1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ XUẤT một số vấn đề cần sửa đổi LUẬT DOANH NGHIỆP 2005

14 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân biệt phần vốn góp hay phần vốn thực góp Điểm b, d, đ, Khoản 1, Điều 41 LDN quy định: Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên được có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vố

Trang 1

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN SỬA ĐỔI LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 Đào Lộc Bình (2012) Tạp chí Nghề luật, số 03/2012, tr.24

Luật Doanh nghiệp (LDN) được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2006 là một nỗ lực đáng ghi nhận nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật để Việt Nam gia nhập cộng đồng thương mại thế giới LDN năm 2005 đã có giá trị điều chỉnh thiết thực đối với các loại hình doanh nghiệp không phân biệt hình thức

sở hữu và thành phần kinh tế Để thi hành LDN, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành đối với từng nhóm nội dung cụ thể Các Bộ, ngành có liên quan khác cũng đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật để triển khai thi hành LDN Tuy nhiên, sau 7 năm triển khai thực hiện, LDN đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, thiếu sót cần chỉnh sửa, để một mặt tạo điều kiện hơn nữa cho các nhà kinh doanh trong quá trình thực hiện quyền tự do kinh doanh, mặt khác tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Thực tế đó đòi hỏi LDN cần phải được sửa đổi, bổ sung một cách căn cơ, toàn diện, chứ không phải sửa đổi một cách “manh mún” thông qua các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ như trong thời gian qua (một số quy định của Nghị định hướng dẫn thi hành sửa

cả nội dung của Luật) Việc sửa đổi, bổ sung LDN có rất nhiều nội dung, tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này tác giả tập trung phân tích đề xuất sửa đổi một số vấn đề sau:

1 Sửa đổi một số quy định về thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh

1.1 Giải quyết vướng mắc liên quan đến xung đột giữa Luật Doanh nghiệp và các luật chuyên ngành (chủ yếu là giữa Luật Doanh nghiệp với Luật Đầu tư)

-LDN 2005 là luật chuyên ngành về tổ chức, quản lý doanh nghiệp Đối với các doanh

nghiệp không hoạt động ở những ngành nghề đặc thù thì khi có Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh (GCNĐKKD) là được phép hoạt động luôn, còn các doanh nghiệp hoạt động những ngành nghề cần điều kiện thì phải đáp ứng đủ điều kiện mới được hoạt động Phạm vi điều chỉnh của LDN 2005 là việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt

Trang 2

động của doanh nghiệp (khoản 1, Điều 3)còn phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh nhưng khi đi vào chi tiết cụ thể thì hai luật này lại chồng chéo nhau Liên quan đến vấn đề hoạt động của doanh nghiệp, đáng

lẽ ra Luật Đầu tư chỉ cần điều chỉnh việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) nhưng trên thực tế lại điều chỉnh cả việc cấp GCNĐKKD cho doanh nghiệp bằng quy định tại Điều 20 LDN 2005: GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD Quy định này đã dẫn đến sự chồng chéo chức năng giữa các cơ quan đăng ký doanh nghiệp Và thực tế đã phát sinh vướng mắc về thủ tục bổ sung nội dung đăng ký kinh doanh trong GCNĐT như tên gọi, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật trong trường hợp này, nhà đầu tư phải làm thủ tục tại cơ quan cấp GCNĐT mà không thực hiện được tại Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh như quy định của LDN 2005

- Để giải quyết xung đột giữa LDN và các luật chuyên ngành khoản 1, 2 Điều 3, LDN

2005 đã quy định: “1 Việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế áp dụng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

2 Trường hợp đặc thù liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động

của doanh nghiệp được quy định tại Luật khác thì áp dụng theo quy định của Luật đó”.

Như vậy, đối với trường hợp nêu trên Luật Đầu tư đã được ưu tiên áp dụng, việc thực hiện thủ tục bổ sung đăng ký kinh doanh được thực hiện theo quy định của Luật Đầu

tư 2005 Và như vậy, theo ý kiến của nhiều chuyên gia thì Luật Đầu tư đang “gặm nhấm” LDN [12] Để giải quyết vướng mắc này, trước hết, chúng ta cần hiểu rằng đây

là sự khác nhau trên cùng một vấn đề liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của bốn loại hình doanh nghiệp nêu tại Điều 1, LDN 2005 Đăng ký doanh nghiệp là thủ tục khai sinh ra doanh nghiệp xuất phát từ ý tưởng thành lập doanh nghiệp, còn việc doanh nghiệp hoạt động hay đầu tư như thế nào là quá trình phát triển ý tưởng kinh doanh Chúng ta cần phải hiểu thống nhấtlà mọi doanh nghiệp được thành lập, tổ chức, quản lý theo LDN, còn hoạt động thì có thể theo luật chuyên ngành

Trang 3

nếu như hoạt động đó liên quan đến luật chuyên ngành vì có nhiều ngành nghề hoạt động đặc thù buộc phải có luật riêng điều chỉnh Các luật mới xây dựng phải theo hướng quy định về hoạt động còn về việc thành lập và quản lý sẽ theo LDN Cần ban hành cơ chế quản lý hệ thống đăng ký doanh nghiệp thống nhất ở một cơ quan

Từ những lý do trên, tác giả cho rằng cần tiến hành sửa đổi hai nội dung sau:

Thứ nhất, bỏquy định “Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh” trong Điều 20 để tránh sự chồng chéo và khó khăn cho doanh nghiệp

khi thực hiện việc đầu tư

Thứ hai, cần hiểu một cách thống nhấtlà mọi doanh nghiệp được thành lập, tổ chức,

quản lý theo LDN, còn hoạt động thì có thể theo luật chuyên ngành nếu như hoạt động

đó liên quan đến luật chuyên ngành vì có nhiều ngành nghề hoạt động đặc thù buộc phải có luật riêng điều chỉnh Để giải quyết vấn đề này thì cần sửa đổi khoản 2, Điều

3như sau:“2 Trường hợp đặc thù liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp được

quy định tại Luật khác thì áp dụng theo quy định của Luật đó”.

1.2 Sửa đổi quy định về cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh

Nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 26, Điều 27, LDN 2005 và khoản 5, Điều

29, Nghị định 43, theo đó Doanh nghiệp hiện nay khi thành lập được cấp một GCNĐKKD và mỗi khi đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải hoàn trả lại bản chính GCNĐKKD cũ trước khi được cấp lại GCNĐKKD mới sửa đổi Vì thế, tại một thời điểm nhất định, doanh nghiệp chỉ lưu giữ một bản chính GCNĐKKD Do đó, GCNĐKKD sẽ không ghi nhận toàn bộ những thay đổi về pháp

lý của doanh nghiệp qua thời gian, mà chỉ là một lát cắt thông tin của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, mà cụ thể là vào ngày đăng ký thay đổi lần cuối cùng Như vậy, GCNĐKKD đã không xem đời sống doanh nghiệp như một quá trình, có bắt đầu

- có thay đổi, do vậy, rất khó kiểm tra lý lịch doanh nghiệp qua thời gian

Trang 4

Do đó, tác giả đề nghị khôi phục lại tinh thần của Điều 19, LDN 1999, theo đó, cùng một lúc duy trì hai giấy: (1) GCNĐKKD cho việc thành lập doanh nghiệp và (2) các giấy chứng nhận thay đổi đăng ký kinh doanh cho những lần thay đổi sau khi thành lập Nếu làm được như vậy, mỗi doanh nghiệp sẽ có “lý lịch doanh nghiệp” rõ ràng từ khi thành lập cho đến hiện tại, trong đó, ghi nhận cả những thay đổi thông tin của doanh nghiệp theo thời gian Điều này không làm phức tạp thêm thủ tục đối với doanh nghiệp nhưng lại giúp các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý doanh nghiệp tốt

hơn Theo đó, cần sửa đổi khoản 2, Điều 26 LDN như sau: “2 Trường hợp có thay đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận thay đổi đăng ký kinh doanh”.

2 Sửa đổi một số quy định về Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)

2.1 Phân biệt phần vốn góp hay phần vốn thực góp

Điểm b, d, đ, Khoản 1, Điều 41 LDN quy định: Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên được có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp, chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa

vụ tài chính khác, được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật Trong khi đó, khoản 3, Điều 18, Nghị định 102 hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 41, LDN lại quy

định về “phần vốn thực góp” như sau: “3 Trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác” Quy định này là phù

hợp với thực tế hoạt động góp vốn của Công ty TNHH hiện nay, vì vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi điểm b, d, đ khoản 1, Điều 41 cho thống nhất với quy định của Nghị định

102, cụ thể như sau:

“b) Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn thực góp;…

d) Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn thực góp sau khi công ty đã nộp đủ

thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;

Trang 5

đ) Được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn thực góp khi

công ty giải thể hoặc phá sản;”

2.2 Xác định tư cách thành viên của công ty TNHH

Khoản 5, Điều 45 quy định: “Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty Trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận”.

Theo quy định này thì nếu người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế

hệ thứ ba thì người được tặng cho đương nhiên là thành viên mà không cần phải có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên Còn nếu người được tặng cho không phải là người cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì cần phải được Hội đồng thành viên chấp thuận thì mới trở thành thành viên Đối với vợ và con nuôi của thành viên không phải

là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba nên việc chuyển nhượng phải được Hội đồng thành viên chấp thuận Điều này không hợp lý vì vợ, con đẻ, con nuôi đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo khoản 1, Điều 676, Bộ luật Dân sự 2005 nhưng trong vấn đề tặng cho phần vốn góp lại có sự phân biệt Con đẻ là người được tặng cho thì con đẻ đương nhiên là thành viên, còn vợ và con nuôi là người được tặng cho thì phải được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên mới trở thành thành viên Đó là chưa kể đến trường hợp tặng cho cháu nội, cháu ngoại (chỉ thuộc hàng thừa kế thứ hai) thì cháu nội, cháu ngoại đương nhiên là thành viên còn tặng cho vợ và con nuôi (thuộc hàng thừa kế thứ nhất) thì vợ và con nuôi lại phải được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên mới trở thành thành viên Quy định như vậy có sự không hợp lý và rất dễ

“lách” Nếu thành viên muốn tặng cho vợ nhưng lại không muốn thông qua Hội đồng thành viên thì thực hiện trước tiên tặng cho con đẻ, sau đó con đẻ lại tặng cho mẹ

Vì vậy, cần sửa đổi khoản 5, Điều 45 LDN theo hướng người được tặng cho là những người ở hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai như quy định tại Điều 676, Bộ luật Dân sự

2005 Cụ thể như sau: “Trường hợp người được tặng cho thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai thì họ đương nhiên là thành viên của công ty Trường hợp người

Trang 6

được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận”.

3 Sửa đổi một số quy định về Công ty cổ phần (CTCP)

3.1 Quy định về cổ đông sáng lập

Theo quy định tại khoản 11, Điều 4, LDN “cổ đông sáng lập là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào Bản Điều lệ đầu tiên của Công ty Cổ phần” Tuy nhiên, tại điểm c, khoản 3, Điều 84, LDN lại quy định “Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty” Rõ ràng ở đây có sự mâu thuẫn vì nếu

theo cách hiểu của Điều 84 nêu trên thì cổ đông sáng lập còn là người nhận góp vốn nữa và người này không ký tên vào Điều lệ của công ty Do đó, cần thống nhất giữa các điều khoản quy định cổ đông sáng lập là cổ đông theo như khoản 11, Điều 4 vì họ mới là người đầu tiên nghĩ ra ý tưởng kinh doanh và đi đầu trong việc khai sinh ra doanh nghiệp Và tất cả những người đến sau không được coi là cổ đông sáng lập và tên của cổ đông sáng lập phải được lưu danh trên GCNĐKDN ngay cả khi họ không

sở hữu bất kỳ một cổ phần nào của Công ty

Vì vậy, theo tác giả cần sửa đổi điểm c, khoản 3, Điều 84 LDN 2005 lại như sau:

“Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó;

người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông của công ty”.

3.2 Một số quy định liên quan đến quyền lợi của cổ đông

- Đối với cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông

LDN cho phép nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc tỷ lệ nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định được yêu cầu triệu tập đại hội đồng cổ đông (khoản 2, điều 79) Quy định

này cũng không hợp lý vì khi cổ đông đóng góp nhiều vốn vào công ty (10% trở lên hoặc một tỷ lệ khác), họ phải được quyền ngay lập tức cử người vào Hội đồng quản trị

Trang 7

họăc Ban kiểm soát để đại diện quyền lợi hợp pháp của họ Do đó, nên bỏ thời hạn 6

tháng trong điều khoản trên Như vậy, khoản 2, Điều 79 sẽ được sửa đổi như sau: “Cổ đông họăc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty có các quyền sau đây: a) đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát; …”

- Quy địnhvề thành lập Ban kiểm soát trong CTCP

Điều 95, LDN quy định: “Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát” Quy định như vậy là bất hợp lý; nếu theo đúng lời

văn của điều luật này thì CTCP chỉ phải thành lập Ban kiểm soát trong hai trường hợp: (1) khi CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhân, mà không cần quan tâm đến có bao nhiêu cổ đông là tổ chức và tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ; và (2) khi có cổ đông là tổ chức chiếm trên 50% tổng số cổ phần của công ty Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi

Điều 95 như sau: “Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát’.

- Về danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông

Khoản 1, Điều 98,LDN 2005quy định “Danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập dựa trên sổ đăng ký cổ đông của công ty Danh sách cổ đông

có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập khi có quyết định triệu tập và phải lập xong chậm nhất ba mươi ngày trước ngày khai mạc họp Đại hội đồng cổ đông nếu Điều lệ công ty không quy định một thời hạn khác ngắn hơn.”

Đối với công ty cổ phần đại chúng, giao dịch mua bán chứng khoán xảy ra hằng ngày, nên quy địnhnày sẽ không đảm bảo quyền lợi của những người mua chứng khoán sau thời điểm công ty chốt danh sách Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của người mua chứng

Trang 8

khoán tác giả kiến nghị nên sửa đổi khoản 1, Điều 98như sau: “Danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập dựa trên sổ đăng ký cổ đông của công

ty Danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập khi có quyết định triệu tập và phải lập xong chậm nhất ba mươi ngày trước ngày khai mạc họp Đại hội đồng cổ đông nếu Điều lệ công ty không quy định một thời hạn khác ngắn hơn Trong trường hợp có sự thay đổi về cổ đông xảy ra sau thời điểm này, người

nhận chuyển nhượng cổ phần sau thời điểm công ty lập danh sách cổ đông phải nộp cho công ty giấy tờ chứng minh đã hoàn thành việc chuyển nhượng để công ty cập nhật lại danh sách Khi đó, người nhận chuyển nhượng sẽ có quyền tham dự họp Đại hội đồng cổ đông”

3.3 Quy định đối với chức danh Giám đốc hoặc Tổng giám đốc CTCP

Khoản 2, Điều 116, LDN, quy định: “Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác” Đây là

quy định không có trong LDN 1999 và chỉ mới được nêu trong LDN 2005 Hiện nay, còn có nhiều quản điểm khác nhau về quy định này

Quan điểm ủng hộ thì cho rằng hoạt động của công ty cổ phần khá phức tạp và giám đốc công ty cổ phần phải toàn tâm toàn ý trong việc điều hành công ty cổ phần Khi giám đốc công ty cổ phần cùng một lúc điều hành thêm các doanh nghiệp khác, có thể

sẽ dẫn đến việc sao nhãng việc điều hành công ty cổ phần Hơn nữa, quy định này còn hạn chế khả năng của giám đốc công ty cổ phần điều hành các “công ty sân sau” của

họ và gây thiệt hại cho công ty cổ phần và sau đó là các cổ đông

Quan điểm của tác giả là: quy định này có những cơ sở hợp lý của nó nhưng chưa hẳn phù hợp với tất cả các loại hình doanh nghiệp Yêu cầu giám đốc công ty cổ phần không được kiêm nhiệm chức danh tương tự trong các doanh nghiệp khác có thể phù hợp với công ty đại chúng hoặc công ty niêm yết, do việc điều hành các công ty này là phức tạp và có thể ảnh hưởng đến hàng trăm hàng ngàn cổ đông, nhưng sẽ là không hợp lý khi áp dụng đối với công ty cổ phần chỉ có vài ba cổ đông Hơn nữa, tác giả cho rằng:một người có thể điều hành nhiều doanh nghiệp cùng một lúc nếu họ có khả

Trang 9

năng và được các bên liên quan chấp thuận Vì vậy, theo tác giả nên sửa đổi quy đinh hạn chế tại khoản 2, Điều 116,LDN 2005 chỉ nên áp dụng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám của công ty đại chúng hoặc công ty niêm yết

4 Sửa đổi một số quy định về công ty hợp danh

4.1 Về tư cách pháp nhân của Công ty hợp danh

Điểm b, khoản 1 và khoản 2, Điều 130 Luật DN quy định: “…b) Thành viên hợp

danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa

vụ của công ty;… 2 Cty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Quy định như trên mâu thuẫn với Điều 84, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về pháp

nhân: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1 Được thành lập hợp pháp; 2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”.Như vậy, khi các thành viên hợp danh

góp vốn thành lập Công ty và Công ty có tư cách pháp nhân thì họ hoạt động nhân

danh pháp nhân đó Do đó, quy định “Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty” là vô lý Từ

đó, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 2, Điều 130: Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân.

4.2 Về hình thức pháp lý của công ty hợp danh

Điều 130, LDN 2005 về công ty hợp danh không quy định một cách rõ ràng về hình thức của công ty hợp danh, nhưng với nội dung tại khoản 1, Điều 130, công ty hợp danh cũng có thể được coi phân thành hai loại là: công ty hợp danh thường và công ty hợp danh hữu hạn Trong đó công ty hợp danh hữu hạn cần phải có ít nhất hai thành viên hợp danh và các thành viên góp vốn Như vậy, việc xác định hình thức pháp lý của công ty hợp danh trong LDN 2005 là chưa thật sự rõ ràng, chưa có sự tách bạch hai hình thức hợp danh là hợp danh thường và hợp danh hữu hạn Điều này là

Trang 10

chưa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn bởi vì sự tách bạch giữa hai hình thức hợp danh có ảnh hưởng tới bản chất của các quan hệ đầu tư trong công ty hợp danh Vì vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 1, Điều 130, LDN 2005 như sau:

“Điều 130 Công ty hợp danh

1 Công ty hợp danh là một hình thức liên kết đầu tư được tạo lập bởi từ hai người trở lên cùng điều hành hoạt động kinh doanh với tư cách là chủ sở hữu, và được điều chỉnh bởi thỏa thuận hợp danh Công ty hợp danh gồm 02 loại: hợp danh thường và hợp danh hữu hạn.

a Công ty hợp danh thường là công ty phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, cùng tiến hành kinh doanh dưới một tên chung và cùng chịu trách nhiệm về các khoản

nợ, nghĩa vụ tài sản của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình.

b Công ty hợp danh hữu hạn là công ty có ít nhất hai thành viên trở lên trong

đó có ít nhất một thành viên cam kết chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình, còn thành viên còn lại chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”.

5 Quy định về nhóm công ty và tập đoàn kinh tế

Quy định về nhóm công ty và tập đoàn kinh tế tại Điều 146 và Điều 149, LDN cho thấy, khái niệm về tập đoàn kinh tế ở Việt Nam vẫn còn có điểm hạn chế Dưới góc độ

lý luận, nhóm công ty thực chất là những pháp nhân độc lập nhưng có quan hệ gắn bó với nhau Tùy thuộc tính chất, mức độ quan hệ liên kết mà nhóm công ty có thể tồn tại dưới nhiều hinh thức khác nhau Theo thông lệ hình thành các tập đoàn kinh tế ở nhiều nước, hình thức công ty mẹ - con cũng chỉ là một hình thức liên kết vốn phổ biến, thực tế vẫn còn rất nhiều hình thức liên kết khác tạo nên nhóm công ty như: nhượng quyền thương hiệu, thỏa ước chia sẻ thị trường… Vì vậy, việc phân định hình thức tồn tại của nhóm công ty thành “công ty mẹ - công ty con”; “tập đoàn kinh tế”

Ngày đăng: 10/04/2018, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w