Thẩm quyền họp bàn và quyết định việc thay đổi Đăng ký kinh doanh ĐKKD của Công ty cổ phần Vấn đề này, Luật doanh nghiệp quy định tại Điều 26 với nội dung cơ bản là: “Khi thay đổi các nộ
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH HƯỚNG DẪN THỰC
HIỆN LUẬT DOANH NGHIỆP 2005
Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 là cơ sở pháp lý cho sự hình thành, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam Phải nói rằng đạo luật này đã góp phần tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà trong bối cảnh hội nhập kinh tế, quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có những bất cập, vướng mắc ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Những bất cập và vướng mắc này chúng tôi cho rằng xuất phát từ những quy định hướng dẫn thi hành không đúng tinh thần các quy định của luật Doanh nghiệp
Chúng tôi xin nêu ra một số điểm bất cập trong việc quy định và hướng dẫn việc thay đổi nội dung Đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp:
1 Thẩm quyền họp bàn và quyết định việc thay đổi Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) của Công ty cổ phần
Vấn đề này, Luật doanh nghiệp quy định tại Điều 26 với nội dung cơ bản là:
“Khi thay đổi các nội dung ĐKKD thì doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan ĐKKD trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định thay đổi” Để hướng dẫn thực hiện nội dung này, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/8/2006 tại Chương V đã quy định cụ thể về từng nội dung thay đổi Theo đó, nếu cần thay đổi các nội dung đã đăng ký kinh doanh (ngành nghề kinh doanh, địa chỉ trụ sở chính, đổi tên doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật, vốn điều lệ, cổ đông sáng lập…) doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ gồm ba loại giấy tờ: 1 Thông báo thay đổi ĐKKD; 2 Quyết định thay đổi ĐKKD; 3 Bản sao Biên bản họp của: nếu là công ty TNHH hai thành viên thì của Hội đồng thành viên; nếu là Công ty cổ phần thì của Đại hội đồng cổ đông; … Theo quy định này đối với công ty Cổ phần, thì
là tất cả các vấn đề thay đổi đều phải có Quyết định và Biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông Trong khi đó không phải mọi vấn đề thay đổi của công ty Cổ phần đều phải được quyết định bởi Đại hội đồng cổ đông Đơn cử như việc thay đổi:
“Người đại diện theo pháp luật với chức danh Giám đốc Công ty” Luật doanh
Trang 2nghiệp 2005 quy định Hội đồng quản trị có thẩm quyền: “Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng đối với Giám đốc, Tổng giám đốc…” do vậy trong trường hợp này theo chúng tôi, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty là Giám đốc/Tổng giám đốc thì chỉ cần cung cấp Quyết định và bản sao Biên bản họp Hội đồng quản trị là đủ mà không cần đến Quyết định và bản sao Biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông
Điều 108 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện những quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông” Do vậy, theo chúng tôi, nếu Điều lệ công ty cổ phần không có quy định thêm về thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông so với quy định của Luật doanh nghiệp thì Hội đồng quản trị có thể họp bàn và quyết định được những vấn đề thay đổi nội dung ĐKKD phù hợp với thẩm quyền và chức năng của mình
Công ty cổ phần là một mô hình doanh nghiệp hiện đại và sự phát triển rất mạnh mẽ, quy mô và cổ đông của nhiều doanh nghiệp là rất lớn Do vậy việc tổ chức một cuộc họp Đại hội đồng cổ đông để họp bàn và quyết định những vấn đề
mà đáng ra Hội đồng quản trị (và thực tế là HĐQT có đủ thẩm quyền) là điều hết sức tốn kém và lãng phí và thực sự khó khăn cho doanh nghiệp Có nhiều doanh nghiệp chỉ vì không tổ chức được việc họp Đại hội đồng cổ đông nên không thể thực hiện được việc thay đổi ĐKKD mà đình trệ hoạt động là điều rất tiếc và không đáng có
2 Thẩm quyền ký “Thông báo thay đổi Đăng ký kinh doanh” đối với trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần.
Đối với trường hợp thay đổi “Người đại diện theo pháp luật” của Công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần, Nghị định số 88/2006/NĐ – CP của Chính phủ quy định: “Trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thì trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày quyết định thay đổi, công ty gửi thông báo đến Phòng Đăng
ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký kinh doanh Nội dung thông báo gồm:
Trang 3* Tên, địa chỉ trụ sở chính, số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty;
* Họ, tên, số Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 18 Nghị định này, chức danh, địa chỉ thường trú của người đang là đại diện theo pháp luật của công ty và của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty;
* Họ, tên và chữ ký của Chủ tịch Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của Chủ tịch Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần Trường hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công
ty hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty bỏ trốn khỏi nơi cư trú, bị tạm giam, bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được bản thân hoặc từ chối ký tên vào thông báo của công ty thì phải có họ, tên và chữ ký của các thành viên Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các thành viên Hội đồng quản trị đã tham dự và biểu quyết nhất trí về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty »
Như vậy, theo quy định của Nghị định này thì Thông báo về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty
cổ phần phải được ký bởi Chủ tịch Hội đồng thành viên (đối với công ty TNHH) hoặc Chủ tịch HĐQT (đối với công ty cổ phần) Thế nhưng, theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2006/TT-BKH ngày 19/10/2006 của Bộ kế hoạch và đầu tư thì
« Thông báo » trong trường hợp này phải được ký bởi Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (mẫu số III-5 kèm Thông tư) Theo hướng dẫn này thì có những trường hợp là phù hợp bởi có doanh nghiệp quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên (Công ty TNHH) hoặc Chủ tịch HĐQT (Công ty cổ phần) là người đại diện theo pháp luật nhưng có không ít doanh nghiệp quy định Giám đốc/ Tổng giám đốc mới là người đại diện theo pháp luật Chính vì sự hướng dẫn này mà cơ quan Đăng ký kinh doanh chỉ chấp nhận những hồ sơ do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký Có những doanh nghiệp đã « khóc dở, mếu dở » vì người đại diện theo pháp luật của công ty là Giám đốc được thuê Trong quá trình điều hành, quản lý công ty đã có nhiều sai phạm buộc HĐQT phải bãi nhiệm và
Trang 4thay thế người khác Lúc này, nếu tử tế thì vị Giám đốc - đại diện theo pháp luật này chấp nhận việc ký vào « Thông báo » để doanh nghiệp thực hiện được thủ tục thay đổi, nếu không thì doanh nghiệp chỉ biết « kêu trời » ! và không thể thực hiện được việc thay đổi
3 Thẩm quyền họp bàn và quyết định việc thành lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện của công ty cổ phần.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, thẩm quyền này thuộc Hội đồng quản trị công ty Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ đã có hướng dẫn về điều này rất chính xác đó là kèm theo Thông báo thành lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện công ty cổ phần phải có Quyết định và bản sao Biên bản họp Hội đồng quản trị Thế nhưng trong hướng dẫn của Phòng ĐKKD - Sở kế hoạch và đầu tư
Hà Nội trên website lại hướng dẫn lập mẫu Quyết định và Biên bản họp kèm theo thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông ! (mẫu HAPI-14-23và
BM-HAPI-14-24 ) Mặc dù đây không phải là văn bản pháp quy nhưng là sự hướng
dẫn của một cơ quan quản lý Nhà nước về ĐKKD mà thiếu chính xác thì doanh nghiệp sẽ “không biết đường nào mà lần”
Chúng tôi hy vọng rằng, những bất cập này sẽ được thay đổi để doanh nghiệp được hưởng sự “thông thoáng” một cách trọn vẹn từ những quy định của Luật doanh nghiệp 2005
Luật sư Lê Trung Sơn Văn phòng luật sư Việt Tín