Pháp luật luôn trao quyền hưởng di sản thừa kế cho những người xứng đáng, đồng thời cũng đặt ra quy định nhằm hạn chế quyền hưởng thừa kế của những người có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức và của những người mà người để lại di sản không muốn cho họ hưởng di sản. Khi một người chết đi, một trong những điều kiện quan trọng để những người thừa kế của họ có quyền hưởng di sản đó là những người thừa kế không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản, tức là những người thừa kế không bị truất quyền, không bị tước quyền hưởng di sản. Để tìm hiểu rõ hơn về quy định pháp luật về vấn đề người không có quyền hưởng di sản thừa kế, em lựa chọn đề tài số 12: “Người không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật dân sự” cho bài tập tiểu luận
Trang 1về quy định pháp luật về vấn đề người không có quyền hưởng di sản thừa kế, em lựa
chọn đề tài số 12: “Người không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật dân sự” cho bài tập tiểu luận
NỘI DUNG
I Khái quát chung về người thừa kế
1.1 Khái niệm người thừa kế
1.1.1 Định nghĩa
Người thừa kế là người được hưởng di sản của người chết theo di chúc củangười đó hoặc theo quy định của pháp luật Người thừa kế có thể là cá nhân hoặckhông là cá nhân
Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc không là cá nhân Những chủthể không phải cá nhân có thể là: pháp nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân.Người thừa kế theo di chúc được xác định bởi ý chí của người để lại di sản và đượcxác định trong di chúc mà người để lại di sản lập Do đó, người thừa kế the di chúc cóthể là một cá nhân, tổ chức hoặc một chủ thể bất kì, miễn là được xác định trong dichúc mà không cần xét đến họ có mối quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, huyết thống vớingười để lại di sản hay không
Người thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân Pháp luật quy định những ngườiđược hưởng di sản thừa kế trong trường hợp phân chia di sản theo pháp luật là nhữngngười có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản Đólà: vợ chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông bà nội/ngoại, anh chị emruột, cháu ruột; cụ nội/ngoại, bác, chú, cậu, dì ruột, cháu ruột, chắt ruột Về khía cạnhpháp lý, giữa họ có những quyền và nghĩa vụ pháp lý với nhau theo quy định của phápluật Về khía cạnh truyền thống, đạo đức, họ là những người có mối quan hệ khăngkhít và gắn bó với nhau, đó có thể là tình thân “máu mủ ruột rà”, nuôi dưỡng nhau,hoặc tình nghĩa vợ chồng Hơn nữa, cũng vì mối quan hệ khăng khít với người đã chết
Trang 2mà sau khi người để lại di sản mất, những người này còn phải gánh vác những tráchnhiệm về đạo đức, thờ cúng, chăm lo mộ phần, hương hỏa cho cha mẹ, ông bà, tổtiên… Do đó, những người có mối liên hệ chặt chẽ với người để lại di sản trong quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng là những người thừa kế củangười chết, được xếp vào các hàng thừa kế tương ứng và được hưởng thừa kế
1.1.2 Điều kiện hưởng di sản của người thừa kế
- Phải là người còn sống hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kếnhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết (nếu người thừa kế là cá nhân)hoặc phải còn tồn tại (nếu người thừa kế không phải cá nhân) vào thời điểm mở thừakế
- Không thược trường hợp bị tước quyền hưởng di sản theo quy định tại điều
621 Bộ luật Dân sự 2015
- Không bị người dể lại di sản truất quyền hưởng di sản bằng một di chúc cóhiệu lực pháp luật (Trừ trường hợp người đó là người thừa kế không phụ thuộc vào nộidung di chúc theo quy định tại điều 644 Bộ luật Dân sự 2015)
Ngoài những điều kiện trên, pháp luật không quy định các điều kiện về tư cáchchủ thể của người thừa kế Trong thừa kế, ai là người được người chết dịch chuyển disản thừa kế thì người đó là người thừa kế, bất luận họ có năng lực hành vi hay không(đối với cá nhân) hoặc họ có tư cách pháp nhân hay không (đối với cơ quan, tổ chứcđược hưởng thừa kế theo di chúc)1
1.2 Khái quát chung về người không có quyền hưởng di sản
Thông thường, những người thuộc diện và hàng thừa kế của người chết hoặcnhững người được chỉ định trong di chúc sẽ là những người được hưởng di sản thừa
kế Tuy nhiên, người thừa kế muốn được hưởng di sản cần phải là người xứng đángđược hưởng; tức là họ không thuộc những trường hợp mất quyền hưởng di sản Ngườikhông có quyền hưởng di sản bao gồm: người bị tước quyền hưởng di sản và người bịtruất quyền hưởng di sản
1.2.1 Người bị tước quyền hưởng di sản
Người bị tước quyền hưởng di sản là những người đáng nhẽ được hưởng di sảnnhưng bị tước đi quyền hưởng di sản do đã thực hiện hành vi trái pháp luật, trái đạođức xã hội Người bị tước quyền hưởng di sản bao gồm người thừa kế theo pháp luật
và người thừa kế theo di chúc, đó là những người đáng nhẽ được hưởng thừa kế khiphân chia di sản theo pháp luật hoặc đã được người lập di chúc cho hưởng di sản theo
di chúc Những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức dẫn đến bị tước quyền hưởng di sản
có thể là: hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạnh, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãinghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhânphẩn người đó; hành vi xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng mộtphần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; hành vi lừa dối,
Trang 3cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửachữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sảntrái với ý chí của người để lại di sản Đây đều là những hành vi xâm phạm nghiêmtrọng đến quyền, lợi ích của người để lại di sản và của những người thừa kế khác,đồng thời, những hành vi này trái đạo đức, chuẩn mực xã hội do đó, nhà làm luật đãđưa ra quy định nhằm trừng phạt, răn đe, giáo dục
1.2.2 Người bị truất quyền hưởng di sản
Người bị truất quyền hưởng di sản là người đáng lẽ được hưởng di sản theopháp luật những quyền đó đã bị phế truất bởi ý chí của người để lại di sản ghi nhậntrong di chúc, do đó, họ trở thành người không có quyền hưởng di sản Khác vớingười bị tước quyền hưởng di sản, người bị truất quyền hưởng di sản chỉ có thể làngười thừa kế theo pháp luật Người để lập di chúc có quyền định đoạt tài sản củamình và cũng có quyền truất quyền hưởng di sản của những người đáng nhẽ đượchưởng di sản mà không cần đưa ra lý do trong di chúc Việc cho một người đượchưởng hay không được hưởng di sản phụ thuộc vào ý chí, tình cảm, quan điểm củangười lập di chúc mà không phụ thuộc vào quy định pháp luật Tuy nhiên, nhữngngười thừa kế bị truất quyền vẫn có thể được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suấtcủa một người thừa kế theo pháp luật nếu: người thừa kế là con chưa thành niên, cha,
mẹ, vợ, chồng, con thành niên mà không có khả năng lao động
Trong các văn bản pháp luật về thừa kế của Việt Nam từ trước đến nay đều chỉquy định về người không được quyền hưởng di sản và người bị truất quyền hưởng disản Đến Bộ luật Dân sự 2015, khi quy định về các trường hợp bị tước bỏ quyềnhưởng di sản, nhà làm luật vẫn sử dụng cụm từ “người không được quyền hưởng disản” Người bị truất quyền và người bị tước quyền đều là những người không cóquyền hưởng di sản nhưng việc sử dụng cụm từ “người không được quyền hưởng disản” để nói đến chủ thể bị tước quyền hưởng di sản là không hợp lý, có thể dẫn nhầmlẫn trong việc áp dụng pháp luật
II Quy định của pháp luật Việt Nam về người không có quyền hưởng di sản
2.1 Quy định về người bị truất quyền hưởng di sản
Trong các văn bản pháp luật trước đây cũng như pháp luật hiện hành về thừa kếchỉ sử dụng thuật ngữ truất quyền thừa kế khi quy định về quyền của người lập di
chúc, cụ thể, theo quy định tại điều 626 Bộ luật Dân sự 2015: “Người lập di chúc có quyền sau đây: Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế”.
Các vấn đề liên quan đến việc truất quyền thừa kế như người truất quyền, người bịtruất quyền, quyền và hạn chế quyền của người lập di chúc trong việc truất quyềnhưởng di sản, hậu quả pháp lý của truất quyền đều phải hiểu theo phương diện lý luận
Trang 42.1.1 Người bị truất quyền hưởng di sản
Theo quy định tại khoản 1 điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc cóquyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế Việc quy định như vậy tạo thành 2cách hiểu: (1) người bị truất quyền hưởng di sản bao gồm người thừa kế theo pháp luật
và người thừa kế theo di chúc; (2) người bị truất quyền thừa kế là người thừa kế theopháp luật
Người bị truất quyền thừa kế là người vốn dĩ có quyền thừa kế nhưng nay ngườilập di chúc không cho họ hưởng quyền đó, người vốn dĩ không có quyền thừa kế thìkhông bị truất quyền do đó, cần loại trừ trường hợp người thừa kế theo di chúc khôngphải người thừa kế theo pháp luật Tức là người thừa kế theo di chúc nhưng khôngphải người thừa kế theo pháp luật không là người bị truất quyền thừa kế; người bị truấtquyền thừa kế chỉ có thể là người thừa kế theo pháp luật, tức là loại trừ trường hợpngười bị Bởi lẽ, ý nghĩa của việc truất quyền đó là không cho một chủ thể đượchưởng quyền mà nhẽ ra họ được hưởng Người để lại di sản truất quyền thừa kế củamột người tức là người để lại di sản không cho người thừa kế hưởng quyền thừa kế mànhẽ ra họ được hưởng Trường hợp, người thừa kế trong di chúc không phải là ngườithừa kế theo pháp luật, người đó được hưởng di sản thừa kế theo ý chí của người lập dichúc, họ chỉ có quyền hưởng di sản khi được xác định trong di chúc; trường hợpkhông được xác định trong di chúc thì họ không được hưởng vì lí do họ vốn không cóquyền chứ không phải do họ có quyền nhưng bị người để lại di sản không cho hưởngquyền; do đó, trong trường hợp này không liên quan gì đến truất quyền
Đồng thời, cần phân biệt người bị truất quyền hưởng di sản với người khôngđược hưởng di sản theo di chúc Người không được hưởng di sản theo di chúc vẫn làngười thừa kế, họ không có quyền hưởng di sản theo di chúc nhưng vẫn có thể đượchưởng thừa kế nếu họ là người thừa kế theo pháp luật, không thuộc trường hợp bị tướcquyền, từ chối quyền Những người bị truất quyền thừa kế đương nhiên không đượchưởng di sản theo di chúc, đồng thời, họ cũng không có quyền hưởng di sản khi di sảnđược phân chia theo pháp luật Như vậy, người không được hưởng di sản theo di chúcvẫn là người thừa kế theo luật của người lập di chúc nhưng người bị truất quyền thìkhông không còn là người thừa kế theo luật của người thừa kế theo luật của người lập
di chúc
2.1.2 Căn cứ xác định người bị truất quyền hưởng di sản
Điều 626 Bộ luật Dân sự Bộ luật Dân sự 2015 quy định, người lập di chúc cóquyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, theo đó, việc truất quyền hưởng disản của người thừa kế được xác định phụ thuộc vào nội dung di chúc do người để lại
di sản lập Di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản nhằm chuyển tài sản củamình cho người khác sau khi chết Do đó, di chúc là căn cứ xác định người thừa thế có
bị truất quyền hưởng di sản hay không
Trang 5Người thừa kế được xác định là người bị truất quyền hưởng di sản chỉ khi phần
di chúc liên quan đến việc truất quyền hưởng di sản có hiệu lực pháp luật Theo quyđịnh tại điều 643 Bộ luật Dân sự 2015, điều kiện có hiệu lực đối với phần di chúc liênquan đến việc truất quyền hưởng di sản là phần di chúc đó phải hợp pháp Trong đó,điều kiện quan trọng nhất đó là phần di chúc lên quan đến việc truất quyền hưởng disản phải hợp pháp
Theo quy định tại điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp được quyđịnh như sau:
“Điều 630 Di chúc hợp pháp
1 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức
xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5 Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”
Theo đó, di chúc hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể lập di chúc,mặt hình thức và nội dung của di chúc Đối với chủ thể lập di chúc, người lập di chúccần có đủ năng lực hành vi dân sự, đảm bảo khả năng làm chủ ý chí, minh mẫn, sángsuốt trong khi lập di chúc, toàn bộ nội dung trong di chúc phải phù hợp với ý chí củangười lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép Trường hợp người lập di chúc
là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản
và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc Di chúc củangười bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làmchứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực Về mặt nội dung, nộidung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Về mặthình thức, di chúc không trái quy định pháp luật về hình thức của di chúc Hình thức
Trang 6người làm chứng, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng vănbản có công chứng, di chúc bằng văn bản có chứng thực) Đối với mỗi hình thức khácnhau của di chúc, nhà làm luật đã đặt ra những yêu cầu khác nhau về mặt hình thứccần phải tuân thủ để đảm bảo tính chính xác, thể hiện đúng ý chí của người lập dichúc, hạn chế tối đa những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người đểlại di sản và người thừa kế.
2.1.3 Hậu quả pháp lý của việc truất quyền hưởng di sản
Việc bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản dẫn đến việc người bị truấtkhông còn là người thừa kế của người bị truất quyền nữa, do đó, sẽ dẫn đến các hậuquả pháp lý sau:
Thứ nhất, người bị truất quyền hưởng di sản không được hưởng di sản củangười chết để lại Người bị truất quyền hưởng di sản không chỉ không có quyền đượchưởng di ản theo di chúc mà người bị truất quyền hưởng di sản cũng không đượcquyền hưởng di sản ngay cả khi di sản được chia theo pháp luật
Ví dụ: Ông A có vợ là bà B, có 3 người con chung là M, N, H và có tài sản là 5
tỷ đồng cùng một quyền sử dụng đất, M có con là cháu X, H có con là cháu Y Ông Alập di chúc nội dung sau: định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất cho bà B, định đoạt 5 tỷđồng cho H, truất quyền hưởng di sản của M, di chúc của ông A là hợp pháp Ông Achết năm 2019, H chết năm 2018 Do H chết trước khi ông A chết nên phần di chúcđịnh đoạt quyền hưởng di sản của H không có hiệu lực, phần di sản 5 tỷ sẽ phân chiatheo pháp luật Do M bị truất quyền hưởng di sản thừa kế theo nội dung di chúc hợppháp của ông A nên M không còn là người thừa kế của ông A, M không có quyềnhưởng di sản theo pháp luật
Thứ hai, con của người bị truất quyền hưởng di sản không được thừa kế thế vị
Theo quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự 2015:“Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.” Theo đó, trường hợp con
của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thìcháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống;nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắtđược hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống Tuynhiên, trường hợp con của người để lại di sản là người đã bị truất quyền hưởng di sản,con của người để lại di sản không có quyền hưởng di sản nên cháu của người để lại disản cũng không có quyền hưởng di sản theo trường hợp thừa kế thế vị Tức là, vì chahoặc mẹ không được hưởng di sản khi còn sống nên con của người để lại di sản đã bịtruất quyền hưởng di sản chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại disản thì cháu không được thế quyền hưởng di sản
Trang 72.1.4 Trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Những người bị truất quyền thừa kế theo nội dung di chúc sẽ không được hưởng
di sản của người để lại di sản, tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho những người thânthích mà người để lại di sản có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, nhà làm luật đã quyđịnh cụ thể trường hợp những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Cụ thể, khoản 1 điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
Theo đó, những người là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thànhniên mà không có khả năng lao động của người để lại di sản là những người thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung di chúc, được hưởng tối thiểu 2/3 suất của một ngườithừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, kể cả trong trường hợpngười đó bị truất quyền hưởng di sản thì vẫn được hưởng di sản theo mức tối thiểu
Pháp luật luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của người sở hữu tài sản trước khichết, tuy nhiên pháp luật cũng đặt ra những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi củanhững người thân thích của người để lại di sản Họ đều là những chủ thể mà người đểlại di sản khi còn sống có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, là những người
có quan hệ thân thiết, gắn bó nhất đối với người để lại di sản, do đó, họ xứng đángđược hưởng di sản thừa kế mà người thân của mình sau khi chết Có thể vì nhiềunguyên nhân mà người để lại di sản truất quyền hưởng di sản của những người nàynhưng dù có bị truất thì những người này vẫn được hưởng di sản ít nhất bằng 2/3 mộtsuất thừa kế theo pháp luật
2.2 Người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại điều 621 Bộ luật Dân sự 2015
2.2.1 Người bị tước quyền hưởng di sản
Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại điều 621 Bộ luật Dân
sự 2015 là những chủ thể bị tước quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật,những chủ thể này có thể là người thừa kế theo pháp luật hoặc người thừa kế theo dichúc Như đã trình bày ở phần khái quát chung, những người bị tước quyền hưởng disản là những người đáng nhẽ được hưởng di sản nhưng lại có nhữn hành vi trái phápluật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản theo pháp luật cũng nhưtheo di chúc
Trang 8Theo quy định tại điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người không được quyềnhưởng di sản bao gồm những chủ thể sau:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành
vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh
dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Theo đó, hành vi trái pháp luật, vi phạm đạo đức và mức độ vi phạm là căn cứquan trọng nhất để xác định một người có bị tước quyền hay không Những người bịtước quyền hưởng di sản bao gồm bốn loại chủ thể và là một trong bốn trường hợpsau:
Thứ nhất, người đã bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
Chủ thể bị tước quyền hưởng di sản trong trường hợp này cần đáp ứng hai điềukiện:
(1) Có hành vi trái pháp luật với người để lại di sản như: cố ý xâm phạm tínhmạng, sức khỏe, hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọngdanh dự, nhân phẩm Đây đều là những hành vi mang lỗi cố ý, tác động trực tiếp đếnthể xác và tinh thần của người để lại di sản Yếu tố lỗi là một căn cứ quan trọng để xácđịnh họ có bị tước quyền hay không Trường hợp họ thực hiện những hành vi xâmphạm trên nhưng do vô ý thì họ cũng không bị tước quyền hưởng di sản Đồng thời,cần lưu ý, những hành vi này có thể không vì động cơ trục lợi, không phải vì mực đích
để được hưởng di sản nhưng họ vẫn bị tước bỏ quyền hưởng di sản
Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe là các hành vi được thể hiện dưới dạnghành động hoặc không hành động, được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhaunhưng cùng có tính chất là trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra thiệt hại về tính mạng, sứckhỏe cho con người hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đó Hậu quả mà những hành vi đó gây
ra (trừ hành vi đe doạ giết người) có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra thiệt hại đếnquyền được sống của con người, hoặc gây thiệt hại đến sức khỏe của con người
Hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người đểlại di sản là những hành vi đối xử trái pháp luật và vô đạo đức, thường được thực hiệnthông qua hành động: chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, để đói… khiến cho người để lại di
Trang 9sản đau đớn về mặt tinh thần, danh dự bị xúc phạm, dày vò và khốn khổ về mặt thểxác
(2) Về mức độ, hành vi trái pháp luật là những hành vi xâm phạm nghiêm trọng,
đã bị kết án bằng bản án, quyết định của Tòa án Đối với các hành vi xâm phạm tínhmạng, sức khỏe có thể sử dụng khoa học, kỹ thuật để xác định mức độ thương tật gây
ra bởi hành vi xâm phạm, hoặc có thể xác định bằng hậu quả người đó chết Nhưngđối với hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm thì căn cứ xácđịnh mức độ nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng vẫn chưa cụ thể, rõ ràng và chưa đượcquy định, giải thích bằng văn bản pháp luật Do đó, cần hiểu rằng, khi những hành vixâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản đã bị kết án bằng bản án cóhiệu lực pháp luật thì trong đó lã hàm chứa tính chất nghiêm trọng Tức là, tính chấtnghiêm trọng của hành vi đã được thể hiện bằng việc hành vi đó bị truy cứu tráchnhiêm hình sự và kết án Bởi vậy nên khi xem xét, giải quyết vấn đề về thừa kế, cơquan, cá nhân có thẩm quyền không cần xem xét về mức độ nghiêm trọng của hành vingược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm nữa mà cần căn cứ việc hành
vi này đã cấu thành tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị kết án bằng bản án
có hiệu lực để xác định hành vi có tính chất nghiêm trọng
Thứ hai, hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì những người sau đây
có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau: cha, mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên,con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động vàkhông có tài sản để tự nuôi mình; con có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ; cha dượng, mẹ
kế có nghĩa vụ nuôi dưỡng con riêng của bên kia cùng sống chung với mình; ông bànội, ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất nănglực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôimình mà không có người nuôi dưỡng; cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng bànội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình; anh, chị, em có nghĩa vụ nuôidưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiệntrông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháuruột có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôidưỡng không còn cha, mẹ, con, ông bà nội ngoại, anh chị em hoặc còn nhưng nhữngngười này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng
Nuôi dưỡng là việc một người chăm sóc và cung cấp những thứ cần thiết chongười khác (người được nuôi dưỡng) nhằm tạo điều kiện để duy trì và phát triển cuộcsống của người đó Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng là việc người có nghĩa
vụ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với người có quyền Đối với hành vi viphạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng, pháp luật không đặt ra vấn đề hành vi đó có
bị kết án hay không Người có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại thừa
kế có thể bị tước quyền thừa kế kể cả hành vi đó không bị kết án Đồng thời, người
Trang 10thừa kế được xác định có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản chỉ bị tước quyềnthừa kế nếu sự vi phạm đó bị coi là nghiêm trọng Vậy như thế nào là vi phạm nghiêmtrọng? Trước đây, theo quy định tại điểm b mục 2 Nghị quyết của hội đồng thẩm phántoà án nhân dân tối cao số 02/hđtp ngày 19 tháng 10 năm 1990 hướng dẫn áp dụngmột số quy định của pháp lệnh thừa kế, người có nghĩa vụ nuôi dưỡng bị tước quyền
thừa kế được quy định như sau: “Những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau theo quy định tại các điều 19, 20, 21, 23, 27 Luật Hôn nhân và gia đình (như cha mẹ và con, ông bà và cháu, anh chị em) trong khoảng thời gian 3 năm trước khi người để lại di sản chết, nếu có khả năng thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng mà không thực hiện làm cho người cần được nuôi dưỡng lâm vào tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng, thì không có quyền hưởng di sản của người đó.” Theo đó, căn cứ vào tinh thần của
Nghị quyết 02/HĐTP thì tính chất nghiêm trọng đối với hành vi vi phạm nghĩa vụđược hiểu là việc người có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản mà có khả năngthực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng không thực hiện làm cho người cần được nuôidưỡng lâm vào tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng
Thứ ba, hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng đã bị kết
án
Chủ thể bị tước quyền hưởng di sản trong trường hợp này cần đồng thời thỏamãn ba điều kiện:
- Có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác;
- Hành vi của họ phải nhằm mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản
mà người thừa kế đó có quyền hưởng
- Đã bị Tòa án kết án về hành vi này bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Một người chỉ bị tước quyền thừa kế theo điểm c, khoản 1 điều 621 nếu hành vicủa họ đồng thời thỏa mãn ba điều kiện trên Đặc biệt, động cơ, mục đích của hành vixâm phạm này phải là nhằm để hưởng phần di sản mà người thừa kế khác có quyềnhưởng
Thứ tư, hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản
Hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập dichúc đều là các hành vi khiến cho người lập di chúc không thể lập di chúc đúng theo ýnguyện của mình Hành vi lừa dối người để lại di sản là hành vi cung cấp thông tin sai
sự thật làm cho người để lại di sản tin vào thông tin đó mà lập một di chúc trái với ýnguyện của mình Hành vi cưỡng ép Ngăn cản người để lại di sản trong việc lập dichúc là hành vi tác động đến tâm lý, tinh thầm của người lập di sản, buộc họ phải lậpmột di chúc để định đoạt di sản trái với ý nguyện của họ Hành vi lừa dối, cưỡng éphoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc có thể do người thừa kế hoặc
Trang 11do người ngoài diện thừa kế thực hiện nhưng chỉ trường hợp người thừa kế thực hiệnthì người đó bị tước quyền thừa kế
Hành vi giả mạo, sửa chữa di chúc là hành vi làm sai lệch nội dung di chúc dongười để lại di sản lập Hành vi giả mạo di chúc là hành vi xác lập một di chúc mới,giả cả nội dung lẫn hình thức nhằm làm cho người khác tin rằng đó là di chúc dongười chết để lại Hành vi sửa chữa di chúc là hành vi thay đổi một phần hoặc toàn bộnội dung di chúc mà người để lại di sản đã lập Những hành vi này đềi nhằm mục đíchhướng tới sự có lợi cho một hoặc một số người nhất định trong việc hưởng di sản màviệc hưởng di sản này hoàn toàn trái với ý chí của người đã chết
Hành vi hủy là hành vi sử dụng các thủ đoạn (xé, đốt, vứt…) tác động đến dichúc, khiến di chúc của người để lại di sản không còn tồn tại, bị phá hủy hoàn toàn,không còn nguyên vẹn hay không thể khôi phục được trạng thái ban đầu
2.2.2 Hậu quả pháp lý của việc bị tước quyền hưởng di sản
Tương tự như hậu quả pháp lý của việc bị truất quyền hưởng di sản, việc bị tướcquyền hưởng di sản cũng dẫn đến hai hậu quả pháp lý sau:
Thứ nhất, người bị tước quyền hưởng di sản không được hưởng di sản củangười chết để lại Người bị truất quyền hưởng di sản không chỉ không có quyền đượchưởng di ản theo di chúc mà người bị truất quyền hưởng di sản cũng không đượcquyền hưởng di sản ngay cả khi di sản được chia theo pháp luật Trường hợp người lập
di chúc biết về hành vi của người thừa kế nhưng vẫn cho hưởng di sản thì người nàychỉ có quyền hưởng di sản theo di chúc, không có quyền hưởng di sản theo pháp luật
Thứ hai, những người thừa kế thế vị của người bị tước quyền hưởng di sảnkhông được thế quyền hưởng thừa kế Theo quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự
2015:“Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.” Theo đó, trường hợp con của người để lại di sản chết trước
hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản màcha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùngmột thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹcủa chắt được hưởng nếu còn sống Tuy nhiên, đối với trường hợp cha mẹ cháu đã bịtước quyền hoặc cha mẹ của chắt bị tước quyền thì cháu hoặc chắt cũng không cóquyền hưởng di sản của ông bà hoặc cố theo pháp luật
2.2.3 Trường hợp người thuộc trường hơp bị tước quyền theo quy định pháp luật nhưng vẫn được hưởng di sản
Pháp luật đã đặt ra quy định tước quyền hưởng di sản nhằm nâng cao đạo đức,cách xử xự của người thừa kế với những điều kiện nhất định để được hưởng quyền
Trang 12nhận di sản, đồng thời làm triệt tiêu quyền của những chủ thể không xứng đáng,những người có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng liên quan đến thừa kế di sản.Tuy nhiên, pháp luật dân sự, dựa trên bản chất tôn trọng quyền tự định đoạt của chủthể khi tham gia vào quan hệ dân sự Việc tước quyền hay không tước quyền hưởng disản của người thừa kế trong các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 621 Bộ luật Dân
sự 2015 nói trên cần được cân nhắc, xem xét trên cơ trở tôn trọng sự tự do ý chí vàquyền tự định đoạt của người để lại di sản Theo đó, khoản 2 điều 621 Bộ luật Dân sự
2015 đã quy định trường hợp loại trừ đối với những người không được quyền hưởng
di sản như sau:
“Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”
Theo quy định trên, người để lại di sản nếu đã biết các hành vi của người thừa
kế của mình thực hiện nhưng vẫn lập di chúc cho họ hưởng di sản thì người này vẫnđược hưởng di sản theo di chúc Tuy nhiên, cần lưu ý về thời điểm lập di chúc và thờiđiểm người lập di chúc biết về hành vi của những người thừa kế Trường hợp ngườithừa kế thực hiện hành vi vi phạm trước khi người để lại di sản lập di chúc và người
để lại di sản vẫn ghi nhận quyền hưởng di sản của người đó trong di chúc thì người đóvẫn có quyền hưởng di sản theo di chúc nếu di chúc có hiệu lực pháp luật Trường hợpngười thực hiện hành vi vi phạm sau khi người để lại di sản lập di chúc nhưng ngườilập di chúc biết về hành vi vi phạm nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc thì họvẫn được hưởng di sản theo di chúc
Tuy nhiên, trong trường hợp này, theo quan điểm của người viết bài thì việc
“người để lại di sản biết về hành vi của người nhận di sản nhưng vẫn cho người đóhưởng di sản” phải được thể hiện một cách rõ ràng Sự thể hiện ý chí “vẫn cho hưởng
di sản” cần được biểu hiện một cách minh thị, tức là phải có bằng chứng chứng minh
là người để lại di sản biết về hành vi của người thừa kế nhưng vẫn không sửa đổi nộidung di chúc thay đổi quyền hưởng di sản của người thừa kế hoặc vẫn lập di chúc chohưởng quyền Trường hợp người để lại di sản không biết về hành vi của người thừa kếnên vẫn lập di chúc cho họ hưởng di sản thì người thừa kế không có quyền hưởng disản theo di chúc Trường hợp hành vi trái pháp luật xảy ra sau khi người để lại di sảnlập di chúc nhưng người đã lập di sản không có ý kiến thể hiện việc vẫn đồng ý chongười thừa kế hưởng di sản thì người đó không có quyền hưởng di sản Trường hợpkhông có bằng chứng chứng minh người để lại di sản biết về hành vi của người thừathừa kế thì người thừa kế đó cũng không được hưởng di sản theo di chúc
Người thừa kế trong trường hợp này không được hưởng di sản theo pháp luật vàkhông có tư các là người thừa kế theo pháp luật Cũng vì lý do này nên trường hợp ápdụng điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 khi xác định xuất thừa kế chia theo pháp luật để