1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ

24 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 39,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ PHÂN TÍCH VÀ NÊU QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM VỀ TỪNG VẤN ĐỀ THUỘC HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC 1. Có thể tùy chọn hình thức văn bản nào không? + Văn bản tự tay viết; + Văn bản nhờ người khác viết; + Văn bản có công chứng; + Văn bản tương đương với văn bản có công chứng. Hình thức của di chúc chính là phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc (nội dung của di chúc), là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc. Pháp luật quy định di chúc phải được lập dưới những hình thức nhất định và tuân theo trình tự luật định. Tùy thuộc và điều kiện, hoàn cảnh mà người lập di chúc có thể lựa chọn một trong các loại theo quy định để thể hiện ý chí định đoạt tài sản của mình trong đó. Với trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết thì có thể nhờ người khác viết; hay có thể tự mình đánh máy di chúc hoặc nhờ người khác đánh máy di chúc. Đây là quy định mới so với BLDS 2005. Tuy nhiên, khi lập loại di chúc này phải có ít nhất hai người làm chứng, đồng thời trong bản di chúc phải có chữ ký của người làm chứng và xác nhận của họ về chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc. Thiếu một trong các yếu tố này di chúc sẽ không có hiệu lực pháp luật.

Trang 1

BÀI TẬP 1: PHÂN TÍCH VÀ NÊU QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM VỀ TỪNG VẤN ĐỀ THUỘC HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC

1 Có thể tùy chọn hình thức văn bản nào không?

+ Văn bản tự tay viết;

+ Văn bản nhờ người khác viết;

+ Văn bản có công chứng;

+ Văn bản tương đương với văn bản có công chứng

Hình thức của di chúc chính là phương thức biểu hiện ý chí của người lập

di chúc (nội dung của di chúc), là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kếtheo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong dichúc Pháp luật quy định di chúc phải được lập dưới những hình thức nhất định

và tuân theo trình tự luật định Tùy thuộc và điều kiện, hoàn cảnh mà người lập

di chúc có thể lựa chọn một trong các loại theo quy định để thể hiện ý chí địnhđoạt tài sản của mình trong đó

Với trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết thì có thể nhờngười khác viết; hay có thể tự mình đánh máy di chúc hoặc nhờ người khácđánh máy di chúc Đây là quy định mới so với BLDS 2005 Tuy nhiên, khi lậploại di chúc này phải có ít nhất hai người làm chứng, đồng thời trong bản dichúc phải có chữ ký của người làm chứng và xác nhận của họ về chữ ký, điểmchỉ của người lập di chúc Thiếu một trong các yếu tố này di chúc sẽ không cóhiệu lực pháp luật

2 Bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản (Đ.629 BLDS 2015) Ví dụ thực tiễn?

Người lập di chúc lập di chúc miệng trong trường hợp tính mạng bị cái chết

đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản như: bị bệnh nặng sắp chết, độtquỵ, hấp hối hay bị tai nạn giao thông.…

Ví dụ như: Anh Hưng và chị Hoàn là 2 vợ chồng có tài sản chung là 980triệu, có 3 con chung là Trung (20 tuổi, đi làm và có thu nhập), Ngân (14 tuổi),Oanh (9 tuổi) Đến năm 2006 do cuộc sống gia đình bất hòa, anh chị đã làm đơn

ra tòa xin ly hôn nhưng chưa được giải quyết Ngày 01/10/2006, trong một lần

về quê thì 2 vợ chồng anh Hưng bị tai nạn làm anh Hưng chết ngay sau đó.Trước khi chết anh Hưng có di chúc bằng miệng trước sự chứng kiến của nhiềungười là để lại toàn bộ tài sản cho 4 người là: Trung, Ngân, Oanh và ông Hải - làbác của Hưng) Chị Hoàn khi tỉnh lại không muốn chia tài sản cho ông Hải

- Trường hợp những người làm chứng không ghi chép lại di chúc của anh

Trang 2

nhận thừa kế Đồng thời, di sản của anh Hưng được chia theo pháp luật do dichúc không hợp pháp Những người thừa kế của anh Hưng thuộc hàng thừa kếthứ nhất gồm: vợ anh Hưng (chị Hoàn), bố mẹ đẻ của anh Hưng (nếu còn sống),

bố mẹ nuôi của anh Hưng (nếu có và còn sống), con đẻ của anh Hưng (Trung,Ngân, Oanh), con nuôi của anh Hưng (nếu có) Lưu ý là chị Hoàn vẫn đượchưởng di sản của anh Hưng vì anh chị đã làm đơn xin ly hôn nhưng chưa đượcTòa án giải quyết

- Trường hợp di chúc miệng của anh Hưng đã được những người làmchứng ghi chép lại và công chứng hoặc chứng thực thì phần di sản của anh Hưng

sẽ được chia theo di chúc cho những người mà anh Hưng đã chỉ định (gồm:Trung, Ngân, Oanh và ông Hải) và cho những người thừa kế không phụ thuộcvào nội dung di chúc của anh Hưng (gồm: bố mẹ của anh Hưng nếu còn sống vàchị Hoàn - vợ anh Hưng)

3 Minh mẫn, sáng suốt (Mục a, khoản 1, Điều 630) Ai xác nhận?

Di chúc được xem là một giao dịch dân sự đơn phương Là một giao dịchdân sự nếu muốn được thừa nhận là có hiệu lực pháp luật thì phải đáp ứng cácđiều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự nói chung quy định tại Điều 117BLDS năm 2015 Trong đó, yêu cầu người lập di chúc minh mẫn, sáng suốttrong khi lập di chúc được đưa lên hàng đầu tiên Tuy vậy, cũng không có quyđịnh cụ thể về tình trạng minh mẫn, sáng suốt là như thế nào? Có bắt buộc phải cóxác nhận của cơ quan y khoa hay không? Cơ quan nào xác nhận?

Minh mẫn, sáng suốt là điều kiện về năng lực chủ thể Năng lực hành vidân sự của cá nhân phản ánh khả năng của cá nhân đó bằng hành vi của mìnhtiến hành các hành vi “tạo” nên quyền và nghĩa vụ dân sự Để xác định đượcmột người minh mẫn, sáng suốt là chuyện tưởng dễ nhưng không hề dễ chútnào Vì phòng ngừa rủi ro mà cơ quan có thẩm quyền vẫn yêu cầu người lập dichúc phải có giấy khám sức khỏe Tuy nhiên, đây không phải quy định bắt buộc.Theo đó, Điều 56 Luật Công chứng 2014 quy định, nếu công chứng viênnghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần, mắc bệnh khác mà không thể nhậnthức và làm chủ hành vi của mình thì được phép đề nghị người lập di chúc làm

rõ Nếu không thể làm rõ được thì công chứng viên có quyền từ chối công chứng

di chúc đó

Bởi thực tế cho thấy, có rất nhiều tranh chấp xảy ra đều lấy lý do người lập

di chúc không minh mẫn, bị lừa dối, cưỡng ép, đe dọa nên việc khám sức khỏetrước khi lập di chúc là một việc làm cần thiết

Đây không phải là một trong những giấy tờ bắt buộc phải có của người lập

di chúc nhưng trong quá trình lập di chúc thì khuyến khích nên có để dễ dàng

Trang 3

hơn trong việc giải quyết tranh chấp sau này (nếu có) và đảm bảo ý nguyện củangười để lại di chúc.

4 Hai người làm chứng (Người làm chứng là ai trong lúc khẩn cấp như vậy? Có thể là người thân không?)

Người làm chứng là người chứng kiến sự việc một cách khách quan, độclập, không bị ràng buộc hoặc bị ảnh hưởng từ bất kỳ yếu tố hay chủ thể nào màliên quan đến sự việc mà họ chứng kiến trong việc lập di chúc của người đãchết

Người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ítnhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại,cùng ký tên hoặc điểm chỉ Điều luật 632 BLDS cho phép mọi người đều có thểlàm chứng cho việc lập di chúc chỉ trừ người thừa kế theo di chúc hoặc theopháp luật của người lập di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tớinội dung di chúc; Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Như vậy, trong lúc khẩncấp thì người làm chứng có thể là bất cứ ai đang bên cạnh người lập di chúc, kể

cả người thân chỉ cần không phải trong 3 trường hợp luật đã quy định trên

Tuy nhiện, hiện nay trong cuộc sống, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, việcngười đang hấp hối, trong cơn nguy kịch mới để lại lời chăn chối cho con cháu

về việc phân chia tài sản của mình sau khi chết, lúc này ở đây chỉ có nhữngngười là con cháu có quan hệ thân thiết, gần gũi Trong trường hợp đó, cùng vớinhiều lí do khác mà không thể tìm đủ hai người làm chứng với đủ những điềukiện mà pháp luật quy định, như vậy, lời chăn chối của họ cũng được coi là một

di chúc miệng nhưng lại không dược pháp luật thừa nhận Có thể hiểu việc quyđịnh như vậy của pháp luật là nhằm bảo đảm tính minh bạch, khách quan, rõràng của việc lập di chúc miệng nhưng lại khá khó khăn trong việc áp dụng vàothực tế việc này rất dễ dẫn đén những tranh chấp về sau của những người thừakế

5 Ghi chép lại ý nguyện (Người lập có đọc lại không?)

Khi người làm chứng ghi chép lại những ý nguyện của người lập di chúcthì việc đọc lại là không có quy định Mà đã không có quy định thì sẽ không bắtbuộc phải thực hiện Tuy nhiên, theo lẽ thông thường thì khi ghi chép xong bản

di chúc vẫn cần được đọc lại để kiểm tra nội dung được ghi chép có chính xácnhư ý chí, nguyện vọng của người lập không

Việc lập di chúc bằng miệng là nhờ người khác viết nên nhiều lúc việc thểhiện đúng ý chí của người lập có thể không chính xác hoàn toàn Vậy nên việc

Trang 4

sau khi ghi chép lại rồi đọc lại để rà soát là một việc hoàn toàn cần thiết và cầnđược bổ sung vào điều luật.

6 Người lập di chúc không cần ký hoặc điểm chỉ (Tại sao minh mẫn, tỉnh táo mà lại không cần ký?)

Trong những trường hợp thông thường, pháp luật chỉ thừa nhận hình thức

di chúc bằng văn bản, thể hiện một cách rõ ràng ý chí của người để lại di sản,làm cơ sở để phân định di sản thừa kế Người lập di chúc chỉ có thể lập di chúcmiệng trong trường hợp tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể tự lập di chúcbằng văn bản Với di chúc bằng miệng thì người lập di chúc không cần ký hoặcđiểm chỉ mà là những người làm chứng

Việc người lập di chúc không cần ký hoặc điểm chỉ xuất phát từ lý do màphải lập di chúc bằng miệng Trong trạng thái cái chết bị đe dọa và không thể tựlập di chúc bằng văn bản (bệnh nặng, tai nạn giao thông…) thì đa phần ngườilập đều không có khả năng có thể tự mình cầm bút để ký hay sức lực để điểmchỉ, các nhà làm luật nhận thấy điều này nên đã không quy định Minh mẫn,tỉnh táo là năng lực về nhận thức còn việc ký tên, điểm chỉ là năng lực về hành

vi Khi còn năng lực nhận thức nhưng không đủ năng lực để thực hiện hành vithì pháp luật cho phép người làm chứng làm thay cho người lập di chúc để đảmbảo ý chí của người lập di chúc được bày tỏ

7 Công chứng trong 5 ngày (Tại sao 5 ngày? Công chứng bằng tiền của ai?)

- Căn cứ pháp lý: Khoản 5 Điều 630 BLDS 2015

“…Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 630 BLDS 2015 quy định rõ: trong thờihạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùngthì di chúc phải được xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng

- Công chứng bằng tiền của ai?

+ Công chứng bằng tiền được trích từ phần di sản người có di sản để lại+ Căn cứ pháp lý: Khoản 10 Điều 658 BLDS 2015:

“Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

…10 Các chi phí khác.”

Bởi, việc lấy tiền của những người không thuộc hàng thừa kế của người

để lại di sản hay của người làm chứng đều không hợp lý Nên chi phí việc công chứng bản di chúc nên dùng bằng tiền của người để lại di sản Theo đó, sau khi

Trang 5

trừ hết tất cả các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế thì

số tiền còn lại sẽ được phân chia thứ tự các hàng thừa kế theo đúng quy định củaBLDS 2015

8 Khoản 5 Điều 630 BLDS 2015 “…phải được công chứng viên hoặc

cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.” Cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận chữ ký? Cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận điểm chỉ?

- Cơ sở pháp lý:

+ Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bảnsao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứngthực hợp đồng, giao dịch

+ Thông tư số 01/2020/TT-BTP ngày 03/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư phápquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số23/2015/NĐ-CP

+ Quyết định số 1329/QĐ-BTP

Căn cứ theo thủ tục hành chính: Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, vănbản (áp dụng cho cả trường hợp chứng thực điểm chỉ và trường hợp người yêucầu chứng thực không ký, không điểm chỉ được) thuộc thầm quyền của UBNDcấp xã; Phòng Tư pháp; Tổ chức hành nghề công chứng; Cơ quan đại diện

Như vậy, ngoài công chứng viên có quyền chứng thực xác nhận chữ kýhoặc điểm chỉ của người làm chứng, thì cơ quan có thẩm quyền được quy địnhtại Khoản 5 Điều 630 BLDS 2015 bao gồm: UBND cấp xã; Phòng Tư pháp; Tổchức hành nghề công chứng; Cơ quan đại diện

9 Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Tại sao 3 tháng? Vậy trong 3 tháng vẫn không lập được di chúc văn bản do “nguyên nhân khác” thì sao?

- Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 2 Điều 629 Bộ luật dân sự 2015

“Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.”

+ Điều 627 Bộ luật dân sự 2015

- Theo quy định tại Điều 627 BLDS 2015 thì hình thức của di chúc được quy định cụ thể như sau:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng

Trong đó:

Trang 6

+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.

Vậy trong 3 tháng vẫn không lập được di chúc văn bản do “nguyên nhânkhác”, “trong 3 tháng” vẫn được hiểu là khoảng thời gian quy định trong BLDS.Mặt khác, BLDS 2015 quy định sau 3 tháng mà người để lại di sản đượclập bằng di chúc miệng vẫn còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì mặc nhiên dichúc miệng đó bị hủy bỏ Nguyên nhân khác ở đây có thể đề cập là còn sốngsau 3 tháng nhưng lại không đáp ứng điều kiện về mặt chủ thể để lập di chúcbằng văn bản thì việc lập di chúc bằng văn bản cũng không thực hiện được

10 Đây có phải là hình thức miệng không? (hay là hình thức văn bản

“Điều 635 Di chúc có công chứng hoặc chứng thực

Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.”

- Căn cứ theo Điều 627 BLDS 2015, Hình thức di chúc gồm 2 hình thức: dichúc bằng văn bản và di chúc miệng

Theo quy định trên cho phép nhận thức: Việc lập di chúc chỉ có thể tiếnhành theo một trong hai hình thức: hoặc là văn bản, được gọi là di chúc viếthoặc thông qua lời nói, được gọi là di chúc miệng Di chúc miệng là loại di chúc

mà toàn bộ ý chí của người lập di chúc miệng thể hiện bằng lời nói Di chúcbằng văn bản là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết, đánh máy)

Trang 7

và có thể thể hiện dưới dạng di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, dichúc bằng văn bản có công chứng, di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 635 BLDS 2015, thì bản thân người lập

di chúc là người yêu cầu công chứng, thì khi đó di chúc đó dược thể hiện là dichúc bằng văn bản và thuộc hình thức văn bản có công chứng Trong trường hợpnày, rõ ràng ý chí của người lập di chúc thể hiện toàn bộ qua lời nói, và tại thờiđiểm các chết bị đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì người lập dichúc cũng không thể tự mình yêu cầu công chứng được

Như vậy di chúc miệng là một trong hai hình thức thể hiện của di chúc Dichúc miệng thể hiện ý toàn bộ ý chí của người lập di chúc thông qua lời nói Dichúc miệng không phải là di chúc bằng hình thức văn bản có công chứng Vìngười lập di chúc trước hết thể hiện qua lời nói, người làm chứng chỉ ghi chéplại, việc chứng thực chỉ nhằm xác thực chữ ký hay điểm chỉ là đúng của ngườilập di chúc và những người làm chứng, không có vai trò trong việc xác thực nộidung của bản di chúc

11 Người làm chứng có thể là tổ chức không?

- Người làm chứng không thể là tổ chức

- Cơ sở pháp lý: Điều 632 BLDS 2015

“Điều 632 Người làm chứng cho việc lập di chúc

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”

Theo logic kết cấu các điều luật của BLDS 2015, Quy định rõ chủ thể cụthể là cá nhân hay tổ chức Khi điều luật đề cập tới thuật ngữ “mọi người” thì cóthể hiểu là cả cá nhân và tổ chức đều có thể thực hiện

Quan điểm cá nhân em cho rằng: mặc dù tổ chức có thể là chủ thể đượchưởng di sản thừa kế của cá nhân, tuy nhiên để biết một tổ chức có thể là ngườilàm chứng cho việc lập di chúc của cá nhân thì em thấy không hợp lý Vì ngay ởtên điều luật đã thể hiện là “ người làm chứng” thì đã ngầm khẳng định việc làmchứng này chỉ được thực hiện khi chủ thể đó là cá nhân

12 Nên tin tưởng người ngoài hay người thân thích?

- Tùy thuộc vào ý chí chủ quan của người lập di chúc và nội dung bản dichúc

- Cơ sở pháp lý: Điều 632 BLDS 2015

Trang 8

Người làm chứng là người chứng kiến sự việc một cách khách quan, độclập, không bị ràng buộc hoặc bị ảnh hưởng từ bất kỳ yếu tố hay chủ thể nào màliên quan đến sự việc mà họ chứng kiến trong việc lập di chúc của người đãchết.

Tại khoản 1, 2 Điều 632 BLDS 2015 cho thấy đã là người có tên trongbản di chúc hay là người có quyền, nghĩa vụ liên quan tới nội dung di chúc thìđều không được là người làm chứng Theo đó tin tưởng người ngoài hay ngườithân thích điều kiện tiên quyết là người đó không được đề cập trong nội dungbản di chúc hay không thuộc trường hợp là người thừa kế theo pháp luật, hay cómối quan hệ, liên quan tới các thành viên được hưởng di sản thừa kế

Việc tin tưởng người làm chứng là ai? Theo cá nhân em, trước hết cầnxem trình độ học vấn, mức độ uy tín, tin cậy của người lập di chúc đối với ngườilàm chứng đó Vì vậy, việc tin tưởng này tùy thuộc vào ý chí chủ quan của ngườilập di chúc, khả năng tin cậy của chính người để lại di sản đó

13 Cần yêu cầu gì nữa (đối với người làm chứng)

a Pháp luật loại trừ quyền làm chứng của những người thừa kế (khoản 1Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015) để bảo đảm tính khách quan của di chúc,tránh trường hợp những người này chỉnh sửa, giả mạo di chúc hoặc làm cho dichúc vô hiệu Người thừa kế bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa

kế theo pháp luật

Đối với người thừa kế theo di chúc thì việc không cho phép họ làm chứng

về việc định đoạt tài sản cho chính bản thân mình là điều hoàn toàn hợp lý, vìviệc làm chứng để định đoạt tài sản cho chính mình của họ không bảo đảm tínhkhách quan, độ tin cậy

Tuy nhiên, đối với quy định người làm chứng không phải là người thừa kếtheo pháp luật thì còn chưa hợp lý vì người thừa kế theo pháp luật gồm ba hàngthừa kế là rất rộng, nhưng trong một số trường hợp khẩn cấp, việc tìm kiếm mộtngười làm chứng rất khó khăn

Ví dụ như đối với loại di chúc miệng được lập trong tình trạng “khẩn cấp”thì rất khó để tìm người làm chứng đủ điều kiện Thiết nghĩ, nếu pháp luật hạnchế quyền làm chứng của tất cả những người thừa kế theo pháp luật thuộc bahàng thừa kế thì quá rộng, thông thường, người thừa kế được hưởng di sảnthường dừng lại ở hàng thừa kế thứ hai, do đó, có lẽ nên xem xét cân nhắc đểhàng thừa kế thứ ba được làm chứng bởi lẽ có những trường hợp người lập dichúc không thể tìm được hai người làm chứng có đủ điều kiện làm chứng choviệc lập di chúc miệng Trong trường hợp này, người lập di chúc thường lậpdưới dạng lời dặn dò những người thân trước khi chết, những người này lại

Trang 9

không đủ điều kiện trở thành người làm chứng nên làm cho di chúc vô hiệu mặc

dù họ rất khách quan, mong muốn thực hiện đúng di chỉ của người chết

Vì vậy, pháp luật nên sửa đổi là trong một số trường hợp thì người thừa kếtheo pháp luật cũng có thể trở thành người làm chứng nếu có căn cứ cho rằng họkhách quan khi làm chứng cho di chúc

b Trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người khiếmkhuyết về thể chất ảnh hưởng đến khả năng nhận thức (như mù, câm, điếc…)hay người nước ngoài không thành thạo tiếng Việt, những người không nghe,nói, đọc, viết được tiếng dân tộc của nhau thì không nên làm chứng cho một loạingôn ngữ mà mình không thành thạo, việc hạn chế quyền làm chứng của nhữngngười đó là hợp lý vì khả năng xác nhận, kiểm tra việc lập di chúc và nội dung

di chúc của họ thiếu khả thi

c Người làm chứng cho di chúc miệng phải là người biết chữ:

Đối với di chúc miệng thì người làm chứng có nghĩa vụ sau khi nghe dinguyện của người chết phải ghi chép lại bằng văn bản thì di chúc mới có thể hợppháp, nên đòi hỏi người làm chứng phải biết chữ mới diễn đạt lại ý chí người lập

di chúc thông qua chữ viết Người không biết chữ không được phép làm chứngcho việc lập di chúc Đối với di chúc miệng thì điều kiện người làm chứng phảibiết chữ mới có thể ghi chép lại di chúc miệng mặc dù trong tình trạng khẩn cấp.Trong điều kiện thông thường thì việc tìm kiếm một người làm chứng biết chữ

dễ dàng hơn, người làm chứng biết chữ mới có thể tự đọc lại bản di chúc và xácminh nó đúng với những gì mình nghe Vì vậy, cần bổ sung yêu cầu về ngườilàm chứng cho di chúc phải là người biết chữ

d Cả hai vợ chồng không được cùng làm chứng cho một di chúc Pháp luậtdân sự yêu cầu đối với loại di chúc phải có người làm chứng thì phải có ít nhất

là hai người làm chứng nhằm mục đích tránh sai lệch nội dung di chúc, nhữngngười làm chứng này sẽ kiểm soát hành vi của nhau bảo đảm tính khách quancủa di chúc Tuy nhiên, vợ chồng là mối quan hệ mật thiết, gần gũi với nhau,nên dễ dẫn đến thống nhất ý chí và bao che cho nhau nếu một trong hai bên cósai sót

15 Viết bằng ngôn ngữ nào ?

Trước đây, Điều 649 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, di chúc được lập thànhvăn bản và người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết vàtiếng nói của dân tộc mình

Trang 10

Đến Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ quy định về di chúc của ngườidân tộc thiểu số Theo đó, pháp luật chỉ quy định di chúc có thể được lập thànhvăn bản hoặc di chúc miệng mà không giới hạn về chữ viết và ngôn ngữ.

Pháp luật hiện hành không có quy định cấm người Việt Nam được lập dichúc bằng tiếng nước ngoài Do đó, vẫn có thể lập di chúc bằng tiếng nướcngoài theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật

Tuy nhiên, nếu di chúc được công chứng, chứng thực thì phải sử dụng ngônngữ tiếng Việt bởi Điều 6 Luật Công chứng 2014, tiếng nói và chữ viết dùngtrong công chứng là tiếng Việt

Lúc này, người yêu cầu công chứng có thể dịch bản di chúc từ tiếng nướcngoài sang tiếng Việt và công chứng, chứng thực như bình thường hoặc có thêmngười làm chứng

Do đó, nếu di chúc không công chứng, chứng thực thì có thể dùng ngônngữ nước ngoài tuy nhiên vẫn khuyến khích nên dùng tiếng Việt để tránh nhầmlẫn nội dung di chúc Còn di chúc qua công chứng thì bắt buộc phải là tiếngViệt

Không chỉ vậy, khi công bố di chúc, Điều 672 Bộ luật Dân sự 2015 quyđịnh, di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt vàphải có chứng thực hoặc công chứng

16 Ký hay điểm chỉ?

Pháp luật không có quy định nào phân biệt về việc người viết di chúc kýhay điểm chỉ Tuy nhiên thực tiễn cho thấy rằng ký có nhiều ưu điểm hơn điểmchỉ Ký sẽ thể hiện ý chí và sự minh mẫn của người lập tốt hơn và khó làm giả(điểm chỉ thì nhiều ng lợi dụng trong lúc người lập di chúc ngủ cũng cầm tay họđiểm chỉ dc)

17 Nếu viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu mà các bên vẫn hiểu được thì sao?

Khoản 3 Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2015, quy định về nội dung di chúcquy định rõ: "Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúcgồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểmchỉ của người lập di chúc Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người

tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa,sửa chữa "

Đối với nội dung của hợp đồng công chứng: Khoản 1 Điều 45 Luật Côngchứng 2014: "Chữ viết trong văn bản công chứng phải rõ ràng, dễ đọc, khôngđược viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, không được viết xen dòng, viết đè dòng,không được tẩy xoá, không được để trống, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác "

Trang 11

Như vậy, ngôn ngữ văn bản trong di chúc, hợp đồng công chứngkhông được phép viết tắt, kể cả những chữ viết tắt thông dụng.

18 Nếu có tranh chấp mà không thẩm định được chữ viết thì sao?

Khi có tranh chấp mà không thẩm định được chữ viết thì cần đến cơ quangiám định tư pháp:

Theo quy định tại Khoàn 2 Điều 12 Luật giám định tư pháp 2012 như sau:

“Điều 12 Tổ chức giám định tư pháp công lập

2 Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y bao gồm:

a) Viện pháp y quốc gia thuộc Bộ Y tế;

b) Trung tâm pháp y cấp tỉnh;

c) Viện pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng;

d) Trung tâm giám định pháp y thuộc Viện khoa học hình sự, Bộ Công an.

3 Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần bao gồm:

a) Viện pháp y tâm thần trung ương thuộc Bộ Y tế;

b) Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thuộc Bộ Y tế.

Căn cứ yêu cầu giám định pháp y tâm thần của hoạt động tố tụng và điều kiện thực tế của các khu vực, vùng miền trong cả nước, Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét, quyết định thành lập Trung tâm pháp y tâm thần khu vực sau khi thống nhất

ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

4 Tổ chức giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự bao gồm:

a) Viện khoa học hình sự thuộc Bộ Công an;

b) Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh;

c) Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.

5 Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương, Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh có giám định viên pháp y thực hiện giám định pháp y tử thi.

6 Tổ chức giám định tư pháp công lập có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật.

7 Chính phủ quy định chi tiết chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của tổ chức giám định tư pháp công lập quy định tại Điều này”.

Ngoài ra, còn có thể thực hiện giám định tại văn phòng giám định tư pháp,giám định viên tư pháp theo vụ việc

19 Khoản 3 Điều 631 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định là về nội dung hay hình thức của di chúc?

Căn cứ pháp lý: Khoản 3 Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 Nội dung của dichúc

Trang 12

“Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.”

Vậy, theo quy định này là quy định về hình thức của di chúc Hình thức là

bề ngoài của sự vật, chứa đựng hoặc biểu hiện nội dung Ở đây quy định “không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu” “mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ” thì là quy định về hình thức thể hiện của di chúc phải

viết đầy đủ, viết chữ, có đánh số trang, có chữ ký hoặc dấu điểm chỉ thể hiệntrên bản di chúc ấy

20 Nếu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 631 thì vô hiệu về hình thức hay nội dung ?

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Nộidung của di chúc

“1 Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản”

Theo quy định tại khoản 1 này về các nội dụng chủ yếu của của di chúc thìnếu thiếu, vi phạm một trong các nội dung chủ yếu đó thì không thể tuyên vôhiệu Di chúc chỉ vô hiệu khi vi phạm Điểm b, Khoản 1, Điều 630 Bộ Luật Dân

sự 2015 quy định: “Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật” Ta

sẽ phải căn cứ vào các nội dung sau của di chúc để xác định những nội dung chủyếu đó

21 Những người làm chứng phải có mặt đồng thời không?

Căn cứ pháp lý: Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Di chúc bằngvăn bản có người làm chứng

“Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể

tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.”

Ngày đăng: 20/08/2021, 05:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w