Do đó, các qui tắc của luật đều có tác dụng phòng ngừa và xử lí những tình huống vi phạm chẳng hạn luật qui định cấm kết hôn giữa những người thân thuộc là ngăn ngừa sự hình thành các gi
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Khóa 31 (2005 – 2009)
Đề tài:
VỀ QUI ĐỊNH CẤM KẾT HÔN THEO PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên th ực hiện:
Th.S.Đoàn Thị Phương Diệp Trần Thị Ngọc Tuyền MSSV : 5055005
L ớp : Luật Hành Chính -K31
Cần Thơ 11-2008
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU -1
1 Tính cấp thiết của đề tài - 1
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài - 2
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài - 2
4 Cơ cấu của luận văn - 2
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CẤM KẾT HÔN -3
1.1 Các khái niệm cơ bản của luật hôn nhân và gia đình -3
1.1.1 Khái niệm về luật hôn nhân và gia đình -3
1.1.1.1 Khái niệm - 3
1.1.1.2 Phạm vi điều chỉnh - 3
1.1.1.3 Tính chất - 4
1.1.2 Khái niệm về về hôn nhân -4
1.1.2.1.Khái niệm - 4
1.1.2.2 Đặc điểm của hôn nhân - 4
1.1.3 Khái niệm về kết hôn -5
1.1.3.1.Khái niệm - 5
1.1.3.2 Tính chất của kết hôn - 5
1.1.3.3 Các điều kiện kết hôn - 6
1.1.4 Khái niệm về kết hôn trái pháp luật -6
1.1.4.1 Khái niệm - 6
1.1.4.2 Khái niệm về cấm kết hôn - 7
1.2 Lịch sử về các qui định cấm kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam -7
1.2.1 Luật cổ và tục lệ -7
1.2.1.1 Quốc triều hình luật - 8
1.2.1.2 Bộ luật Gia Long - 9
1.2.2 Luật cận đại -9
1.2.2.1 Bộ dân luật Giản yếu 1883 - 10
1.2.2.2 Bộ luật dân sự Bắc kì (1931) và Trung kì (1936) - 11
Trang 31.2.3.2 Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa 15
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CẤM KẾT HÔN VÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 18
2.1 Các trường hợp cấm kết hôn theo pháp luật hiện hành - 18
2.1.1 Các qui định về điều kiện kết hôn nói chung - 18
2.1.1.1 Phải đủ tuổi kết hôn - 18
2.1.1.2 Phải có sự tự nguyện của hai bên nam, nữ khi kết hôn - 20
2.1.1.3 Việc kết hôn không rthuộc các trường hợp cấm kết hôn qui định tại điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 - 23
2.1.2 Các trường hợp cấm kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành - 24
2.1.2.1 Cấm kết hôn giữa những người đang có vợ, có chồng - 24
2.1.2.2 Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn - 26
2.1.2.3 Cấm những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc kết hôn với nhau - 28
2.1.2.4 Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính - 30
2.1.2.5 Cấm kết hôn giả tạo - 33
2.2 Chế tài trong trường hợp kết hôn trái pháp luật - 34
2.2.1 Hủy kết hôn trái pháp luật – chế tài của Luật hôn nhân và gia đình - 34
2.2.1.1 Hình thức chế tài - 40
2.2.1.2 Thời hiệu khởi kiện và trình tự, thủ tục yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật - 40
2.2.1.2.1 Thời hiệu khởi kiện - 41
2.2.1.2.2 Trình tự, thủ tục yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật - 43
2.2.2 Hậu quả pháp lí đối với hai bên vợ, chồng - 43
2.2.2.1 Về nhân thân - 43
2.2.2.1.2 Về tài sản - 44
2.2.2.1.3 Về thừa kế - 44
2.2.2.2 Hậu quả pháp lí đối với con cái - 45
2.2.2.3 Hậu quả pháp lí đối với người thứ ba - 46
2.2.3 Các chế tài khác – chế tài hành chính và hình sự - 47
Trang 4
3.2 Gỉai pháp hoàn thiện vấn đề - 55 PHẦN KẾT LUẬN - 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là “hạt nhân của xã hội” (lời nói của chủ tịch Hồ Chí Minh), gia đình còn là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Có thể hiểu gia đình là một đơn vị gồm những người sống chung có quan hệ gắn bó với nhau bằng những mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng mà cơ sở để tạo nên gia đình là hôn nhân Hôn nhân được xem là tiền đề của gia đình, hôn nhân cũng là bước phát triển tất yếu của tình yêu của đôi nam nữ Để tiến tới hôn nhân, về mặt phong tục tập quán không chỉ đôi trai gái mà cả gia đình hai bên cần phải tiến hành nhiều nghi thức truyền thống Về mặt pháp luật, hai bên nam nữ cần phải thỏa mãn các điều kiện kết hôn do pháp luật qui định và phải tiến hành đăng kí kết hôn với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp Chính vì thế, muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp không thể không chú ý đến nền tảng hôn nhân và gia đình Do đó, hiến pháp nước cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam đã ghi nhận: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” (Điều 64 Hiến pháp năm 1992)
Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội quan hệ hôn nhân và gia đình cũng có nhiều thay đổi, phát sinh thêm nhiều vấn đề phức tạp mà pháp luật cần can thiệp giải quyết để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên có liên quan, ổn định trật tự xã hội, thực hiện nếp sống mới, tiến bộ, dân chủ văn minh, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay buộc hai bên nam nữ muốn tiến tới hôn nhân phải thực hiện đầy đủ các thủ tục kết hôn và thoả mãn các điều kiện kết hôn do pháp luật qui định Pháp luật qui định là vậy nhưng trong thực tiễn còn rất nhiều trường hợp đã vi phạm điều kiện kết hôn, kết hôn trái pháp luật và vi phạm các điều cấm của luật hôn nhân và gia đình, thực tế đó ngày càng trở nên phức tạp và làm ảnh hưởng đến phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Vì vậy, để trang bị kiến thức hôn nhân gia đình cho bản thân em trong quá trình công tác sau này cũng như giúp cho những người khác hiểu đúng, chính xác Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời tuyên truyền trong cộng đồng để mọi người thực hiện đúng pháp luật, tránh các trường hợp kết hôn trái pháp luật vi phạm các điều kiện cấm kết hôn dể cho chế độ hôn nhân gia đình nước ta càng tiến bộ và hoàn thiện hơn Cũng vì những lí do trên mà em đã quyết định chọn đề tài: “Về qui định cấm kết hôn theo pháp
Trang 6luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Đồng thời, em cũng nhận thấy đây là đề tài hay, thiết thực và gần gũi trong cuộc sống của mỗi người Tuy nhiên, ở một giới hạn nào đó em cũng chưa hiểu rõ hết vấn
đề do bản thân là một sinh viên nên có sự hạn chế về trình độ, do đó chất lượng đề tài
có thể chưa cao và còn nhiều thiếu xót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các qui định về cấm kết hôn trong Luật hôn nhân và gia đình hiện hành Đồng thời, qua đó em cũng nêu lên một số thực trạng áp dụng những qui định cấm kết hôn trong thực tế hiện nay và giải pháp để hoàn thiện vấn đề
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện bài viết này em đã vận dụng các phương pháp phân tích và so sánh Bên cạnh đó, em cũng kết hợp giữa lí luận và thực tiễn cùng với việc sưu tầm tài liệu để giải quyết vấn đề đặt ra trong đề tài
4 Cơ cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về Luật hôn nhân và gia đình và những qui định của pháp luật về cấm kết hôn
Chương 2: Những qui định chung của pháp luật về cấm kết hôn theo pháp luật hiện hành và hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật
Chương 3: Thực trạng áp dụng những quy định cấm kết hôn và giải pháp hoàn thiện vấn đề
Em xin chân thành cám ơn cô Đoàn Thị Phương Diệp đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian qua để em có thể hoàn thành bài luận văn này đúng thời hạn Một lần nữa, em xin chân thành cám ơn!
Trang 7CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG QUI
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CẤM KẾT HÔN
1.1 Các khái niệm cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình
1.1.1 Khái niệm về Luật hôn nhân và gia đình
1.1.1.1 Khái niệm
Luật hôn nhân và gia đình là văn bản do Quốc hội ban hành qui định về chế độ hôn nhân và gia đình Trong chừng mực nào đó, có thể định nghĩa Luật hôn nhân và gia đình là tập hợp tất cả các qui tắc chi phối sự thành lập và vận hành của gia đình
1.1.1.2 Phạm vi điều chỉnh
- Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam
Có 3 dữ kiện quan trọng liên quan đến gia đình mà từ việc phân tích 3 dữ kiện
ấy người làm luật đề ra các qui tắc của mình là:
+ Sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm xây dựng một cuộc sống chung
+ Sinh con
+ Giáo dục con
- Luật hôn nhân và gia đình được xây dựng trên 6 nguyên tắc1:
+ Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng
+ Hôn nhân giữa Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ
+ Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
+ Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau
+ Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai
và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú
+ Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt các chức năng cao quí của người mẹ
Trang 8
1.1.1.3 Tính chất
- Tính phòng ngừa phổ biến là tính chất quan trọng Cũng như tất cả các ngành luật, Luật hôn nhân và gia đình được xây dựng và hoàn thiện bởi sự thôi thúc của yêu cầu đảm bảo trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị trong điều kiện sự xung đột giữa người với người, chứ không phải sự hoà hợp là thuộc tính của quan hệ
xã hội Luật ghi nhận những thái độ cư xử bị cấm hoặc được cho phép và bằng cách đó
sẽ ngăn ngừa việc xảy ra những vụ vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình Do đó, các qui tắc của luật đều có tác dụng phòng ngừa và xử lí những tình huống vi phạm chẳng hạn luật qui định cấm kết hôn giữa những người thân thuộc là ngăn ngừa sự hình thành các gia đình thoái hoá về nòi giống và đạo đức hay việc áp đặt cần phải có nghĩa vụ chung thuỷ giữa vợ và chồng là muốn ngăn ngừa sự đỗ vỡ của hôn nhân dẫn đến sự tan rã của gia đình Luật qui định rằng con phải kính trọng cha mẹ là nhằm ngăn ngừa khả năng xuất hiện những đứa con ngỗ nghịch trong gia đình, qua đó cũng hạn chế khả năng xuất hiện những thành phần xấu cho xã hội.v.v…
- Luật hôn nhân và gia đình đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình tiến bộ Xây dựng chuẩn mực pháp lí về cách ứng xử cho các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững
1.1.2 Khái niệm về hôn nhân
1.1.2.1 Khái niệm
Hôn nhân theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện theo qui định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bền vững Theo Điều 8 khoản 6 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 thì: “ Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”
1.1.2.2 Đặc điểm của hôn nhân
Hôn nhân có những đặc điểm sau:
- Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà Đó là hôn nhân một vợ một chồng2
- Hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông và người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, việc xác lập quan hệ hôn nhân do hai bên nam nữ hoàn toàn tự nguyện quyết định, không ai được ép buộc hoặc cản trở3 Cơ sở tự nguyện trong tình yêu là tình yêu chân chính giữa nam và nữ, không bị những tính
2 Điều 2,4,10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
3 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 9toán về kinh tế chi phối, tính hiện thực về sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng gắn liền với tính hiện thực của sự phát triển kinh tế xã hội Sự bình đẳng về hình thức pháp lí trong pháp Luật hôn nhân và gia đình là một bước phát triển trong pháp luật Việt Nam Tự do, bình đẳng trong hôn nhân là thực sự cần thiết, các quan hệ hôn nhân bị ràng buộc bởi những tính toán về kinh tế, về địa vị, giai cấp thì chưa thể có tự
- Hôn nhân phải tuân theo các qui định của pháp luật Theo qui định tại các điều 9,10,11 và các điều khác tại chương X Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, việc kết hôn và li hôn được tiến hành theo trình tự pháp luật, các nghi lễ mang tính chất tôn giáo và phong tục tập quán không bị cấm đoán nhưng chỉ có tính chất riêng tư Để được công nhận hôn nhân hợp pháp, việc đăng kí kết hôn phải tuân theo qui định của pháp luật
1.1.3 Khái niệm về kết hôn
1.1.3.1 Khái niệm
Theo Điều 8 khoản 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”
Kết hôn được xem là một trong những quyền cơ bản của con người, là quyền nhân thân của công dân Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay việc kết hôn đòi hỏi phải tuân theo những qui định mà pháp luật hôn nhân và gia đình đã đề ra nếu vi phạm thì
có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lí, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, gây xáo trộn trật tự xã hội
1.1.3.2 Tính chất của kết hôn
- Kết hôn là một giao dịch mang tính chất pháp lí, chứ không phải là một giao dịch có
ý nghĩa vật chất hoặc tôn giáo Đó là một giao dịch xác lập trong đời sống dân sự, chứ không phải trong đời sống tâm linh và là một giao dịch được xác lập với sự tham gia
Trang 10
bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các điều kiện về nội dung của việc kết hôn phải được cơ quan nhà nước kiểm tra một cách chặt chẽ
- Kết hôn là một giao dịch long trọng, tuân theo những qui định nghiêm ngặt về trình
tự, thủ tục do pháp luật qui định, những qui định ấy tạo thành tập hợp các điều kiện về hình thức của việc kết hôn
1.1.3.3 Các điều kiện kết hôn
Điều kiện kết hôn được hiểu là nhóm các qui tắc mang tính mệnh lệnh bắt buộc liên quan đến việc kết hôn Hôn nhân mà vi phạm các điều kiện kết hôn theo luật định thì coi là trái pháp luật và có thể bị hủy
Đây chính là qui tắc bắt buộc phải thi hành, tuân thủ, đã gọi là mệnh lệnh thì phải chấp hành Ta hiểu rằng “điều kiện” như một cái gì đó bắt buộc phải thực hiện, nếu thực hiên đúng, đầy đủ thì mục đích công việc định hướng coi như hoàn tất và đúng pháp luật Nói đến điều kiện kết hôn thì ta có điều kiện nội dung và điều kiện hình thức, điều kiện nội dung có ý nghĩa quan trọng và được cơ quan nhà nước kiểm tra chặt chẽ và qui định chi tiết về nội dung, các vấn đề để kết hôn hợp pháp Điều kiện
về hình thức đó là những trình tự, thủ tục do pháp luật qui định, nó mang tính hình thức bên ngoài, nó là điều kiện đủ để tạo thành một tập hợp các điều kiện theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Điều kiện kết hôn thực sự là quan trọng khi đi vào đời sống vì khi vi phạm các điều kiện ấy, hôn nhân bị coi là trái pháp luật và có thể bị hủy
bỏ Quan hệ vợ chồng mà vi phạm các điều kiện ấy thì không được coi là quan hệ hôn nhân và không thể làm phát sinh các hệ quả pháp lí của quan hệ hôn nhân
- Theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ta có thể khái quát các điều kiện kết hôn như sau:
+ Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên
+ Việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở
+ Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
1.1.4 Khái niệm về kết hôn trái pháp luật
1.1.4.1 Khái niệm
Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng kí kết hôn nhưng
vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật qui định5
5 Điều 8 khoản 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 11Việc vi phạm các điều kiện kết hôn do pháp luật qui định, cụ thể là vi phạm các điều kiện cấm kết hôn tại Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Việc kết hôn trái pháp luật ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội như vi phạm nghiêm trọng về đạo đức, lối sống, nhân cách của gia đình Việt Nam, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, ảnh hưởng đến sức khỏe và việc duy trì nòi giống của dân tộc, Nhà nước ta đã thể hiện thái độ nghiêm khắc thông chế tài hủy hôn nhân trái pháp luật
1.1.4.2 Khái niệm về cấm kết hôn
Cấm kết hôn là những trường hợp theo luật định mà khi nam, nữ kết hôn với nhau mà rơi vào các trường hợp đó thì pháp luật cấm họ kết hôn với nhau
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và 2000 đều có điều khoản qui định trường hợp cấm kết hôn bởi đây là vấn đề hết sức quan trọng Trên thực tế, có những trường hợp có quan hệ chung sống khi một trong hai bên đã có vợ, có chồng, hoặc có những người không có năng lực hành vi nhưng vẫn bị gia đình buộc phải kết hôn Đặc biệt, có những trường hợp tồn tại hôn nhân giữa hai bên nam, nữ có quan hệ về nuôi dưỡng hoặc cùng dòng máu về trực hệ Dù thuộc trường hợp nào kể trên thì đây cũng
là một trong những nguyên nhân đem lại sự đau khổ cho các gia đình và không phù hợp với truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam Vì thế, trên cơ sở kế thừa Luật hôn nhân và gia đình 1959, 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã qui định cụ thể hơn và bổ sung và hoàn thiện hơn các trường hợp cấm kết hôn
1.2 Lịch sử các qui định cấm kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 1.2.1 Luật cổ và tục lệ
Lịch sử Việt Nam gắn liền với chế độ phong kiến tập quyền kéo dài hàng nghìn năm, luật pháp chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng triết học nho giáo, phật giáo v.v…Với quan niệm “Trọng nam khinh nữ”, “ tam tòng tứ đức”, “ngũ luân”… Bên cạnh đó pháp luật về hôn nhân và gia đình có liên quan nhiều đến phong tục tập quán
và đạo đức, rất nhiều điều luật được bắt rễ từ phong tục, tập quán của Việt Nam và đi sâu vào tiềm thức thành thói quen ứng xử trong nhân dân Gia đình cổ Việt nam được xây dựng trên phương thức sản xuất tiền phong kiến và phong kiến: ruộng đất và lao động nông nghiệp là nền tảng kinh tế và là điều kiện vật chất để duy trì và phát triển gia đình Qui mô của gia đình cổ tuỳ thuộc theo qui mô ruộng đất tích tụ, nếu có nhiều ruộng đất thì gia đình duy trì nhiều thế hệ chung sống trong một nhà, nếu có ít ruộng đất thì gia đình duy trì số thế hệ vừa phải Về mặt tổ chức, gia đình trong luật cổ và tục
lệ cổ theo chế độ phụ quyền, đứng đầu gia đình là người gia trưởng (chủ gia đình), gia
Trang 12đình (chứ không phải là cá nhân) là chủ thể của quyền sở hữu tài sản Người gia trưởng là người điều hành các công việc sinh hoạt nội bộ gia đình kể cả việc dựng vợ,
gả chồng cho con cháu Tiêu biểu cho chế độ hôn nhân gia đình phong kiến Việt Nam được qui định trong hai bộ luật: Quốc triều hình luật (thường gọi là bộ luật Hồng đức) ban hành dưới thời Lê (thế kỉ XV) và Hoàng việt luật lệ (thường gọi là bộ luật Gia long) ban hành dưới thời Nguyễn (năm 1815) Tinh thần chung của hai bộ luật này qui định về điều kiện kết hôn cũng như trường hợp cấm kết hôn như sau:
1.2.1.1 Quốc triều hình luật
Dưới thời Lê, quan hệ hôn nhân và gia đình được thiết lập trên những nguyên tắc: Bảo đảm tôn ti trật tự, đẳng cấp trong mối quan hệ giữa các thành viên gia đình, trọng nam khinh nữ, xác lập quyền tối cao của người gia trưởng Do đó, Luật hôn nhân
và gia đình vào thời này tập trung bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyền, đề cao vai trò của người đàn ông, trong gia đình luật qui định cha mẹ có quyền và nghĩa vụ giáo dưỡng nuôi dạy con cái Con cái có nghĩa vụ vâng lời cha mẹ và phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, phải để tang ông bà, cha mẹ trong ba năm, có thể chịu tội thay cha mẹ Vì vậy, trong quan hệ kết hôn, luật qui định các điều kiện kết hôn là “có sự đồng ý của cha mẹ”6 thì hôn nhân đó mới được coi là hợp pháp Đồng thời, cuộc hôn nhân đó không được vi phạm các điều kiện cấm đoán như:
- Không được kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích (Điều 319)
- Cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng (Điều 317)
- Cấm kết hôn khi ông, bà, cha, mẹ đang bị giam cầm tù tội.(Điều 318)
- Cấm anh (em) lấy vợ goá của em (anh), trò lấy vợ goá của thầy (Điều 324)
- Quan lại và con cháu quan lại lấy con gái làm nghề hát xướng (Điều 323)
- Cấm lấy vợ của kẻ đang trốn tránh làm vợ của mình (Điều 338)
- Cấm quan ty ở trấn ngoài mà lấy đàn bà, con gái trong hạt mình (Điều 316)
- Cấm các quan ty mà cùng với những người tù trưởng ở biên giới kết thông gia (Điều 334)
- Cấm người vô lại lấy cô, dì, chị em gái, kế nữ, người thân thích (Điều 319)
Tuy nhiên, luật Hồng đức không qui định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên nam
dư hạ tập (phần lệ Hồng đức hôn giá) có viết: “con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn”, đây là qui định nhằm hạn chế nạn tảo hôn trong xã hội cũ Đối với bộ luật Hồng đức cũng cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lí từ sau lễ đính hôn
6 Điều 314 Bộ luật Hồng Đức
Trang 13Ví dụ như: Điều 315 qui định: “gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa phải phạt 80 trượng …Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn
1.2.1.2 Bộ luật Gia long
Dưới thời Nguyễn, luật viết xây dựng khuôn mẫu gia đình phụ quyền Trung Quốc Thực ra, bộ luật Gia long chỉ dành cho gia đình sự quan tâm có chừng mực.Tuy nhiên, từ các qui định rải rác trong các văn bản luật (kể cả trong các lệnh dưới các điều luật chính) có thể thấy chủ trương của người làm luật thời Nguyễn là tôn vinh vai trò của người đàn ông trong gia đình, hạ thấp vai trò, vị trí của người phụ nữ Toàn bộ tài sản và quyền lực gia đình nằm trong tay của người đàn ông, nếu người này chết thì người mẹ goá không kết hôn lại giữ vị trí chủ gia đình dưới sự giám sát của gia tộc, nếu cả cha và mẹ chết hết thì vai trò chủ gia đình do con trai trưởng đảm nhận Nếu con trai trưởng chưa trưởng thành thì việc quản lí được tộc trưởng đảm nhận cho đến khi con trai trưởng đủ sức tự mình gánh vác công việc Chính vì vậy, hôn nhân thời kì này phụ thuộc vào cả cha mẹ: “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” tức là chế độ cưỡng ép kết hôn Việc gả chồng cho con gái, lấy vợ cho con trai đều do ông bà làm chủ hôn, theo
sự sắp đặt, lựa chọn của ông bà, cha mẹ và họ hàng Nếu ông bà, cha mẹ chết cả thì người tôn trưởng khác trong họ làm chủ hôn, cha mẹ có quyền không công nhận việc kết hôn của con cái vì không có sự đồng ý của họ Có thể xem đây là một hình thức cấm kết hôn, đồng thời chúng ta cũng có thể thấy được dưới thời Nguyễn không có sự
tự nguyện trong hôn nhân Mặc khác, ngoài những qui định cấm kết hôn ở thời Lê, thời Nguyễn còn qui định thêm về việc cấm kết hôn như:
- Không được vi phạm trật tự thê thiếp (Điều 96)
- Cấm nô tì kết hôn với dân tự do (Điều 196)
→ Điều này càng thể hiện rõ sự phân biệt trật tự bình đẳng trong xã hội lúc bấy giờ
1.2.2 Luật cận đại
Từ năm 1858 đến 1945 đến cuối thời kì thuộc địa, Việt nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu Người Việt nam thời kì này vẫn duy trì hình thái gia đình đại phụ quyền và sinh sống trên mảnh ruộng mà gia đình có nghĩa vụ gìn giữ để truyền đời
Mô hình đại gia đình phụ quyền vẫn được ghi nhận trong pháp luật thuộc địa như là
mô hình kiểu mẫu
Sau khi nắm được toàn bộ lãnh thổ nước ta, chính quyền thực dân Pháp đã lần lược ban hành những văn bản pháp luật mới qui định nhiều việc thay đổi nếp sinh hoạt cổ
Trang 14truyền của dân tộc Bản thân quan hệ hôn nhân và gia đình cũng bị rơi vào tình trạng vừa thể hiện xu hướng Âu hoá theo kiểu Pháp vừa cố duy trì những phong tục tập quán của Việt nam Có thể coi đây là bước qua độ chuyển từ quan điểm cổ điển mang sắc thái đặc thù của luật cổ nước ta sang quan điểm pháp lí Tây phương trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Thời kì này thực dân Pháp chia cắt đất nước ta ra làm ba miền, mỗi miền áp dụng một bộ dân luật để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình Nhìn chung, thực dân Pháp và giai cấp địa chủ đã lợi dụng chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến đã tồn tại và duy trì từ nhiều thế kỉ ở Việt nam để củng cố nền thống trị của chúng Ở Bắc kì, áp dụng những qui định trong bộ dân luật 1936, ở Nam kì, áp dụng các qui định theo tập Dân luật giản yếu 1883 Chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam thời kì này thực ra chỉ là công cụ pháp lí của nhà nước thực dân phong kiến nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến Trong các bộ luật trên, thì các qui định cấm kết hôn được ghi nhận như sau:
1.2.2.1 Bộ dân luật giản yếu 1883
- Bộ dân luật Giản yếu là văn bản pháp luật dân sự được ban hành sớm nhất dưới chế
độ thuộc địa 1883 Nó hầu như không phản ánh, đúng hơn là chỉ phản ánh một cách phiến diện tư duy pháp lí của người Việt nam thời đó Bộ dân luật giản yếu thừa nhận tình trạng bất bình đẳng trong gia đình, qui định nhiều nghĩa vụ của người phụ nữ như: nghĩa vụ chung thủy mà không bắt buộc như thế đối với người chồng Do đó, về điều kiện kết hôn được qui định:
+ Phải có sự ưng thuận của hai bên nam nữ và của cha mẹ
+ Đàn bà góa được phép tái giá nhưng phải có sự đồng ý của cha mẹ chồng (nếu sống chung với cha mẹ chồng) hoặc cha mẹ ruột (nếu đã về ở với cha mẹ ruột)
+ Nữ 14 tuổi, nam 16 tuổi mới được phép kết hôn
+ Không được kết hôn trong thời kì để tang cha, mẹ hay tang chồng, vợ Cấm người
vợ không được kết hôn trong thời hạn 10 tháng kể từ ngày chồng mình qua đời dể tránh sự lộn xộn về tử hệ
+ Cấm kết hôn khi một trong hai bên nam, nữ bị điên cuồng, vô tri thức
+ Cấm kết hôn giữa những người thân thuộc hay thân thích thuộc về trực hệ vào bậc nào cũng vậy, bất luận là con nuôi hay con ngoài giá thú Cụ thể là, về bàng hệ những người sau đây bị cấm kết hôn với nhau:
* Anh, chị, em cùng cha, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha và cùng mẹ khác cha
và các thân thích cùng đẳng cấp ấy
Trang 15* Chú, bác, cô, dì, ông chú, ông bác, bà cô, bà bác
* Các bà con cùng ông tổ và cùng họ (đồng tông)
Theo dân luật giản yếu, hôn lễ cũng có thể tiến hành theo thể thức dân luật Pháp, không cần làm lễ nghi theo tục lệ, chỉ cần khai báo với chính quyền sau khi đã công bố hợp pháp Như vậy, hôn nhân trong thời kì này sẽ không được mặc nhiên công nhận nếu không đăng kí kết hôn
1.2.2.2 Bộ luật dân sự Bắc kì (1931) và Trung kì (1936)
- Cũng như các qui định pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trước đây
Bộ luật dân sự Bắc kì và Trung kì chịu ảnh hưởng của quan niệm phong kiến
Trong quan hệ kết hôn: hai bộ dân luật vẫn duy trì chế độ hôn nhân cưỡng ép, phụ thuộc vào các bậc cha, mẹ hay thân trưởng trong gia đình, dù con đã thành niên
“Phàm con cái đã thành niên cũng như chưa thành niên không khi nào không có cha
mẹ bằng lòng mà kết hôn được” (Điều 77 bộ Dân luật Bắc kì) Chế độ đa thê cũng được duy trì, bộ Dân luật Bắc kì qui định: “Có hai cách giá thú hợp pháp: giá thú về chính thất và giá thú thứ nhất” (Điều 79) và “chưa lấy vợ chính thì không được lấy vợ thứ” (điều 80) Ngoài những qui định về điều kiện kết hôn cũng như cấm kết hôn, tương tự như Bộ dân luật giản yếu 1883, hai bộ luật này còn có một số điểm riêng, chẳng hạn về độ tuổi kết hôn:
+ Ở Bắc kì và Trung kì: con trai 18 tuổi tròn, con gái 15 tuổi tròn Khi có lí do đặc biệt như khi người con gái có thai thì Dân luật Bắc, Dân luật Trung đều có quy định thủ tục xin miễn tuổi nhưng ít nhất con trai phải đủ 15 tuổi, con gái đủ 12 tuổi
Cũng như bộ Dân luật giản yếu thì hai bộ luật cũng qui định:
+ Không được kết hôn thời kì để tang cha, mẹ hay tang chồng, vợ Cụ thể là: Cấm kết hôn khi để tang cha, mẹ (27 tháng), tang chồng (27 tháng), tang vợ (12 tháng)
+ Người vợ chỉ được kết hôn với người khác sau 300 ngày kể từ ngày phán quyết li hôn có hiệu lực
+Về bàng hệ, những người sau đây bị cấm kết hôn với nhau:
Ở Bắc kì:
- Anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha, anh chị em nuôi
- Chị dâu, em dâu với em chồng, anh chồng;
- Chú, bác, cậu với cháu gái;
- Cô, dì với cháu trai;
- Bác gái hay thím, mợ với cháu chồng;
- Anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì cả hai bên nội ngoại
Trang 16- Anh, chị, em, cháu, chú, bác, cháu cô về bên nội
Ở Trung kì
Ngoài các đối tượng cấm như ở Bắc kì ở Trung kì còn cấm:
- Bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
- Cháu trai với vợ góa của ông chú, ông bác, ông cậu
- Ông chú, ông bác, ông cậu với vợ goá của cháu trai mình
Dân luật Trung kì qui định từ ngày làm lễ ước hôn đến ngày là lễ cưới không quá 6 tháng trừ khi có lí do chính đáng (như bị ốm đau hay tang chẳng hạn)
Hai bộ dân luật cũng qui định nếu không khai báo, đăng kí kết hôn quan hệ vợ chồng sẽ không có giá trị pháp lí Hôn lễ theo phong tục, tập quán, ngoài ra còn cần phải khai báo với chính quyền nơi nhà trai, nhà gái cư trú để làm thư tục công bố trong thời hạn 8 ngày và sau đó đăng kí vào sổ hộ tịch (bộ giá thú) của địa phương
Như vậy, đăng kí kết hôn cũng như qui định cấm kết hôn trong ba bộ dân luật có điểm khác biệt so với luật pháp của thời kì quân chủ phong kiến Luật thời kì trước không nói rõ cho phép hay ngăn cấm chế độ hôn nhân đa thê, mặc dù trên thực tế loại hôn nhân này vẫn mặc nhiên công nhận Luật của chính quyền thực dân thì qui định rõ trật tự giữa vợ cả, vợ lẽ và nàng hầu (một dạng vừa là vợ lẽ vừa là kẻ tôi tớ trong nhà), tức luật cho phép một người đàn ông được lấy nhiều vợ Đó là do các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình do nhà nước thực dân ban hành trước Cách mạng tháng
8 – 1945, phần lớn dựa vào phong tục tập quán lạc hậu của xã hội phong kiến Việt nam và bộ dân luật Pháp 1804 với các qui định thuần túy coi quan hệ hôn nhân gia đình là một chế định do dân luật điều chỉnh, là công cụ pháp lí của nhà nước thực dân phong kiến nhằm củng cố và bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ, phong kiến Bởi vậy, ngay sau khi thành lập tháng 2 năm 1930 Đảng cộng sản Việt nam đã đề ra nhiệm
vụ phải xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình phong kiến lạc hậu, coi đó là một yêu cầu cấp thiết của cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ nói riêng và của sự nghiệp cách mạng nói chung, bỏ hết thảy các pháp luật và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không được bình đẳng với đàn ông, bỏ chế độ áp bức của cha, mẹ đối với con cái, của chồng đối với vợ v.v…Cấm tục lấy nhiều vợ…
1.2.3 Luật hiện đại
Cách mạng tháng tám thành công đã giải phóng dân tộc Việt nam nói chung và phụ nữ Việt nam nói riêng ra khỏi ách thống trị hết sức hà khắc và đối xử thậm tệ của chế độ thực dân phong kiến, mở ra một kỉ nguyên mới của lịch sử hôn nhân và gia đình Ngay từ khi ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ra đời 2-9-1945) đã rất
Trang 17quan tâm và coi trọng việc soạn thảo, ban hành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh (trong đó có Luật hôn nhân và gia đình) nhằm củng cố và bảo vệ thành quả của cách mạng, phục vụ lợi ích của nhân dân lao động Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình cũng dần được hoàn chỉnh Có thể thấy rằng, sự phát triển của Luật hôn nhân và gia đình từ sau cách mạng tháng 8-1945 có thể khái quát thành 2 giai đoạn sau:
1.2.3.1 Pháp luật hôn nhân và gia đình do chính quyền thực dân Pháp và
Đế quốc Mỹ ban hành
Sau cách mạng tháng tám, ở vùng tạm chiếm tuy thực dân Pháp liên tiếp thay đổi bộ máy cầm quyền nhưng về mặt pháp luật, nhất là luật Dân sự, trong đó có luật Hôn nhân và gia đình vẫn không có gì thay đổi Các bộ Dân luật giản yếu, Dân luật Bắc kì, Dân luật Trung kì vẫn tiếp tục thi hành ở vùng tạm chiếm và ở miền Nam sau ngày đất nước chia đôi cho tới 1972 Ở miền Nam, sự thống nhất dân luật chỉ được thực hiện riêng đối với lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở miền Nam được qui định lần lượt trong các đạo luật sau:
- Luật gia đình ( số 1/59 ) ngày 2/1/1959 (thời Ngô Đình Diệm)
- Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 (thời Nguyễn Khánh)
- Bộ Dân luật ban hành do Sắc luật số 028/TT/SLU ngày 20/12/1972 (thời Nguyễn Văn Thiệu) qui định hôn nhân và gia đình chung với các chế định dân sự khác
Luật Gia đình số 1/59 và sắc luật số 15/64 qui định về điều kiện kết hôn cũng như qui định cấm kết hôn giống nhau, cụ thể như sau:
+ Tuổi: nam đủ 18 tuổi, nữ đủ 15 tuổi Khi có lí do đặc biệt quan trọng, Tổng thống
có thể xét cho miễn tuổi;
+ Không đang có vợ, có chồng ;
+ Phải có sự ưng thuận giữa đôi nam, nữ và của cha, mẹ (nếu chưa đủ 21 tuổi) Nếu không còn cha, mẹ thì phải có sự ưng thuận của ông bà nội, sau đó là ông bà ngoại, sau đó nữa là người giám hộ;
+ Không có quan hệ huyết thống do hôn nhân hay do lập con nuôi (do đó cha ghẻ không được kết hôn với con trai riêng của chồng);
Trang 18+ Ông chú, ông bác, ông cậu với cháu gái; bà cô, bà dì với cháu trai do huyết tộc hay do hôn nhân (do đó chú, bác, cậu không được kết hôn với cháu gái, cháu dâu,
cô dì không được kết hôn với cháu trai, cháu rể);
+ Bác gái, thím hay mợ, cháu chồng; ông dượng với cháu vợ; bà bác, bà thím, bà
mợ với cháu chồng; ông dượng với cháu vợ;
+ Anh, chị, em, cháu chú, cháu bác, cháu cậu, con cô, con dì cả hai bên nội, ngoại; + Anh, chị, em, cháu chú, cháu bác, cháu cô, cháu dì về bên nội cũng như bên ngoại;
+ Chị dâu, em dâu với em chồng, anh chồng, anh rể, em rể với em vợ, chị vợ
Lễ kết hôn được tiến hành qua thủ tục niêm yết, bố cáo trong thời hạn 10 ngày Hôn lễ chỉ có thể cử hành sau thời hạn niêm yết luật định, tổ chức tại công sở trước viên chức hộ tịch nơi thường trú hay tạm trú của bên nam hay bên nữ Pháp luật cũng nghiêm cấm đôi nam nữ chung sống như vợ, chồng mà không đăng kí kết hôn Quan hệ vợ, chồng phải được xác lập bằng hôn thú
Bộ dân luật ngày 20/12/1972 qui định về điều kiện kết hôn và cấm hôn như sau: + Tuổi: nam đủ 18 tuổi, nữ đủ 16 tuổi Nếu có lí do trọng đại, Nguyên thủ quốc gia
có thể xét cho miễn tuổi;
+ Phải có sự ưng thuận của 2 bên nam, nữ, nếu còn vị thành niên (dưới 21 tuổi) thì phải có sự ưng thuận của cha, mẹ, không có cha, mẹ thì tuần tự tới ông, bà nội, ông
bà ngoại, người giám hộ, hội đồng dân tộc;
+ Không đang có vợ, có chồng Người đàn bà chỉ được tái hôn sau 300 ngày kể từ ngày có án li hôn
+ Không được kết hôn giữa những người có quan hệ bà con sau đây:
* Thân thuộc trực hệ, không kể chính thức hay ngoại hôn, bất kì thứ bậc nào;
* Về bàng hệ, cấm kết hôn giữa:
• Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha;
• Chú, bác, cậu, ông chú, ông bác, ông cậu với cháu gái, cô, dì, bà cô, bà dì với cháu trai;
• Anh, chị, em con chú, con bác ,con cô, con cậu, con dì;
• Anh, chị, em, cháu chú, cháu bác;
• Giữa những người tôn thuộc hay ty thuộc trực hệ của chồng hay vợ mình;
• Chị dâu, em dâu với em chồng, anh chồng;
• Bác gái, thím, mợ, bà bác, bà thím, bà mợ với cháu chồng;
• Bác, chú, cậu, ông chú, ông bác, ông cậu với vợ của cháu trai;
Trang 19• Cha, mẹ nuôi với con nuôi cũng như với ty thuộc trực hệ của người này; cha,
mẹ nuôi với vợ hay chồng của con nuôi;
• Giữa các con nuôi của một người với nhau;
• Giữa con nuôi với con của người đứng nuôi (quan hệ anh, chị, em nuôi)
1.2.3.2 Pháp luật hôn nhân và gia đình dưới chế độ xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở Hiến pháp 1946, nhà nước đã ban hành hai sắc lệnh số 97/SL ngày 22-5-1950 và sắc lệnh số 159 ngày 11-7-1950 thừa nhận địa vị bình đẳng giữa nam và
nữ, xóa bỏ hủ tục phong kiến trong hôn nhân và gia đình Chín năm sau, Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời, đây là bước ngoặc của pháp luật Việt nam trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Qua quá trình hình thành và phát triển, lấy đạo luật ra đời trước làm nền tảng, đạo luật ra đời sau luôn có sự sửa đổi
bổ sung cho phù hợp với yêu cầu cấp thiết của xã hội lúc bấy giờ Điều kiện kết hôn trong ba văn bản luật năm 1959, 1986, và năm 2000 cũng có sự thay đổi Cụ thể như sau:
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
- Tuổi tối thiểu kết hôn: nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên (Điều 4)
- Không đang có vợ, có chồng (Điều 5)
- Việc kết hôn do hai bên nam, nữ hoàn toàn tự nguyện quyết định (Điều 6)
- Việc để tang không cản trở việc kết hôn (Điều 7)
- Đàn bà góa có quyền tái giá (Điều 8)
- Trường hợp cấm kết hôn (Điều 9 và 10)
+ Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
+ Đối với người có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ thì việc kết hôn giải quyết theo phong tục, tập quán;
+ Cấm kết hôn đối với người bất lực hoàn toàn về sinh lí; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc mà chưa chữa khỏi
Nội dung về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm
1959 thể hiện quan điểm của Đảng và nhà nước về quan hệ hôn nhân: đó là cấm nạn tảo hôn, hôn nhân không tự nguyện, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, xóa bỏ các
hủ tục phong kiến lạc hậu Riêng, những qui định về những cản trở đối với hôn nhân, phạm vi luật hôn nhân 1959 qui định khá hẹp
Trang 20Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
- Kế thừa và phát huy luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 vẫn giữ nguyên qui định về độ tuổi kết hôn, vẫn là chế độ hôn nhân tự nguyện, hôn nhân một vợ một chồng
- Các điều kiện về sức khỏe, luật Hôn nhân và gia đình 1986 vẫn giữ nguyên qui định cấm kết hôn với người bị bệnh hoa liễu, người bị bệnh tâm thần vẫn bị cấm kết hôn nhưng đã được sửa chữa lại câu chữ cho phù hợp hơn là: “người đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình”
- Người bị bất lực hoặc bệnh hủi không còn thuộc trường hợp bị cấm kết hôn.Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình 1986 bổ sung thêm phạm vi cấm kết hôn giữa những người thân thuộc, đó là những người có họ trong phạm vi ba đời
Ngoài ra, Luật hôn nhân và gia đình 1986 còn điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt nam với người nước ngoài: người nước ngoài bị nhiễm HIV không được kết hôn với công dân Việt nam (được qui định trong Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt nam và người nước ngoài năm 1993)
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
- Luật hôn nhân và gia đình Việt nam năm 2000 kế thừa Luật hôn nhân và gia đình Việt nam năm 1986 về các qui định về độ tuổi tối thiểu được kết hôn, hôn nhân tự nguyện, hôn nhân một vợ một chồng Điều kiện về sức khỏe, luật chỉ cấm kết hôn đối với người bị mất năng lực hành vi dân sự, người bị bệnh hoa liễu không còn bị cấm kết hôn Phạm vi cấm kết hôn giữa những người thân thuộc tiếp tục được mở rộng, đặc biệt, lần đầu tiên trong Luật hôn nhân và gia đình có qui định về việc cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, đó là điều mà trước đây khi chưa có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, các văn bản luật khác không có qui định nên gây khó khăn cho cán bộ
hộ tịch khi đưa ra lí do từ chối đăng kí kết hôn cho họ (truyền thống văn hóa, phong tục tập quán thường được viện dẫn trong trường hợp này) Cụ thể là, theo Điều 9 và 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, qui định về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn như sau:
+ Về điều kiện kết hôn
• Độ tuổi kết hôn: nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên;
• Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép, cản trở;
• Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 21+ Những trường hợp cấm kết hôn
• Người đang có vợ có chồng;
• Người mất năng lực hành vi dân sự;
• Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ,giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
• Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; bố dượng với con riêng của vợ ,mẹ kế với con riêng của chồng;
• Giữa những người cùng giới tính
Tóm lại, theo Luật hôn nhân và gia đình 2000 Nhà nước ta đã chính thức thừa nhận chủ trương khuyến khích sự nhân rộng mô hình gia đình nhiều thế hệ Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì và phát triển mô hình đó: “Nhà nước khuyến khích
và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt nam”7
Trang 22
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CẤM
KẾT HÔN VÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC HỦY KẾT HÔN TRÁI
PHÁP LUẬT 2.1.Các trường hợp cấm kết hôn theo pháp luật hiện hành
2.1.1 Các qui định về điều kiện kết hôn nói chung
2.1.1.1 Phải đủ tuổi kết hôn
- Cấm tảo hôn
Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 : “Nam từ 20 tuổi trở lên và nữ từ 18 tuổi trở lên” mới được kết hôn8 Như vậy, những hành vi kết hôn dưới độ tuổi này là hành vi tảo hôn nên bị pháp luật cấm
Tảo hôn nghĩa là việc lấy vợ, lấy chồng khi một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo qui định của pháp luật
Luật hôn nhân và gia đình qui định tuổi kết hôn là xuất phát từ những cơ sở khoa học: đó là sự phát triển tâm sinh lí của con người cùng với sức khỏe con người và các điều kiện kinh tế-xã hội của nước ta.Việc pháp luật qui định độ tuổi như vậy là nhằm đảm bảo sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất, đảm bảo con cái sinh ra được khỏe mạnh, đảm bảo cho đôi nam, nữ thực hiện được các chức năng sinh đẻ, giáo dục con cái và nhận thức đủ trách nhiệm của mình đối với gia đình
Theo kết quả nghiên cứu khoa học, đây là độ tuổi phát triển đầy đủ về thể chất
và nhận thức được vấn đề giới tính, mới có thể suy xét chín chắn về việc kết hôn của mình Như vậy, mới thể hiện được ý chí tự nguyện của mình trong việc kết hôn, có thể tham gia lao động sản xuất để đảm bảo cuộc sống gia đình Đây là qui định thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với sức khỏe của cộng đồng và đảm bảo thực hiện tốt chức năng gia đình
- Về cách tính độ tuổi kết hôn
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, và 2000 đều qui định như nhau:
“nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” mới được kết hôn, theo tập quán hành chính lâu nay ở nước ta thì có hai cách tính tuổi:
+ Một là: tính theo tuổi tròn (từ khi đủ 12 tháng) mới được tính là một tuổi và phải căn
cứ vào ngày tháng, năm sinh được ghi trong giấy tờ hộ tịch để tính
+ Hai là: Tính tuổi theo ngày đầu dương lịch (theo cách tính này chỉ căn cứ vào năm sinh), cứ bước qua ngày 1/1 đầu năm dương lịch là tính thêm một tuổi
8 Điều 9 khoản 1 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 23Lâu nay, các cơ quan hộ tịch ở nước ta áp dụng cách thứ nhất, tức khi xác định tuổi kết hôn phải đủ năm, đủ tháng
Ví dụ: Người con trai sinh ngày 15/11/1981 thì phải đến ngày 15/11/2001 mới được coi là đủ 20 tuổi, khi đó mới được kết hôn
Trong khi đó theo Điều 3 nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/10/2001 qui định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “nam đang ở tuổi 20 trở lên, nữ đang ở tuổi 18 thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn theo qui định tại Khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình”
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau: “nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên không buộc nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn, mà nam đã bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn”
Đồng thời công văn số 268/TP-HTND ngày 19/4/2001 của Bộ tư pháp cũng qui định độ tuổi kết hôn được hiểu: “ Nam bước sang ngày hôm sau của ngày sinh nhật lần thứ 19, nữ bước sang ngày hôm sau của ngày sinh nhật lần thứ 17”
- Sau khi Luật hôn nhân và gia đình 2000 có hiệu lực và các văn bản hướng dẫn, giải thích trên ra đời đã có nhiều ý kiến khác nhau bàn về cách tính tuổi kết hôn của luật mới:
+ Ý kiến thứ nhất cho rằng: Theo qui định của Bộ luật dân sự (Điều 20), nữ chưa đủ
18 tuổi là người chưa thành niên Đây là hai vấn đề khác nhau nhưng lại có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Người vợ 17 tuổi 1 ngày theo Luật hôn nhân và gia đình mới có quyền và nghĩa vụ về tài sản như quyền có tài sản riêng, quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng nhưng theo Bộ luật dân sự thì người vợ này vẫn là người chưa thành niên khi thực hiện các quyền về tài sản của mình Khi họ xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được sự đồng ý của cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật (Điều 22 Bộ luật dân sự)
Như vậy, pháp luật chỉ mới đề cập năng lực hành vi của người vợ 17 tuổi 1 ngày mà chưa đề cập năng lực hành vi dân sự của người đó Mặt khác, qui định trên sẽ mâu thuẫn với Bộ luật hình sự năm 1999 về tội tảo hôn (Điều 148) Việc văn bản hướng dẫn độ tuổi như vậy là giảm một năm so với qui định trước đây, không đúng theo tinh thần của nhà nước ta không thay đổi độ tuổi kết hôn so với trước đây
Trang 24+ Ý kiến thứ hai cho rằng: Pháp luật qui định như vậy là chặt chẽ, cách hiểu của chúng
ta lâu nay là chưa thấu đáo
Theo từ điển tiếng việt “từ” là biểu thị điểm xuất phát, điểm khởi đầu hay nguồn gốc của việc được nói đến Còn từ “đủ” có số lượng hoặc mức độ đáp ứng được yêu cầu, không ít hơn cũng không nhiều hơn Như vậy, theo cách hiểu thuật ngữ “từ
18 tuổi đối với nữ” có nghĩa là từ ngày đầu tiên bước vào tuổi 18 Qui định về độ tuổi như vậy là tạo khoảng không gian rộng cho nam, nữ lựa chọn thời điểm kết hôn mà không phải đợi đến tròn 20 tuổi và tròn 18 tuổi
Một số nước trên thế giới cũng qui định độ tuổi kết hôn thấp hơn tuổi thành niên, đặc biệt là độ tuổi phía nữ do thể trạng của người Châu Âu to lớn và phát triển hơn so với người Việt nam Thể trạng của người Châu âu ở nhiều nước khác nhau không khác nhau nhiều lắm, nhưng qui định tuổi kết hôn tối thiểu lại không giống nhau tùy theo nước
Ví dụ: Ở Pháp độ tuổi kết hôn là 18 không phân biệt nam, nữ Ở Ý là 16 tuổi và 14
tuổi, Đức là 21 tuổi và 16 tuổi, ở Thụy sĩ là 20 và 18 tuổi v.v…
Như vậy, theo các văn bản hiện hành hướng dẫn áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nam từ 20 tuổi trở lên không bắt buộc phải đủ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên không bắt buộc phải đủ 18 tuổi có quyền kết hôn Bởi vậy, các cơ quan hộ tịch có trách nhiệm tuân thủ đúng pháp luật thực hiện việc đăng kí kết hôn và cần nâng cao trình độ của các cán bộ hộ tịch để có cách hiểu và áp dụng pháp luật thống nhất
2.1.1.2 Phải có sự tự nguyện của hai bên nam, nữ khi kết hôn
- Theo Khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định: “Việc kết hôn
do nam và nữ tự nguyện quyết định không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không được cưỡng ép hoặc cản trở”
Điều luật chủ yếu nhắm vào việc đấu tranh chống tệ nạn cưới ép, gả ép trong các gia đình Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của các hủ tục phong kiến trong hôn nhân, cũng như của chế độ hôn nhân xếp đặt Theo mục 1 Điểm b NQ số 02/2002/NQ-HĐTP thì các thuật ngữ ép buộc, lừa dối, cưỡng ép được hiểu là:
+ Một bên đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất… để ép buộc bên kia đồng ý kết hôn
+ Một bên hoặc cả hai bên nam, nữ bị người khác cưỡng ép nên phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ
Ví dụ: Bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người
nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ, hoặc do bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với
Trang 25nhau nên cưỡng ép con của họ phải kết hôn với nhau… buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ
+ Lừa dối thì luật hiện hành chỉ có định nghĩa chung về sự lừa dối ghi nhận tại Bộ luật dân sự Điều 142 khoản 1 và được áp dụng cho tất cả các giao dịch dân sự không có định nghĩa riêng về sự lừa dối trong hôn nhân Ta nói rằng lừa dối trong hôn nhân là việc một bên cố ý làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch để bên kia chấp nhận xác lập giao dịch kết hôn
Ví dụ như: A muốn kết hôn với B; C cố ý làm cho A nhầm tưởng mình là B cuối cùng
A kết hôn với C mà cứ ngỡ là mình kết hôn với B
Trong giả thiết vừa nêu, A có thể yêu cầu hủy hôn nhân do có sự lừa dối, cũng có thể xin hủy hôn nhân do có sự lừa dối
Thế nhưng, nếu A muốn kết hôn với B vì tin rằng B giàu có và B cũng cố ý làm
ra vẻ giàu có (dù thực ra rất nghèo) để A chấp nhận kết hôn với mình thì khó có thể nói rằng A có quyền yêu cầu hủy hôn nhân do có sự lừa dối Càng không thể xin hủy hôn nhân do có sự lừa dối, nếu A tin rằng B là một chàng trai tơ và B cũng cố tình làm
ra vẻ như vậy dù trên thực tế B đã có một thậm chí nhiều đời vợ
Tòa án nhân dân tối cao về phần mình cũng không xây dựng khái niệm lừa dối trong hôn nhân mà chỉ cho một số ví dụ như lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài, không có khả năng sinh lí nhưng cố tình giấu, biết mình nhiễm HIV nhưng cố tình giấu…
Tuy nhiên, cần phân biệt hành vi lừa dối để kết hôn với sự nhầm lẫn, nếu một người chỉ nhầm lẫm về một số yếu tố về người kia như: nhầm lẫn về nghề nghiệp, về địa vị công tác, về hoàn cảnh gia đình… thì không coi là thiếu sự tự nguyện khi kết hôn
+ Về nhầm lẫn thì về nguyên tắc không có sự nhầm lẫn trong hôn nhân Khác với luật của nhiều nước, luật Việt Nam hiện hành không coi sự nhầm lẫn như là một trong những lí do để yêu cầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu Nếu do nhầm lẫn mà chấp nhận kết hôn thì người nhầm lẫn có thể xin li hôn Nếu sự nhầm lẫn là do hệ quả của sự lừa dối thì có thể yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật do có sự lừa dối
* Nhầm lẫn về giới tính: tất nhiên xác lập quan hệ xác thịt không phải mục đích chính của hôn nhân Song, hôn nhân mang tính chất của cam kết chung sống và cam kết xây dựng gia đình: làm thế nào một người có thể chung sống và xây dựng gia đình theo nghĩa lành mạnh với một người thực ra có cùng giới tính với mình hoặc không rõ thuộc giới tính nào?
Trang 26Người nhầm lẫn về giới tính có thể yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tại Điều 10 khoản 5, nếu bên kia rõ ràng có cùng giới tính với mình Còn lại những khó khăn cho người thực hành luật trong trường hợp bên kia không rõ thuộc giới tính nào
* Nhầm lẫn về lai lịch: Có trường hợp một người muốn kết hôn với một người có lai lịch được biết trước, nhưng cuối cùng lại kết hôn nhầm với người mà mình nhầm tưởng mang lai lịch đó Trường hợp này có thể xảy ra đối với người tìm bạn đời qua thư từ, trong khung cảnh của luật thực định, người muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân
do nhầm lẫn về lai lịch dường như chỉ có mỗi con đường ly hôn để lựa chọn
Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000 nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân cưỡng ép, phụ thuộc vào cha, mẹ của chế độ phong kiến và xây dựng chế độ hôn nhân gia đình mới xã hội chủ nghĩa Tự nguyện kết hôn, là việc hai bên nam, nữ thể hiện sự đồng ý trở thành vợ, chồng của nhau, mỗi bên không bị tác động bởi ý chí của bên kia hay của bất kì người nào khiến cho họ phải kết hôn mà không có tình yêu, hay kết hôn trái với nguyện vọng của họ, sự thể hiện ý chí phải thống nhất với ý chí của họ Hai bên nam, nữ mong muốn trở thành vợ, chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là cùng nhau xây dựng gia đình Sự tự nguyện của hai bên nam, nữ trong việc kết hôn phải thể hiện rõ là họ mong muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai người Sự tự nguyện của các bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài và bền vững Kết hôn, trước hết là quyền chứ không phải là một nghĩa vụ
Vì vậy, về nguyên tắc không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn Đây là điều kiện hết sức quan trọng được pháp luật hầu hết các nước phát triển, văn minh trên thế giới ghi nhận để đảm bảo giá trị đích thực của hôn nhân: “không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện”9 và cuộc sống gia đình chỉ thực sự có hạnh phúc khi được xây dựng trên cơ sở sự hòa hợp và tự nguyện của hai bên nam, nữ
Qui định kết hôn tại Khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là hoàn toàn phù hợp với điều 35 Bộ luật dân sự nước ta: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cưỡng ép kết hôn”.Do đó, quan hệ kết hôn có thể bị hủy khi có dấu hiệu cưỡng
ép, không tự nguyện
9 Điều 146 Bộ luật dân sự nước Pháp
Trang 27- Vì vậy để đảm bảo kết hôn tự nguyện pháp luật ta có qui định:
• Những người muốn kết hôn phải có mặt tại Uỷ ban nhân dân nộp tờ khai đăng
kí kết hôn Trong trường hợp đặc biệt, nếu một trong hai người không thể đến nộp hồ
sơ đăng kí mà có lí do chính đáng thì có thể gửi cho Uỷ ban nhân dân nơi đăng kí kết hôn đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn phải nêu rõ lí do vắng mặt có xác nhận của
Uỷ ban nhân cấp xã cư trú vào ngày Uỷ ban nhân dân tiến hành đăng kí kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì đôi nam, nữ phải có mặt để một lần nữa, hai người phải trả lời trước cán bộ hộ tịch và đại diện Ủy ban nhân dân rằng đến lúc bấy giờ họ vẫn hoàn toàn tự nguyện kết hôn với nhau
• Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, pháp luật cũng không cho phép
củ đại diện trong việc đăng kí kết hôn đồng thời pháp luật cũng không cho phép những người kết hôn vắng mặt tại lễ đăng kí kết hôn Thông thường, lễ đăng kí kết hôn được tiến hành tại Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi đăng kí kết hôn Tuy nhiên, khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa mà diều kiện đi lại quá khó khăn thì lễ đăng kí kết hôn có thể tổ chức tại bản, làng Trên tinh thần đó, những trường hợp quá cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho hai bên nam, nữ hoặc con cái của họ, lễ đăng kí kết hôn có thể tiến hành tại hành ở, cơ quan, đơn vị bộ đội, bệnh viện…Dù ở đâu cũng phải có mặt cả hai người kết hôn
Luật Hôn nhân và gia đình qui định phải có sự tự nguyện thực sự của các bên nam,
nữ khi kết hôn nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân phụ thuộc vào cha mẹ của gia đình phong kiến và xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và vợ chồng bình đẳng
2.1.1.3 Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo qui định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Việc kết hôn bị cấm trong các trường hợp sau đây:
- Người đang có vợ, có chồng;
- Người mất năng lực hành vi dân sự;
- Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
- Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của
vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
- Giữa những người cùng giới tính
Trang 28Nội dung điều kiện này chúng ta sẽ lần lượt đi vào phân tích rõ hơn tại phần 1.2
dưới đây
2.1.2 Các trường hợp cấm kết hôn theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành
2.1.2.1 Cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng
- Theo Điều 4 và khoản 1 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định:
“cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
+ Thế nhưng thế nào là đang có vợ, có chồng theo nghĩa của điều luật đã dẫn? Tất nhiên, người đã đăng kí kết hôn và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân có đăng kí luôn được coi là người đang có vợ, có chồng Bởi vì xuất phát từ bản chất của hôn nhân xã hội chủ nghĩa, là hôn nhân một vợ, một chồng, chỉ có hôn nhân một vợ, một chồng mới đảm bảo sự bền vững và hạnh phúc gia đình, vợ chồng mới thực sự thương yêu nhau, quí trọng nhau và chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ Điều 64 Hiến pháp năm 1992 cũng qui định: “…Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng…”Và theo Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 138 Bộ luật dân sự khẳng định:
“Hôn nhân phải xây dựng trên nguyên tắc một vợ, một chồng”
Vấn đề sẽ trở nên không đơn giản trong trường hợp nam, nữ không đăng kí kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng Cứ hình dung: hai người sống với nhau như vợ, chồng trong nhiều năm sau đó người đàn ông quyết định kết hôn với một người khác và tiến hành thủ tục đăng kí kết hôn theo qui định của pháp luật Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 11 khoản 1, nam, nữ không đăng kí kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ, chồng Bởi vậy, người đàn ông trong giả thiết coi như còn độc thân và cơ quan chức năng phải đăng kí việc kết hôn giữa người đàn ông và người khác đó Gỉa sử, sau khi kết hôn đúng luật, người đàn ông vẫn duy trì quan hệ chung sống như vợ chồng với người đàn bà trước đây thì cả hai sẽ ở trong tình trạng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng (Điều 4 khoản 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) và có thể bị chế tài hình
sự (Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1999) Mặt khác, có vẻ như theo luật cuộc hôn nhân được bảo vệ trong một vụ đa thê phải là cuộc hôn nhân có đăng kí kết hôn và chưa chấm dứt Do đó, nếu một người đàn ông sống cùng một lúc với nhiều người đàn bà
mà không đăng kí kết hôn với một người nào thì sẽ không có quan hệ chung sống nào
Trang 29được bảo vệ, đồng thời cũng không có ai bị trừng phạt Song, chắc chắn đó không phải
là giải pháp phù hợp với ý chí của nhà làm luật Trong trường hợp tất cả các cuộc hôn nhân chưa chấm dứt đều được đăng kí thì luật chỉ bảo vệ cuộc hôn nhân được đăng kí sớm nhất
Theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì người đang có vợ,
có chồng là người đã kết hôn theo đúng qui định của Luật hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn, đã đăng kí kết hôn và quan hệ hôn nhân của họ chưa bị chấm dứt do
li hôn hoặc do một trong hai bên chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết Theo Điều 91
Bộ luật dân sự, một người nếu sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mất tích trong chiến tranh, bị tai nạn, thiên tai, thảm họa,v.v…mà sau một thời gian luật định vẫn không có tin tức gì để biết là còn sống thì những người
có quyền và lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó đã chết Sau khi tuyên bố của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì vợ hoặc chồng của người đó có quyền kết hôn với người khác Trong trường hợp đó việc kết hôn này hoàn toàn hợp pháp, nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố
đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau vẫn có hiệu lực pháp luật nếu người vợ hoặc chồng chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục trở lại Nhưng trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực thì nhà nước ta vẫn thừa nhận những trường hợp nam, nữ lấy nhau không đăng kí kết hôn nhưng vẫn chung sống trong quan hệ vợ, chồng là hôn nhân thực tế Do đó, nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn người đang có vợ, có chồng là người đã kết hôn với người khác theo đúng qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình mà hôn nhân đó chưa bị chấm dứt, từ đó cũng có thể hiểu rằng người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác thì việc kết hôn của họ đã vi phạm điều cấm kết hôn và việc kết hôn đó là trái pháp luật
- Ở nước ta hiện nay, vẫn tồn tại một số trường hợp một chồng hai vợ, hoặc một vợ hai chồng, đó là trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam đã có vợ hoặc có chồng ở miền Nam tập kết ra Bắc (1954) lại lấy vợ hoặc chồng khác Sau khi đất nước thống nhất (30/4/1975) họ đã trở về đoàn tụ gia đình và thực tế đã tồn tại là một người có hai vợ hoặc hai chồng Theo hướng dẫn của thông tư số 60/DS ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn các Tòa án nhân dân địa phương: “Khi giải quyết phải xem xét một cách thận trọng, thấu tình đạt lí…Tòa án nhân dân trước hết phải giải thích cho các đương sự nhận thức rõ được hoàn cảnh đặc biệt của đất nước và tình
Trang 30hình thực tế của gia đình họ, mặc dù họ không muốn như vậy Do đó, mỗi người phải suy nghĩ tìm lấy giải pháp tốt nhất, ít tổn thất và hợp tình, hợp lí nhất….Nếu cả hai vợ, chồng vẫn tha thiết mong muốn gia đình sum họp thì khuyên họ bàn bạc, thu xếp sao cho ổn thoả” Về phía Tòa án thì trong điều kiện cán bộ, bộ đội đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lại lấy vợ (chồng) khác trong thời gian sống ở miền Bắc thì cả hai cuộc hôn nhân đều có giá trị, chủ trương này được Tòa án duy trì trong khung cảnh của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Như vậy, các trường hợp vi phạm trên không phải do ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến mà họ là do ảnh hưởng của hoàn cảnh đất nước có chiến tranh Do đó, việc kết hôn của họ tuy đã vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng nhưng không bị coi là việc kết hôn trái pháp luật Khi giải quyết các trường hợp này, quyền và lợi ích của tất cả các bên đều được pháp luật quan tâm, bảo vệ
Luật hôn nhân và gia đình cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ, chồng với người khác nhằm xóa bỏ chế độ hôn nhân đa thê dưới thời phong kiến Hôn nhân một vợ, một chồng lấy tình yêu nam, nữ làm cơ sở xác lập hôn nhân và lấy tình yêu giữa vợ và chồng là cơ sở duy trì quan hệ hôn nhân.Chỉ có hôn nhân một vơ, một chồng được xây dựng và duy trì trên cơ sở tình yêu nam, nữ, giữa
vợ và chồng thì mới đảm bảo cho hôn nhân tồn tại bền vững và trong gia đình vợ, chồng mới thực sự thương yêu, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, đảm bảo xây dựng gia đình thực sự hạnh phúc
2.1.2.2 Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn
- Theo Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định những trường hợp cấm kết hôn trong đó tại khoản 2: “Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn”
Người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức làm chủ được hành vi của mình nên Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền theo qui định tại Điều 24 Bộ luật dân sự
Có thể xảy ra các trường hợp sau:
+ Nếu người không nhận thức được hành vi của mình quyết định việc kết hôn trong lúc không nhận thức được hành vi của mình thì việc kết hôn không có giá trị do sự ưng
Trang 31thuận không tồn tại10 Thời điểm quyết định việc kết hôn hẳn cũng là thời điểm tiến hành lễ kết hôn trước viên chức hộ tịch
+ Nếu người không nhận thức được hành vi của mình quyết định kết hôn trong lúc đang tỉnh táo thì việc kết hôn có giá trị dù có thể sau đó người này bị đặt trong tình trạng mất năng lực hành vi theo một quyết định của Tòa án (nếu Tòa án quyết định đặt người này trong tình trạng mất năng lực hành vi thì vợ, chồng trở thành người giám hộ đương nhiên)
+ Nếu người không nhận thức được hành vi của mình bị đặt trong tình trạng mất năng lực hành vi thì việc kết hôn xác lập (nghĩa là được đăng kí) sau ngày có quyết định của Tòa án thiết lập tình trạng mất năng lực hành vi sẽ không có giá trị dù người này kết hôn trong lúc tỉnh táo
Tóm lại, nếu vào thời điểm đăng kí kết hôn, quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc kết hôn của họ là trái pháp luật, trường hợp trước đây một người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, nhưng đã được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định đó (khi có căn cứ và có yêu cầu), sau này người đó mới kết hôn thì việc kết hôn của họ vẫn được coi là hợp pháp
Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt nam, khi nam, nữ kết hôn họ phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình đồng thời cũng qui định các quyền nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con cái, qui định trách nhiệm của vợ, chồng đối với gia đình và
xã hội Nhưng những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức làm chủ được hành vi của mình thì cũng không thể nhận thức và thực hiện được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời sống gia đình Do vậy, nếu họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, quyền lợi và sức khỏe của
vợ, chồng, con cái họ Hơn nữa, một trong các những điều kiện kết hôn quan trọng để đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lí là phải có sự tự nguyện của các bên nam, nữ Những người đang mắc bệnh không thể nhận thức được hành vi của mình thì không thể thực hiện được ý chí của họ một cách đúng đắn trong việc kết hôn, không thể đánh
10 Theo Bộ luật dân sự Điều 143, một người có năng lực hành vi dân sự , nhưng đã xác lập giao dịch dân sự vào đúng thời điểm không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình thì có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu Có thể áp dụng điều luật này để xây dựng giải pháp nêu trên, dù thực ra người nói trong điều luật không phải là người trong giả thiết đang được xem xét: khi xây dựng Điều 143 BLDS người làm luật lien tưởng đến một người nói chung là tỉnh táo, nhưng trong hoàn canhrb nhất định và do nguyên nhân nòa đó (thường là nguyên nhân khách quan, ví dụ: bị dụ dỗ dung chất kích thích hoặc ma túy), bị rơi vào tình trạng không nhận thức, điều khiển được hành vi của mình; còn người trong giả thiết đang được xem xét là ngườI thường xuyên không nhận thức được hành vi của mình, chỉ đôi lúc khôi phục được nhận thức trong thời gian
Trang 32giá được sự tự nguyện của họ Vì vậy, Luật hôn nhân và gia đình cấm họ kết hôn.Mặt khác, theo Điều 24 Bộ luật dân sự Việt Nam: “Mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự đều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiên”,nhưng quyền kết hôn và li hôn là quyền nhân thân của mỗi người nên không thể
để cho người đại diện thực hiện Đồng thời, dựa trên căn cứ khoa học cho rằng bệnh tâm thần là loại bệnh có tính di truyền nên các nhà làm luật cũng cho rằng, cần phải có qui định cấm những người mắc bệnh này kết hôn để đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh, đảm bảo cho nòi giống phát triển tốt và đảm bảo cho hạnh phúc gia đình
Vì thế, về nguyên tắc người mất năng lực hành vi dân sự không thể kết hôn
Như vậy, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì người đó bị cấm kết hôn Quyết định có hiệu lực pháp lực của Tòa án là cơ sở để cơ quan đăng kí kết hôn từ chối đăng kí kết hôn nếu người mất năng lực hành vi dân sự xin đăng kí kết hôn Luật hôn nhân và gia đình Việt nam cấm người mất năng lực hành
vi dân sự kết hôn là xuất phát từ tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự, cho gia đình và cho xã hội
2.1.2.3 Cấm những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thân thích kết hôn với nhau
- Qui định tại Khoản 3 và 4 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Cụ thể là: + Cấm kết hôn giữa cha, mẹ với các con ;
+ Giữa ông bà với các cháu nội, ngoại;
+ Giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
+ Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
+ Giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;
+ Bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể;
+ Bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
- Những người có họ trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn với nhau, cách tính như sau:
+ Những người có cùng một gốc sinh ra thì cha, mẹ là đời thứ nhất;
+ Anh, chị, em cùng cha, mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai;
+ Anh, chị, em con chú, con bác,con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba
Như vậy, những người có họ trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn với nhau, cụ thể là:
• Cấm bác ruột, chú ruột, cậu ruột kết hôn với cháu gái;
• Cấm cô ruột, dì ruột kết hôn với cháu trai;
Trang 33• Cấm anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì kết hôn với nhau
- Luật hôn nhân và gia đình cấm những người có cùng huyết thống kết hôn với nhau
để đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành mạnh, đảm bảo lợi ích gia đình và lợi ích xã hội Qua nghiên cứu trên, cơ sở khoa học hiện đại và
từ việc khảo sát, điều tra thực tế, các nhà khảo học đã kết luận rằng: những người có quan hệ huyết thống không thể kết hôn được với nhau bởi vì nếu những người này kết hôn với nhau thì con cái của họ sinh ra thường bị bệnh tật và dị dạng Ví dụ như: bệnh câm, điếc, mù màu, bạch tạng… Thậm chí có trường hợp con cái sẽ bị tử vong ngay sau khi sinh Thực tế cho thấy, tỉ lệ tử vong của những trẻ sơ sinh càng cao nếu huyết thống của cha, mẹ chúng càng gần.Về mặt xã hội và truyền thống dân tộc thì việc kết hôn giữa những người này sẽ phá vỡ tôn ti, trật tự trong họ hàng, cách xưng hô, những chuẩn mực đạo đức bị xâm phạm, suy đồi Vì vậy, pháp luật về hôn nhân và gia đình cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau còn nhằm lành mạnh các mối quan hệ trong gia đình và phù hợp với đạo đức Từ cổ xưa, ông cha ta đã có qui định cấm kết hôn giữa những người có cùng huyết thống dù gần hay xa, thậm chí còn cấm kết hôn đến cả những người có cùng một họ Hầu hết các nước trên thế giới đều
có qui định cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi nào đó
Ví dụ như: Bunggari qui định cấm kết hôn giữa những người trực hệ và những người thân thuộc bang hệ trong bốn đời; luật của Cộng hòa Pháp nghiêm cấm việc kết hôn giữa những người có cùng một dòng họ trong quan hệ trực hệ; cấm việc kết hôn giữa anh, chị, em chính thức hoặc ngoài giá thú trong bàng hệ đồng thời cấm kết hôn giữa chú, bác và cháu gái, cô và cháu trai dù quan hệ họ hang là chính thức hay ngoài giá thú (Điều 161,162,163 Bộ luật dân sự Pháp)
- Không chỉ cấm kết hôn giữa những người có cùng huyết thống, Luật hôn nhân và gia đình còn cấm kết hôn giữa những người có quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng Qui định này nhằm làm ổn định các mối quan hệ trong gia đình đồng thời còn ngăn chặn lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc mà có thể xảy ra hành vi cưỡng
ép kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi
Như vậy, Luật hôn nhân và gia đình Việt nam cấm những người có quan hệ huyết thống, những người có quan hệ nuôi dưỡng, giữa những người đã từng có quan hệ thân thích kết hôn nhằm đảm bảo thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo đảm các nguyên tắc của cuộc sống Đây vừa là qui định của pháp luật vừa là qui tắc đạo đức nhằm phát