1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại QUYỀN và NGHĨA vụ của CHỦ nợ và CON nợ TRONG THỦ tục PHÁ sản

57 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 911,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự bảo vệ của luật phá sản đối với chủ nợ được thể hiện cụ thể: pháp luật cho phép các chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã Khoản 1 Điều 13 Luật phá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths NGUYỄN MAI HÂN NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

MSSV: 5085907

Lớp Luật Thương Mại, K34

Cần thơ, tháng 11 năm 2011

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

là con đường tất yếu để Việt Nam tiến lên Chủ nghĩa xã hội Từ sau Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VI, với chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu,

bao cấp xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của

Nhà nước nền kinh tế thị trường đã hình thành và phát triển ở nước ta rất phong

phú, đa dạng với nhiều loại hình doanh nghiệp Thêm vào đó năm 1997 Việt

Nam gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế WTO, một bước ngoặt lớn đối với

nền kinh tế đang phát triển Nền kinh tế của nước ta bắt đầu gia nhập vào nền

kinh tế thế giới, một sân chơi thương mại mang tính toàn cầu Sự hội nhập với

các nền kinh tế lớn cũng sẽ kéo theo hệ quả không thể tránh khỏi sự tác động của

các quy luật chung vô cùng khắc nghiệt như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị,

quy luật cung cầu… Chính vì thế nền kinh tế của ta đã nảy sinh nhiều hiện tượng,

một trong những hiện tượng đó là sự phá sản doanh nghiệp

Doanh nghiệp cũng giống như một thực thể sống, có giai đoạn ra đời, phát

triển và suy vong Nhưng khi một doanh nghiệp bị phá sản thì sẽ để lại những hệ

lụy nhất định như xáo trộn nền kinh tế, tăng số lượng người thất nghiệp, làm cho

sức ép về việc làm ngày càng lớn có thể xảy ra các tệ nạn xã hội, thậm chí tội

phạm Và ảnh hưởng chung lớn nhất là có thể dẫn đến sự suy thoái và khủng

hoảng nền kinh tế quốc gia, thậm chí có thể khủng hoảng cả nền kinh tế khu vực

Sau khi Đảng và Nhà nước đã xác định xây dựng nền kinh tế nhiều thành

phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Năm 1993 đạo luật đầu tiên về phá sản

đã được ban hành Tuy nhiên qua mười năm thực hiện Luật phá sản doanh

nghiệp năm 1993 đã bộc lộ những hạn chế nhất định Tiếp đó Luật phá sản năm

2004 ra đời tưởng đâu sẽ khắc phục được những khiếm khuyết của Luật phá sản

doanh nghiệp năm 1993 Thế nhưng, sau hơn 3 năm thi hành, số lượng các vụ

việc phá sản được thụ lý vẩn ở mức rất khiêm tốn: tổng cộng chỉ có gần 60 hồ sơ

được thụ lý ở cả ba khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng

Điều đó không có nghĩa là môi trường kinh doanh trong nước hết sức lành

mạnh mà phản ánh rằng các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản vẫn

chưa tìm thấy ở pháp luật phá sản hiện hành một cơ sở vững chắc để bảo vệ

quyền lợi cho mình

Cho nên yêu cầu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi cho đối tượng

này càng trở nên cấp thiết Do vậy, nghiên cứu về thủ tục phá sản để làm sáng tỏ

quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trang 3

để hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và môi

trường kinh tế quốc tế

Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con

nợ trong thủ tục phá sản” làm Luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục trong điều

kiện hiện nay tại Việt Nam, những bất cập còn tồn tại của hệ thống pháp luật phá

sản sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhận thức được quyền và nghĩa vụ của

mình Đồng thời, đưa ra giải pháp cho từng vấn đề

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này được xây dựng trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã có, Bên

cạnh đó người viết còn sử dụng phương pháp như: phân tích, đánh giá tổng hợp

tài liệu có liên quan đến pháp luật phá sản nói chung và quyền và nghĩa vụ của

chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản nói riêng

4 Bố cục đề tài

Luận văn được kết cấu gồm ba chương không kể lời nói đầu, kết luận và danh

mục tài liệu tham khảo

Chương 1: Tổng quan về phá sản và pháp luật phá sản

Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản

Chương 3: Một số bất cập và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp

luật về quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

Với trình độ còn nhiều hạn chế cũng như kinh nghiệm nghiên cứu chưa

nhiều cho nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất

mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và tất cả các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

1.1 Khái quát chung về phá sản và pháp luật phá sản

1.1.1 Phá sản theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Danh từ phá sản được bắt nguồn từ chữ "Ruin" trong tiếng Latinh có nghĩa là

"sự kháng tận" Khái niệm này dùng để chỉ sự mất cân đối giữa thu và chi của

một doanh nghiệp Ở Châu Âu khi nói đến phá sản người ta thường dùng danh từ

"Bankrupcy" trong tiếng Anh hoặc "Banqueroute" trong tiếng Pháp Cả hai danh

từ này đều bắt nguồn từ chữ "Bancanetta" của Lamã, có nghĩa là "chiếc ghế bị

gãy" Ở thời Lamã các thương gia ở thành phố thường họp nhau lại để xem xét

việc làm ăn và công nợ Người nào mất khả năng thanh toán công nợ sẽ bị mất

quyền tham gia đại hội thương gia và ghế của họ cũng bị đem ra khỏi hội

trường.1

Theo Luật phá sản nhiều nước trên thế giới thì phá sản là tình trạng một

doanh nghiệp không có khả năng nộp thuế, không có khả năng thanh toán công

nợ trong một thời gian nhất định Tuy nhiên việc quan niệm thế nào là mất khả

năng thanh toán nợ ở các quốc gia khác nhau cũng rất khác nhau Có nhiều nước

quy định rõ chỉ số nợ đến hạn chưa được thanh toán để xác định doanh nghiệp đã

lâm vào tình trạng phá sản nhưng ở đại đa số nước thì vấn đề định lượng khoản

nợ như vậy thường không được đặt ra

* Luật phá sản Hungari ban hành năm 1991 quy định nếu doanh nghiệp bị

rơi vào một trong các trường hợp sau đây đều bị xếp vào loại không có khả năng

thanh toán

+ Sau 60 ngày không trả được lương cho cán bộ công nhân viên của mình

hoặc quá hạn 30 ngày không trả được nợ cho các chủ nợ mà con nợ không thảo

luận với các chủ nợ hoặc thấy trước khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn

trong vòng một năm

+ Đã có lệnh buộc phải trả nợ nay hết hạn nhưng vẫn chưa trả được nợ

+ Không thực hiện đúng cam kết với các chủ nợ trước pháp luật

* Luật phá sản của Singapo ban hành năm 1985 thì các con nợ bị rơi vào

một trong các tình trạng sau thì đều bị coi là phá sản

+ Nếu con nợ cố ý gian lận để chuyển giao, chuyển nhượng, biếu xén hay

tẩu tán một phần hay toàn bộ tài sản của mình ở Singapore hoặc ở nước khác

1

Nguyễn Tấn Hơn, Phá sản doanh nghiệp, một số vấn đề thực tiễn, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm

1995 trang 3

Trang 5

+ Nếu bị tuyên bố phá sản mà con nợ chuyển giao hay chuyển nhượng

một phần hay toàn bộ tài sản của mình ở Singapore hay ở nước ngoài cho người

khác hay cố tạo các khoản chi phí mà pháp luật hiện hành coi là giả mạo không

hợp pháp

+ Nếu con nợ bị tòa án quận huyện hay cấp trên xử phạt bằng cách tịch

thu tài sản và chịu án phí 500 đô la (tiền Singapore)

+ Nếu con nợ báo tin cho chủ nợ rằng anh ta hủy bỏ hoặc trì hoãn công nợ

+ Nếu con nợ điều đình xin khất nợ với hai chủ nợ trở lên hoặc đưa ra kế

hoạch trả nợ nhưng trong vòng 14 ngày sau khi cam kết trả nợ, kế hoạch ấy vẫn

chưa được đăng ký trước Tòa án đúng như chế độ thanh toán công nợ hiện hành

+ Nếu chánh án hay nhân viên Tòa án cấp quận huyện tiến hành kiểm kê

tài sản thấy rằng con nợ không còn tài sản để tịch thu Và như vậy ngày Tòa án

hết lệnh kiểm kê được coi là ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

+ Nếu trước Tòa án con nợ xin phá sản hoặc tuyên bố phá sản

* Luật phá sản Australia đưa ra một số căn cứ để dựa vào đó quyết định

tuyên bố phá sản

+ Khi số tiền mặt của doanh nghiệp cộng với giá trị tài sản không thuộc

loại có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp và khả năng dễ chuyển nhượng mà

nhỏ hơn tổng số nợ không có bảo đảm thì coi như doanh nghiệp đã lâm vào tình

trạng phá sản

+ Khi nhận giấy đòi nợ với số lượng lớn mà con nợ không đưa ra được

bằng chứng nào trước tòa về khả năng thanh toán món nợ Do chính luật sư của

doanh nghiệp mắc nợ đưa ra rằng doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ

đến hạn Nếu chủ doanh nghiệp không đưa ra sự phản đối có cơ sở thuyết phục

+ Khi thẩm phán có thông tin cho rằng nhiều séc của doanh nghiệp bị

ngân hàng từ chối thanh toán Trong trường hợp này nếu muốn Toà án không ra

quyết định tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp phải chứng minh trước Tòa là séc

này có thể thanh toán được

+ Khi doanh nghiệp đang khó khăn về tài chính mà tất cả các chủ nợ có

bảo đảm lại đòi đối xử với các vật bảo đảm, thẩm phán có thể ra quyết định phá

sản với doanh nghiệp nào là vì có thể rõ ràng suy đoán rằng do không trả được

nợ nên các chủ nợ mới tước đi các vật cầm cố, thế chấp

+ Khi một doanh nghiệp không thực hiện được yêu cầu của thẩm phán về

việc thanh toán một món nợ nào đó theo thủ tục pháp lý thông thường, tức là khi

còn nợ người khác mà có lệnh trả nợ của thẩm phán mà con nợ vẫn không thi

hành đó chính là dấu hiệu mất khả năng thanh toán

Trang 6

* Luật phá sản Bỉ quy định một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ là

doanh nghiệp không trả được nợ đến hạn, bị mất uy tín về tài chính, tức là không

còn đủ tài sản để đảm bảo các số nợ của mình hoặc kiếm cách trả nợ bằng

phương pháp bất thường Đối với cá nhân thì luật không phân biệt

* Luật không có khả năng thanh toán và luật treo giò giám đốc của Anh ban

hành năm 1986 thì các doanh nghiệp có giá trị tài sản thấp hơn số nợ phải trả

(hiện tại và tương lai) đều bị xếp vào loại không có khả năng thanh toán Nhưng

ở Anh không có khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp bị xếp vào

loại phá sản, mà ở nước này còn dành một thời gian để khôi phục doanh nghiệp,

sau thời gian này nếu doanh nghiệp không trở lại hoạt động bình thường được và

không trả được nợ thì sẽ bị tuyên bố phá sản

1.1.2 Phá sản theo pháp luật Việt Nam

Đại hội đảng lần thứ VI của Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa

Việt Nam tiến hành tháng 12 năm 1986 quyết định cơ chế đổi mới kinh tế Lúc

bấy giờ ở nước ta chưa có một khái niệm phá sản nào Đến 1990 văn bản pháp lý

đầu tiên liên quan đến giải quyết tình trạng doanh nghiệp thua lỗ không có khả

năng thanh toán đó là Quyết định số 315 Hội đồng bộ trưởng (HĐBT) ngày

01/09/1990 của Hội đồng Bộ trưởng Theo khoản 4 điều 3 quyết định số 315 của

HĐBT thông qua ngày 01/09/1990 qui định: “Đối với các đơn vị kinh doanh lỗ

vốn kéo dài nhiều năm thì Bộ và địa phương phải lập danh sách đầy đủ, tiến hành

phân loại theo mức độ quan trọng của các sản phẩm và dịch vụ do đơn vị tạo ra

và theo mức độ kém hiệu quả của các đơn vị Từ đó tìm biện pháp để hỗ trợ cho

đơn vị hoạt động; sáp nhập vào xí nghiệp khác hoặc chuyển thành các tổ chức

kinh tế tập thể Nếu đã thực hiện các biện pháp chấn chỉnh trên mà vẫn không có

hiệu quả, tiếp tục thua lỗ, không có khả năng trả nợ thì cho phép giải thể theo

hướng dẫn kèm theo Quyết định này”

Mặc dù quyết định số 315 của HĐBT thông qua ngày 01/09/1990 cũng có đề

cập đến tình trạng làm ăn thua lỗ cua doanh nghiệp nhưng không hề có một khái

niệm phá sản nào được đặt ra ở đây Bởi vì, quyết định này chỉ cho phép doanh

nghiệp giải thể.Có thể nói quyết định số 315 của HĐBT chỉ mới nhen nhóm bản

chất của phá sản

Đến luật doanh nghiệp tư nhân và luật Công ty được Quốc hội thông qua

ngày 21/12/1990 thì khái niệm phá sản mới chính thức được đề cập tới Theo tinh

thần quy định tại Điều 24 luật Công ty ngày 21/12/1990 và Điều 17 Luật doanh

nghiệp tư nhân ngày 21/12/1990 thì khi doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty (gọi

chung là doanh nghiệp) gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh

đến mức tại một thời điểm tổng số giá trì các tài sản còn lại của doanh nghiệp

Trang 7

không đủ thanh toán các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp lâm vào tình trạng

phá sản

Vì là lần đầu tiên đề cập đến khái niệm phá sản nên Luật doanh nghiệp tư

nhân và Luật công ty đã không bao quát hết những khía cạnh cần thiết Thực tế

chứng minh rằng có thể một doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó tổng giá trị

tài sản còn lại của doanh nghiệp nhỏ hơn tổng số nợ đến hạn chưa chắc đã đưa

doanh nghiệp đó đến tình trạng phá sản, nếu như nợ đến hạn của doanh nghiệp đó

vẫn thanh toán được đều đặn (Tức là không có dấu hiệu ngừng thanh toán nợ)

Bên cạnh đó có không ít những doanh nghiệp lớn hơn nhiều so với nợ đến hạn

nhưng vẫn bị tòa án tuyên bố phá sản vì doanh nghiệp đó không có khả năng

thanh toán (ngừng thanh toán)

Trong quá trình thực hiện Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty đã bộc

lộ những hạn chế đáng kể Nhằm khắc phục những hạn chế này, Quốc hội đã

thông qua Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30/12/1993.Luật phá sản doanh

nghiệp 1993 là đạo luật đầu tiên của nhà nước ta được ban hành khi kinh nghiệm

lập pháp về phá sản gần như không có Cụ thể tại Điều 2 qui định:

Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải thỏa mãn ba điều kiện sau:

+ Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh

doanh

+ Doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn

+ Doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục

việc mất khả năng thanh toán nhưng không khắc phục được

Theo qui định này thì dấu hiệu “làm ăn thua lỗ hoặc gặp khó khăn dẫn đến

mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn “là dấu hiệu đặc trưng cơ bản

nhất để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, còn dấu hiệu “đã áp

dụng các biện pháp tài chính cần thiết “chỉ là dấu hiệu bổ sung cho việc xác định

doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Nghị định số 189 của Chính phủ (CP)

chi tiết hóa việc xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Cụ thể tại

Điều 3 qui định như sau:

+ Doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nói tại

Điều 2 của Luật phá sản doanh nghiệp, nếu kinh doanh bị thua lỗ trong 2 năm

liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, trong 3 tháng liên tiếp

không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp

đồng lao động

+ Khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản như trên, doanh

nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục tình trạng mất

khả năng thanh toán nợ đến hạn như: Có phương án tổ chức lại sản xuất kinh

Trang 8

doanh, quản lí chặt chẽ các khoản chi phí, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm; có

biện pháp xử lí hàng hóa, sản phẩm, vật tư tồn đọng; thu hồi các khoản nợ và tài

sản bị chiếm dụng; thương lượng với các chủ nợ để hoãn, mua, bảo lãnh, giảm và

xóa nợ; tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay để trang trải các khoản nợ

đến hạn và đầu tư đổi mới công nghệ

+ Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết trên đây mà doanh

nghiệp vẫn gặp khó khăn, không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh

toán nợ đến hạn thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản và phải xử lí theo

quy định của Luật phá sản doanh nghiệp

Nhìn chung, theo Luật phá sản doanh nghiệp thì thủ tục phá sản chỉ được mở ra

đối với các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi đã hội đủ ba điều kiện

trên

Có thể nói rằng, ngay cả Luật phá sản doanh nghiệp và Nghị định số 189/CP

/1994 đã có những qui định chặt chẽ hơn về điều kiện xác định doanh nghiệp lâm

vào tình trạng phá sản Nhưng cái chặt chẽ ở đây lại không cân đối Luật phá sản

doanh nghiệp quá chú trọng việc áp dụng thủ tục phá sản để xử lý tài sản của con

nợ hơn là để phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Bởi vì, một

doanh nghiệp mà chờ đủ ba điều kiện trên mới mở thủ tục phá sản thì doanh

nghiệp đó không con một khả năng tài chính nào để phục hồi lại dược

Nói tóm lại, mục đích của Luật phá sản doanh nghiệp ban hành là để tạo điều

kiện để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khôi phục hoạt động kinh

doanh, trở lại thương trường đã không đạt dược Mà thực tế mở thủ tục phá sản

cũng chỉ để thanh lý tài sản

Luật phá sản 2004 ra đời đã khắc phục những hạn chế của Luật phá sản doanh

nghiệp năm 1993 bổ sung những nội dung mới trên cơ sở tổng kết mười năm áp

dụng Luật phá sản doanh nghiệp 1993 về thủ tục phá sản Nếu theo Luật phá sản

19932 thì doanh nghiệp muốn mở thủ tục phá sản phải thỏa ba điều kiện như đã

phân tích ở trên thì đến Luật phá sản 2004 lại qui định theo hướng đơn giản hóa

tiêu chí xác định tình trạng phá sản Cụ thể tại Điều 3 thì: “Doanh nghiệp, hợp tác

xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ khi chủ nợ có yêu cầu thì

coi như là lâm vào tình trạng phá sản”

Có thể nói đây là một điểm mới của Luật phá sản 2004, qui định này khá đơn

giản, dễ thực hiện vì không có căn cứ thời gian thua lỗ, nguyên nhân thua lỗ Cho

nên có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp sớm mở thủ tục phá sản, cũng như tạo

Trang 9

khả năng phục hồi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác

xã Qui định này có ý nghĩa quan trọng, vì nếu xác định tình trạng này muộn thì

khả năng phục hồi sẽ không có mà chỉ áp dụng thủ tục để thanh lý tài sản mà

thôi

Như đã phân tích ở trên thì dấu hiệu để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã

lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã đó không có khả năng

thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ đã có yêu cầu Cụ thể tại Mục 2

Chương 1 - NQ số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/04/2005 hướng dẫn chi tiết qui

định thế nào là việc không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn

khi chủ nợ đã xóa yêu cầu:

+ Các khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có

bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm) đã rõ ràng được các bên xác

nhận, có đầy đủ giấy tờ, tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp

+ Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không

có khả năng thanh toán

Yêu cầu của chủ nợ thanh toán các khoản nợ đến hạn phải có căn cứ chứng

minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh

toán (như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp, hợp tác

xã)

Nghiên cứu dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, về phương diện lí

luận cũng như thực tiễn cần xem xét một số khía cạnh cụ thể sau:

Thứ nhất, mất khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp , hợp

tác xã hoàn toàn cạn kiệt tài sản Doanh nghiệp có thể còn rất nhiều tài sản mà

vẫn mất khả năng thanh toán, chỉ vì tài sản đó không thể bán được, cho nên

doanh nghiệp không có tiền để thanh toán các khoản nợ

Thứ hai, mất khả năng thanh toán không chỉ là hiện tượng doanh nghiệp

không thanh toán được nợ mà nó còn thể hiện doanh nghiệp đang lâm vào tình

trạng tài chính tuyệt vọng, trừ phi có sự can thiệp của tòa án hoặc sự giúp đỡ của

các chủ nợ

Thứ ba, đối với doanh nghiệp tư nhân, nếu trong hoạt động sản xuất kinh

doanh có giao kết bất kì hợp đồng nào mà sau đó phát sinh ra các khoản nợ thì

các khoản nợ này được coi là cơ sở để đánh giá tình trạng phá sản của doanh

nghiệp Nhưng ở đây cũng cần phân biệt với các khoản nợ cho do chủ doanh

nghiệp tư nhân xác lập trên cơ sở những hợp đồng phục vụ cho sinh hoạt cá nhân

hoặc gia đình họ vì nó không xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Thứ tư, pháp luật không nhất thiết quy định cụ thể mất khả năng thanh toán

một khoản nợ bao nhiêu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản, bởi vì tình hình tài

Trang 10

chính trong các doanh nghiệp rất khác nhau, có thể có những doanh nghiệp nợ

vài ba chục triệu nhưng không có cách gì để trả, trong lúc có những doanh nghiệp

nợ tới vài ba trăm triệu vẫn có khả năng thanh toán bình thường

Thứ năm, bản chất của việc mất khả năng thanh toán có thể không trùng với

biểu hiện bên ngoài là trả được nợ hay không Trong nền kinh tế thị trường hiện

nay, nhiều doanh nghiệp không trả được nợ nhưng điều này chỉ có tính chất nhất

thời trong khi mọi hoạt động của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường Ngược

lại, có những doanh nghiệp sự trả nợ chỉ là trá hình, che đậy tình trạng tài chính

tuyệt vọng của doanh nghiệp, họ phải sử dụng nhiều phương tiện gian trá để bù

đắp ngân quỹ như vay nặng lãi, thế chấp tài sản nhiều lần để vay vốn ngân

hàng…3

Có thể nói rằng một khi con nợ ngừng trả nợ coi như đã lâm vào tình trạng

phá sản và lúc đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lí để nộp đơn yêu cầu Tòa án mở

thủ tục phá sản Nhưng lưu ý một điều là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá

sản chưa hẳn đã bị phá sản Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

chỉ được coi là phá sản khi đã tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản

1.2 Ảnh hưởng của phá sản đối với nền kinh tế thị trường

Phá sản là một hiện tượng kinh tế xã hội tất yếu trong môi trường kinh doanh

cạnh tranh như hiện nay Nó kéo theo nhiều hiện tượng kinh tế xã hội nhất định

đồng thời tác động đến nhiều mặt trong đời sống xã hội và pháp luật Vì thế có

thể nói rằng: “Phá sản trong nền kinh tế thị trường hiện nay như một con dao hai

lưỡi”, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực

1.2.1 Ảnh hưởng tiêu cực

Phá sản sẽ làm mất cân bằng nền kinh tế , làm suy yếu nền kinh tế của một

quốc gia Đồng thời phá sản cũng kéo theo nhiều hệ lụy như nhân công mất việc,

từ đó gây ra những bất ổn cho xã hội Cụ thể ở các mặt sau đây:

Về mặt kinh tế: Một doanh nghiệp bị phá sản trong điều kiện ngày nay có thể

dẫn đến những tác động tiêu cực Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng

lớn, tham gia vào quá trình phân công lao động của ngành nghề đó càng sâu và

rộng, số lượng bạn hàng ngày càng đông, thì sự phá sản của nó có thể dẫn đến sự

phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp bạn hàng theo "hiệu ứng domino” còn

gọi là phá sản dây chuyền

Về mặt xã hội: Phá sản doanh nghiệp để lại những hậu quả tiêu cực nhất định

về mặt xã hội bởi nó làm tăng số lượng người thất nghiệp, làm cho sức ép về việc

làm ngày càng lớn và có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội

3

Giáo trình Luật Thương Mại tập 2, trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm

2006

Trang 11

Về mặt chính trị: Phá sản dây chuyền sẽ dẫn tới sự suy thoái và khủng hoảng

nền kinh tế quốc gia, thậm chí khủng hoảng kinh tế khu vực và đây là nguyên

nhân trực tiếp dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc về chính trị

Như vậy, xét ở ba mặt trên, phá sản với tính cách là một hiện tượng xã hội

tiêu cực cần được hạn chế và ngăn chặn đến mức tối đa Để hạn chế các tác động

tiêu cực, phá sản cần phải được coi là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất của

chính phủ đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Yêu cầu này cần phải

được thể hiện một cách nhất quán trong pháp luật phá sản qua các nội dung như:

tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, vấn đề hồi phục

doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thứ tự ưu tiên thanh toán các khoản nợ

khi tuyên bố phá sản

1.2.2.Ảnh hưởng tích cực

Chúng ta có thể khẳng định rằng, phá sản không chỉ có những ảnh hưởng tiêu

cực mà nó còn có những ảnh hưởng tích cực đến nhiều mặt đời sống kinh tế xã

hội

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay cạnh tranh là tất yếu doanh nghiệp nào

mạnh sẽ tồn tại , doanh nghiệp nào yếu sẽ bị đào thải và phá sản là một trong

những trường hợp loại trừ các doanh nghiệp yếu

Xét về mặt kinh tế thì phá sản là một giải pháp hữu hiệu để “cơ cấu lại” nền

kinh tế, có thể ví phá sản như vườn dọn sạch cỏ dại để cây trồng phát triển, phá

sản góp phần hình thành duy trì sự tồn tại của những doanh nghiệp đủ sức đứng

vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng nghiệt ngã Phá sản giữ một vai trò

đặc biệt quan trọng để loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, kinh

nghiệm quản lý tồi ra khỏi nền kinh tế, giữ lại những doanh nghiệp mà ở chúng

sức cạnh tranh tốt hơn, làm ăn có lãi hơn Thực tế đã chứng minh rằng trong nền

kinh tế thị trường chỉ tồn tại những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, sự cạnh

tranh bao giờ cũng mang lại kết cục nghiệt ngã nhưng nó lại là quy luật không

thể thay đổi của nền kinh tế thị trường nơi mà ở đó lợi nhuận là trung tâm cạnh

tranh là động lực.4

Bên cạnh những ảnh hưởng đã trình bày ở trên phá sản còn tác động đến

nhiều ngành luật như Dân luật, Hình luật bởi vì khi tiến hành giải quyết yêu

cầu tuyên bố phá sản nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau, nhiều các quan hệ

xã hội khác nhau mà chúng là đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác

nhau Chẳng hạn như khi các doanh nghiệp bị phá sản thường Tòa án xét xử các

vụ tranh chấp về công nợ giữa chủ nợ và con nợ nếu chúng không thỏa thuận

được với nhau và như vậy phá sản liên quan đến Dân luật, hoặc trong trường hợp

4

http://www.google.com.vn/giaidap/thread?tid=796a1466f53b16fd

Trang 12

con nợ cố tình gian lận trong phá sản phải chịu trách nhiệm hình sự Theo quy

định khoản 3 Điều 8 Luật phá sản năm 2004, trong quá trình tiến hành thủ tục

phá sản nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Thẩm phán cung cấp tài liệu cho

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cùng cấp để xem xét khởi tố về hình sự, ở đây

rõ ràng phá sản đã liên quan đến Hình luật

Tóm lại, phá sản là một hiện tượng phức tạp nhiều khi nó làm ảnh hưởng lớn

đến nền chính trị như vụ phá sản của tập đoàn viễn thông Worldcom năm 2005

vừa qua Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực riêng phá sản cũng giải quyết được một

số vấn đề lớn về kinh tế và xã hội, đó cũng là một giải pháp hữu ích để giúp

doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng nặng về cả vật chất lẫn tinh thần, tránh tình

trạng gây sức ép cho các con nợ Trong nền kinh tế thị trường cần phải xem xét

phá sản là hiện tượng lành mạnh tất yếu, nó là một sản phẩm của nền kinh tế thị

trường và nền kinh tế này chấp nhận nó là một lẽ đương nhiên

1.3 Vai trò của pháp luật phá sản đối với nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì yếu tố cạnh tranh là sự

sống còn và thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, cũng chính nền kinh tế thị

trường đã để lại nhiều hệ lụy đáng kể cho nền kinh tế - chính trị xã hội, một trong

những vấn đề đó là hiện tượng phá sản Thực tế chứng minh rằng phá sản là hiện

tượng bình thường và cần thiết của nền kinh tế thị trường còn pháp luật phá sản

là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này Vì vậy pháp luật phá

sản có vai trò hết sức quan trọng không những bảo vệ lợi ích chính đáng của các

chủ thể tham gia quan hệ phá sản ma còn góp phần bảo vệ trật tự kỉ cương xã hội

ổn định nền kinh tế

1.3.1 Bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ nợ

Khi mới hình thành, Luật phá sản chủ yếu được áp dụng cho các thương gia

nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Ví dụ: Luật phá sản đầu tiên của nước Anh

đã quy định nhiều biện pháp rất nghiêm ngặt, kể cả bỏ tù con nợ

Đồng thời với quá trình dân chủ hóa các hoạt động kinh tế, nhất là xu thế mở

rộng quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh, pháp luật về phá sản ngày càng

có xu hướng nhân đạo hóa các biện pháp áp dụng đối với chủ doanh nghiệp bị

phá sản, phát triển các quy định nhằm bảo vệ lợi ích của các con nợ Tuy nhiên

lợi ích của các chủ nợ vẫn là mục tiêu bảo vệ hàng đầu

Khi một nhà đầu tư cho các doanh nghiệp vay vốn, họ có hai phương pháp để

đòi nợ:

• Đòi nợ bằng phương pháp thông thường- thông qua việc đưa đơn kiện ra

tòa án hoặc trọng tài kinh tế

• Đòi nợ bằng một cơ chế đặc biệt- thông qua thủ tủc phá sản

Trang 13

Tính đặc biệt của thủ tục này thể hiện ở chỗ:

+ Giúp cho các chủ nợ thu hồi được tài sản của mình Tòa án phải ra

quyết định tuyên bố doanh nghiệp mắc nợ bị phá sản, để rồi nhân việc đó mà bán

toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đó đi, nhằm thanh toán cho chủ nợ Cách trả nợ

theo thủ tục phá sản là trả nợ một cách tập thể, và bằng cách chấm dứt sự tồn tại

của con nợ

+ Luật đảm bảo cho chủ nợ lợi ích của mình, hạn chế tình trạng dây dưa

thanh toán nợ Do đó, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư tự tin hơn trong quá trình

cho vay và đòi nợ

Sự bảo vệ của luật phá sản đối với chủ nợ được thể hiện cụ thể: pháp luật cho

phép các chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp

tác xã Khoản 1 Điều 13 Luật phá sản năm 2004; chủ nợ có quyền tham gia giải

quyết những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp mà liên quan đến lợi ích của

mình trong quá trình giải quyết việc phá sản Chẳng hạn, lợi ích của chủ nợ được

bảo đảm bằng việc pháp luật cho phép tất cả các chủ nợ đều được tham gia vào

hội nghị chủ nợ, được cử đại diện của mình tham gia vào tổ quản lí, thanh lí tài

sản Điều 9, Điều 62 Luật phá sản năm 2004 Hơn nữa, trong quá trình giải quyết,

pháp luật phá sản còn đưa ra các cơ chế cho phép các chủ nợ có khả năng bảo vệ

tối đa lợi ích của mình như: kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh, hành vi

của con nợ (Điều 63), tham gia giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp tới

quyền lợi của mình, khiếu nại các quyết định của Toà án tất cả nhằm mục

đích bảo vệ tối đa hoá khă năng thu hồi nợ

Ngoài ra, vai trò của Luật phá sản trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp

của các chủ nợ (ở chừng mực nhất định còn nhằm bảo vệ quyền lợi ích của người

lao động) qua quy định tại Điều 31 Luật phá sản năm 2004: kể từ ngày nhận

được quyết định mở thủ tục phá sản, nghiêm cấm doanh nghiệp, hợp tác xã cất

giấu, tẩu tán tài sản; thanh toán nợ không có bảo đảm; từ bỏ hoặc giảm bớt quyền

đòi nợ; chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài

sản của doanh nghiệp Bên cạnh đó, sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá

sản doanh nghiệp, hợp tác xã phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán

trước khi thực hiện những họat động sau: cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán,

tặng cho, cho thuê tài sản; nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng; chấm

dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực; vay tiền; bán, chuyển đổi cổ phần hoặc

chuyển quyền sở hữu tài sản; thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong

doanh nghiệp, hợp tác xã

Trang 14

Để bảo vệ tuyệt đối quyền lợi cho các chủ nợ, Luật phá sản còn cho phép chủ

nợ có bảo đảm còn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố các giao dịch của doanh

nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật phá sản năm 2004 vô

hiệu Khi các giao dịch này được tuyên bố vô hiệu thì những tài sản thu hồi được

phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Thêm vào đó, trong quá

trình tiến hành thủ tục phá sản nếu xét thấy việc đình chỉ thực hiện hợp đồng

đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có lợi hơn

cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì chủ nợ cũng có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết

định đình chỉ thực hiện hợp đồng

Pháp luật đã thiết kế sẵn một thủ tục pháp lí đảm bảo sự bình đẳng quyền lợi

giữa các chủ nợ, không cho phép chủ nợ nào được tự ý xé lẻ đi kiện riêng con nợ

để đòi nợ, không một chủ nợ nào được con nợ ưu tiên trả nợ trong khi các chủ nợ

khác chưa được trả (trừ chủ nợ có đảm bảo đặc biệt cho món nợ của mình, chủ

nợ có tài sản cầm cố, thế chấp)

1.3.2 Bảo vệ lợi ích của con nợ

Khi mới xuất hiện, Luật Phá sản không đề cập đến vấn đề bảo vệ lợi ích cho

các con nợ, vì những nhà lập pháp đã cho rằng phá sản là phạm tội, chủ doanh

nghiệp phá sản, vì thế, là phạm nhân Những chủ doanh nghiệp như thế không

những không được bảo vệ mà còn bị trừng phạt, thậm chí bỏ tù

Tuy nhiên, ngày nay, đại đa số các nước trên thế giới không còn quan niệm

như vậy nữa Họ hiểu rằng kinh doanh là một công việc khó khăn, dễ gặp rủi ro

Như vậy, luật pháp sẽ không nên trừng phạt họ, mà trái lại, còn nên đối sử nhân

đạo với các doanh nghiệp không may đó

Hiện tại, Việt Nam đã thực hiện các chính sách như:

+ Không bỏ tù những chủ doanh nghiệp phải tuyên bố phá sản

+ Ngăn cấm các chủ nợ có các hành vi xúc phạm thể xác và tinh thần của

con nợ

+ Bằng mọi cách tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mắc nợ khắc phục

tình trạng khó khăn, khôi phục lại sản xuất mà không phải tuyên bố phá sản ngay

Đồng thời giảm bớt gánh nặng tài chính (bằng việc ấn định thời điểm ngừng trả

nợ, tạo điều kiện cho con nợ thương lượng với chủ nợ để xoá nợ, giảm nợ, mua

nợ ), hạn chế những hành vi pháp lý chống lại con nợ từ phía các chủ nợ, buộc

các chủ nợ vào một khuôn khổ chung trong quá trình đòi nợ Con nợ được tạo cơ

chế khôi phục được, pháp luật phá sản còn đưa ra cơ chế giúp cho việc thanh lý

tài sản của con nợ được nhanh nhất và giải phóng con nợ khỏi trách nhiệm thanh

toán đối với các chủ nợ

Trang 15

Ngoài ra, Luật phá sản còn có quy định đến việc xử lý các khoản nợ chưa đến

hạn của con nợ Đó là, trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục

thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ chưa đến hạn vào thời

điểm mở thủ tục thanh lý được xử lý như các khoản nợ đến hạn, nhưng không

được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn

1.3.2 Bảo vệ lợi ích của người lao động

Khi một doanh nghiệp phá sản, bên cạnh sự thiệt hại của chủ nợ và con nợ,

mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến những người lao động Trước những sự khó

khăn đó, luật phá sản đã cho phép những người làm công được hưởng một số

quyền lợi đặc biệt

Theo quy đinh của hầu hết các nước trên thế giới, trong quá trình giải quyết

yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, người lao động có quyền cử đại diện

tham gia để bảo vệ lợi ích của mình, tiền lương và các khoản lợi ích chính đáng

khác của họ bao giờ cũng thuộc diện ưu tiên trong thứ tự phân chia tài sản của

doanh nghiệp và những người lao động trong doanh nghiệp bị phá sản thường

được tạo cơ hội tìm việc làm mới

Theo Điều 14 Luật phá sản năm 2004 quy định: "trong trường hợp doanh

nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động

và nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì người lao

động cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở

thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó" Trong trường hợp này người

lao động sẽ được miễn phí phá sản (Khoản 2 – Điều 21)

Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của người lao động còn được thể hiện đặc

biệt trong việc phân chia tài sản thì người lao động được ưu tiên thanh toán trước

chỉ sau phí phá sản (Điều 37) Như vậy, pháp luật về phá sản xác định cơ sở pháp

lý cho việc bảo vệ lợi ích hợp pháp và hạn chế thiệt thòi vật chất mà sự phá sản

đem lại cho người lao động

Ngoài ra, vai trò của Luật phá sản hiện hành ngày nay còn thể hiện rõ nét qua

giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh (thủ tục phục hồi hoạt động kinh

doanh) nhằm cứu giúp con nợ vượt ra khỏi tình trạng phá sản Nếu doanh nghiệp,

hợp tác xã thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Thẩm

phán sẽ đình chỉ thủ tục phục hồi họat động kinh doanh và khi đó doanh nghiệp,

hợp tác xã đó được coi không còn lâm vào tình trạng phá sản Trong trường hợp

này Luật phá sản cùng lúc bảo vệ được ba mục tiêu: bảo vệ quyền lợi ích của các

chủ nợ (các chủ nợ sẽ được thanh toán hết nợ); bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp

mắc nợ (doanh nghiệp không bị đào thải khỏi nền kinh tế thị trường); bảo vệ

quyền lợi người lao động (người lao động không bị mất công ăn, việc làm)

Trang 16

1.3.4 Bảo vệ trật tự kỉ cương xã hội và cơ cấu lại nền kinh tế

Luật phá sản doanh nghiệp được đưa ra nhằm đảm bảo lợi ích cho mọi thành

phần tham gia doanh nghiệp, nó làm tránh được tình trạng hỗn loạn của nền kinh

tế khi một, hay nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Bên cạnh đó, phá

sản không hoàn toàn là tiêu cực, trên một khía cạnh nào đó, nó thậm chí là một

hành động tích cực đối với nền kinh tế, giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh có

hiệu quả hơn

Khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì khả năng thanh toán các

khoản nợ là rất thấp Cho nên các chủ nợ sẽ có các hành vi chống lại con nợ

Những hành vi đó có thể là hợp pháp cũng có thể là bất hợp pháp Nếu không có

sự can thiệp kịp thời và có hiệu quả của luật phá sản thì những hành vi bất hợp

pháp sẽ diễn ra, gây ra bất ổn cho xã hội Vì vậy, pháp luật phá sản sẽ quy định

tách bạch và hài hòa lợi ích giữa các nhóm chủ nợ với nhau tạo sự công bằng

trong việc thanh toán cho các chủ nợ Nhìn chung pháp luật phá sản quy định một

cách công bằng và minh bạch lợi ích giữa chủ nợ và con nợ cũng như các chủ nợ

với nhau Cho nên có thể khẳng định rằng pháp luật phá sản đã hạn chế được

những mâu thuẫn và căng thẳng có thể xảy ra giữa họ góp phần bảo vệ trật tự kỉ

cương xã hội

Chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng mặc dù phá sản để lại những hệ lụy

tiêu cực nhưng bên cạnh đó phá sản cũng góp phần không nhỏ vào việc cơ cấu lại

nền kinh tế và loại bỏ doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả Đồng thời luật phá sản

là biện pháp cưỡng chế buộc các doanh nghiệp phải luôn năng động, sáng tạo

nhưng không được liều lĩnh Luật phá sản là cơ sở pháp lý tạo môi trường kinh

doanh lành mạnh Vì nó đã xử lí kịp thời những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu

quả lâm vào tình trạng phá sản

1.4 Các cơ quan tham gia quá trình giải quyết phá sản

1.4.1 Vai trò trung tâm của Tòa án nhân dân (TAND) trong việc giải

quyết phá sản

Pháp luật của hầu hết các nước đều trao cho Tòa án có thẩm quyền tuyên bố

phá sản, song vai trò cụ thể của cơ quan này trong quá trình giải quyết việc phá

sản ở các nước khác nhau là không giống nhau,

Bởi vì phá sản là hiện tượng gây hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt và cho

nhiều người, do đó cơ quan nào có quyền tuyên bố phá sản là vấn đề được pháp

luật nhiều nước quan tâm

Theo quy định của Điều 7 Luật phá sản năm 2004, thẩm quyền giải quyết phá

sản được phân cấp cho Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Trang 17

căn cứ vào việc cơ quan cấp nào (tỉnh hay huyện) đã cấp giấy chứng nhận đăng

kí kinh doanh cho doanh nghiệp, hợp tác xã cụ thể đó

Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết phá sản đối với các hợp tác xã đăng kí

kinh doanh tại cơ quan cấp huyện đó Tòa án nhân dân cấp tỉnh cụ thể là Tòa

kinh tế giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng kí kinh

doanh tại cơ quan đăng kí kinh doanh cấp tỉnh đó

Tùy vào tính chất của việc phá sản, quy mô của hợp tác xã, TAND tỉnh sẽ lấy

lên để tiến hành thủ tục giải quyết phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền

của TAND cấp huyện Việc giải quyết phá sản tại Tòa án cấp huyện do một

Thẩm phán phụ trách, tại Tòa án cấp tỉnh do một hoặc ba Thẩm phán phụ trách

Do đó, nếu như Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định việc giải quyết

phá sản tập trung tại TAND tỉnh thì Luật phá sản năm 2004 đã mở rộng thẩm

quyền giải quyết phá sản cho Tòa án huyện, điều này có thể được lý giải bởi sự

không ngừng nâng cao về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm

phán

Quy định như vậy là phù hợp với tính chất và hoạt động của Tòa án các cấp

theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ chính trị, theo đó tăng thẩm

quyền cho Tòa án cấp huyện, TAND tối cao chủ yếu thực hiện việc xét xử giám

đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án

nhân dân cấp dưới bị kháng nghị, tập trung vào việc tổng kết thực tiễn, hướng

dẫn việc xét xử của Tòa án các cấp 5

Có thể thấy, phá sản về bản chất là một hiện tượng kinh tế, song do tính chất

phức tạp của nó mà Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều giao

thẩm quyền giải quyết cho hệ thống Tòa án, Tòa án là nhân vật trung tâm, giữ vị trí

quyết định đối với việc giải quyết một vụ phá sản, vì trong quá trình giải quyết một

vụ phá sản thường liên quan đến lợi ích của các bên khác nhau mà Tòa án là cơ quan

độc lập, có tính chất khách quan, nguyên tắc "Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo

pháp luật" đã trở thành nguyên tắc hiến định

Tham gia vào quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Tòa án có

vị trí trung tâm, có vai trò chủ đạo và là người trực tiếp giải quyết loại công việc

này của xã hội Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được mở đầu bằng

việc Tòa án nhận, thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; Toà án quyết định việc

mở hay không mở thủ tục phá sản Vai trò của Tòa án không chỉ dừng lại ở việc

quyết định những vấn đề thuộc về tố tụng phá sản mà nó còn can thiệp vào cả

5

Theo Ths Vũ Hồng Vân, quy định của luật phá sản năm 2004 về nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,

Tạp chí TAND tháng 11-2005 (Số 21), tr 16

Trang 18

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tòa án giám sát hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết phá sản, quyết định

việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo đảm tài sản của doanh

nghiệp

Khi tiến hành giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Tòa án cùng với các bên phải phân tích, đánh giá khả năng phục hồi của doanh

nghiệp để trên cơ sở đó mà ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hay thủ tục

thanh lý đối với doanh nghiệp Thủ tục phục hồi chỉ được tiến hành khi có yêu

cầu của chủ nợ hoặc doanh nghiệp mắc nợ Đối với những doanh nghiệp mắc nợ

mà rõ ràng là không thể phục hồi được khả năng thanh toán thì pháp luật cho

phép Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản và tiến hành ngay thủ tục thanh lý

doanh nghiệp mà không cần làm thêm bất cứ một thủ tục pháp lý nào khác

Khác với thông lệ chung đó, pháp luật phá sản Việt Nam mà cụ thể là Luật

Phá sản doanh nghiệp lần đầu tiên được ban hành năm 1993 lại quy định mà theo

đó bất cứ một doanh nghiệp nào bị Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết

yêu cầu tuyên bố phá sản đều phải trải qua giai đoạn xây dựng phương án hòa

giải và giải pháp lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, họp Hội nghị chủ nợ để bàn

bạc, xem xét phương án này và sau đó nếu không được sự chấp nhận của Hội

nghị chủ nợ thì Tòa án mới được ra quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh

nghiệp đó Quy định này dẫn tới hậu quả là, mặc dù tài sản của doanh nghiệp

mắc nợ trên thực tế đã không còn gì đáng kể, bản thân chủ doanh nghiệp hoặc

người quản lý doanh nghiệp và các chủ nợ không muốn phục hồi nhưng doanh

nghiệp đó vẫn bắt buộc thực hiên đầy đủ các bước như trên Như thế, việc tổ

chức lại doanh nghiệp trong trường hợp này rõ ràng là không chỉ không có kết

quả mà còn trái ý muốn của các đương sự Việc quy định áp đặt như vậy là

không phù hợp với thực tế, dẫn đến việc tổ chức lại doanh nghiệp mắc nợ, cả các

chủ nợ, cả Tòa án và các chủ thể khác có liên quan, Thực tế đã cho thấy nhiều

Tòa án địa phương đã rất lúng túng khi gặp phải những trường hợp doanh nghiệp

bị yêu cầu tuyên bố phá sản đã hoàn toàn rơi vào tình trạng không còn tài sản gì

đáng kể, nếu thụ lý để giải quyết thì phải tiến hành đầy đủ các giai đoạn theo quy

định của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 với những chi phí không nhỏ

Ngược lại, nếu không thực hiện đầy đủ các thủ tục này thì Tòa án lại bị coi là vi

phạm pháp luật

Để khắc phục tình trạng này, Luật phá sản năm 2004 đã đi theo hướng quy

định nhiều thủ tục khác nhau trong thủ tục phá sản (Điều 5) bao gồm: thủ tục

phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; thủ tục thanh lý tài

sản; thủ tục tuyên bố phá sản Sau khi quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào

Trang 19

tình trạng thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Tòa

án sẽ quyết định áp dụng thủ tục nào cho phù hợp, đối với những doanh nghiệp,

hợp tác xã không còn khả năng phục hồi, Tòa án sẽ áp dụng ngay thủ tục thanh lý

tài sản, nếu xác định tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để thanh toán chi

phí phá sản thì Tòa án có thể tuyên bố phá sản ngay Trong quá trình áp dụng thủ

tục phục hồi nếu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện không đúng, không đầy đủ

hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt đông kinh doanh thì Tòa án

cũng có thể quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi sang áp dụng thủ tục thanh lý

tài sản

Quy định như trên tạo điều kiện vừa chấm dứt nhanh chóng sự tồn tại của

những doanh nghiệp không còn đủ khả năng phục hồi, giảm thiểu đến mức tối đa

cho việc tiến hành thủ tục phá sản, bảo vệ quyền lời của các chủ nợ

1.4.2 Sự giám sát của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong quá trình

giải quyết phá sản

Với tư cách là cơ quan giám sát, VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong tất cả các giai đoạn của thủ tục giải quyết phá sản, đối với các chủ thể tiến

hành giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã nhằm đảm bảo thực hiện

đúng đắn Luật phá sản, đạt được những mục tiêu mà Luật đã đề ra

Điều 12 Luật phá sản quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân

theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Luật

này và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân "

Đối với VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và cấp tương

đương có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật việc giải quyết phá sản của

TAND cấp huyện đối với hợp tác xã đã đăng kí kinh doanh tại cơ quan đăng kí

kinh doanh cấp huyện đó

Đối với VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương

(nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh) có nhiệm vụ kiểm sát việc

tuân theo pháp luật việc giải quyết phá sản của TAND cấp tỉnh đối với doanh

nghiệp, hợp tác xã đã đăng kí kinh doanh tại cơ quan đăng kí kinh doanh cấp tỉnh

đó hoặc đối với trường hợp TAND cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản

đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện

Riêng đối với việc giải quyết phá sản doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

thì VKSND cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính có nhiệm vụ kiểm sát việc

tuân theo pháp luật việc giải quyết phá sản của TAND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở

chính của doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài đó

Trang 20

Ngoài các chủ thể trên, tham gia vào quá trình giải quyết phá sản doanh

nghiệp, hợp tác xã còn có sự tham gia của cơ quan Thi hành án và một số cơ

quan chuyên môn khác (Điều 9 - Luật phá sản)

Tóm lại, mặc dù Luật phá sản quy định có sự tham gia của nhiều cơ quan

khác nhau vào quá trình giải quyết phá sản nhưng Tòa án là chủ thể giữ vai trò

trung tâm, quyết đinh Cơ quan Viện kiểm sát, Thi hành án và một số cơ quan

chuyên môn khác tham gia vào quá trình giải quyết phá sản là để đảm bảo cho

Tòa án thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

Trang 21

CHƯƠNG 2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ NỢ VÀ CON NỢ

TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN

2.1 Giai đoạn nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ

 Quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản

Mục tiêu hàng đầu của pháp luật phá sản là nhằm bảo vệ quyền tài sản của

chủ nợ Vì thế, pháp luật phá sản tất cả các nước trên thế giới đều dành cho chủ

nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ Nhưng lại có sự

khác nhau trong việc qui định phạm vi các chủ nợ có quyền nộp đơn Chẳng hạn

như luật phá sản của Trung Quốc và Hungari cho phép cả chủ nợ có bảo đảm có

quyền nộp đơn Một số nước khác lại qui định chỉ có chủ nợ không có bảo đảm

mới có quyền này hoặc cả chủ nợ có bảo đảm nhưng phải kèm theo những điều

kiện nhất định như phải từ bỏ quyền được bảo đảm như luật phá sản Malaysia

Trong giai đoạn này Luật phá sản năm 2004 đã dành cả chương II để quy

định về việc nộp đơn và thụ lý đơn yều cầu mở thủ tục phá sản Chương này co

12 điều, từ Điều 13 đến Điều 32, tăng 12 điều so với Luật phá sản doanh nghiệp

năm 1993

Luật phá sản năm 2004 quy định thành phần những người có quyền nộp đơn

yêu cầu mở thủ tục phá sản Cũng như Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật

phá sản năm 2004 quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ

và người lao động Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá

sản thì các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đều có quyền nộp

đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó (khoản 1 Điều

13) Quy định này hoàn toàn hợp lí vì chủ nợ có bảo đảm một phần vẫn có quyền

yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã trả hết phần nợ không có bảo đảm Trong trường

hợp này luật phá sản đã không cho chủ nợ có bảo đảm quyền nộp đơn, bởi vì bản

thân chủ nợ này đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc

của người thứ ba Có thể nói rằng quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm đã được bảo vệ

một cách tuyệt đối, nên việc qui định cho họ có quyền nộp đơn là không cần thiết.6

Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định muốn mở thủ tục phá sản đối

với một doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì thủ tục bắt buộc

đầu tiên là vấn đề nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tòa án ra quyết định mở

6

Theo Ths Vũ Hồng Vân, quy định của luật phá sản năm 2004 về nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,

tạp chí Tòa án nhân dân tháng 11-2005(số 21), tr9.

Trang 22

thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã trên cơ sở đơn yêu cầu mở thủ

tục phá sản Cụ thể theo Điều 7 Luật phá sản năm 1993 và khoản 3 Điều 10 Nghị

định 189 thì các chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, phải gửi

kèm theo các tài liệu chứng minh các khoản nợ Quy định này gây khó khăn khá

lớn đối với chủ nợ nếu muốn nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản

Vì muốn chứng minh một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì phải

có đầy đủ giấy tờ về tổng số nợ đến hạn của doanh nghiệp, giá trị tài sản còn lại,

tình hình kinh doanh…trong khi chủ nợ nộp đơn chỉ có giấy tờ liên quan đến các

khoản nợ của mình, việc tiếp cận và có được các giấy tờ liên quan đến tình hình

tài chính của doanh nghiệp mắc nợ là rất khó khăn vì chế độ kê khai sổ sách kế

toán, kiểm toán … còn chưa công khai, nhiều doanh nghiệp còn làm ba loại sổ kế

toán, một cho doanh nghiệp, một cho chủ doanh nghiệp và một cho kế toán nên

việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh như trong Luật phá sản doanh nghiệp năm

1993 là không khả thi

Những quy định trên gây khó khăn khá lớn cho các chủ nợ trong việc nộp đơn

yêu cầu mở thủ tục phá sản Vì thế Luật phá sản 2004 đã khắc phục những hạn

chế trên, chủ nợ không cần phải cung cấp cho tòa án các giấy tờ, tài liệu chứng

minh doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Đơn phải được nộp

cho tòa án có thầm quyền và bao gồm các nội dung quy định tại Điều 13 Luật

phá sản năm 2004 Một chủ thể khá đặc biệt nữa có quyền nộp đơn yêu cầu mở

thủ tục phá sản là người lao động Trong trường hợp này người lao động đứng

trên cương vị một người chủ nợ không có bảo đảm Cái duy nhất họ có là sức lao

động đem ra trao đổi với doanh nghiệp và nhận về một khoản tiền lương để nuôi

sống bản thân và gia đình Do đó, người lao động là người bị thiệt hại nhiều nhất

nhưng lại là chủ thể “thấp cổ bé họng” 7 trong việc đòi quyền lợi cho bản thân

mình khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Cho nên tại Điều

14 Luật phá sản năm 2004 đã quy định cho người lao động có quyền nộp đơn yêu

cầu mở thủ tục phá sản thông qua người đại diện hoặc đại diện công đoàn Cụ thể

như sau: “Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các

khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào

tình trạng phá sản thì người lao động cử người đại diện hoặc thông qua đại diện

công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã

đó”

Còn theo Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 tại Điều 8 quy định : Người lao

động chỉ được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp đó không trả

7

Theo Ths Vũ Hồng Vân, quy định của luật phá sản năm 2004 về nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,

tạp chí Tòa án nhân dân tháng 11-2005(số 21), tr9

Trang 23

được lương trong ba tháng liên tiếp Đây là một quy định quá cứng nhắc gây khó

khăn cho người lao động Vì vậy, đến Luật phá sản năm 2004 quy định này đã

không còn đặt ra Đây là điểm tiến bộ của Luật phá sản năm 2004 làm tăng quyền

lợi cho người lao động

 Quyền được thông báo nếu như chủ nợ không phải là chủ thể nộp đơn yêu

cầu mở thủ tục phá sản

Cụ thể tại Điều 23 Luật phá sản năm 2004 quy định: “Trong trường hợp người

nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh

nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì trong thời hạn năm ngày , kể từ

ngày thụ lý đơn, Tòa án phải thông báo cho doanh nghiệp hợp tác xã đó biết” Quy

định này được đặt ra nhằm tạo sự công bằng đối với các chủ nợ Nếu như người

nộp đơn không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã đó thì họ vẫn biết việc lâm vào

tình trạng phá sản của con nợ va và đã có chủ thể khác nộp đơn yêu cầu mở thủ tục

phá sản Việc thông báo này tạo điều kiện cho chủ nợ có thể kịp thời bảo vệ được

quyền lợi hợp pháp của mình cũng như có các biện pháp hợp lí để bảo vệ tài sản

còn lại của con nợ, tránh tình trạng tẩu tán tài sản

 Quyền khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có quyền khiếu nại với Chánh án

Tòa án về việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong thời hạn mười ngày, kể

từ ngày nhận được quyết định của Tòa án nếu thấy việc trả lại đơn của Tòa án là

thiếu căn cứ Luật phá sản quy định cho chủ nợ quyền này nhằm tối đa hóa việc

thu hồi các khoản nợ của họ Vì rất có thể trong một số trường hợp việc trả lại đơn

của Tòa án là thiếu khách quan

 Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng phí phá sản

Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản

theo quyết định của Tòa án, trừ trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản là người lao động Quy định này hoàn toàn hợp lí vì phí phá sản dùng để tiến

hành thủ tục phá sản, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án có những quy định về

phí và lệ phí phá sản theo quy định của pháp luật Đặc biệt nếu như chủ thể nộp

đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là người lao động thì không phải nộp tiền tạm ứng

phí phá sản Luật phá sản trong trường hợp này đã dành cho người lao động một

quyền lợi hết sức thực tế vì một khi con nợ đã lâm vào tình trạng phá sản thì rất có

thể đã không trả được lương cho người lao động Cho nên người lao động được

hưởng quyền này mà các chủ thể nộp đơn khác không có là hoàn toàn phù hợp

Thêm vào đó, người lao động là những người khó khăn về mặt vật chất, nếu bắt họ

phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì họ

sẽ ngần ngại

Trang 24

 Nghĩa vụ xuất trình các loại giấy tờ và tài liệu theo yêu cầu của Tòa án

Đồng hành với quy định quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản là quy định nghĩa vụ nộp cung cấp cho tòa án các giấy tờ, tài liệu chứng

minh một cách đầy đủ và kịp thời Quy định này nhằm mục đích nâng cao trách

nhiệm của người nộp yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như tạo điều kiện thuận

lợi cho tòa án có thể ra quyết định thụ lý hay trả đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản Mặt khác những giấy tờ, tài liệu này cũng là căn cứ để tòa án có thể ra

quyết định mở thủ tục phá sản đối với con nợ sau này

 Nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tính chính xác và khách quan của việc nộp

đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Theo khoản 2 Điều 19 Luật phá sản năm 2004 quy định: “Nếu người nộp

đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh

dự, uy tín, hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc có sự gian dối trong

việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì tùy theo tính chất mức độ mà bị xử lí kĩ

luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại

thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” Với quy định này Luật phá

sản đã đặt nặng hơn trách nhiệm cũng như tính chính xác của người nộp đơn

yêu cầu mở thủ tục phá sản Tức là doanh nghiệp, hợp tác xã đó phải thực sự

lâm vào tình trạng phá sản thì người có quyền mới được nộp đơn yêu cầu mở

thủ tục phá sản Tránh tình trạng người nộp đơn xuyên tạc gây ảnh hưởng xấu

đến danh dự và uy tín của doanh nghiệp, hợp tác xã đó Trong trường hợp nếu

người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có sự gian dối thì tùy theo tính chất,

mức độ mà bị xử lí theo quy định của pháp luật

2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của con nợ

 Quyền chứng minh không lâm vào tình trạng phá sản của con nợ

Khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì doanh

nghiệp, hợp tác xã đó có quyền chứng minh mình không lâm vào tình trạng phá

sản để phản bác lại nhằm mục đích yêu cầu Tòa án ra quyết định trả lại đơn yêu

cầu mở thủ tục phá sản đối với mình

 Quyền được khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Không chỉ có chủ nợ mà con nợ cũng có quyền khiếu nại việc trả lại đơn yêu

cầu mở thủ tục phá sản Cụ thể tại khoản 1 Điều 25 Luật phá sản năm 2004 quy

định: “Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án trả

lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, người làm đơn có quyền khiếu nại với Chánh

án Tòa án đó”

Trang 25

Kết thúc giai đoạn này, theo Điều 24 Luật phá sản năm 2004 Tòa án ra quyết

định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong những trường hợp sau đây:

+ Người nộp đơn không nộp tiền tạm ứng phí phá sản trong thời hạn do

Toà án ấn định;

+ Người nộp đơn không có quyền nộp đơn;

+ Có Toà án khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã

lâm vào tình trạng phá sản;

+ Có căn cứ rõ ràng cho thấy việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản do

không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ

tục phá sản;

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã chứng minh được mình không lâm vào tình

trạng phá sản

Nếu không thuộc các trường hợp trả lại đơn yêu cầu theo Điều 24 Luật phá

sản năm 2004 thì Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, kể từ ngày người

nộp đơn xuất trình biên lai nộp tiền tam ứng phí phá sản Trường hợp người nộp

đơn không phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì ngày thụ lý đơn là ngày Tòa án

nhận được đơn

 Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Song song với quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ là nghĩa

vụ của con nợ Hơn ai hết con nợ là người rõ nhất tình trạng tài chính của bản thân

Vì vậy, Luật phá sản 2004 qui định bắt buộc con nợ phải có nghĩa vụ nộp đơn yêu

cầu mở thủ tục phá sản để bảo vệ kịp thời và trực tiếp quyền lợi chính đáng của

chủ nợ.8 Điều 15 Luật phá sản 2004 quy định: “khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp

tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp

của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó"

Tuy nhiên không phải lúc nào phá sản cũng là phá sản trung thực Nhiều

trường hợp doanh nghiệp lợi dụng cơ chế này để chiếm đoạt tài sản của chủ nợ

hoặc trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ Chẳng hạn, con nợ gian lận trong việc

kí kết các hợp đồng chuyển giao tài sản, báo cáo sai hoặc đưa ra những thông

tin không trung thực để tạo lí do phá sản

Bên cạnh đó, có không ít doanh nghiệp đã thực sự đứng trước bờ vực phá

sản, song vẫn không làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Bởi vì họ sợ trước

hết là mất uy tín, mất khách hàng và đáng sợ hơn là vi phạm pháp luật phá sản

8

Theo PGS-TS Dương Đăng Huệ, tạp chí TAND, đặc san chuyên đề về Luật phá sản tháng 8-2004, nhà

xuất bản Tư pháp năm 2005, tr107

Trang 26

hình sự Bộ Luật hính sự 1999 có quy định một số tội danh áp dụng để chế tài

người quản lý điều hành công ty vỡ nợ Chính vì vậy, các doanh nghiệp thường

tránh né việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Một vấn đề phát sinh lại

được đặt ra ở đây khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mà trốn tránh

nghĩa vụ nộp đơn đó là nguy cơ làm mất cân bằng nguồn tài chính của các nhà

đầu tư

Hầu hết các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng xem phá sản

như là một vết nhơ lớn mà mọi người đều muốn tránh né Bởi vì phá sản đặt ra

nhiều bất lợi mà doanh nghiệp bị phá sản phải gánh chịu Vì thế, nếu muốn con

nợ tự nguyện nộp đơn yêu cầu xin phá sản là vấn đề hết sức khó khăn Cho nên

chủ nợ thường dựa vào vấn đề trên để buộc con nợ phải thanh toán nợ, chứ

không thực sự sử dụng nó như một cơ chế tự bảo vệ quyền lợi cho mình Do đó,

một khi con nợ cam kết trả nợ thì họ lại rút đơn yêu cầu, thực tiễn cho thấy hầu

hết các doanh nghiệp ở nước ta đều cố tìm cách trì hoãn nghĩa vụ nộp đơn yêu

cầu mở thủ tục phá sản Khi họ chấp nhận nộp đơn là tình hình tài chính đã trở

nên quá bi đát và thực sự không còn cơ hội để thoát khỏi tình trạng phá sản

Thực tế đã chứng minh rằng nếu không ấn định thời hạn cho con nợ phải nộp

đơn yêu cầu tuyên bố phá sản thì họ sẽ tìm cách kéo dài để trốn tránh nghĩa vụ

Vì vậy, Luật phá sản 2004 đã quy định thời hạn bắt buộc doanh nghiệp phải

nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nếu không thực hiện họ sẽ gánh chịu

những chế tài nhất định Cụ thể tại Điều 15 Luật phá sản năm 2004 quy định:

“Trong thời hạn ba tháng kể từ ngày nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm

vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện việc

nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của

pháp luật”

 Nghĩa vụ thông báo việc mình bị yêu cầu mở thủ tục phá sản cho những

người có liên quan

Luật phá sản có quy định này nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi cho chủ

nợ Có thể một số chủ nợ vì một nguyên nhân nào đấy mà không thể biết được

việc đã có một chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh

nghiệp hợp tác xã đó Cho nên việc thông báo này là một quy định hết sức cần

thiết, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ

 Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng phí phá sản

Nếu như chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là doanh nghiệp, hợp

tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì doanh nghiệp,hợp tác xã đó vẫn có nghĩa

vụ nộp tiền tạm ứng phí phá sản Không phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản khi

rơi vào các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 21 Luật phá sản năm 2004:

Trang 27

+ Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc trường hợp không

phải nộp tiền tạm ứng án phí

+ Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp tiền tạm ứng phí

phá sản không có tiền nộp, nhưng có các tài sản khác

Trong trường hợp này phí phá sản do ngân sách nhà nước tạm ứng được

hoàn trả lại cho ngân sách nhà nước lấy từ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã

lâm vào tình trạng phá sản

 Nghĩa vụ xuất trình các loại giấy tờ và tài liệu theo yêu cầu của Tòa án

Không chỉ có chủ nợ mà con nợ cũng phải có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án

các loại giấy tờ, tài liệu một cách kịp thời và đầy đủ nhầm tạo điều kiện tốt nhất

cho Tòa án trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản Các loại tài liệu mà con nợ

phải nộp trong trường hợp con nợ là chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

+ Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã,

trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả

năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải

được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải đựơc tổ chức kiểm toán độc lập xác

nhận;

+ Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện,

nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản

nợ đến hạn;

+ Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có

tài sản nhìn thấy được;

+ Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên,

địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn

có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và

không có bảo đảm;

+ Danh sách những ngươì mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó

ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn

có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và

không có bảo đảm;

+ Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp mắc

nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản nợ

của doanh nghiệp;

+ Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải

cung cấp theo quy định của pháp luật.9

9

Khoản 4 Điều 15 Luật phá sản năm 2004, nhà xuất bản chính trị quốc gia, trang 17,18

Trang 28

 Nghĩa vụ sửa đổi và bổ sung hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phá sản theo yêu

cầu của Tòa án

Phía sau giai đoạn nộp đơn yêu cầu là giai đoạn thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục

phá sản Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nếu tòa án nhận

thấy chưa đầy đủ tài liệu chứng minh doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản

thì tòa án sẽ yêu cầu người nộp đơn sửa đổi, bổ sung là mười ngày, kể từ ngày

nhận được đơn yêu cầu của Tòa án

2.2 Giai đoạn mở thủ tục phá sản

Sau khi tiếp nhận và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án phải xem

xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp để ra quyết định mở hoặc không mở

thủ tục phá sản trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở

thủ tục phá sản Quyết định mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản có vai trò đặc

biệt quan trọng trong thủ tục giải quyết việc tuyên bố phá sản

Nếu xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản thì

Tòa án sẽ ra quyết định không mở thủ tục phá sản Quyết định không mở thủ tục

phá sản phải được Tòa án gửi cho người làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

(Khoản 4 Điều 28)

Ngược lại, nếu xét thấy đầy đủ căn cứ cho rằng doanh nghiệp đã thực sự lâm

vào tình trạng phá sản thì Tòa án sẽ ra quyết định mở thủ tục phá sản Quyết định

này là một thủ tục tư pháp đặc biệt làm phát sinh hàng loạt quyền và nghĩa vụ của

chủ nợ, con nợ và các chủ thể khác có liên quan

2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ

 Quyền gửi giấy đòi nợ

Quyền đầu tiên mà Luật phá sản năm 2004 đặt ra cho chủ nợ trong giai đoạn

này đó là quyền được gửi giấy đòi nợ Cụ thể tại Khoản 1 Điều 51 quy định:

“Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của

Toà án mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Toà án, trong đó

nêu cụ thể các khoản nợ, số nợ đến hạn và chưa đến hạn, số nợ có bảo đảm và

không có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải trả Kèm theo giấy đòi nợ là

các tài liệu chứng minh về các khoản nợ đó Hết thời hạn này các chủ nợ không

gửi giấy đòi nợ đến Toà án thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ”

Đặc biệt trong trường hợp bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì thời

gian có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan không được tính vào

thời hạn này Hết thời hạn này, các chủ nợ không gửi giấy đòi nợ đến Tòa án thì

bị coi là từ bỏ quyền đòi nợ

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w