1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cấp thiết sửa đổi luật doanh nghiệp

9 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 89,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó có nghĩa là Luật chỉ quy định khung về những vấn đề đặc biệt quan trọng, chẳng hạn, tỷ lệ biểu quyết để thông qua nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên; sự phâ

Trang 1

Cấp thiết sửa đổi Luật Doanh nghiệp (Kỳ I)

Kỳ 1: Đừng nặng tính hình thức

LTS: Sau hơn 7 năm triển khai, Luật Doanh nghiệp 2005 đã ghi nhận nhiều bất cập khi các quy định trong luật còn chưa

rõ ràng, chồng chéo và không đáp ứng kịp thời với sự biến đổi của nền kinh tế, sự chuyển đổi của các cơ chế quản lý nhà nước và nhu cầu phát triển nhanh, mạnh của cộng đồng

DN DĐDN trân trọng giới thiệu loạt bài viết góp ý cho định hướng sửa đổi Luật Doanh nghiệp của luật gia Vũ Xuân Tiền.

Luật DN là đạo Luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đầu tư vốn thành lập DN và quyền tự do kinh doanh của công dân và hình thành một khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng

giữa các DN thuộc mọi thành phần kinh tế.

Việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã chính thức khởi động Đó là sự cần thiết khách quan và cấp bách Bởi, Luật Doanh nghiệp 2005 đã bộc lộ những hạn chế, nhiều quy định không còn phù hợp, đồng thời có những vấn đề mới phát sinh cần được chế định bằng Luật Ban soạn thảo Luật DN sửa đổi đưa ra định hướng cho việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp gồm: Tiếp tục kế thừa và phát huy tinh thần của Luật Doanh nghiệp 2005; tiếp tục mục tiêu Luật Doanh nghiệp

2005 đã đề ra nhưng chưa đạt được Bãi bỏ, sửa đổi các nội dung quy định hiện hành không còn phù hợp hoặc không còn hợp lý so với sự phát triển kinh tế xã hội, thông lệ quốc tế tốt và bổ sung quy định điều chỉnh một số vấn đề thực tiễn mới xuất hiện

Cần một sự đột phá

Định hướng nêu trên không sai nhưng chưa đủ Bởi lẽ, với định hướng đã nêu, rất có thể việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp sẽ chỉ dừng ở việc sửa đổi về kết cấu chương, điều và câu chữ (mặc dù những điều đó cũng là cần thiết) Là một đạo luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đầu

tư vốn thành lập DN và quyền tự do kinh doanh của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp cần có sự đột phá để trên cơ sở đó, huy động được ngày càng nhiều vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, khuyến khích mọi công dân làm giàu cho mình và cho đất nước

Để tạo được sự đột phá, việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2005 cần tập trung vào những mục tiêu sau đây:

Thứ nhất, hình thành một khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng giữa các DN thuộc mọi thành phần kinh tế Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhất Bởi lẽ, dù Luật Doanh nghiệp năm 2005 được gọi là Luật Doanh nghiệp thống nhất và từ 1/7/2010, Luật Doanh nghiệp nhà nước

(DNNN) hết hiệu lực thi hành, các DNNN hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Song, trên thực

tế, các DNNN vẫn được hưởng những ưu đãi biệt lệ trong sử dụng vốn, đất đai và không chịu áp lực cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, cần quy định trong luật sửa đổi hàng loạt vấn đề quan

Trang 2

trọng như: quyền tiếp cận nguồn lực (vốn, đất đai, thị trường, công nghệ ); trách nhiệm bảo toàn vốn chủ sở hữu; chấp nhận áp lực cạnh tranh của thị trường; xoá bỏ tình trạng biến độc quyền nhà nước thành độc quyền kinh doanh Đó là những vấn đề không đơn giản nhưng không thể bỏ qua

Thứ hai, cần trao thêm quyền thoả thuận của những người góp vốn thành lập DN trong Điều lệ Cty Phải khẳng định rằng, cùng nhau góp vốn để thành lập DN là tham gia một cuộc chơi với nguyên tắc "lời cùng ăn, lỗ cùng chịu" Vì vậy, những đồng sở hữu phải được quyền thoả thuận

về những vấn đề trong quản lý, điều hành DN Điều đó có nghĩa là Luật chỉ quy định khung về những vấn đề đặc biệt quan trọng, chẳng hạn, tỷ lệ biểu quyết để thông qua nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên; sự phân cấp quyền quản lý giữa HĐQT/ Hội đồng thành viên với bộ máy điều hành; về sự hình thành và hoạt động của tập đoàn kinh tế Những quy định cụ thể trong quản trị DN sẽ để những người góp vốn thoả thuận và quy định trong điều lệ

Thứ ba, tôn trọng những cam kết quốc tế mà Việt Nam đã chấp nhận thông qua các hiệp định song phương, đa phương, đặc biệt là Hiệp định gia nhập WTO, để thực hiện nghiêm túc nguyên tắc "thương mại không phân biệt đối xử"

Thứ tư, triệt để thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ngăn chặn tình trạng tái xuất của giấy phép con, đồng thời có cơ chế kiểm soát sau đăng ký DN nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp để thực hiện những hành vi trái pháp luật của một bộ phận chủ

DN Với yêu cầu trên, Luật Doanh nghiệp không chỉ quy định rõ ràng, minh bạch trong việc thành lập DN mà còn cần quy định rõ ràng về cơ chế hậu kiểm, về việc ngừng kinh doanh, giải thể DN Đó là những vấn đề chưa được quy định hoặc quy định còn rất mờ nhạt trong Luật Doanh nghiệp năm 2005

Cải cách trong đăng ký DN

Đăng ký DN là khâu mở đầu để một DN ra đời và tham gia vào hoạt động kinh doanh Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã có những cải tiến rất cơ bản so với Luật Cty và Luật Doanh nghiệp

tư nhân năm 1990 về trình tự, thủ tục thành lập DN Nhờ đó, số lượng các DN dân doanh được thành lập ngày càng nhiều Trong những năm vừa qua, thủ tục đăng ký DN cũng liên tục được cải tiến, từ việc đăng ký kinh doanh độc lập với đăng ký thuế đã chuyển thành đăng ký DN và hợp nhất mã số DN với mã số thuế Tuy nhiên, triệt để hơn nữa, có những vấn đề sau đây cần được quy định trong Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)

Một là, cần bãi bỏ quy định "giấy phép đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh" Đây là vấn đề bất hợp lý, thể hiện sự phân biệt đối xử, trái với thoả thuận khi gia nhập WTO và đã được nêu rất nhiều trong các hội nghị, hội thảo trước đây song vẫn không được giải quyết

Nghiêm trọng hơn, việc xin giấy phép đầu tư đối với nhà đầu tư

nước ngoài hiện nay đang bị điều chỉnh bởi Công văn số

1752/BKH-PC ngày 18 tháng 03 năm 2009, Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, trái với quy định tại Nghị định số 139/2007/NĐ-CP và

Nghị định số 102/2010/ NĐ-CP thay thế Nghị định 139 Cụ thể

là, về việc thành lập DN của tổ chức, cá nhân người nước ngoài

tại Việt Nam, tiết b khoản 3 điều 9 Nghị định 139/2007/NĐ-CP

của Chính phủ “Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của

Luật Doanh nghiệp” quy định: “Tổ chức, cá nhân người nước

ngoài lần đầu tiên đầu tư thành lập DN tại Việt Nam được thực

Việc sửa đổi Luật DN cần

có sự đột phá để trên cơ sở

đó, huy động được ngày càng nhiều vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, khuyến khích mọi công dân làm giàu cho mình và cho

đất nước.

Trang 3

hiện như sau: b) Trường hợp DN dự định thành lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập DN thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước” Nghị định số 139/2007/NĐ-CP đã được thay bằng Nghị định số 102/2010/ NĐ-CP Quy định đã trích dẫn trên vẫn được giữ nguyên tại khoản 3 Điều 1 1 Nghị định số

102/2010/NĐ-CP Tuy nhiên, hiện nay việc thành lập DN và góp vốn vào các DN Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài đang được điều chỉnh bởi công văn số 1752/BKH-PC ngày 18/3/2009 Công văn trên quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh” và “trường hợp nhà đầu tư góp vốn để đầu tư thì phải làm thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư” Theo đó, khi góp vốn với nhà đầu tư Việt Nam thành lập DN liên doanh, trong đó bên nước ngoài chiếm không quá 49% vốn điều lệ thì nhà đầu tư phải có dự án đầu tư và phải làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư Như vậy, Công văn

1752/BKH-PC đã phủ nhận quy định trong hai Nghị định của Chính phủ!

Hai là, cần quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn nữa nhằm ngăn chặn tình trạng tuỳ tiện đặt ra những điều kiện như một "giấy phép con" của các cơ quan quản lý đang phát sinh ngày càng nhiều Chẳng hạn, Luật DN không quy định về điều kiện của nơi được chọn làm trụ sở của DN Song, hiện nay, các DN không được sử dụng chung cư làm văn phòng và quy định đó chỉ được thực hiện theo một công văn của Bộ Xây dựng; các các "luật chuyên ngành" đã quy định thêm khá nhiều điều kiện khi đăng ký kinh doanh, thậm chí có những điều kiện được quy định trong Thông tư hướng dẫn

Ba là, Ban soạn thảo dự kiến sẽ bỏ quy định về việc ghi ngành nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký DN Khi đó, ngành nghề kinh doanh sẽ do Đại hội đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên xác định và ghi trong Điều lệ DN Nếu thực hiện được, điều đó sẽ là một cải tiến lớn Song, nếu bỏ việc ghi ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký DN sẽ gây khó khăn lớn cho công tác quản lý thuế và việc kiểm soát sự tuân thủ về điều kiện kinh doanh Bởi danh mục này là căn cứ để DN phát hành hoá đơn, xác định nghĩa vụ về thuế và xác định những điều kiện kinh doanh phải đáp ứng Vì vậy, đề nghị cải tiến việc ghi danh mục ngành nghề trong Giấy chứng nhận đăng ký DN theo hướng không bắt buộc phải ghi chi tiết đến mã ngành cấp IV như hiện nay Hơn nữa, cũng cần có biện pháp để hạn chế việc đăng ký quá nhiều ngành nghề kinh doanh như một số DN hiện nay

Bốn là, về hình thức Giấy Chứng nhận đăng ký DN Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/giấy chứng nhận đăng ký DN cấp theo hình thức tờ rời và khi có thay đổi đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận cũ bị thu lại Điều đó dẫn đến tình trạng không thể biết sự thay đổi của DN về cổ đông/ thành viên góp vốn, vốn điều lệ kể từ khi DN được thành lập Đề nghị thay đổi theo hướng cấp sổ đăng ký DN, có nhiều trang, mỗi trang tương ứng với một lần thay đổi đăng ký kinh doanh

Kỳ II: Quản lý con dấu như thế nào?

Luật gia Vũ Xuân Tiền

Uỷ viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tư vấn và Phản biện chính sách - Hội các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam

Kỳ 2: Bỏ con dấu và công ty hợp danh?

Trang 4

(DĐDN) - Một số quy định trong pháp luật DN hiện hành đối với việc chuyển đổi hình thức công ty vẫn còn nhiều bất cập ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động và hội nhập của chính DN và các nhà đầu tư cũng như đến quyền lợi của bên thứ ba.

Con dấu của DN là "tài sản của DN", do đó, nó phải do DN quyết định về hình thức, nội dung

và công tác quản lý (ảnh: con dấu của một Cty Nhật Bản không theo quy chuẩn con dấu Việt

Nam)

Luật DN 2005 cũng bộc lộ nhiều bất cập, chưa theo kịp những chuyển biến và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước đối với DN, thiếu các quy định cụ thể, rõ ràng về nguyên tắc, vai trò, tiêu chuẩn của các cá nhân và tổ chức tham gia quản trị DN

Quản lý con dấu thế nào?

Ban soạn thảo Luật DN (sửa đổi) đã đưa ra khá nhiều nội dung cần sửa đổi và bổ sung, trong đó, việc có đề xuất bỏ con dấu của DN Đây là một trong những vấn đề đang có nhiều tranh cãi Luật

DN năm 2005 quy định: "1 DN có con dấu riêng Con dấu của DN phải được lưu giữ và bảo quản tại trụ sở chính của DN Hình thức và nội dung của con dấu, điều kiện làm con dấu và chế

độ sử dụng con dấu thực hiện theo quy định của Chính phủ 2 Con dấu là tài sản của DN Người đại diện theo pháp luật của DN phải chịu trách nhiệm quản lý sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật Trong trường hợp cần thiết, được sự đồng ý của cơ quan cấp dấu, DN có thể có con dấu thứ hai" Với quy định trên, từ hàng chục năm qua, phần lớn các DN đã quản lý, sử dụng con dấu đúng quy định của pháp luật, phục vụ cho quản lý, điều hành DN và sản xuất, kinh doanh

Ý kiến đề nghị bỏ con dấu của DN xuất phát từ một số vụ việc tranh chấp căng thẳng trong nội

bộ DN về việc quản lý và sử dụng con dấu, ví dụ vụ việc tại Cty cổ phần Đay Sài Gòn, Cty cổ phần Hữu Nghị Hà Nội, Đại học Hùng Vương và Cty Cung ứng tàu biển Hải Phòng Do một cá nhân chiếm giữ con dấu, DN bị tê liệt Song, nếu cho rằng, những vụ việc tranh chấp như vậy là

do con dấu gây ra thì thật oan cho con dấu Xét về bản chất, đó là những tranh chấp về quyền lực

và thể hiện qua việc tranh chấp quyền quản lý, sử dụng con dấu Nếu không có con dấu, tranh chấp về quyền lực đó vẫn xẩy ra với những biểu hiện khác Trong những trường hợp trên, con dấu không có lỗi mà chỉ bị lợi dụng khi có sự tranh giành quyền lực trong nội bộ DN

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp

lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước" (Điều 1, Nghị định 58/2001/NĐ-CP) Như vậy, với một DN, khi một văn bản được đóng con dấu của DN (và tất nhiên phải có cả chữ ký của người có thẩm quyền) thì văn bản đó là của DN Nếu một văn bản chỉ có chữ ký của người có thẩm quyền nhưng không được đóng con dấu của DN thì chưa

đủ căn cứ để khẳng định đó là văn bản nhân danh DN Sự phân biệt như vậy là rất cần thiết để đảm bảo sự minh bạch, bảo vệ quyền lợi cho những cổ đông, thành viên góp vốn và đối tác trong thương mại, đầu tư của DN Chẳng hạn, ông A, Chủ tịch Hội đồng quản trị - Người đại diện theo pháp luật của Cty cổ phần X ký hợp đồng vay tiền của ông B, hợp đồng được đóng dấu Cty cổ phần X thì đó là Cty X vay và có nghĩa vụ trả nợ Và tất nhiên để được đóng con dấu của Cty X vào hợp đồng vay, hợp đồng này đã phải trải qua một quy trình kiểm tra, rà soát của Hội đồng quản trị hoặc Ban Kiểm soát của Cty X Khi hợp đồng đó chỉ có chữ ký của ông A mà không

Trang 5

được đóng con dấu của Cty X thì đó chỉ là giao dịch của ông A, không có cơ sở pháp lý để yêu cầu Cty X trả nợ Với các hợp đồng mua, bán, hợp tác đầu tư, các quyết định bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật người lao động cũng tương tự như vậy Rõ ràng, con dấu là công cụ quan trọng

để phân biệt rõ, văn bản nào được ban hành, ký kết nhân danh DN và văn bản nào là của cá nhân Nếu không còn con dấu, ranh giới giữa nhân danh DN và nhân danh cá nhân trong các giao dịch của người có thẩm quyền sẽ không còn Khi đó, việc quản lý DN sẽ vô cùng rắc rối Tuy nhiên, điều bất hợp lý trong quy định về quản lý và sử dụng con dấu của DN là ở chỗ, quy định về quản lý con dấu của DN ở nước ta hiện nay được áp đặt hoàn toàn như việc quản lý con dấu của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, quân đội và công an (gọi chung là cơ quan Nhà nước) Con dấu của cơ quan Nhà nước thể hiện quyền lực của Nhà nước

và phải được quản lý chặt chẽ Song, con dấu của DN là "tài sản của DN", do đó, nó phải do DN quyết định về hình thức, nội dung và công tác quản lý Ngược lại, quy định của pháp luật lại quy định rất chi tiết từ hình thức, kích thước, nội dung của con dấu, màu mực dấu Tên quận,

(huyện), tỉnh mà DN đóng trụ sở cũng phải được ghi trên con dấu Chỉ cần DN chuyển trụ sở sang quận (huyện) khác (đó là điều xảy ra rất phổ biến với các DN nhỏ và vừa) là đã phải thay con dấu Điều đó gây tốn kém rất lớn cho cả DN và công tác quản lý của nhà nước Vô lý hơn nữa, khi DN không may bị mất con dấu - tài sản của chính mình - lại bị phạt vi phạm hành chính rất nặng!

Chưa thể bỏ con dấu của DN trong giai đoạn hiện nay khi kinh tế thị trường mới phát triển ở giai đoạn đầu, chữ tín trong kinh doanh chưa được tôn trọng Song, Nhà nước cũng cần trao lại quyền

có con dấu và quản lý con dấu cho chủ sở hữu DN Điều đó có nghĩa là, chỉ cần quy định trong Luật DN như sau: "DN có con dấu riêng và phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh Hình thức, kích thước, nội dung và nguyên tắc sử dụng con dấu do Điều lệ Cty quy định"

Có nên bỏ loại hình Cty hợp danh?

Ban soạn thảo Luật DN (sửa đổi) dự kiến sẽ bỏ loại hình Cty hợp danh vì loại hình Cty này có nhiều hạn chế Câu hỏi đặt ra là, nên bỏ hay vẫn giữ quy định về Cty hợp danh trong Luật DN (sửa đổi) tới đây? Xin khẳng định ngay rằng, không nên bỏ loại hình Cty hợp danh trong Luật

DN vì những lý do sau:

Thứ nhất, trên thực tế, dù không có nhiều Cty được thành lập theo hình thức Cty hợp danh nhưng vẫn có những Cty hợp danh trong lĩnh vực kiểm toán, khám chữa bệnh, tư vấn thiết kế đang hoạt động có hiệu quả Trong một số trường hợp, những người hành nghề độc lập lại rất cần hình thức hợp danh để hoàn toàn chủ động đối với hoạt động của mình Chẳng hạn, ba bác sĩ, có thể thành lập một Cty hợp danh khám chữa bệnh và mỗi người mở một phòng khám riêng với danh nghĩa Cty

Thứ hai, bất kỳ một loại hình DN nào cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định Việc lựa chọn loại hình DN nào hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu hoạt

động của những người góp vốn

Thứ ba, cho rằng vì có ít trong thực tế nên bỏ loại hình Cty hợp

danh trong luật là không có sức thuyết phục Ngược lại, hành

lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các DN phải đầy đủ để

chế định hành vi khi phát sinh trong thực tế và vì vậy, Luật DN

cần quy định nhiều loại hình doanh nghiêp khác nhau

Luật DN hiện hành thiếu các quy định cụ thể, rõ ràng về nguyên tắc, vai trò, tiêu chuẩn của các cá nhân và tổ chức tham gia quản trị DN.

Trang 6

Tuy nhiên, cần nghiên cứu để sửa đổi khung pháp lý cho loại hình Cty hợp danh Điều 130 Luật

DN năm 2005 quy định: 1 Cty hợp danh là DN, trong đó: a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ

sở hữu chung của Cty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; b) Thành viên hợp danh phải

là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Cty; c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Cty trong phạm vi số vốn đã góp vào Cty 2 Cty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh"

Quy định nêu trên đã tạo ra một DN "lưỡng cực" Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình, còn các thành viên góp vốn thì chịu trách nhiệm hữu hạn, trong phạm vi số vốn đã góp vào Cty Hơn nữa, tiết c, khoản 2 Điều 140 Luật DN năm 2005 lại quy định một hạn chế quan trọng với thành viên góp vốn như sau: b) Không được tham gia quản

lý Cty, không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh Cty

Với quy định nêu trên, rất ít nếu không nói là không hề có thành viên góp vốn trong Cty hợp danh Bởi, khi góp vốn vào Cty hợp danh, người góp vốn sẽ chịu rủi ro cao hơn nhiều khi cho vay hoặc gửi tiền vào tiết kiệm Hơn nữa, thành viên góp vốn không được quản lý Cty do đó họ

sẽ chịu rủi ro rất lớn Nếu các thành viên hợp danh hoạt động không có hiệu quả, người góp vốn chẳng những không thu được lãi mà có thể bị mất vốn góp mà không thể quy trách nhiệm cho ai

Từ những phân tích trên, mặc dù không nên bỏ loại hình Cty hợp danh nhưng cần nghiên cứu, quy định lại, Cty hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và không có những thành viên góp vốn Quy định như vậy cũng phù hợp với thông lệ quốc tế hiện nay

Kỳ 3: Những vấn đề của Đại hội đồng cổ đông

(DĐDN) - Trong Cty cổ phần, cổ đông là những đồng sở hữu Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu

quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần

Do đó, Luật DN đã có nhiều điều khoản quy định về quyền

và nghĩa vụ của cổ đông, về quyền của Đại hội đồng cổ đông; triệu tập họp, biên bản họp, sổ đăng ký cổ đông Cho đến nay, một số quy định đã bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp.

Với những Cty cổ phần đại chúng, đặc biệt là Cty cổ phần đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, rất khó có thể tổ chức được cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông lần đầu Bởi lẽ, những

cổ đông thiểu số thường ít quan tâm đến hoạt động của Cty (Ảnh chỉ mang tính minh họa)

Thế nào là cổ phần đã bán?

Điều 87.3 Luật Doanh nghiệp quy định “Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật này được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của Cty”

Trang 7

Theo quy định trên, chỉ khi thỏa mãn cả hai điều kiện: thanh toán đầy đủ, và được ghi vào sổ đăng ký cổ đông thì khi đó cổ phần mới được coi là đã bán

Ở đây, có sự nhầm lẫn về khái niệm giữa “cổ phần được coi là đã bán” với “người mua chính thức trở thành cổ đông của Cty” Theo quy định của Bộ Luật hình sự, một giao dịch được xem là

đã hoàn thành nếu các bên đã hoàn thành mọi nghĩa vụ của mình liên quan đến việc mua bán (thanh toán tiền và giao hàng) Công việc ghi vào sổ đăng ký cổ đông chỉ là việc xác nhận người mua chính thức trở thành cổ đông của Cty Hơn nữa, trong thực tế, có không ít trường hợp, việc mua, bán đã hoàn thành nhưng vì một lý do nào đó Cty chưa cập nhật vào sổ đăng ký cổ đông? Với quy định trên, quyền lợi của người mua sẽ không được bảo vệ

Trong việc sửa Luật Doanh nghiệp, quy định trên cần được sửa lại cho chặt chẽ hơn như sau:

“Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ Và sau khi những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật này được ghi đúng, ghi đủ với sổ đăng ký cổ đông thì người mua cổ phần trở thành cổ đông của Cty”

Hơn thế, Khoản 5 Điều 87 Luật Doanh nghiệp quy định: Các cổ phần được tự do chuyển

nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này Khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 chỉ quy định những hạn chế đối với việc chuyển nhượng cổ phần ưu tiên biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập Song, Nghị định 01/2010/ND-CP về cho bán cổ phần riêng lẻ lại quy định: "cổ phần được mua thông qua chào bán riêng lẻ không được chuyển nhượng trong vòng 1 năm" Đó là quy định không phù hợp với Luật Doanh nghiệp và hạn chế quyền sở hữu của cổ đông

Về điều kiện họp Đại hội đồng cổ đông

Điều 102, Luật Doanh nghiệp hiện hành quy định về điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông như sau: "1 Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; 2 Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 1 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; 3.Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 2 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai Trong trường hợp này, cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyết của các cổ đông dự họp" Quy định nêu trên nhằm bảo vệ lợi ích của cổ đông thiểu số bởi Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất của Cty cổ phần và mọi cổ đông có quyền biểu quyết đều có quyền dự họp Song, quy định trên đã phát sinh những mặt trái trong thực tế

Trước hết, với những Công ty cổ phần đại chúng, đặc biệt là Cty cổ phần đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, rất khó có thể tổ chức được cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông lần đầu Bởi lẽ, những cổ đông thiểu số thường ít quan tâm đến hoạt động của Cty Hơn nữa, chi phí cho việc đi họp Đại hội đồng cổ đông không được Cty thanh toán Do đó, những cổ đông chỉ có cổ phần chiếm 1% đến 5% vốn điều lệ của Cty nhưng cư trú ở xa nơi tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường không tham gia họp và cũng không có thói quen uỷ quyền dự họp Vì vậy, khi không đủ số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết dụ họp, cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông không thể tiến hành, Cty đã phải tốn kém không ít chi phí cho công tác chuẩn bị

Trang 8

Từ vướng mắc trên, một số Cty cổ phần đã quy định trong điều lệ

điều khoản hạn chế quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông của cổ

đông phổ thông như quy định chỉ những cổ đông sở hữu cổ phần

tới 5% vốn điều lệ của Cty mới có quyền dự họp Đó lại là "sáng

tạo" trái luật Quy định như trên đã không xét đến trách nhiệm cần

thiết của cổ đông với tư cách là người đồng sở hữu của Cty

Xin đề nghị, nghiên cứu để quy định lại trong Luật Doanh nghiệp

(sửa đổi), chỉ bắt buộc tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hai lần như sau: "1 Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần

có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; 2.Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 1 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai Trong trường hợp này, cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp

và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyết của các cổ đông dự họp"

Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội khoá 11 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã quy định: 2 Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới" Theo Mục 1 trong Phụ lục kèm theo Nghị quyết

71,

Cty trách nhiệm hữu hạn, Cty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ Cty các nội dung sau:1 Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông; 2 Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông; 3 Tỉ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông

Từ những phân tích trên, trong Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) cần quy định tỷ lệ tối thiểu để thông qua các quyết định là 51%, phù hợp với cam kết gia nhập WTO, tỷ lệ cụ thể cao hơn 51% do Điều lệ Cty quy định

Các quy định hiện hành đối với triệu tập ĐHĐCĐ bất thường cũng cần phải sửa đổi Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, ĐHĐCĐ bất thường được triệu tập để giải quyế các công việc mang tính chất cấp bách không thể đợi đến ĐHĐCĐ thường niên Tuy nhiên, Luật DN quy định thẩm quyền triệu tập đại hội, điều kiện tiến hành họp, thể thức tiến hành họp, biểu quyết, thông qua quyết định của Đại hội của ĐHĐCĐ bất thường cũng được quy định chung như ĐHĐCĐ thường niên Do vậy, khi thực hiện đã nảy sinh những điểm chưa hợp lý như: nhóm cổ đông thực hiện triệu tập ĐHĐCĐ phải mất rất nhiều thời gian, chưa kể các lần ĐHĐCĐ không hợp lệ do không đủ tỷ lệ cổ đông có quyền dự họp… đặc biệt là khó khăn trong việc tiếp cận danh sách cổ đông để thực hiện việc triệu tập Đại hội Theo tôi, Luật DN cần cụ thể hóa các quy định liên quan đến quy trình triệu tập ĐHĐCĐ bất thường theo hướng đơn giản hơn so với ĐHĐCĐ thường niên Đồng thời, pháp luật phải tăng cường các chế tài đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng bất hợp tác hay che giấu thông tin cổ đông đang diễn ra khá phổ biến hiện nay

Tỉ lệ biểu quyết thông qua nghị quyết của ĐHĐCĐ

Khoản 3 Điều 104 Luật Doanh nghiệp quy định đối với Cty cổ phần như sau: quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được số cổ

Luật DN hiện hành được ban hành năm 2005 Qua hơn 7 năm áp dụng, Luật này cũng đã bộc lộ nhiều

sự bất cập, chưa phản ánh được sự phát triển, thay đổi của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các DN

và yêu cầu của quản lý nhà nước.

Trang 9

đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ

cụ thể do Điều lệ Cty quy định; b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Cty; tổ chức lại, giải thể Cty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Cty nếu Điều lệ Cty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định" Thực tế điều này đã hình thành "cổ đông hoặc nhóm cổ đông thiểu số chi phối" dẫn đến hoạt động của Cty bị tê liệt

Tương tự, khoản 5 Điều 104 Luật Doanh nghiệp quy định: "Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định" Ngoài sự bất hợp lý về tỷ lệ 75% như đã phân tích trên, sự phân biệt khi lấy ý kiến bằng văn bản và khi bỏ phiếu trực tiếp là không có cơ sở Cần bỏ quy định này để tạo điều kiện thuận lợi cho các Cty cổ phần áp dụng phổ biến hơn hình thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản

Ngày đăng: 10/04/2018, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w