Cũng chính từ yếu tố hạn chế tiêu dùngnêu trên nên pháp luật cũng định rõ các hàng hóa nằm trong diện chịu thuế củaloại thuế này Ba là, thuế bảo vệ môi trường chia sẻ mục tiêu bảo vệ môi
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2 1 Khái quát về Thuế bảo vệ môi trường 2
2 Khái quát về Luật Thuế bảo vệ môi trường 6
3 Nội dung cơ bản của Luật Thuế bảo vệ môi trường 8
II PHÁP LUẬT VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁP LÝ 13
1 Nội dung cơ bản của pháp luật về Thuế bảo vệ môi trường ở Việt Namcủa một số nước trên thế giới 13
2 Nhận xét 17
3 Đề xuất giải pháp pháp lý 23
KẾT LUẬN 26
PHỤ LỤC 27
1
Trang 2MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường trở thành mối quan tâm hàngđầu trên phạm vi toàn cầu Thuế là công cụ chính sách được nhiều quốc giatrên thế giới sử dụng nhằm thực hiện mục đích bảo vệ môi trường Bảo vệ môitrường luôn được xác định là chủ trương, chính sách lớn, nhiệm vụ quan trọngcủa Đảng và Nhà nước ta Chính sách thuế nhằm bảo vệ môi trường của ViệtNam đã đạt được những kết quả nhất định Việc luật hóa các công cụ kinh tếtrong quản lí môi trường đã bắt đầu được triển khai áp dụng, tuy chưa nhiều.Các biện pháp này đã tạo ra động lực kinh tế cần thiết, làm thay đổi hành vicủa các chủ nguồn thải, khuyến khích họ tái chế, sử dụng chất thải nhằm tiếtkiệm tài nguyên và giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong quátrình hoạt động Một trong các công cụ kinh tế trong lĩnh vực bảo vệ môitrường không thể không nhắc tới đó là thuế bảo vệ môi trường Tuy nhiên,hiệu quả thực tế đối với mục tiêu bảo vệ môi trường hiện nay vẫn còn nhiềuhạn chế So với một số quốc gia trên thế giới thì ở Việt Nam, thuế môi trường
là công cụ kinh tế còn khá mới mẻ Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng
em xin tìm hiểu đề: “So sánh pháp luật về thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam
và thuế bảo vệ môi trường ở một số nước trên thế giới và đề xuất giải pháppháp lý cho Luật Thuế bảo vệ môi trường.”
2
Trang 3NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1 Khái quát về Thuế bảo vệ môi trường
a) Khái niệm, đặc điểm
Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường.
Với cách định nghĩa như trên, thuế bảo vệ môi trường có những đặc điểm sau:
Một là, thuế bảo vệ môi trường là một loại thuế gián thu giống như một số loại
thuế tiêu dùng khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Người tiêudùng sản phẩm cuối cùng là người gánh tiền số tiền thuế được xác định trong
số tiền thanh toán
Hai là, mục đích hướng tiêu dùng được thể hiện khá rõ ràng ở loại thuế này.
Các mặt hàng thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường đều có tác động xấu đếnmôi trường khi sử dụng chúng Để giảm thiểu việc sử dụng các hàng hóa gâytổn hại môi trường bằng việc làm tăng giá thanh toán đối với hàng hóa đó, tạođiều kiện để người tiêu dùng chuyển thói quen sang sử dụng hàng hóa thânthiện với môi trường là điều cần thiết Cũng chính từ yếu tố hạn chế tiêu dùngnêu trên nên pháp luật cũng định rõ các hàng hóa nằm trong diện chịu thuế củaloại thuế này
Ba là, thuế bảo vệ môi trường chia sẻ mục tiêu bảo vệ môi trường thông qua
thuế của một số loại thuế tiêu dùng khác Thay bằng việc thay đổi mức thuếsuất hoặc mở rộng diện chịu thuế đối với thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặcbiệt , thậm chí thuế nhập khẩu, việc đánh thuế bảo vệ môi trường không chỉ
3
Trang 4tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước (trong đó có sử dụng cho việc tái tạomôi trường) mà còn chia sẻ mục tiêu cho các loại thuế suất
b) Mục đích, vai trò
Thuế môi trường góp phần làm thay đổi hành vi của các chủ thể kinh doanh
và tiêu dùng theo hướng có lợi cho môi trường hay nói cách khác, thuế môi
trường có vai trò và ý nghĩa trong việc định hướng sản xuất và tiêu dùng – sảnxuất, nhập khẩu hàng hóa “sạch” Thông qua việc tác động trực tiếp vào lợiích kinh tế của các chủ thể liên quan mà chủ yếu là người gây ô nhiễm, cácquy định về thuế môi trường sẽ làm thay đổi hành vi của họ theo hướng có lợicho môi trường Theo đó, những người gây ô nhiễm hoàn toàn có lí do đểgiảm lượng chất thải mà họ thải ra chừng nào chi phí cho việc này thấp hơncác chi phí về môi trường mà họ phải trả Xét về lâu dài trong nền kinh tế thịtrường, những công cụ kinh tế nói chung trong đó có thuế môi trường còn cóthể làm nhiều hơn những gì một tiêu chuẩn môi trường đòi hỏi
Thuế môi trường góp phần khuyến khích sự năng động, sáng tạo trong nghiên cứu và ứng dụng những quy định công nghệ phù hợp để giảm thiểu chất thải,
qua đó tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quảkinh doanh Vai trò này của thuế môi trường được thể hiện ở chỗ, nó khuyếnkhích các chủ nguồn thải nghiên cứu và ứng dụng những quy trình công nghệphù hợp nhất với khả năng của họ để giảm thiểu lượng chất thải phát sinh Bởi
lẽ, không phải chủ nguồn thải nào cũng có khả năng dồi dào về tài chính Các
cơ sở công nghiệp nhỏ và tiểu thủ công nghiệp thường gặp rất nhiều khó khăn
về vấn đề này Vì thế, nếu nhà nước quản lý theo phương cách mệnh lệnhhành chính nghĩa là áp đặt một loại thiết bị công nghệ nhất định mà cơ sở phảiđầu tư để giảm thiểu chất thải thì sẽ có thể vượt quá khả năng tài chính cũngnhư trình độ công nghệ của cơ sở đó Như vậy có thể thấy thuế môi trường có
4
Trang 5vai trò điều chỉnh kinh tế vĩ mô theo hướng tích cực, có tác dụng khuyếnkhích người gây ô nhiễm chủ động lưa chọn những biện pháp tối ưu để giảmthiểu ô nhiễm, vừa có lợi cho mình vừa bảo vệ môi trường, kích thích sự pháttriển công nghiệp và tăng cường công tác nghiên cứu và phát triển “sản xuấtsạch”.
Thuế môi trường còn tạo ra sự chủ động cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong quá trình hoạt động cũng như chủ động ứng phó với các sự cố môi
trường có thể xảy ra Thuế môi trường được sử dụng có vai trò, ý nghĩa đó là
sẽ tạo cho các đối tượng này tự giác thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ứngphó sự cố, làm cho họ chủ động hơn trong việc giảm thiểu những tác động bấtlợi cho môi trường khi sự cố xảy ra để đảm bảo lợi ích kinh tế của chính họ.Hơn nữa, chính vì việc thuế môi trường đánh vào những hàng hóa gây hại, cótác động xấu đến môi trường cho nên trên phương diện xã hội, thuế môitrường được sự ủng hộ của xã hội nhiều hơn
Sử dụng công cụ kinh tế nói chung trong đó có thuế môi trường có vai tròtrong việc có thể làm giảm bớt gánh nặng quản lý cho hệ thống cơ quan quản
lý nhà nước về bảo vệ môi trường Với sức ép về các vấn đề môi trường đangđặt ra hiện nay, cùng với phương thức quản lý mệnh lệnh hành chính là chủyếu, các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường luôn bị đặt trong tìnhtrạng quá tải về công việc Thay vì việc các cơ quan quản lý nhà nước phảithường xuyên giám sát, theo dõi việc thực hiện các quyết định hành chính đãđặt ra cho các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh, thuế môitrường buộc các đối tượng này tự nguyện thực hiện những hành vi có lợi chomôi trường Bởi vì, lợi ích kinh tế của chính cơ sở đã bị gắn chặt bởi nhữngtổn hại về môi trường mà họ có thể gây ra Do đó, không cần đến sự kiểm tra,giám sát thường xuyên và gắt gao của các cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ
5
Trang 6môi trường, các cơ sở này cũng đã tự nguyện tiến hành các biện pháp giảmthiểu ô nhiễm Khi đó gánh nặng quản lí của các cơ quan nhà nước đã đượcgiảm thiểu một cách đáng kể.
2 Khái quát về Luật Thuế bảo vệ môi trường
a) Sự cần thiết của Luật Thuế bảo vệ môi trường
Trước năm 2010, nước ta chưa có một sắc thuế riêng nào về bảo vệ môitrường để thu vào hàng hoá khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường nhằm hạnchế sản xuất và tiêu dùng hàng hóa loại này Tuy nhiên, Chính phủ đã banhành và thực thi nhiều biện pháp tài chính nhằm khuyến khích nhà đầu tưtham gia trực tiếp các hoạt động xử lý ô nhiễm môi trường, sử dụng tiếtkiệm và có hiệu quả các nguồn tài nguyên và huy động một phần đóng gópcủa đối tượng xả thải vào việc khôi phục môi trường Các biện pháp nàyđược thực hiện trong một số loại thuế như thuế đất, thuế sử dụng đất nôngnghiệp, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp
và thông qua các khoản phí, lệ phí thu đối với các hoạt động liên quan tớimôi trường như: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí bảo vệ môitrường đối với khai thác khoáng sản, phí bảo vệ môi trường đối với chấtthải rắn Ngoài ra, một số chính sách thuế như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuếthu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng có những ưuđãi cho hoạt động bảo vệ môi trường
6
Trang 7Một mặt, các khoản thu phí bảo vệ môi trường đã tạo thêm nguồn thu, gópmột phần chi đầu tư giải quyết các vấn đề về môi trường, đồng thời gópphần thay đổi nhận thức và hành vi của tổ chức, cá nhân trong việc giữ gìnmôi trường, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong cộng đồng.Việc quy định ưu đãi thuế đối với lĩnh vực môi trường đã làm cho cácdoanh nghiệp có ý thức hơn trong việc tìm các biện pháp nhằm hạn chế tácđộng bất lợi do hoạt động sản xuất của mình gây ra cho môi trường; quantâm áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến để giảm bớt xả thải chất độchại ra môi trường Thúc đẩy doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng công nghệsạch vào sản xuất, nghiên cứu sử dụng nguyên liệu thay thế nguyên liệuhoá thạch để sản xuất các sản phẩm thân thiện môi trường, thay thế các sảnphẩm gây ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, nguồn thu từ các loại phí bảo vệ môi trường còn rất hạn chế docác loại phí này có tính pháp lý thấp, mức thu thấp nên tác động, hiệu quảkhông cao Đối với các chính sách thuế như trên đã đề cập, mục tiêu bảo vệmôi trường không phải là mục tiêu chính, vì vậy việc khuyến khích đầu tưsản xuất sản phẩm thân thiện môi trường, khuyến khích đầu tư vào các dự
án làm sạch môi trường, không thu thuế nhập khẩu hoặc thu mức thuế suấtthấp khi mua các sản phẩm, thiết bị liên quan đến hoạt động bảo vệ môitrường đã góp một phần vào mục tiêu bảo vệ môi trường nhưng chưa tácđộng trực tiếp đến hành vi tiêu dùng và hoạt động sản xuất các sản phẩmgây tác động xấu đến môi trường Vì vậy, cần thiết phải xây dựng chínhsách thuế riêng về bảo vệ môi trường để thu vào các sản phẩm gây ônhiễm, những sản phẩm mà việc sử dụng chúng gây tác động xấu tới môitrường
Trang 8Ngày 15/11/2010, Quốc đã thông qua Luật thuế bảo vệ môi trường và cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 Luật quy định về đối tượng chịuthuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, khaithuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường Luật được banhành có vai trò quan trọng trong việc tạo khuôn khổ pháp lí đồng bộ, ổnđịnh điều chỉnh toàn diện các hành vi tác động tiêu cực đến môi trườngnhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phầnlàm thay đổi hành vi của tổ chức, cá nhân, nâng cao ý thức bảo vệ môitrường trong đầu tư, sản xuất, tiêu dùng, khắc phục hạn chế trong chínhsách thu hiện hành, tạo nguồn lực tài chính bù đắp chi phí bảo vệ môitrường bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển bền vững,khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
c) Khái niệm, cấu trúc
Luật Thuế bảo vệ môi trường là văn bản quy phạm pháp luật nằm trong hệthống pháp luật Việt Nam quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng khôngchịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế vàhoàn thuế bảo vệ môi trường
3 Nội dung cơ bản của Luật Thuế bảo vệ môi trường
a) Đối tượng chịu thuế
Theo Luật Thuế bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2010, gồm có nhóm đốitượng chính:
Nhóm 1: Xăng, dầu, mỡ nhờn, bao gồm: xăng, trừ etanol; nhiên liệu bay; dầu diezel; dầu hoả; dầu mazut; dầu nhờn; mỡ nhờn Đây là các sản phẩm có chứa
một số chất hoá học như chì, lưu huỳnh mà ngay cả khi chưa sử dụng, cácchất chứa trong các loại xăng dầu đã phát thải ra môi trường và gây ảnh hưởng
Trang 9xấu đến môi trường Ở Việt Nam hiện nay, xăng dầu là yếu tố đầu vào của hầuhết các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế Đồng thời, xăng dầucòn là mặt hàng không thể thiếu nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùngcủa người dân, đặc biệt là nhu cầu đi lại Theo đó, xăng, dầu được sử dụngtrên phạm vi rất rộng, với số lượng tiêu thụ hàng năm là vô cùng lớn, gây ratình trạng ô nhiễm môi trường trên diện rộng, đặc biệt là ở các đô thị và cácthành phố lớn Vì vậy, việc đưa các sản phẩm xăng dầu vào đối tượng chịuthuế nhằm mục tiêu khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả;khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo.
Nhóm 2: Than đá, bao gồm than nâu, than antraxit, than mỡ, than đá khác:
khi được sử dụng cho mục đích đốt cháy sẽ thải ra môi trường các loại khí như
CO2, SO2 đều là các khí gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và lànguyên nhân của hiện tượng môi trường nguy hiểm như mưa axit Phạm vi sửdụng than cũng rộng khắp nên việc đưa than đá vào đối tượng chịu thuế cũngnhằm mục tiêu khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; giảm sựphụ thuộc vào năng lượng có nguồn gốc hoá thạch, khuyến khích sử dụngnăng lượng tái tạo
Nhóm 3: Dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC): dùng làm môi chất
sử dụng trong thiết bị lạnh và trong công nghiệp bán dẫn Sự phát thải chấtHCFC vào khí quyển, làm ô nhiễm bầu không khí và là nguyên nhân chínhgây suy giảm tầng ôzôn và gây hiệu ứng nhà kính Việt Nam đã tham gia kýkết Nghị định thư Montreal về hạn chế sử dụng các chất làm suy giảm tầngôzôn Theo đó, các nước đang phát triển (trong đó có nước ta) sẽ phải loại trừhoàn toàn việc sử dụng HCFC vào năm 2030 Việc đưa chất HCFC vào đốitượng chịu thuế bảo vệ môi trường sẽ góp phần vào việc thực hiện cam kếtNghị định thư Montreal ở Việt Nam, khuyến khích doanh nghiệp giảm dần sử
Trang 10dụng HCFC bằng việc chuyển đổi công nghệ sản xuất Tổ chức, cá nhân sảnxuất, nhập khẩu dung dịch HCFC thì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môitrường.
Nhóm 4: Túi nilon: được làm từ màng nhựa đơn, là sản phẩm phải trải qua
thời gian rất lâu để phân hủy (có thể tới hàng trăm năm) hoặc không thể tựphân hủy được Túi nilon thải bỏ sau khi sử dụng sẽ tích tụ trong đất gây suythoái môi trường đất Khi bị phân hủy thì còn sinh ra các chất làm đất bị trơ,không giữ được độ ẩm và dinh dưỡng cho cây trồng Việc đưa túi nhựa xốpvào đối tượng chịu thuế nhằm mục tiêu nâng cao ý thức bảo vệ môi trườngcủa toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi hành vi của người tiêu dùng trongviệc sử dụng túi nhựa xốp, khuyến khích sản xuất các sản phẩm thay thế thânthiện hơn với môi trường
Nhóm 5: Thuốc diệt cỏ, thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho thuộc diện hạn chế sử dụng: là những hợp chất độc có nguồn gốc từ
tự nhiên hoặc tổng hợp từ các chất hóa học được dùng để phòng trừ dịch hạitrên cây trồng và bảo quản nông sản hay còn gọi là thuốc bảo vệ thực vật Vìgiá thành thấp và chưa có nguồn thông tin đầy đủ, người dân hiện đang lạmdụng, sử dụng không đúng thời hạn, liều lượng các loại thuốc bảo vệ thực vật,dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ ngườidân Vì vậy, việc đưa các sản phẩm trên thuộc nhóm hạn chế sử dụng vào đốitượng chịu thuế là cần thiết, nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng,khuyến khích họ thay đổi thói quen sử dụng lạm dụng, giảm thiểu những táchại xấu của hoá chất bảo vệ thực vật đối với môi trường
d) Đối tượng không chịu thuế
+ Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển qua cửa khẩu biên giới ViệtNam
Trang 11+ Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của phápluật
+ Hàng hóa do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinhdoanh xuất khẩu để xuất khẩu, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhânmua hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường để xuất khẩu
Lý do không đánh thuế bảo vệ môi trường với các sản phẩm hàng hoá nêu trên
vì các sản phẩm này không được sử dụng trong nước nên không phải nguồngây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam Trong quá trình sản xuất các sản phẩmnày, nếu doanh nghiệp xả thái ra môi trường các chất gây ô nhiễm thì phải nộpphí bảo vệ môi trường Ngoài ra, việc không đánh thuế bảo vệ môi trường đốivới hàng hoá xuất khẩu còn giúp đảm bảo tính cạnh tranh của hàng hoá khíxuất khẩu ra nước ngoài
f) Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế BVMT là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối
Về số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau:
Trang 12+ Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là sốlượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyếnmại, quảng cáo.
+ Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hànghóa nhập khẩu
Đối với trường hợp số lượng hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường xuất, bán
và nhập khẩu tính bằng đơn vị đo lường khác đơn vị quy định tính thuế tạibiểu mức thuế Bảo vệ môi trường do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thìphải qui đổi ra đơn vị đo lường quy định tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường
để tính thuế
+ Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoáthạch và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hoá tính thuế trong kỳ là sốlượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợpnhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộđược quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hoá tương ứng.Cách xác định như sau:
Số lượng xăng, dầu,
mỡ nhờn gốc hoá
thạch tính thuế
=
Số lượng nhiênliệu hỗn hợp nhậpkhẩu, sản xuất bán ra,tiêu dùng, trao đổi,tặng cho
X
Tỷ lệ phần trăm (%)xăng, dầu, mỡ nhờngốc hoá thạch cótrong nhiên liệu hỗnhợp
g) Biểu khung, mức thuế:
Biểu khung thuế: Bảng 1, Phụ lục
Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 đã quy định Biểu khung thuế với mứcthuế tuyệt đối tối thiểu và mức thuế tuyệt đối tối đa Các mức thuế tuyệt đốitối thiểu và tối đa được xây dựng theo nguyên tắc phân biệt theo mức độ gây
Trang 13tác động xấu đến môi trường và có tính đến việc kế thừa chính sách thu hiệnhành (phí xăng dầu, phí bảo vệ môi trường) để không tác động lớn đến sảnxuất, tiêu dùng, không xáo trộn việc quản lý thu thuế.
Do biểu thuế có sự dao động giữa mức tối thiểu và tối đa nên Uỷ ban thường
vụ Quốc hội có quyền quyết định mức thuế cụ thể trong giới hạn biểu thuế ápdụng cho từng mặt hàng cụ thể
3 Hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanhhàng tạm nhập, tái xuất
4 Hàng hóa nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu ra nước ngoài;
5 Hàng hóa tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sảnphẩm theo quy định của pháp luật khi tái xuất khẩu ra nước ngoài
i) Ưu đãi thuế
Chưa có quy định về vấn đề ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế theo tinh thần củamột số luật về thuế khác
Trang 14II PHÁP LUẬT VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐNƯỚC TRÊN THẾ GIỚI – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁP LÝ
1 Nội dung cơ bản của pháp luật về Thuế bảo vệ môi trường của một
số nước trên thế giới
- Miễn thuế:
1 Chất thải từ sản xuất nông nghiệp (không bao gồm nuôi trồng quy mô hóa)
2 Chất thải từ xe máy, đầu xe lửa, tàu thuyền, máy bay và các nguồn ô nhiễm
di động khác
3 Chất thải từ khu xử lý nước, rác thải sinh hoạt, được công nhận theo quy
định của pháp luật, trừ trường hợp vượt quá tiêu chuẩn quy định của địaphương và Nhà nước
4 Chất thải thể rắn được tái sử dụng bởi người nộp thuế phù hợp với tiêuchuẩn của địa phương và Nhà nước
5 Các trường hợp khác được bộ ngoại giao phê chuẩn
- Căn cứ tính thuế và mức thuế:
Căn cứ tính thuế dựa trên chất gây ô nhiễm phải chịu thuế
Trang 15Tính thuế: Số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng đơn vị ô nhiễm nhân vớithuế suất bảo vệ môi trường của các đối tượng phải chịu thuế.
- Biểu khung thuế: Bảng 2, Phụ lục
j) Châu Âu
Theo OECD, pháp luật về thuế bảo vệ môi trường của đa số các nước Châu
Âu được chia làm bốn nhóm chính: năng lượng, ô nhiễm, tài nguyên và vậntải Trong đó:
Sản phẩm năng lượng chomục đích ổn định
Khí gaThanDầu nhờnTiêu thụ và sản xuất điện năngTiêu thụ và sản xuất nhiệt năngKhác
Khí thải nhà kính Nhiên liệu chứa carbon
Khí thải nhà kínhGiao
thông
vận tải
Nhập khẩu, mua bánphương tiện giao thôngĐăng kí hoặc sử dụngphương tiện giao thôngPhí đường bộ
Các loại phương tiện giaothông khác (tàu, thuyền,máy bay, tàu điện,…)Dịch vụ hàng khôngBảo hiểm xe cộ