1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ban thuyet minh Luật doanh nghiệp

35 238 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 483 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệtổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kếtgóp khi thành lập doanh nghiệp đối

Trang 1

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

THUYẾT MINH CHI TIẾT NỘI DUNG

Dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)

I CẤU TRÚC VÀ SỐ LƯỢNG ĐIỀU KHOẢN

Dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) bao gồm 10 chương và 222 điều Sosánh với Luật doanh nghiệp 2005, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) cơ bản giữnguyên cấu trúc, gồm 10 chương Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã bổ sungthêm Chương IV về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làmchủ sở hữu; sáp nhập hai chương cũ của Luật Doanh nghiệp 2005 là “Chương IXquản lý nhà nước” và “Chương X điều khoản thi hành” thành Chương IX về tổchức thực hiện

Về số lượng điều khoản, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) tăng 42 điềumới; có 132 điều được sửa đổi, bổ sung; có 39 điều được giữ nguyên; bãi bỏ 5điều.1 Cơ cấu của dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) cụ thể như sau:

- Chương I: Những quy định chung

- Chương II: Đăng ký thành lập doanh nghiệp

- Chương III: Công ty trách nhiệm hữu hạn Chương này gồm ba mục:

+ Mục I: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

+ Mục II: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

- Chương IV: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làmchủ sở hữu

- Chương V: Công ty cổ phần

- Chương VI: Công ty hợp danh

- Chương VII: Doanh nghiệp tư nhân

- Chương VIII: Nhóm công ty

- Chương IX: Tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp

Trang 2

Những điều khoản được trích dẫn trong báo cáo này, những phần chữ gạchchân là nội dung được sửa đổi, bổ sung so với Luật Doanh nghiệp 2005 Cụ thể,những thay đổi cơ bản trong nội dung dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) so vớiLuật Doanh nghiệp 2005, như sau.

1 Chương I: Những quy định chung.

Chương này bao gồm 20 điều, từ Điều 1 đến 20 Dự thảo Luật Doanh nghiệp(sửa đổi) đã sửa đổi cơ bản 3 Điều (các Điều 3, 4 và 7) và bổ sung thêm 5 Điềumới (các Điều 11, 12, 13, 16, 17, 18, 19 và 20)

Các nội dung sửa đổi cơ bản

Điều 3: Áp dụng Luật doanh nghiệp và các luật có liên quan (Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005)

Quy định như hiện nay của Luật Doanh nghiệp (Điều 3) đã làm cho phạm vi

áp dụng Luật Doanh nghiệp đối với hoạt động thành lập doanh nghiệp bị thu hẹpđáng kể bởi các Luật chuyên ngành Do đó, sửa đổi Luật Doanh nghiệp được thựchiện theo nguyên tắc tác bạch giữa thủ tục thành lập doanh nghiệp và thủ tục cấpgiấy phép kinh doanh đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện; áp dụng thốngnhất thủ tục đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp hoạt động trong mọi ngànhnghề, lĩnh vực; chỉ áp dụng quy định của Luật chuyên ngành nếu có sự khác nhau

về nội dung tổ chức quản lý do tính chất đặc thù của doanh nghiệp có liên quan

Do đó, Điều 3 được sửa đổi lại thành:

“Điều 3 Áp dụng Luật doanh nghiệp, điều ước quốc tế và các luật có liên

quan

1 Việc thành lập,Trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác về tổ chứcquản lý và hoạt động của đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ápdụng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

2 Trường hợp đặc thù liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạtđộng của doanh nghiệp được quy định tại Luật khác thì áp dụng theo quy định củaLuật đó.”

Điều 4: Giải thích từ ngữ (Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005)

Bổ sung thêm 7 giải thích từ ngữ (các khoản 11, 14, 15, 16, 23, 24 và 25) vàsửa đổi 7 từ ngữ (các khoản 4, 5, 6, 9, 10, 12, 13 và 21) Mục tiêu sửa đổi, bổ sungnhằm tạo cách hiểu chính xác hơn, đầy đủ và rõ ràng hơn một số khái niệm được

sử dụng nhiều lần trong Luật

Các thuật ngữ quan trọng được sửa đổi và làm rõ là các khái niệm về vốncủa công ty, cụ thể các khoản 4, 5 và 6:

“4 Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc cácchủ sở hữu chungtạo thành vốn điều lệ của công ty Tài sảnGóp vốn bao gồm gópvốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụngđất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi

2

Trang 3

trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn để thành lập doanhnghiệp mới hoặc tăng thêm vốn điều lệ của công tydoanh nghiệp đã được thànhlập.

5 Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công

ty góp vào vốn điều lệtổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kếtgóp khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công tyhợp danh Tỷ lệ phần vốn góp là tỷ lệ giữa phần vốn góp của một thành viên vàvốn điều lệ công ty

6 Vốn điều lệ là số vốntổng giá trị tài sản do các thành viên, cổ đôngchủ doanh nghiệp tư nhân đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty

7 Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luậtđểkhi thành lập doanh nghiệp đối với công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữuhạn và doanh nghiệp tư nhân; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã phát hành đối vớicông ty cổ phần.”

Điều 7: Ngành, nghề và điều kiện kinh doanh (Điều 7 dự thảo Luật)

Một trong những thay đổi quan trọng trong dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửađổi) là đổi mới phương thức quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên nguyêntắc doanh nghiệp được quyền chủ động kinh doanh tất cả những ngành, nghề màpháp luật không cấm hoặc không hạn chế Để thực hiện được nguyên tắc này thìđòi hỏi danh mục ngành nghề cấm kinh doanh, kinh doanh có điều kiện và các điềukiện kinh doanh tương ứng phải được xác định rõ ràng, cập nhật, công bố côngkhai để mọi doanh nghiệp dễ dàng nhận biết và thực hiện Do đó, Luật Doanhnghiệp (sửa đổi) đã bổ sung thêm khoản 4 Điều 7 nhằm xác định rõ trách nhiệmcủa các bộ, ngành có liên quan trong tập hợp, công bố và cập nhật danh mục cácngành, nghề kinh doanh bị cấm, ngành nghề kinh doanh có điều kiện và các điềukiện kinh doanh tương ứng do luật, pháp lệnh hoặc nghị định quy định trong cáclĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước

Các nội dung bổ sung mới

Điều 11: về doanh nghiệp xã hội

Tương tự như nhiều nước khác trong khu vực và thế giới, trong thời giangần đây ở nước ta số doanh nghiệp xã hội (DNXH) đã ngày càng gia tăng và hoạtđộng trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế Đây là doanh nghiệp mà lợinhuận thu được chủ yếu dùng để tái đầu tư giải quyết vấn đề xã hội hoặc môitrường Theo điều tra sơ bộ tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, hiện

có khoảng vài trăm DNXH hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạonghề, chăm sóc các nhóm người yếu thế, giải quyết các vấn đề môi trường, bảo vệmôi trường và xóa đói, giảm nghèo, v.v…

Doanh nghiệp xã hội trước hết là doanh nghiệp So với doanh nghiệp thôngthường, điểm khác biệt là doanh nghiệp này hoạt động trước hết vì mục tiêu xã hội;tức là lợi nhuận thu được sẽ tái đầu tư trở lại để giải quyết vấn đề xã hội hay môi

3

Trang 4

trường đã đăng ký, không chia cho các thành viên, cổ đông như doanh nghiệp bìnhthường Như vậy, doanh nghiệp xã hội không phải là một loại hình pháp lý mới vềdoanh nghiệp và trên thực tế đang được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp, đó là:công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp tư nhân Do đó,việc bổ sung thêm định nghĩa về doanh nghiệp xã hội không phải bổ sung thêm đốitượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp (sửa đổi).

Doanh nghiệp xã hội cũng khác với “các hoạt động mang tính vì cộng đồng”của doanh nghiệp thông thường Các hoạt động như làm từ thiện, hay trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp là các hoạt động xã hội bổ sung thêm của các doanhnghiệp thông thường; còn đối với doanh nghiệp xã hội, thì tôn chỉ, mục đích vàtoàn bộ hoạt động của doanh nghiệp là để giải quyết vấn đề xã hội hay môi trường

đã xác định ngay từ khi thành lập

Khảo sát thực tế và tham vấn chính sách cho thấy chủ sở hữu, người quản lý

và các bên có liên quan đều mong muốn DNXH được quy định và thừa nhận vềmặt pháp lý Sự thừa nhận đó cũng là để làm rõ, phân biệt loại doanh nghiệp nàyvới doanh nghiệp thông thường, thuần túy thương mại Mong muốn nói trên làchính đáng; vì nếu được như vậy, DNXH ở nước ta sẽ có điều kiện thuận lợi hơn

để phát triển để trở thành lực lượng bổ sung cho Nhà nước, đồng hành cũng nhànước trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường của đất nước

Do đó, khoản 1 Điều 11 dự thảo Luật đã xác định: Doanh nghiệp xã hội làdoanh nghiệp được thành lập và hoạt động nhằm giải quyết một hoặc một số vấn

đề xã hội và môi trường; ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệpđược sử dụng để tái đầu tư nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường đã đăng

ký Đồng thời, khoản 2 Điều 11 đã xác định các quyền và nghĩa vụ cơ bản củaDoanh nghiệp xã hội; trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ có chính sách phù hợp khuyếnkhích phát triển doanh nghiệp xã hội phù hợp với chủ trương xây dựng nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta

Điều 16: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Điều 17: Bổn phận người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Đây là 2 điều khoản được bổ sung mới nhằm xác định rõ ràng và thống nhấtcách hiểu địa vị pháp lý, vai trò và bổn phận của người đại diện theo pháp luật củadoanh nghiệp Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác định rõ là cánhân và là người đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phátsinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyênđơn, bị đơn trước tòa án (khoản 1 Điều 16 dự thảo Luật)

Ngoài ra, dự thảo Luật Doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có thể có nhiềuhơn một đại diện theo pháp luật Về nội dung này, cũng có ý kiến cho rằng dự thảoLuật Doanh nghiệp (sửa đổi) không nên quy định cụ thể mà chỉ nên đưa ra quyđịnh mang tính dẫn chiếu đến Bộ luật Dân sự về vấn đề doanh nghiệp có thể cónhiều hơn một người đại diện theo pháp luật Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp thu ýkiến này và sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp để có phương án sửa đổi phù hợp

4

Trang 5

nhất đảm bảo tương thích giữa Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) và Luật Dân sự (sửađổi).

2 Chương II: Thành lập doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp

Chương II bao gồm 29 điều, từ Điều 21 đến 49 Dự thảo Luật Doanh nghiệp(sửa đổi) đã sửa đổi 16 Điều (các Điều: 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 32, 34, 37,

39, 41, 43, 45, 47) và bổ sung thêm 4 Điều mới (các Điều: 33, 35, 44 và 49) và bãi

bỏ một Điều (Điều 20 Luật doanh nghiệp 2005)

Các nội dung sửa đổi cơ bản

Điều 23: Trình tự đăng ký doanh nghiệp (Điều 15 Luật Doanh nghiệp 2005)

Thực tế cho thấy những cải cách đơn giản hóa thủ tục thành lập doanhnghiệp theo Luật Doanh nghiệp 1999 và 2005 đã tạo ra bước đột phá trong cảithiện môi trường kinh doanh, huy động vốn, phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăngđóng góp cho ngân sách Tuy vậy, xét theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, mức độthuận lợi trong thành lập doanh nghiệp và khởi sự kinh doanh vẫn thấp hơn chuẩnmực trung bình của quốc tế Vì vậy, cần phải có thay đổi theo hướng tiếp tục đơngiản hóa thủ tục hành chính, giảm hồ sơ, giảm thủ tục, giảm thời gian đăng kýthành lập doanh nghiệp và khởi sự kinh doanh Thay đổi trong dự thảo Luật doanhnghiệp (sửa đổi) là tiếp tục đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục thành lập doanhnghiệp; kết hợp đồng thời thủ tục đăng ký doanh nghiệp với các thủ tục về thuế,đăng ký lao động và bảo hiểm xã hội

Do đó, dự thảo Luật đã bổ sung khoản 3 Điều 23 quy định “Đồng thời vớicấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh gửi bảnsao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệpcho Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và cơ quan Bảo hiểm xã hội để thực hiệnthủ tục đăng ký lao động và bảo hiểm xã hội cho doanh nghiệp” Chi tiết cách thứcphối hợp giữa các cơ quan này sẽ giao cho Chính phủ hướng dẫn chi tiết Khoản 5Điều 23 quy định “5 Chính phủ hướng dẫn chi tiết trình tự, thủ tục phối hợp giữacác cơ quan trong cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, con dấu, nộp thuếmôn bài, đăng ký lao động, bảo hiểm xã hội và đăng ký doanh nghiệp qua mạngthông tin điện tử.”

Các Điều điều 24, 25, 26 và 27 về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và công ty cổ phần (các Điều 16, 17, 18 và 19 Luật doanh nghiệp 2005).

Quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp 2005 không tách biệt rõ giữayêu cầu thành lập doanh nghiệp và yêu cầu về điều kiện kinh doanh đối với ngànhnghề kinh doanh có điều kiện Đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện,Luật đã yêu cầu phải có một số điều kiện kinh doanh như bản sao chứng chỉ hànhnghề của người quản lý và xác nhận về vốn pháp định tại thời điểm đăng ký thànhlập doanh nghiệp Quy định nói trên đã tỏ ra không hợp lý, không có hiệu lực quản

5

Trang 6

lý nhà nước, nhưng lại gây ra khó khăn, tốn kém không cần thiết cho nhà đầu tư vàthành lập doanh nghiệp mới.

Thay đổi của dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) là tách bạch giữa thủ tụcthành lập doanh nghiệp và cấp giấy phép kinh doanh, điều kiện kinh doanh vàđồng thời tiếp tục tạo thuận lợi hơn nữa cho thủ tục đăng ký doanh nghiệp Dự thảoLuật đã bãi bỏ các yêu cầu người thành lập doanh nghiệp phải nộp các giấy tờ nhưchứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định, v.v trong hồ sơ đăng ký thành lậpdoanh nghiệp (các điều 24, 25, 26, 27 dự thảo Luật)

Điều 20 (Luật doanh nghiệp 2005): Hồ sơ, trình tự thủ tục, điều kiện và nội dung đăng ký kinh doanh, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam.

Các quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005cho thấy sự khác biệt không cần thiết về thủ tục thành lập doanh nghiệp, mua cổphần, phần vốn góp, thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện, thay đổi địa điểmtrụ sở chính, chuyển nhượng vốn, giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nướcngoài, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.Các thủ tục nói trên áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài phức tạp hơn, khó khăn và tốn kém hơn nhiều so với doanhnghiệp trong nước Nguyên nhân chính của bất cập này là việc coi Giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định tạiĐiều 20 Luật Doanh nghiệp 2005.2

Để khắc phục bất cập nói trên, phù hợp với thông lệ quốc tế và nguyên tắcđối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế không phân biệt nguồn gốc sở hữunhư nêu trong Hiến pháp năm 2013, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã bãi

bỏ Điều 20 Luật Doanh nghiệp 2005; theo đó sẽ áp dụng thống nhất một thủ tụcthành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần/phần vốn góp, không phân biệt nhàđầu tư trong nước hay nước ngoài

Ngoài ra, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) cũng đã bổ sung thêm khoản

3 Điều 39 yêu cầu mọi hoạt động thanh toán mua, bán, chuyển nhượng cổ phần,phần vốn góp và nhận cổ tức của nhà đầu tư nước ngoài đều phải được thực hiệnthông qua tài khoản vốn mở tại ngân hàng ở Việt Nam, trừ trường hợp thanh toánbằng tài sản (khoản 3 Điều 39 dự thảo Luật)

Điều 32: Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Điều 25 Luật doanh nghiệp 2005).

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều 7 Nghị định43/2010/NĐ-CP thì việc ghi ngành nghề kinh doanh trong hồ sơ đăng ký doanhnghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được thực hiện như sau:

- Ngành, nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệpđược ghi và mã hóa theo ngành cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam,2

Và Điều 50 Luật Đầu tư 2005

6

Trang 7

trừ những ngành, nghề cấm kinh doanh Việc mã hóa ngành, nghề đăng ký kinhdoanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa trong công tácthống kê.

- Căn cứ vào Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, người thành lập doanhnghiệp tự lựa chọn ngành, nghề kinh doanh và ghi mã ngành, nghề kinh doanh vàoGiấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp Cơ quan đăng ký kinh doanh đối chiếu và ghingành, nghề kinh doanh, mã số ngành, nghề kinh doanh vào Giấy chứng nhận đăng

+ Mã số và tên doanh nghiệp

+ Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;

+ Thông tin người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

+ Vốn điều lệ doanh nghiệp

+ Ngành nghề kinh doanh, nếu kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điềukiện theo quy định của pháp luật

Phương án không ghi ngành nghề kinh doanh tên Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp, trừ ngành nghề kinh doanh có điều kiện là phù hợp với thông lệquốc tế tốt ở nhiều nước Phương án này sẽ là một bước đột phá mạnh mẽ tronghiện thực hóa quyền tự do kinh doanh cho người dân và doanh nghiệp như quyđịnh của Hiến pháp mới được bổ sung, sửa đổi Đồng thời, đổi mới này không làmgiảm hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp bởi các lý do sau đây

Một là, hiện nay hệ thống thông tin quốc gia về doanh nghiệp đã kết nối giữa

cơ quan đăng ký doanh nghiệp và cơ quan thuế, giữa trung ương và địa phương, cókhả năng thu thập và cập nhật thông tin của tất cả các doanh nghiệp đăng ký trênđịa bàn cả nước Hệ thống này sẽ công khai hóa không chỉ các thông tin đăng ký,

mà cả các thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh, nộp thuế, các thông tin vềtuân thủ các điều kiện kinh doanh đối với việc kinh doanh các ngành nghề có điềukiên Bất kỳ ai có quan tâm, nhất là các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan từtrung ương đến địa phương có thể chủ động tiếp cận, cập nhật thông tin và theo dõidoanh nghiệp có liên quan thuộc phạm vi quản lý Như vậy, hệ thống thông tin nói

7

Trang 8

trên tạo thuận lợi và giúp nâng cao hiệu lực giám sát của xã hội nói chung và cơquan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; do đó, vẫn tiếp tục duy trì và nângcao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

Hai là, những đổi mới tương ứng về nội dung và phương thức quản lý nhànước đối với ngành nghề kinh doanh như quy định trong dự thảo Luật Doanhnghiệp (sửa đổi) góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với ngànhnghề kinh doanh có điều kiện Những thay đổi đó là tăng cường chia sẻ thông tin

và phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh với cơ quan quản lý trực tiếp vềngành nghề kinh doanh có điều kiện và cơ quan có liên quan Dự thảo Luật Doanhnghiệp (sửa đổi) đã bổ sung điểm (b) khoản 1 Điều 217 đã yêu cầu các bộ, cơ quanngang bộ sao gửi cho cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sởchính bản sao giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh,chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận hoặc giấy xác nhận đã cấp cho doanhnghiệp để cập nhật và bổ sung vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; đồng thời sao gửicho cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác cùngcấp nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính

Điều 43: Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt của doanh nghiệp (Điều 33 Luật Doanh nghiệp 2005)

Dự thảo Luật đã xác định rõ ràng năm loại ngôn ngữ có thể dùng để đặt tênbằng tiếng nước ngoài cho tên doanh nghiệp là: Anh, Pháp, Nga, Nhật, Hàn Quốc.Đây là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến ở Liên hợp quốc và của quốc gia đứngđầu danh sách đầu tư vào Việt Nam

Khoản 1 Điều 43 được sửa đổi thành “1 Tên doanh nghiệp viết bằng tiếngnước ngoài là tên được dịch từ tên bằng tiếng Việt sang một trong những tiếngnước ngoài tương ứnglà Anh, Pháp, Nga, Hàn Quốc và Nhật Bản Khi dịch sangtiếng nước ngoài, tên riêng của doanh nghiệp có thể giữ nguyên hoặc dịch theonghĩa tương ứng sang tiếng nước ngoài.”

Các nội dung bổ sung mới

Điều 33: Mã số doanh nghiệp

Điều khoản này được luật hóa từ quy định tương ứng của Nghị định43/2010/NĐ-CP về hợp nhất mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế thành mã sốdoanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp sẽ có một mã số duy nhất và mã số này khôngđược dùng để cấp cho doanh nghiệp khác ngay cả khi doanh nghiệp đã giải thểhoặc pháp sản; đồng thời quy định này là cơ sở để quy định liên thông các thủ tụcgia nhập thị trường và thành lập doanh nghiệp

Điều 35: Trình tự thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.

Có hai thay đổi quan trọng của quy định mới trong dự thảo Luật Doanhnghiệp (sửa đổi) liên quan đến thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanhnghiệp, là:

8

Trang 9

+ Thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp được sửa đổitheo nguyên tắc là thủ tục “tự động”, trừ trường hợp thay đổi nội dung ghi trênGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Theo đó, đăng ký thay đổi nội dung đăng

ký doanh nghiệp được coi là hoàn thành nếu cơ quan đăng ký kinh doanh khôngyêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ trong trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngàynhận được thông báo thay đổi của doanh nghiệp; trường hợp thay đổi nội dung ghitrên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp được cấp bổ sungthay đổi vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (khoản 3 Điều 35 dự thảoLuật)

+ Bổ sung quy định chi tiết hướng dẫn thủ tục đăng ký thay đổi nội dungđăng ký doanh nghiệp theo quyết định của tòa án, trọng tài hoặc cơ quan nhà nước

có thẩm quyền (khoản 4 Điều 35 dự thảo Luật)

Các Điều 38: Tài sản góp vốn, Điều 44 Tên chi nhánh, văn phòng đại diện; Điều 49 Thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp.

Đây là các Điều được bổ sung mới trong Luật, nhưng nội dung là được “luậthóa” các quy định tương ứng trong các Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chitiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 43/2010/NĐ-CP

về đăng ký doanh nghiệp

3 Chương III, Mục I: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Mục này bao gồm 25 điều, từ điều 50 đến điều 75 So với Luật Doanhnghiệp 2005, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã sửa đổi 11 Điều (các Điều:

51, 52, 53, 56, 59, 62, 63, 64, 65, 68, 73) và bổ sung thêm 3 Điều mới (các Điều:

66, 74 và 75)

Các nội dung sửa đổi cơ bản:

Điều 51: Thực hiện góp vốn thành lập công ty và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp (Điều 39 Luật doanh nghiệp 2005).

Theo quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định102/NĐ-CP, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn có thể góp vốn dần theo nhiềutiến độ trong thời hạn không quá 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp Việc cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn góp vốn theotiến độ kéo dài đến 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn đã không đạt được mục tiêu dự kiến

mà còn gây ra tác động không mong muốn như: nhầm lẫn về vốn điều lệ, cơ cấu sởhữu thực tế3 Qua đó, đã làm phát sinh các mâu thuẫn, tranh chấp không đáng cótrong nội bộ công ty có liên quan.4

3

Khái niệm vốn điều kiện và vốn kinh doanh là hoàn toàn khác nhau Vốn điều lệ chỉ là một nguồn vốn kinh doanh được các thành viên công ty góp vào công ty Vốn đầu tư kinh doanh bao gồm cả vốn mà doanh nghiệp vay để triển khai dự án đầu tư cụ thể.

4 Mục tiêu của quy định cho phép thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn được góp vốn theo tiến độ và phải góp đủ trong thời hạn tối đa 3 năm là nhằm tạo thuận lợi cho nhà đầu tư sử dụng vốn vốn một cách có hiệu quả, phù hợp với

9

Trang 10

Để giải quyết bất cập nói trên, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã sửađổi quy định này như sau:

+ Một là, rút ngắn thời hạn thành viên phải thanh toán đủ phần vốn góp khithành lập công ty và quy định rõ quyền và lợi ích của các thành viên trong thời hạnđang góp đủ vốn

Khoản 2 điều 49 dự thảo Luật được sửa đổi là: Người đại diện theo pháp luật của công ty “Thành viên phải thông báo bằng văn bản tiến độ góp thanh toán phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký đến cơ quan đăng ký kinhthành lập doanh nghiệp trong thời hạn mười lăm90 ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn và phải chịu trách nhiệm cá nhân về được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Thành viên công ty chỉ được thanh toán phần vốn góp cho công ty bằng các thiệt hại cho công ty và ngườitài sản khác do thông báo chậm trễ hoặc thông báo không chính xác, không trung thực, không đầy đủ

2 Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốnvới loại tàisản đã cam kết thì số vốn chưa gópnếu được coi là nợsự đồng ý của các thành viên

đó đối với công ty;còn lại Trong thời hạn này, thành viên đó phải chịu trách nhiệmbồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốncó các quyền vànghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp, trừ trường hợpĐiều lệ công ty quy định khác.”

+ Hai là, xác định rõ trách nhiệm của các thành viên không góp vốn hoặcchưa góp đủ vốn quá thời hạn cuối cùng Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưagóp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đãcam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trướcngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên (khoản

3 điều 51 dự thảo Luật)

Điều 62: Điều kiện và thể thức tiến hành họp Hội đồng thành viên (Điều

51 Luật doanh nghiệp 2005)

Thực tế đánh giá thi hành Luật Doanh nghiệp 2005 đã cho thấy một số quyđịnh của Luật Doanh nghiệp 2005 về trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết địnhtrong công ty đã không còn phù hợp, tỏ ra lạc hậu so với sự phát triển của côngnghệ thông tin, nhất là khi có mạng Internet; chưa thực sự tạo thuận lợi, giảm chiphí tuân thủ trong quản trị công ty Một số quy định khác như yêu cầu triệu tập họpĐại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên còn cứng nhắc; nhiều trường hợpphải triệu tập họp tới lần thứ ba mới có thể tiến hành họp đã gây chậm trễ và tốnkém trong việc ra các quyết định kinh doanh cần thiết cho doanh nghiệp, đặc biệt

là doanh nghiệp có nhiều cổ đông, thành viên

Do đó, khoản 2 điều 62 được sửa đổi theo hướng cho phép công ty linh hoạthơn và hoàn toàn tự chủ trong quy định điều kiện và trình tự triệu tập họp Hộitiến độ triển khai dự án đầu tư Tuy nhiên, thủ tục tăng vốn, bổ sung thêm vốn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn

là dễ dàng và thuận lợi; vì vậy, không nhất thiết phải có các quy định về kéo dài thời hạn góp vốn Riêng đối với công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp 2005 đã yêu cầu các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

10

Trang 11

đồng thành viên trong trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiếnhành họp; chỉ áp dụng quy định của Luật Doanh nghiệp nếu Điều lệ công ty không

có quy định hoặc không quy định khác Khoản 2 Điều 62 được sửa đổi lại thành

“TrườngNếu Điều lệ không quy định hoặc không có quy định khác, triệu tập họpHội đồng thành viên trong trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiệntiến hành theo quy định tại khoản 1 Điều này thì được triệuthực hiện như sau:

a) Triệu tập họp lần thứ hai phải được thực hiện trong thời hạn mười lămngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất Cuộc họp Hội đồng thành viên triệu tậplần thứ hai được tiến hành khi có số thành viên dự họp đại diện ít nhất 50% vốnđiều lệ; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định

3.b) Trường hợp cuộc họp lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo quyđịnh tại điểm (a) khoản 2 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạnmười ngày làm việc, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai Trong trường hợp này,cuộc họp Hội đồng thành viên được tiến hành không phụ thuộc số thành viên dựhọp và số vốn điều lệ được đại diện bởi số thành viên dự họp.”

Điều 63: Quyết định của Hội đồng thành viên (Điều 52 Luật doanh nghiệp 2005)

Như phân tích trên, đánh giá thực tế thực hiện Luật Doanh nghiệp 2005 chothấy nhiều trường hợp doanh nghiệp đã gặp khó khăn trong triệu tập họp và raquyết định nếu tuân thủ đúng theo quy định của Luật Khó khăn này thường gặp ởnhững công ty lớn với số lượng cổ đông nhiều Khó khăn trong ra quyết định đãgây nhiều bất lợi cho doanh nghiệp, như chi phí triệu tập họp: thuê địa điểm họp,chi phí in ấn tài liệu, chi phí gửi tài liệu cho cổ đông, … hoặc có thể mất cơ hộikinh doanh do chậm chễ trong ra quyết định kinh doanh Có nhiều nguyên nhâncủa bất cập này và một trong những nguyên nhân đó là yêu cầu tối thiểu về tỷ lệbiểu quyết thông qua quyết định của Hội đồng thành theo Luật Doanh nghiệp làcao; do đó không phù hợp với thực tế đa dạng của doanh nghiệp Theo điều 52 củaLuật Doanh nghiệp thì yêu cầu tối thiểu về tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết địnhcủa Hội đồng thành viên là 65% phần vốn góp đối với quyết định thông thường và75% đối với quyết định ‘quan trọng’

Để giải quyết bất cập này, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã hạ thấpyêu cầu tối thiểu tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định Hội đồng thành viên xuống51% (từ 65% theo Luật doanh nghiệp 2005) đối với quyết định thông thường và65% (từ 75% theo Luật doanh nghiệp 2005) đối với quyết định “quan trọng”.Khoản 2 Điều 63 được sửa đổi lại thành:

“2 Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trongcác trường hợp sau đây:

a) Được số phiếu đại diện ít nhất 6551% tổng số vốn góp của các thành viên

dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định, trừ các trường hợpquy định tại điểm (b) khoản này;

11

Trang 12

b) Được số phiếu đại diện ít nhất 7565% tổng số vốn góp của các thành viên

dự họp chấp thuận đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50%tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một

tỷ lệ, hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty,; sửa đổi, bổ sung Điều

lệ công ty,; tổ chức lại, giải thể công ty; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.”

Ngoài ra, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) khuyến khích và tạo điềukiện cho doanh nghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật vào quản trị doanh nghiệp nhằmgiảm chi phí cho doanh nghiệp Dự thảo Luật bổ sung quy định thừa nhận giá trịpháp lý của cuộc họp Hội đồng thành viên dưới hình thức hội nghị trực tuyến hoặcphương tiện thông tin tương tự khác Khoản 3 điều 63 dự thảo Luật quy định:

“Thành viên được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viêntrong trường hợp sau đây:

a) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp;

b) Ủy quyền cho một người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp;

c) Tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến hoặc hình thứckhác;

d) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua bản fax, thư điệntử.”“Thành viên được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thànhviên trong trường hợp sau đây:

a) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp

b) Ủy quyền cho một người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp

c) Tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến hoặc hình thứckhác

d) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua bản fax, thư điện tử.”

Nội dung bổ sung mới

Các Điều 66: Hiệu lực nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên; Điều 74: Bổn phận của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng Giám đốc, người đại diện theo pháp luật, kiểm soát viên và cán bộ quản lý khác và Điều 75: Khởi kiện người quản lý.

Có ba điều khoản mới được bổ sụng mới vào dự thảo Luật Doanh nghiệp

(sửa đổi), bao gồm các Điều 66, 74 và 75, thực chất là “luật hóa” quy định tươngứng trong Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều củaLuật Doanh nghiệp quy định về hiệu lực nghị quyết, quyết định của Hội đồngthành viên và nghĩa vụ của người quản lý

4 Chương III, Mục II: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Mục này bao gồm 14 điều, từ Điều 76 đến Điều 90 So với Luật Doanhnghiệp 2005, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã sửa đổi 11 Điều (các Điều:

12

Trang 13

79, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90) và bổ sung thêm 2 Điều mới (các Điều:

77, 80)

Các nội dung sửa đổi cơ bản

Điều 81: Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức (Điều 67 Luật Doanh nghiệp 2005)

Điều này được sửa đổi để thể hiện rõ hơn hai mô hình quản trị đối với công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cụ thể, khoản 1 Điều 81 quy định:

“1 Công ty trách nhiệm hứu hạn một thành viên là tổ chức có thể được tổchức quản lý và hoạt động theo một trong hai cách sau đây:

a) Chủ tịch công ty, Giám đốc, Tổng Giám đốc và Kiểm soát viên;

b) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; trongtrường hợp này, Hội đồng thành viên gồm tất cả người đại diện theo uỷ quyền

4 Trường hợp một người được bổ nhiệm làm người đại diện theo uỷ quyềnthì người đó làm Chủ tịch công ty; trong trường hợp này cơ cấu tổ chức quản lýcủa công ty bao gồm Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc , Tổng giámGiám đốc vàKiểm soát viên.”

Điều 85: Kiểm soát viên (Điều 71 Luật doanh nghiệp 2005).

Đánh giá tổng kết thi hành Luật Doanh nghiệp 2005 cho thấy quy định về cơcấu và tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm soát chưa bảo đảm được tính độc lập củaBan kiểm soát; chưa đảm bảo để Ban kiểm soát có đủ năng lực, trình độ chuyênmôn nghề nghiệp và nguồn lực để thực hiện chức năng và nhiệm vụ theo quy định.Ngoài ra, chưa có cơ chế để Ban kiểm soát sử dụng để buộc Hội đồng quản trị phảithực hiện kiến nghị của mình trong trường hợp thực sự cần thiết và giám sát cóhiệu quả đối với hoạt động của người quản lý công ty

Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã khắc phục những bất cập này theocách bổ sung quy định chi tiết hơn và bổ sung một số quyền cho kiểm soát viên,như: tham dự và thảo luận tại các cuộc họp của Hội đồng thành viên, cuộc họp củacông ty; xem xét bất kỳ hồ sơ, tài liệu nào của công ty tại trụ sở chính hoặc chinhánh, văn phòng đại diện của công ty Khoản 3 Điều 85 đã được sửa đổi, bổ sungthêm nội dung sau:

“3 Kiểm soát viên có quyền sau đây:

a) Xem xét bất kỳ hồ sơ, tài liệu nào của công ty tại trụ sở chính hoặc chinhánh, văn phòng đại diện của công ty Thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịchcông ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và người quản lý khác có nghĩa vụ cungcấp đầy đủ, kịp thời các thông tin về thực hiện quyền chủ sở hữu, về quản lý, điềuhành và hoạt động kinh doanh của công ty theo yêu cầu của Kiểm soát viên;

b) Tham dự và thảo luận tại các cuộc họp Hội đồng thành viên và các cuộchọp khác trong công ty;

13

Trang 14

c) Các quyền khác theo quy định tại Điều lệ công tyb) Tham dự và thảo luậntại các cuộc họp Hội đồng thành viên và các cuộc họp khác trong công ty;

Điều 90: Tăng, giảm vốn điều lệ (Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2005)

Điều khoản này có hai thay đổi cơ bản

Một là, cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được giảmvốn điều lệ tương tự như đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trởlên Khoản 1 Điều 90 quy định:

“1 Theo quyết định của Chủ sở hữu, công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên không được giảm vốn điều lệ theo cách sau:

a) Hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạtđộng kinh doanh liên tục trong hơn hai năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp;đồng thời vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khácsau khi đã hoàn trả cho thành viên;”

Hai là, khoản 2 điều luật này được sửa đổi theo cách bãi bỏ thủ tục đăng kýchuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thànhviên trở lên trong trường hợp công ty kết nạp thêm thành viên5 Công ty tráchnhiệm hữu hạn 1 thành viên chỉ phải yêu cầu thay đổi cơ cấu tổ chức hoạt độngtheo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên và đăng ký thay đổinội dung đăng ký doanh nghiệp trong trường hợp kết nạp thêm thành viên Thayđổi này sẽ giúp tiết kiệm nhiều chi phí thực hiện thủ tục hành chính chuyển đổi loạihình doanh nghiệp

Các nội dung bổ sung mới

Điều 77: Thực hiện góp vốn thành lập công ty

Tương tự như đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, dựthảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) bổ sung quy định xác định rõ thời thời hạn thanhtoán đủ vốn điều lệ khi thành lập công ty là 90 ngày kể từ ngày được cấp giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp Khoản 2 Điều 77 quy định: “2 Chủ sở hữuphải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanhnghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp.”

Ngoài ra, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã áp dụng nguyên tắc “phá

vỏ bọc công ty” để quy định chặt chẽ hơn trách nhiệm chủ sở hữu công ty góp vốn

đủ và đúng hạn Khoản 3 và 4 Điều 77 quy định:

“3 Trường hợp Chủ sở hữu không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn 90 ngàyquy định tại khoản 2 Điều này, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng5

Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: Trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của người khác, công ty phải đăng ký chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thành viên mới cam kết góp vốn vào công ty.

14

Trang 15

giá trị số vốn thực góp Trong trường hợp này, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệmtương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công typhát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và chịutrách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại xảy ra do không góp đủ và đúng hạn vốn điều

lệ công ty

4 Chủ sở hữu chịu trách nhiệm cá nhân đối với các nghĩa vụ tài chính củacông ty và thiệt hại xảy ra do không góp vốn điều lệ.”

Điều 80: Quyền của chủ sở hữu công ty trong một số trường hợp đặc biệt.

Nội dung bổ sung nhằm quy định rõ nguyên tắc thực hiện quyền chủ sở hữutrong một số trường hợp đặc biệt như chủ sở hữu: chết, mất tích, bị kết án tù, giảithể hoặc phá sản Đây là những nội dung chưa được quy định trong Luật Doanhnghiệp 2005

5 Chương IV: Doanh nghiệp nhà nước

Một trong số các mục tiêu hàng đầu của Luật Doanh nghiệp 2005 là tạo lậpkhung khổ pháp lý áp dụng thống nhất khung quản trị theo loại hình doanh nghiệpkhông phân biệt nguồn gốc sở hữu và đồng thời đổi mới cơ chế quản trị đối vớidoanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường và thông lệ quốc tế.6 Tuy vậy,thực tế cho thấy việc triển khai áp dụng các nguyên tắc mới về quản trị doanhnghiệp nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ Thực tế nói trên do nhiều nguyênnhân, trong đó có nguyên nhân là những vấn đề đặc thù trong quản trị doanhnghiệp nhà nước chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ ràng trong LuậtDoanh nghiệp Cụ thể là:

- Chưa quy định về mục đích hoạt động và giới hạn phạm vị ngành, nghềkinh doanh của doanh nghiệp nhà nước phù hợp với vai trò, chức năng của nhànước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng

- Chưa quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của Chính phủ nói chung trongvai trò đại diện chủ sở hữu theo ủy quyền của Quốc hội

- Chưa quy định cụ thể thẩm quyền, cách thức xác định mục tiêu, chỉ tiêuđối với từng doanh nghiệp cụ thể; chưa xác định cơ quan thực hiện quyền chủ sởhữu và cách thức thực hiện quyền chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước,v.v

- Chưa quy định đặc thù trong tổ chức, hoạt động và quy trình ra quyết địnhđối với hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn 100% vốn nhà nước vàmối quan hệ giữa cơ quan chủ sở hữu nhà nước và người trực tiếp đại diện quyềnchủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, v.v…

- Chưa quy định yêu cầu tách chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu vớichức năng quản lý hành chính và các chức năng khác của nhà nước trong thực hiệnquyền chủ sở hữu và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

6 Điều 168 Luật Doanh nghiệp quy định 5 nguyên tắc chung của cơ chế quản trị mới đối với doanh nghiệp nhà nước.

15

Trang 16

- Chưa có quy định về giám sát, đánh giá trong hệ thống đại diện chủ sởhữu: Quốc hội đối với Chính phủ, Chính phủ đối với cơ quan (hay các cơ quan chủ

sở hữu), cơ quan chủ sở hữu đối với người đại diện trực tiếp thực hiện quyền chủ

sở hữu; nhất là chưa quy định về giám sát, đánh giá trực tiếp, chủ động và thườngxuyên của cơ quan chủ sở hữu đối với kết quả hoạt động của doanh nghiệp vàngười quản lý doanh nghiệp Khiếm khuyết nói trên đã góp phần làm cho giám sát,đánh giá nội bộ của chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp trở nênlỏng lẻo và kém hiệu lực

- Quy định yêu cầu doanh nghiệp nhà nước công khai hóa và minh bạch hóatương tự như đối với các doanh nghiệp khác cùng loại cũng đã chứng tỏ chưa phùhợp cả về lý luận và thực tiễn Công khai hóa và minh bạch hóa thông tin “dướichuẩn” đã không phát huy được tác động tích cực của giám sát bên ngoài, giám sátcủa thị trường, của các nhà đầu tư, khách hàng, đặc biệt là của nhân dân đối vớidoanh nghiệp nhà nước và cách thức, hiệu quả thực hiện quyền chủ sở hữu của nhànước tại doanh nghiệp

Do đó, việc xây dựng và ban hành các quy định về nội dung phân tích trên làcần thiết Hiện nay, Chính phủ được giao soạn thảo đồng thời hai dự án luật là (i)Luật đầu tư và quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp và (ii) Luật Doanh nghiệp(sửa đổi) Để đảm bảo tính tương thích giữa các luật và phù hợp với nội dung, chứcnăng và cấu trúc của Luật Doanh nghiệp, dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã

bổ sung Chương IV về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nướclàm chủ sở hữu Chương này gồm 24 điều, từ điều 91 đến điều 115 Toàn bộ nộidung của chương này được bổ sung mới vào dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)

Chương IV quy định về nguyên tắc quản trị đối với doanh nghiệp nhà nước

sở hữu 100% vốn điều lệ, hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạnmột thành viên Chương này bao gồm quy định “đặc thù”, cần có quy định chi tiếthơn hoặc chặt chẽ hơn (so với quy định tương ứng trong Mục II Chương III vềcông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) về các nguyên tắc quản trị trong công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chủ sở hữu là nhà nước, ví dụ như: quyđịnh về tiêu chuẩn về điều kiện người quản lý, thành viên ban kiểm soát, v.v Ngoài ra, chương này quy định về yêu cầu công khai hóa thông tin đối với doanhnghiệp có sở hữu vốn Nhà nước theo thông lệ quốc tế tốt về quản trị doanh nghiệpnhà nước và khắc phục bất cập hiện nay; theo đó doanh nghiệp nhà nước sẽ phảicông khai hóa thông tin một cách định kỳ và bất thường Cuối cùng, trường hợp có

sự khác nhau giữa các quy định của chương này và các quy định có liên quan kháccủa Luật Doanh nghiệp, thì áp dụng quy định của chương này

Nội dung cơ bản của Chương IV bao gồm như sau.

- Giao quyền cho chủ sở hữu quyết định mô hình tổ chức công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu theo một trong hai môhình sau (Điều 91):

16

Trang 17

+ Mô hình tổ chức gồm: Chủ tịch công ty, Giám đốc, Tổng Giám đốc vàKiểm soát viên;

+ Mô hình tổ chức gồm: Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng Giám đốc vàKiểm soát viên

- Quy định cụ thể và chi tiết hóa các quyền và nhiệm vụ của Hội đồng thành

viên (so với quy định tương ứng tại Điều 80 quy định chung về Hội đồng thànhviên trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) (Điều 93)

- Quy định cụ thể và chi tiết hóa các quyền và nhiệm vụ của Chủ tịch Hội

đồng thành viên và thành viên của Hội đồng thành viên (Điều 93 và 94)

- Bổ sung thêm các điều kiện, tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thành

viên, như: không đồng thời là cán bộ trong bộ máy quản lý nhà nước hoặc tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc các chức vụ quản lý, điều hành tại cácdoanh nghiệp thành viên; chưa từng bị miễn nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên,thành viên Hội đồng thành viên, hoặcChủ tịch công ty, Tổng giám đốc (Giám đốc),Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) tại Công ty hoặc ở doanh nghiệp nhà nướckhác, … (Điều 95)

- Quy định chi tiết chế độ làm việc, điều kiện và thể thức tiến hành họp Hội

đồng thành viên (quy định tương ứng trong mục II, chương III về công ty tráchnhiệm hữu hạn 1 thành viên giao cho Điều lệ công ty quy định chi tiết về nội dungnày) (Điều 100)

- Bổ sung thêm tiêu chuẩn, điều kiện đối với Giám đốc/Tổng giám đốc; chặt

chẽ hơn so với tiêu chuẩn, điều kiện áp dụng đối với Giám đốc/Tổng giám đốctrong công ty thông thường (Khoản 3 Điều 102)

- Quy định chi tiết quyền, nhiệm vụ, chế độ làm việc và tiêu chuẩn, điều

kiện đối với thành viên Ban kiểm soát và Ban kiểm soát (không có quy định chitiết tương ứng trong mục II, chương III về công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên) (các Điều 104, 105, 106 và 107)

- Tăng cường yêu cầu không khai hóa và minh bạch hóa thông tin đối vớicông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu (từ Điều

111 đến Điều 115) Theo đó, ngoài yêu cầu công khai hóa thông tin như một doanhnghiệp thông thường, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nướclàm chủ sở hữu phải công khai hóa thông tin theo hai chế độ là định kỳ và bấtthường

+ Điều 114 quy định chế độ công bố thông tin định kỳ như sau:

“1 Công ty phải công bố thông tin định kỳ sau đây trên trang thông tin điện

tử của công ty và của Cơ quan chủ sở hữu:

a) Sứ mệnh, mục tiêu tổng quát, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể hằ ng năm của kếhoạch kinh doanh;

17

Ngày đăng: 10/04/2018, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w