Trọng tài Thương mại những khó khăn khi không có sự đồng thuận, hợp tác thiện chí của cả hai bên tranh chấp trong quá trình tố tụng cũng như việc thi hành phán quyết Trọng tài Trên thế giới mối quan hệ đặc trưng giữa Toà án và Trọng tài là mối quan hệ hỗ trợ và giám sát Nhờ có sự hỗ trợ
và giám sát của Toà án mà Trọng tài tuy là tổ chức tài phán phi chính phủ nhưng vẫn hoạt động được một cách có hiệu quả Việc thừa nhận vai trò, trách nhiệm của Toà án nhân dân trong hỗ trợ, giám sát hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp của Trọng tài Thương mại là một sự tiếp sức cho Trọng tài, thể
Trang 4hiện quan điểm của nhà nước trong việc đa dạng hoá phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh được
sự bảo hộ của nhà nước về mặt pháp lý trong quá trình thực hiện giao dịnh thương mại
II MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH THỂ HIỆN SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1 Đối với việc thay đổi trọng tài viên
Việc thay đổi trọng tài viên theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 được quy định tại Điều 43 trong hai trường hợp sau:
- Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài, nếu Hội đồng trọng tài chưa được thành lập, việc thay đổi trọng tài viên do Chủ tịch Trung tâm trọng tài quyết định Nếu Hội đồng trọng tài đã được thành lập, việc thay đổi trọng tài viên do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định Trong trường hợp các thành viên Hội đồng trọng tài còn lại không quyết định được hoặc nếu các trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, Chủ tịch Trung tâm trọng tài quyết định về việc thay đổi trọng tài viên (Khoản 3 Điều 43)
- Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổi trọng tài viên sẽ do các thành viên còn lại của hội đồng trọng tài quyết định Trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết được hoặc nếu các trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của một hoặc các trọng tài viên nói trên, hoặc của một hoặc các bên tranh chấp, Chánh án tòa án có thẩm
Trang 5quyền giao cho một thẩm phán quyết định về việc thay đổi trọng tài viên (Khoản 4 Điều 43)
Như vậy, theo Điều 43 của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì tòa án chỉ
hỗ trợ việc thay đổi trọng tài viên trong trường hợp trọng tài vụ việc giải quyết còn việc chỉ định trọng tài viên hoặc thay đổi trọng tài viên mà vụ tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài thì do Chủ tịch Trọng tài quyết định Việc thay đổi trọng tài viên (Hội đồng trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án là tòa án nơi có Hội đồng giải quyết tranh chấp thực hiện (điểm b khản
2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại)
3 Về việc triệu tập người làm chứng
Đây là một điểm mới trong Luật Trọng tài thương mại 2010, theo Điều 48 thì Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng có mặt tại phiên hợp giải quyết tranh chấp Trong trường hợp người làm chứng đã được Hội đồng trọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên hợp và không có lý do chính đáng về việc vắng mặt của họ gây ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp, thì Hội đồng trọng tài có thể yêu cầu tòa án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài Trình tự thủ tục yêu cầu tòa án triệu tập người làm chứng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người làm chứng có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành quy định của tòa án
4 Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc
Theo Điều 62 của Luật Trọng tài thương mại thì tòa án nơi Hội đồng trọng tài
vụ việc đã ra phán quyết trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án sẽ có đơn yêu cầu tòa án xem xét phán quyết trọng tài vụ việc Trình tự, thủ tục đăng ký phán quyết trọng tài:
Trang 6- Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn đăng ký phán quyết, Chánh án tòaán nhân dân (nơi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết) chỉ định 1 thẩm phán xem xét đơn đăng ký phán quyết) chỉ định
1 thẩm phán xem xét đơn đăng ký phán quyết
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được phân công, thẩm phán phải kiểm tra tính xá thực việc thực hiện theo đơn và thực hiện việc đăng ký
- Trong trường hợp xác định phán quyết trọng tài không có thật thì thẩm phán từ chối đăng ký, trả lại đơn yêu cầu và các tài liệu kèm theo, đồng thời thông báo ngày cho bên có yêu cầu biết và nêu rõ lý do trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thông báo thì người yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài có quyền khiếu nại với Chánh án tòa về việc từ chối đăng ký phán quyết trọng tài
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Chánh án tòa án phải xem xét giải quyết và ra quyết định giải quyết việc khiếu nại Quyết định của Chánh án là quyết định giải quyết cuối cùng
Nội dung đăng ký phán quyết trọng tài được quy định như sau:
- Thời gian, địa điểm thực hiện việc đăng ký
- Tên tòa án tiến hành việc đăng ký
- Họ, tên, địa chỉ của bên yêu cầu thực hiện việc đăng ký
- Phán quyết được đăng ký
- Chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu của tòa án
Đây là một chế định hoàn toàn mới của Luật Trọng tại thương mại năm 2010,
do đó cần được Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan có nghị quyết, văn bản hướng dẫn cụ thể
Trang 75 Hủy phán quyết trọng tài
Theo Điều 69 của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì toàn án có thẩm quyền xem xét việc hủy quyết định trọng tài khi có yêu cầu của một bên nếu
có căn cứ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu
- Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của luật này
- Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, trong trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của trọng tài thì nội dung đó bị hủy
- Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam có liên quan
Thời hạn yêu cầu để hủy quyết định trọng tài là 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài
Theo Điều 71 của Luật Trọng tài thương mại thì khi một hoặc các bên có yêu cầu hủy quyết định trọng tài phải có đơn gửi đến tòa án với các nội dung chủ yếu như sau:
+ Ngày, tháng, năm làm đơn
+ Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu
+ Yêu cầu và căn cứ hủy phán quyết trọng tài
Cùng với việc đưa đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài thì còn phải gửi kèm theo các tài liệu chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp Nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên có yêu cầu hủy quyết định trọng tài Trừ trường hợp khi phán quyết trọng tài trái ngược với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam có liên quan thì trách nhiệm chủ động xác minhthu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài thuộc về tòa án Ngoài ra bên yêu cầu hủy
Trang 8phán quyết trọng tài còn phải nộp bản chính hoặc bản sao phán quyết trọng tài đã được chứng thực hợp lệ; bản chính hoặc bản sao trọng tài được chứng thực hợp, các giấy tờ tài liều kèm theo đơn yêu cầu nếu bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch ra tiếng Việt Namvà bản dịch phải được chứng thực hợp lệ
Tại Điều 72 của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có quy định về thủ tục tòa án xét đơn yêu cầu phán quyết trọng tài cụ thể như sau:
- Sau khi thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, tòa án có thẩm quyền thông báo ngay cho trung tâm trọng tài hoặc các trọng tài việc của trọng tài vụ việc và các bên có tranh chấp
- Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý, Chánh án tòa án chỉ định một Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba thẩm phán, trong đó có một thẩm phán làm chủ tọatheo sự phân công Chánh án tòa án
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được chỉ định, Hội đồng xét đơn yêu cầu phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Tòa án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 7 ngày làm việc trước ngày mở phiên hợp Hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho tòa án để mở phiên họp xem xét đơn yêu cầu
- Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của các bên đang tranh chấp, luật sư của các bên (nếu có), kiểm sát viên Viện kiểm sát cung cấp Trường hợp một trong các bên yêu cầu Hội đồng xét đơn vắng mặt hoặc
đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc tới phiên họp mà không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp mà không được Hội đồng xét đơn yêu cầu chấp nhận thì Hội đồng vẫn tiến hành xét đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài
Trang 9- Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp đã được Hội đồng trọng tài giải quyết mà chỉ kiểm tra, đối chiếu phán quyết của Hội đồng trọng tài và các tài liệu kèm theo với các căn cứ quy định tại Điều 69 của Luật này để quyết định
- Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài Trong trường hợp bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài rút đơn hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý
do chính đáng hoặc rời phiên họp mà không được Hội đồng xét đơn yêu cầu chấp thuận thì Hội đồng ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu
- Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, tòa án gửi quyết định cho các bên, trung tâm trọng tài hoặc trọng tài viên trọng tài
vụ việc và Viện kiểm sát cung cấp
- Theo yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không quá sáu mươi ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tàitheo quan điểm của Hội đồng trọng tài để lại bỏ căn cứ để huỷ bỏ phán quyết trọng tài Hội đồng trọng tài phải thông báo ý kiến của mình cho tòa án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng Trường hợp Hội đồng trọng tài không tiến hành khắc phục sai sót tố tụng thì Hội đồng tiếp tục xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
- Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định hủy phán quyết trọng tài, các bên có thể thỏa thuận đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu không hủy phán quyết trọng tài thì phán quyết trọng tài được thi hành
Trang 10- Trong mọi trường hợp, thời gian giải quyết tranh chấp tại trọng tài, thời gian tiến hành thủ tục hủy phán quyết trọng tài tại tòa án không tính vào thời hiệu khởi kiện
- Quyết định của tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành
- Quyết định của tòa án được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự nếu có đủ căn cứ cho thấy quyết định của Tòa án là vi phạm nghiêm trọng pháp luật làm ảnh hướng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các bên hoặc có tình tiết mới là căn cứ để hủybỏ quyết định đó
Luật Trọng tài thương mại có điểm mới là: Việc tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chỉ tiến hành ở một cấp xét xử duy nhất là tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài Nếu không thống nhất với phán quyết của tòa án thì các bên có thể yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có tình tiết mới
III THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tòa án và cơ quan thi hành án có nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động trọng tài thương mại Song thực tế hiện nay, hoạt động hỗ trợ của Tòa án chưa thực sự phát huy vai trò của nó, sự hỗ trợ của tòa
án đối với trọng tài chưa được toàn diện, hiệu quả, thiếu hiệu lực và đặt trọng tài vào vị trí bất lợi nhiều hơn so với tòa án, thể hiện ở những điểm sau:
1 Về quy định Tòa án có thẩm quyền chỉ định, thay đổi trọng tài viên
Cần quy định về thời hạn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền quyết định thay đổi Trọng tài viên của trọng tài vụ việc Bởi, theo quy định tại khoản 4 Điều 42 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, các Trọng tài viên trong Hội đồng trọng tài từ chối giải quyết tranh chấp hoặc các bên tranh chấp là những chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, điều luật này chỉ quy