1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hãy phân tích một số quy định của luật doanh nghiệp 2014 để chứng minh luật doanh nghiệp 2014 được quy định theo hướng thông thoáng hơn, mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp

27 288 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, theoQuy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 96/2015/NĐ-CP, trường hợp doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 01/7/2015 muốn làm con dấu mới thì phải nộp lại con dấu cũ và Giấy chứng

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

BỘ MÔN LUẬT



BÀI TẬP LỚN MÔN: LUẬT KINH TẾ - LAW02A

Trang 2

MỤC LỤC

I Quy định về con dấu 4

1 Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp 4

2 Việc đăng ký và thông báo mẫu con dấu trước khi sử dụng 4

Hạn chế của luật mới 5

Giải pháp 7

II Quy định về người đại diện theo pháp luật 11

III Quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận ĐKDN, đăng ký cấp giấy chứng nhận ĐKDN 16

Hạn chế của luật mới 20

Giải pháp 21

Quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 23

IV Tình hình áp dụng luật doanh nghiệp 24

Số lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký tăng cao 24

Một số hướng khắc phục: 25

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Luật Doanh nghiệp năm 2014, được đánh giá như bước đột phá lớn về thể chế, thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh Nhiều quy định mới, như: Đăng ký kinh doanh; con dấu doanh nghiệp; điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông công ty;…theo hướng thông thoáng hơn, nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của luật cũ, tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với xu hướng chung của thế giới Tuy nhiên, qua nghiên cứu cũng như từ thực tiễn áp dụng các quy định mới liên quan đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, tác giả nhận thấy còn có những quy định mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu sửa đổi cho hợp lý hơn, nhằm giúp doanh nghiệp được thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, cụ thể:

Trang 4

I Quy định về con dấu

Sự thay đổi các thủ tục về dấu trong Luật doanh nghiệp 2014 là một cải cách quan trọng cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế trong tiến trình hội nhập Luật doanh nghiệp 2014 thay đổi các phương thức quản lý con dấu, đồng thời, thay các thủ tục làm dấu, đăng ký mẫu dấu bằng yêu cầu công khai mẫu dấu Sự cải cách các quy định về con dấu về cơ bản nằm ở các điểm sau:

1 Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp.

- Trước ngày 01/7/2015, Bộ Công an là cơ quan có thẩm quyền quy định thống nhất

mẫu các loại con dấu, việc khắc biểu tượng trong con dấu, hướng dẫn, quản lý vàkiểm tra việc thực hiện đăng ký con dấu

- Theo Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, Bộ Công an không

đóng vai trò quản lý con dấu nữa mà giao quyền quyết định cho doanh nghiệp Mẫucon dấu doanh nghiệp được thể hiện dưới một hình thức cụ thể Mỗi doanh nghiệp cómột mẫu con dấu thống nhất về nội dung, hình thức, kích thước.Tuy nhiên doanhnghiệp phải đảm bảo nội dung con dấu thể hiện những thông tin sau:

- Tên doanh nghiệp

Trang 5

2 Việc đăng ký và thông báo mẫu con dấu trước khi sử dụng

- Trước 01/7/2015, các doanh nghiệp muốn đăng ký sử dụng con dấu phải được BộCông an cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, sau đó mới thông báo giới thiệu condấu mới Bộ Công an có trách nhiệm quản lý việc đăng ký sử dụng, thẩm tra mẫu condấu, đăng ký lưu chiểu mẫu dấu

- Luật doanh nghiệp 2014 có nhiều cải tiến theo hướng đơn giản hoá thủ tục về con

dấu Theo Điều 44 của Luật doanh nghiệp, từ ngày 01/7/2015, doanh nghiệp trướckhi sử dụng con dấu có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinhdoanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp(https://dangkykinhdoanh.gov.vn/) mà không cần phải đăng ký Bộ Công an hoặccông an tỉnh, thành phố

- Cơ quan đăng ký kinh doanh không chịu trách nhiệm thẩm tra nội dung mẫu con dấu

của doanh nghiệp khi giải quyết thủ tục thông báo mẫu con dấu cho doanh nghiệp

- Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng mẫu dấu mà chưa thông báo mẫu dấu với cơ

quan đăng ký doanh nghiệp thì dấu của doanh nghiệp vẫn được cho là hợp pháp.Doanh nghiệp chỉ là vi phạm thủ tục hành chính về thông báo mẫu dấu

Hạn chế của luật mới:

- Sự thuận lợi nêu trên chỉ phù hợp đối với các doanh nghiệp được thành lập mới, từ

sau ngày 01/7/2015 Đối với các doanh nghiệp đã thành lập và hoạt động trước đó, đã

có con dấu và được cơ quan công an cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, naymuốn đổi mẫu dấu, sử dụng con dấu mới thì thủ tục sẽ phức tạp hơn Cụ thể, theoQuy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 96/2015/NĐ-CP, trường hợp doanh nghiệp

đã thành lập trước ngày 01/7/2015 muốn làm con dấu mới thì phải nộp lại con dấu cũ

và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu đã được cấp cho Cơ quan công an nơi đã cấpGiấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu; Cơ quan công an cấp giấy biên nhận đã nhận lạicon dấu tại thời điểm tiếp nhận

- Như vậy, trong những trường hợp này, doanh nghiệp phải tiến hành thủ tục hành

chính “trả dấu”, “trả Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu” tại Cơ quan công an để

Trang 6

được cấp Biên nhận rồi mới có thể tự khắc dấu và thông báo mẫu dấu cho cơ quanđăng ký kinh doanh để đăng tải lên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanhnghiệp.

- Tương tự trường hợp đổi dấu mới như nêu trên, trường hợp doanh nghiệp đã thành

lập trước ngày 01/7/2015 đã bị mất dấu, mất Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu màmuốn làm con dấu mới thì doanh nghiệp cũng phải thông báo việc mất dấu, mất Giấychứng nhận đăng ký mẫu dấu cho Cơ quan công an Với những quy định này, rõ ràngthủ tục về con dấu của doanh nghiệp đã trở nên phức tạp hơn và chắc chắn doanhnghiệp sẽ mất nhiều thời gian hơn cho con dấu khi vừa tiến hành thủ tục hành chínhtại Cơ quan công an, vừa tiến hành thủ tục tại Cơ quan đăng ký doanh nghiệp, thậmchí còn có thể mất nhiều thời gian hơn cho việc đổi con dấu theo quy định trước đây

- Đối với doanh nghiệp đã đăng ký và hoạt động theo Luật Đầu tư năm 2005, đã được

cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, naynếu muốn đổi con dấu hoặc vì mất con dấu mà phải làm dấu mới thì lại càng phức tạphơn Ngay từ thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực, đã phát sinh vướngmắc về vấn đề này Cụ thể, do Quy định của Luật Doanh nghiêp năm 2014 và LuậtĐầu tư năm 2014 không còn ghi nhận Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh nên để khắc dấu và thông báo mẫu dấu mới, doanhnghiệp phải tiến hành thủ tục tách nội dung đăng ký đầu tư và nội dung đăng ký kinhdoanh Các doanh nghiệp này phải tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh để được cấpGiấy chứng nhận nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 Từ đó mới

có thể làm con dấu và thông báo mẫu dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm

2014 Hàng loạt các thủ tục bao gồm thủ tục “tách giấy” cùng với thủ tục “trả condấu”, “trả Giấy chứng nhận mẫu dấu” hoặc “thông báo mất con dấu”, “thông báo mấtGiấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu” như quy định nêu trên tại Nghị định96/2015/NĐ-CP và thủ tục thông báo mẫu dấu mới tại Cơ quan đăng ký kinh doanhtheo Quy định Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP cho thấyviệc quản lý con dấu vẫn còn sự phức tạp và chắc chắn rằng việc làm lại con dấu mới,đổi con dấu mới hiện nay và trong tương lai đối với các doanh nghiệp đã được cấp

Trang 7

Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trướcngày 01/7/2015 sẽ còn không ít phiền hà.

- Mặt khác, nếu như quy định về con dấu của doanh nghiệp tại Điều 44 Luật Doanh

nghiệp năm 2014 đã có sự cải cách tiến bộ hơn so với quy định trước đây thì quyđịnh về quản lý con dấu tại Nghị định 96/2015/NĐ-CP với những thủ tục liên quanđến con dấu vẫn phải thực hiện tại Cơ quan công an là một bước lùi Quy định đó đã

“đẻ” thêm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, làm tốn thêm thời gian và chi phícủa doanh nghiệp

Giải pháp:

- Cần bỏ hẳn sự quản lý của Cơ quan công an đối với con dấu doanh nghiệp, chỉ cần

quy về một mối là Cơ quan đăng ký kinh doanh Theo đó, dù doanh nghiệp thành lậptrước hay sau ngày 01/7/2015, khi đổi dấu mới, làm lại dấu mới, doanh nghiệp chỉcần thông báo mẫu con dấu mới đến Cơ quan đăng ký kinh doanh theo Quy định củaLuật Doanh nghiệp năm 2014 Thông báo mới nhất của doanh nghiệp về mẫu condấu qua Cơ quan đăng ký kinh doanh là thông báo có hiệu lực đối với mẫu dấu củadoanh nghiệp và thay thế tất cả các mẫu dấu của doanh nghiệp trước đây, kể cả mẫudấu đã được Cơ quan công an cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu Đối với condấu cũ và mẫu Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, doanh nghiệp chỉ cần tự xử lýbằng cách “bỏ đi” Quy định như vậy sẽ giảm bớt thủ tục hành chính và tạo sự thuậnlợi hơn cho doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng con dấu, đúng với tinh thầncải cách của Luật Doanh nghiệp năm 2014

- Bỏ con dấu thay thế bằng chữ ký điện tử hoặc chữ ký số

Sự tốn kém lãng phí mà con dấu đem lại cho các Doanh nghiệp không hề nhỏ Mỗinăm các doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc tại TP.HCM phải bỏ ra khoảng 6,4 đến8,4 tỷ đồng và 40.000 ngày chi phí cho việc làm con dấu Nếu tính cả nước thì số tiềntương ứng là 12,8-16,8 tỷ đồng và khoảng 80.000 - 120.000 ngày (chưa kể tới quyđịnh 5 năm phải thay đổi 1 lần) Có doanh nghiệp phản ánh, ngày đầu tiên khởi sựdoanh nghiệp không phải là gặp đối tác làm ăn mà phải đi gặp công an để xin làm

Trang 8

dấu Nếu doanh nghiệp có trụ sở và nhiều chi nhánh khác nhau thì thường xuyên phảivận chuyển dấu và đóng dấu

Hơn nữa con dấu còn có thể mang đến nhiều tranh chấp khó giải quyết Ví dụ vụtranh chấp con dấu kéo dài hơn 3 năm tại Công ty Cổ phần Sản xuất Dịch vụ Thươngmại Đay Sài Gòn hay vụ tranh chấp con dấu kéo dài hơn 1 năm tại Đại học HùngVương, khiến trường không thể tổ chức thi và cấp bằng cho hơn 1.500 sinh viên

Vì vậy bỏ được con dấu pháp lý là cởi bớt một xiềng xích đối với doanh nghiệp.

Doanh nghiệp bám chặt vào con dấu là tự mua dây buộc mình

- Ví dụ minh họa:

Hình ảnh mẫu dấu cập nhật trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi lấy về theo Quy định luật doanh nghiệp năm 2014 (Thời điểm lấy hình ảnh 05/2017)

1 Tên doanh nghiệp: Công Ty T.H.H.H Dịch vụ Thương Mại Thuận An

2 Mã số doanh nghiệp (M.S.D.N) :0801097603

Địa chỉ: TP Hải Dương-T Hải Dương

Trang 9

Số lượng: 01

Thông tin mẫu dấu được đăng tải lên trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

( Nguồn: nghiep-2014-va-cac-van-ban-phap-luat-khac-lien-quan-ve-con-dau-doanh-

http://nguyenduyluu.blogspot.com/2016/01/quy-dinh-cua-luat-doanh-nghiep.html).

Trang 10

II Quy định về người đại diện theo pháp luật

Luật Doanh Nghiệp 2014 ra đời và thay thế cho Luật Doanh Nghiệp 2005 đã có nhữngđổi mới thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế, quy định về người đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng có những thay đổi theo chiều hướng tích cực Trước hết, người đại diện theo pháp luật được quy định tại Điều 140 Bộ luật dân sựnăm 2005 quy định “đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơquan nhà nước có thẩm quyền quyết định” Từ đó, tại Khoản 4 Điều 141 Bộ luật dân sựnăm 2005 quy định “người đại diện theo pháp luật là người đứng đầu pháp nhân theo quyđịnh của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” Dựatrên khái niệm đó Luật Doanh Nghiệp đã xây dựng nên khái niệm về người đại diện theopháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền vfanghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cáchnguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án vàcác quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

So với Luật Doanh Nghiệp 2005, Luật Doanh Nghiệp 2014 đã có một điều khoảnchung quy định về vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp (Điều 13,14) thay vì nằm rải rác ở nhiều điều như ở Luật 2005, giúpcho người tìm hiểu nắm bắt thông tin cũng như áp dụng cho các loại hình doanh nghiệpmột cách dễ dàng hơn

Luật Doanh Nghiệp 2005 quy định công ty TNHH và công ty Cổ phần chỉ có 1 ngườiđại diện theo pháp luật (Điều 46,67 đối với công ty TNHH và Điều 95 đối với công ty Cổphần) còn Luật Doanh Nghiệp 2014 lại quy định “Công ty TNHH và công ty Cổ phần cóthể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể sốlương, chức danh quản lý, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanhnghiệp” Trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, ở Việt nam ngày càng có nhiều doanh

Trang 11

nghiệp lớn mọc lên làm xuất hiện những nhu cầu, trong đó có nhu cầu cần nhiều hơn mộtngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp để nhằm mục đích thực hiện các hoạtđộng kinh doanh khác nhau mà bản thân một cá nhân không thể đảm nhận hết được vaitrò quan trọng ấy Quy định mới này góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh chodoanh nghiệp, theo đó điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể về số lượng, chức danh quản lýcũng như quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Tại Điều 116 Luật Doanh Nghiệp 2005, đối với công ty Cổ phần “Giám đốc hoặcTổng Giám đốc không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của doanhnghiệp khác” thì ở Luật Doanh Nghiệp 2014 đã xóa bỏ di quy định này trừ quy định tạiKhoản 8 Điều 100 Luật Doanh Nghiệp 2014 Việc xóa bỏ quy định này không làm hạnchế quyền tự do kinh doanh của cá nhân trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, đồngthời đáp ứng được các yêu cầu mà các doanh nghiệp lớn đề ra

Ngoài ra, Luật Doanh Nghiệp 2014 còn nhiều quy định tiến bộ hơn Luật DoanhNghiệp 2005 về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, được quy định cụ thể tạiĐiều 13 Luật Doanh Nghiệp 2014

- Thứ nhất, so với Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 đã có một điều

khoản chung để quy định về vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của người đại diệntheo pháp luật của doanh nghiệp (Điều 13, Điều 14), thay vì nằm rải rác ở nhiều điềunhư luật hiện hành Việc quy định chung như vậy sẽ giúp người tìm hiểu dễ dàngnắm bắt thông tin, dễ áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp

- Thứ hai, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và

công ty Cổ phần chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật của công ty ( Điều 46, Điều

67 đối với công ty TNHH và Điều 95 đối với công ty Cổ phần) Trong khi đó, LuậtDoanh nghiệp 2014 lại quy định: Công ty TNHH và công ty Cổ phần “có thể có mộthoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng,chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanhnghiệp” Trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, ở Việt Nam ngày càng có nhiều

Trang 12

doanh nghiệp lớn, làm xuất hiện những nhu cầu Trong đó có nhu cầu nhiều hơn mộtngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, nhằm thực hiện các hoạt động kinhdoanh khác nhau mà bản thân cá nhân một người không thể đảm nhận hết vai tròquan trọng ấy Quy định mới này góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh chodoanh nghiệp, theo đó điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể về số lượng, chức danh quản

lý, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

- Thứ ba, đối với công ty Cổ phần, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã bỏ đi quy

định “Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổnggiám đốc của doanh nghiệp khác” (Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005) trừ quy địnhtại khoản 8 Điều 100 Luật Doanh nghiệp 2014 Việc bỏ đi quy định này sẽ không làmhạn chế quyền tự do kinh doanh của cá nhân trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khácnhau, đồng thời sẽ đáp ứng được các yêu cầu của các doanh nghiệp lớn

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 còn nhiều quy định tiến bộ về người đại diện theopháp luật của doanh nghiệp, được quy định cụ thể, chi tiết tại Điều 13 như sau:

Trang 13

“- Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cưtrú tại Việt Nam Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luậtthì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khácthực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏiViệt Nam Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm

về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền

- Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo khoản 3 Điều này mà người đại diện theo

pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thìthực hiện theo quy định sau đây:

+ Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi đã được ủy quyền chođến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanhnghiệp;

+ Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đạidiện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợpdanh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật củacông ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồngthành viên, Hội đồng quản trị, quyết định cử người khác làm người đại diện theopháp luật của doanh nghiệp

Ngày đăng: 28/08/2017, 19:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh mẫu dấu cập nhật trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi lấy về theo Quy định luật doanh nghiệp năm 2014 (Thời điểm lấy hình ảnh 05/2017) - Hãy phân tích một số quy định của luật doanh nghiệp 2014 để chứng minh luật doanh nghiệp 2014 được quy định theo hướng thông thoáng hơn, mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp
nh ảnh mẫu dấu cập nhật trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi lấy về theo Quy định luật doanh nghiệp năm 2014 (Thời điểm lấy hình ảnh 05/2017) (Trang 8)
Hình ảnh minh họa: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty CP Dược Phẩm Phong Phú - Hãy phân tích một số quy định của luật doanh nghiệp 2014 để chứng minh luật doanh nghiệp 2014 được quy định theo hướng thông thoáng hơn, mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp
nh ảnh minh họa: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty CP Dược Phẩm Phong Phú (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w