Mục đích nghiên cứu Với việc nghiên cứu, phân tích luật Việt Nam hiện hành, trong mối quan hệ so sánh với luật của Cộng hòa Pháp và quy định của Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng
Trang 1QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Lớp Luật Thương mại 1- K34
Cần Thơ, tháng 11/2011
Trang 2
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
LỜI CẢM TẠ 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 7
1.1 Khái quát chung về hợp đồng 7
1.1.1 Lịch sử phát triển của khái niệm hợp đồng 7
1.1.2 Định nghĩa hợp đồng 8
1.1.3 Phân loại hợp đồng 9
1.2 Những vấn đề chung về hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố
nước ngoài 14
1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài 14
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài 15
1.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài 16
1.2.4 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài 18
1.2.4.1 Cá nhân 18
1.2.4.2 Tổ chức 21
1.2.4.3 Quốc gia 23
1.2.5 Nguồn của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố
nước ngoài 24
1.2.5.1 Điều ước quốc tế 24
1.2.5.2 Pháp luật quốc gia 26
1.2.5.3 Tập quán pháp 26
1.2.5.4 Luật nước ngoài 28
CHƯƠNG 2: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 29
2.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thương lượng, giao kết
hợp đồng 29
2.1.1 Vai trò của nguyên tắc giao kết hợp đồng đối với quyền và nghĩa vụ của
các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài 29
Trang 3
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng)
và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (chấp nhận chào hàng) 31
2.1.3 Quyền thỏa thuận hình thức hợp đồng 34
2.1.4 Quyền thỏa thuận nội dung hợp đồng 34
2.1.5 Nghĩa vụ cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng 35
2.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng 36
2.2.1 Vai trò của nguyên tắc thực hiện hợp đồng đối với quyền và nghĩa vụ của
các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài 36
2.2.2 Nghĩa vụ của bên bán 37
2.2.2.1 Nghĩa vụ giao hàng hóa và chứng từ liên quan 37
2.2.2.2 Nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản 41
2.2.2.3 Nghĩa vụ cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng, bảo hành, sửa chữa 42
2.2.3 Nghĩa vụ của bên mua 43
2.2.3.1 Nghĩa vụ nhận hàng 43
2.2.3.2 Nghĩa vụ thanh toán 44
2.2.4 Quyền sửa đổi bổ sung hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố
nước ngoài 45
2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên khi phát sinh vi phạm hợp đồng 46
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ do các bên tự thỏa thuận 47
2.3.1.1 Phạt vi phạm 47
2.3.1.2 Tăng trách nhiệm bồi thường thiệt hại 48
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ do luật dự liệu 49
2.3.2.1 Yêu cầu bồi thường thiệt hại 49
2.3.2.2 Trả lãi chậm thanh toán 50
2.3.2.3 Yêu cầu giảm giá 51
2.3.2.4 Hoãn thực hiện hợp đồng 52
2.3.2.5 Đơn phương hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng 53
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ KIẾN NGHỊ 55
3.1 Hợp đồng trọng thức 55
Trang 4
3.2 Một số vấn đề liên quan đến nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa có
yếu tố nước ngoài 57
3.2.1 Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng 57
3.2.2 Sửa đổi bổ sung nội dung hợp đồng 57
3.2.3 Giải pháp khắc phục hành vi không thực hiện đúng hợp đồng 58
3.2.3.1 Phạt vi phạm 59
3.2.3.2 Lãi suất chậm trả 61
3.2.3.3 Hoãn thực hiện nghĩa vụ 62
3.2.3.4 Hủy hợp đồng 63
3.2.4 Thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mẫu ký kết với người tiêu dùng 65
3.2.5 Vấn đề áp dụng luật nước ngoài điều chỉnh hợp đồng 65
3.2.5.1 Áp dụng pháp luật nước ngoài do thỏa thuận 65
3.2.5.2 Chọn luật nước thứ ba điều chỉnh hợp đồng 67
3.2.5.3 Kiến nghị chọn luật 68
3.2.6 Những điểm thường phát sinh tranh chấp trong hợp đồng mua bán
hàng hóa có yếu tố nước ngoài 70
3.2.6.1 Đối tượng của hợp đồng 71
3.2.6.2 Thời hạn và địa điểm giao hàng 74
3.2.7 Kiến nghị về việc soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố
nước ngoài 75
3.2.7.1 Hình thức hợp đồng 75
3.2.7.2 Nội dung hợp đồng 76
3.3 Kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ
hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài 83
3.3.1 Hoàn thiện pháp luật trong nước 83
3.3.2 Gia nhập Điều ước quốc tế 86
KẾT LUẬN 90
Trang 5
LỜI MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu thống kê cho thấy, đến hết năm 2010, số lượng mặt hàng xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam ngày càng phong phú và đa dạng Nếu như năm 2004, Việt Nam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD thì đến hết năm 2010 đã có 18, trong đó có 10 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và 8 nhóm trên 2 tỷ USD1 Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 220 nước và vùng lãnh thổ Bên cạnh đó, thông số cập nhật mới nhất cho thấy những dấu hiệu khả quan về tình hình kinh tế Việt Nam Cụ thể, so với cùng kỳ năm 2010, sau mười một tháng đầu năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng 34.7%; tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 26.4%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu cũng tăng đến 23.5%2
Có thể thấy, nền kinh tế của Việt Nam thời kỳ hậu WTO đang phát triển đúng hướng, phù hợp với kỳ vọng của Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội
Với những số liệu khả quan nêu trên, thật sự chưa thể nói chính xác về tình hình xuất nhập khẩu của nước ta trong năm 2011 nhưng cũng có thể mang lại một cái nhìn lạc quan về tình hình mua bán hàng hóa giữa Việt Nam với nước ngoài Rõ ràng, với lượng hàng hóa mua bán tăng cao hơn trong những năm gần đây, Việt Nam dần trở thành một đối tác thân thiện với các bạn hàng trên thế giới
Có được những thành tựu bước đầu như vậy, cần phải nhắc đến nỗ lực không mệt mỏi của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tìm kiếm và tiếp cận thị trường, nâng cao
uy tín của hàng hóa Việt Nam trên trường thế giới Đồng thời, không kém phần quan trọng là vai trò tích cực của cải cách chính sách và pháp luật để đưa nền kinh tế Việt Nam
đi đúng quỹ đạo Tuy nhiên, bên cạnh những tích cực đó, cần phải thẳng thắn thừa nhận
1 Lê Danh Vĩnh, thứ trưởng Thường trực Bộ Công Thương, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Bộ Công Thương; Hồ
Trung Thành, Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương, Cổng thông tin về WTO và tiếp cận thị trường, Quan
điểm và định hướng phát triển xuất nhập khẩu nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011-2020,
http://wto.nciec.gov.vn/Lists/Nghin%20cu%20phn%20tch%20tnh%20hnh%20kinh%20t%20Vit%20Nam/Attachme nts/DispForm.aspx?ID=243&Source=http%3A%2F%2Fwto%2Enciec%2Egov%2Evn%2FLists%2FNghin%2520cu
%2520phn%2520tch%2520tnh%2520hnh%2520kinh%2520t%2520Vit%2520Nam%2FAttachments%2FAllItems% 2Easpx ) cập nhật ngày 14/6/2011, [truy cập ngày 26/11/2011]
2 Tổng cục thống kê, Tình hình kinh tế- xã hội 11 tháng năm 2011,
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=403&idmid=2&ItemID=12056 , 25/11/2011, [truy cập ngày 26/11/2011]
Trang 6
rằng, sau gần 4 năm gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa có những chuyển biến rõ nét để hòa nhập vào thị trường mua bán hàng hóa thế giới Đặc biệt là pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Trong quan hệ mua bán, điều mà các bên luôn hướng đến là lợi ích có được từ quan
hệ mua bán và lợi ích này xuất phát từ nghĩa vụ của đối tác Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, hai văn bản quan trọng nhất điều chỉnh vấn đề này là Bộ luật dân sự
2005 và Luật thương mại 2005 Có thể thấy, hai văn bản này đều được ban hành từ thời điểm Việt Nam chưa là thành viên của WTO và nền kinh tế hàng hóa vẫn còn nhiều khó khăn Do đó, một số quy định mà hai văn bản này điều chỉnh cho đến nay, đã không còn phù hợp với thực tế khách quan Quyền lợi của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, nếu chiếu theo luật Việt Nam, không được bảo vệ ở mức cao nhất Thực tế cần phải nhìn nhận là trong đa phần các hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu
tố nước ngoài, luật Việt Nam không phải là sự lựa chọn hàng đầu của các bên để điều chỉnh hợp đồng Hơn thế nữa, một khi pháp luật Việt Nam được áp dụng, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên theo sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam cũng chưa đáp ứng được mong đợi hợp lý của các bên trong hợp đồng Ngoài ra, cũng không phủ nhận một bộ phận chủ thể của Việt Nam vẫn chưa thực sự nắm rõ luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, dẫn đến nguy cơ chịu bất lợi trong quan hệ hợp đồng với đối tác
Chính vì vậy, việc nắm bắt quy định của pháp luật và cải cách luật điều chỉnh hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài của Việt Nam, mà đặc biệt là luật điều chỉnh quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là một nhu cầu có thực và là một yêu cầu cấp thiết Đó cũng là lý do tác giả chọn mảng pháp luật này để nghiên cứu cho Luận văn tốt
nghiệp Cử nhân Luật với đề tài: “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua
bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài”
II Mục đích nghiên cứu
Với việc nghiên cứu, phân tích luật Việt Nam hiện hành, trong mối quan hệ so sánh với luật của Cộng hòa Pháp và quy định của Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980), tác giả mong muốn mang đến một cái nhìn tổng thể về pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài của Việt Nam; những rủi ro có thể xảy ra
Trang 7
và kiến nghị phương thức ngăn ngừa rủi ro Không dừng lại ở đó, trong bối cảnh chúng ta đang chuẩn bị cho việc sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, tác giả cũng mang đến cái nhìn chủ quan
về thực trạng pháp luật trong lĩnh vực này; đồng thời đề ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài cho phù hợp với nhu cầu của thực tiễn trong thời gian sắp tới
III Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề “quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có
yếu tố nước ngoài” là một mảng pháp luật rất rộng lớn Trong khuôn khổ Luận văn này,
tác giả chưa thể bao quát hết đề tài trên mọi phương diện mà chỉ tập trung vào một số quyền và nghĩa vụ thiết yếu, thường phát sinh tranh chấp theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành từ giai đoạn thương lượng giao kết hợp đồng, tập trung vào giai đoạn thực hiện hợp đồng và dừng lại ở những giải pháp dự liệu cho tình huống vi phạm hợp đồng phát sinh trên thực tế; đồng thời, so sánh với quy định tương ứng trong luật thực định của Cộng hòa Pháp và Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980) Từ đó, tác giả tìm ra những điểm còn vướng mắc của luật thực định Việt Nam; gợi ý phương thức ngăn ngừa tranh chấp và tự bảo vệ quyền lợi trong bối cảnh luật hiện hành Trong chừng mực có thể, tác giả cũng nêu lên những mặt mạnh; những điểm còn hạn chế của luật Việt Nam so với luật Cộng hòa Pháp; Điều ước quốc tế phổ biến nhất trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và đề ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, tạo lòng tin trong việc chọn pháp luật Việt Nam làm nguồn điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
IV Phương pháp nghiên cứu
Bằng những kiến thức được học trong chương trình đào tạo Cử nhân Luật kết hợp với những kiến thức mà tác giả thu thập, tổng hợp được từ các văn bản quy phạm pháp luật, sách, báo, các công trình nghiên cứu và khảo sát từ thực tiễn,v.v… có liên quan, kết hợp với việc vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mac- Lenin làm cơ sở lý luận và hệ tư tưởng để thực hiện việc nghiên cứu; đồng thời, nghiên cứu lý luận dựa trên tài liệu thực có, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu và những phương pháp phân tích luật viết khác, tác giả thực hiện và hoàn thành Luận văn này
Trang 8
V Kết quả nghiên cứu
Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài này nhằm phục vụ 3 mục tiêu lớn sau:
-Thứ nhất, mang đến cái nhìn tổng quan về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài theo luật hiện hành của Việt Nam -Thứ hai, kiến nghị phương thức bảo vệ quyền lợi của các bên trong bối cảnh luật hiện hành
-Thứ ba, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam phù hợp với yêu cầu và xu thế tất yếu
VI Nội dung nghiên cứu
Luận văn bao gồm ba phần: phần lời mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó, phần nội dung gồm có ba chương được phân bổ như sau:
Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Trong chương này, tác giả đi vào tìm hiểu lược sử quá trình hình thành và phát triển của thuật ngữ hợp đồng trong dân sự và thương mại, khái niệm về hợp đồng và các phương thức phân loại hợp đồng cơ bản; đồng thời, tập trung vào phân tích một số khía cạnh cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài như đặc điểm, hình thức, chủ thể và nguồn luật điều chỉnh
Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Đây là chương chứa đựng nội dung chính của Luận văn bao gồm những khía cạnh pháp lý quan trọng nhất liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài từ giai đoạn thương lượng và giao kết hợp đồng đến quá trình thực hiện hợp đồng và những giải pháp mà các bên có thể thực hiện để ngăn ngừa và thực hiện khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra trên thực tế
Chương 3: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài và kiến nghị hoàn thiện
Trong chương này, tác giả chủ yếu đi vào phân tích một số điểm mà tác giả cho là còn nhiều bất cập và cần thiết phải giải quyết triệt để nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên
Trang 9
trong hợp đồng; đề xuất một vài kiến nghị mang tính chất tham khảo trong quá trình các bên thực hiện việc soạn thảo một hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài; đồng thời, với những gì đã được học, tham khảo và nghiên cứu, tác giả cũng đề ra một số kiến nghị xoay quanh giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài của Việt Nam
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng do những hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm; thời gian nghiên cứu chưa dài và nguồn tài liệu tham khảo chưa đủ phong phú nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả mong muốn và chân thành đón nhận những ý kiến nhận xét, góp ý từ quý thầy cô cùng các bạn để hoàn thiện công trình nghiên cứu này trong thời gian tới
Trang 10
LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành Luận văn này, em xin cảm ơn Ban lãnh đạo khoa, quý thầy cô, đã tạo điều kiện tốt nhất, truyền dạy kiến thức cho em và các bạn sinh viên suốt thời gian qua
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sỹ Cao Nhất Linh- Giáo viên hướng dẫn đề tài, người đã giúp em xây những viên gạch đầu tiên, từ khâu chọn đề tài, xác định nội dung cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu; hướng dẫn và cùng với em nghiên cứu; đồng thời, góp ý, chỉnh sửa cho em từ kiến thức chuyên ngành, lập luận, đến hình thức Luận văn
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người đã đồng hành, an ủi và chia sẻ với em trong những lúc việc nghiên cứu đi vào bế tắc Chính sự thông cảm, chia
sẻ và động viên của gia đình và bạn bè đã vực dậy tinh thần em, giúp cho em tiếp tục nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Mặc dù Luận văn này còn rất nhiều thiếu sót, nhưng đối với em, đây là sự nổ lực hết mình và là thành quả của suốt quá trình học tập và nghiên cứu Cho phép em được xem Luận văn này như một phần báo đáp những kỳ vọng và quan tâm, giúp đỡ của thầy
cô, gia đình và bạn bè đã dành cho em suốt thời gian qua
Trân trọng
Trang 11
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái quát chung về hợp đồng
1.1.1 Lịch sử phát triển của khái niệm hợp đồng
Hợp đồng là một trong những khái niệm xuất hiện sớm nhất trong lịch sử pháp luật thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho rằng, thuật ngữ hợp đồng (contractus)- khởi nguồn vào khoảng thế kỷ V đến IV trước Công nguyên tại La Mã, từ thuật ngữ Latinh “contrahere” với ý nghĩa là “ràng buộc”3- được sử dụng chính thức như một thuật ngữ pháp lý vào khoảng thế kỷ I sau Công nguyên Đến nay, kế thừa và phát triển “contractus”, các nhà làm luật phương Tây dùng từ Contract (tiếng Anh), hay Contrat (tiếng Pháp) để chỉ “hợp đồng”4
Dấu vết đầu tiên của chế định “hợp đồng” trong luật Việt Nam được ghi nhận tại bộ Quốc Triều Hình luật (luật Hồng Đức)5 với thuật ngữ “khế ước” Đến những văn bản pháp luật sau Giải phóng, mà tiêu biểu là Bộ luật dân sự năm 1995 và văn bản thay thế là
Bộ luật dân sự 2005, chúng ta đã lựa chọn sử dụng chủ yếu thuật ngữ “hợp đồng”
Từ sau năm 1945, thuật ngữ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1956 trong Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh với tên gọi “hợp đồng kinh doanh”6 Sau đó, thuật ngữ này được thay thế bằng “hợp đồng kinh tế” vào năm 1960 trong Nghị định ban hành điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế của các
xí nghiệp quốc doanh và các cơ quan Nhà nước7 Thuật ngữ này vẫn được sử dụng cho
3 Lê Minh Hùng, Luận án tiến sỹ luật học, Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, trường Đại
học luật thành phố Hồ Chí Minh, trang 8
4 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007, trang 272
5
Bộ Quốc Triều Hình Luật (Luật Hồng Đức) do vua Lê Thánh Tôn ban hành năm 1483 Bộ luật gồm có 06 Chương, 722 Điều Trong đó có 200 Điều chịu ảnh hưởng của Đường Luật, 342 Điều hoàn toàn không liên quan đến
luật của Trung Quốc –Nguyễn Quốc Lân, Traditional Vietnamese Law- The Le code and Modern US Law, 13
Hasting International and Comparative Law review, 1989
6 Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh do thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 4 năm 1956, có hiệu lực vào ngày 05/5/1956
7 Nghị định 004-TTg năm 1960 ban hành điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh
và các cơ quan Nhà nước do thủ Tướng ban hành ngày 04/01/1960
Trang 12
đến giai đoạn điều chỉnh của Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế8 Với sự ra đời của Luật thương mại năm 19979 và Luật thương mại năm 2005 thay thế sau này10, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được thống nhất với tên gọi “hợp đồng thương mại”
1.1.2 Định nghĩa hợp đồng
Cho đến ngày nay, thuật ngữ “hợp đồng” vẫn được sử dụng một cách chính thống trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam Tuy nhiên, trải qua bề dày lịch sử của thuật ngữ “hợp đồng”, chúng ta vẫn chưa có được một định nghĩa chính xác về hợp đồng mà chủ yếu chỉ là định nghĩa về từng loại hợp đồng
Pháp luật Việt Nam có nguồn gốc từ hệ thống pháp luật Châu Âu Lục Địa (hệ thống luật Dân sự; Civil Law) với đại diện tiêu biểu là Pháp Theo hệ thống luật này, khái niệm hợp đồng bị chi phối theo ba nguyên tắc Thứ nhất, hợp đồng được xem là kết quả chung của sự gặp gỡ ý chí của các bên Thứ hai, các bên trong hợp đồng bị ràng buộc bằng chính thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng Thứ ba, nguyên tắc tự do thỏa thuận trong khuôn khổ cho phép của pháp luật và bảo vệ trật tự công cộng 11
Điều 1101 Bộ luật dân sự Pháp đưa ra định nghĩa về hợp đồng như sau: “Hợp đồng
là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”
Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa hợp đồng và thỏa thuận đã được khẳng định Hay nói cách khác, nội dung của hợp đồng chính là sự thỏa thuận
Đối với Việt Nam, trong lược sử hình thành của chế định hợp đồng, từ khi được gọi thống nhất với tên gọi “hợp đồng”, “hợp đồng” cũng được định nghĩa và hiểu theo nhiều cách khác nhau
Năm 1989, Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế ra đời Theo Điều 1 của Pháp lệnh này,
hợp đồng kinh tế là “sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết
về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của
8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế của Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 25/9/1989, hết hiệu lực ngày 01/01/2006
9 Luật thương mại năm 1997 ban hành ngày 10/5/1997, hết hiệu lực ngày 15/7/1997
10 Luật thương mại 2005 ban hành ngày 14/6/2005, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006
11 Samuel, Geoffrey, Law of Oblogations and legal Remedies, 2nd ed., Cavendish, London 2001, p 278
Trang 13
mình” Tuy nhiên, đây chỉ là định nghĩa về hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế, còn khái
niệm hợp đồng vẫn chưa được nhắc đến trong văn bản này
Năm 1991, Pháp lệnh hợp đồng dân sự ban hành12 Theo đó, hợp đồng dân sự là
“sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”13
Tuy nhiên, việc liệt kê các hoạt động trong quan hệ hợp đồng trong định nghĩa như trên không tránh khỏi những thiếu sót hoặc rơi vào những tình huống luật không dự liệu hết, dẫn đến tình trạng tạo ra những kẻ hở của luật pháp Chính vì vậy, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 ra đời đã khắc phục được điểm yếu đó bằng cách đưa ra một định
nghĩa khái quát hơn về hợp đồng Theo đó, “hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.14 Định nghĩa này vẫn được sử dụng trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, ghi nhận tại Điều 388
Có thể thấy, dù được định nghĩa theo hướng nào đi nữa, bản chất và đặc điểm nổi bật nhất của hợp đồng vẫn là sự thỏa thuận, yếu tố tồn tại trong tất cả các định nghĩa hợp đồng dân sự
1.1.3 Phân loại hợp đồng
Điều 406 Bộ luật dân sự năm 2005 đề ra một số loại hợp đồng dân sự chủ yếu Tuy nhiên, không có nghĩa đây là điều luật điều chỉnh việc phân loại hợp đồng Cho đến nay, việc phân loại hợp đồng vẫn được thực hiện theo quan điểm chủ quan của người phân loại Dựa trên từng tiêu chí, mục đích, sẽ có những cách thức phân loại khác nhau
-Căn cứ vào quyền và nghĩa vụ đối ứng, hợp đồng được phân thành hợp đồng đơn
vụ (hợp đồng đơn phương, Obligatio unilateralis) và hợp đồng song vụ (hợp đồng song phương, Obligatio bilaterales)15
-Căn cứ vào lợi ích giữa các bên giao kết hợp đồng và tính “đền bù ngang giá”, hợp đồng được phân loại thành hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù16
12 Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế ban hành ngày 29/4/1991, hết hiệu lực ngày 01/7/1996
13 Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự.
14 Điều 394 Bộ luật dân sự 1995; Điều 388 Bộ luật dân sự 2005
15 Khoản 2; 1 Điều 406 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
Trang 14
Đặt trong mối quan hệ giữa hợp đồng có đền bù và hợp đồng song vụ, có thể thấy, hợp đồng có đền bù là một phạm trù rộng hơn Một hợp đồng song phương chắc chắn có tính đền bù Trong khi đó, một hợp đồng có đền bù thì chưa hẳn là hợp đồng song phương.Đơn cử một trường hợp, trong hợp đồng cho vay có lãi, đây là một hợp đồng có đền bù, thể hiện thông qua khoản tiền lãi mà bên vay phải trả cho bên cho vay Tuy nhiên, xét về quyền và nghĩa vụ đối ứng tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực, đây đơn thuần là một hợp đồng đơn vụ17
-Căn cứ vào tính phụ thuộc hiệu lực pháp lý giữa các hợp đồng, có thể phân hợp đồng ra thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ18
-Căn cứ vào lĩnh vực nghề nghiệp, hợp đồng còn được phân loại thành hợp đồng
dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm,v.v…19
-Căn cứ vào chủ thể và mục đích của hợp đồng, có thể phân hợp đồng ra thành hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại,v.v…
Việc phân loại thành hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại kéo theo những hệ quả đáng quan tâm khác mà một trong số đó là việc xác định thẩm quyền xét xử của tòa
án đối với những tranh chấp hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại
Việc phân định hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại dựa chủ yếu trên tư cách chủ thể của các bên tham gia trong hợp đồng có đăng ký kinh doanh hay không Thứ hai
là việc xác lập và thực hiện hợp đồng có nhằm mục đích sinh lợi hay không Trong đó, yếu tố chủ yếu được dùng để phân loại là mục tiêu sinh lợi20
-Căn cứ vào yếu tố quốc gia và yếu tố nước ngoài, hợp đồng được phân loại thành hợp đồng không có yếu tố nước ngoài và hợp đồng có yếu tố nước ngoài
16 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007, trang 280
-Giáo trình Luật dân sự Việt Nam-tập 2- Trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công an Nhân dân-2006, trang
103- 104
17 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007, trang 280
18 Khoản 3; 4 Điều 406 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
19 Điều 518; 527; 535; 567 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
20 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007, trang 284
Trang 15
Theo Điều 758 Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, có thể đưa
ra định nghĩa về hợp đồng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng đáp ứng ít nhất một trong những điều kiện sau: có ít nhất một trong các bên tham gia hợp đồng là cơ quan, tổ chức,
cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc các bên tham gia hợp đồng là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợp đồng đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; hoặc đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài
Trong lĩnh vực thương mại, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 chỉ đưa ra định nghĩa về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế21 Từ đó có thể suy ra định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được thực hiện giữa các chủ thể là đối tượng áp dụng của luật thương mại22, bằng những phương thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu23 Với định nghĩa này, theo Luật thương mại, có thể thấy, tiêu chí đánh giá hợp đồng là có yếu tố nước ngoài hay không phụ thuộc vào sự dịch chuyển của hàng hóa qua biên giới quốc gia
Tiêu chí này khác biệt so với quy định trong Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980) vì theo Công ước, yếu tố nước ngoài căn cứ vào việc các bên chủ thể trong hợp đồng có trụ sở thương mại ở những nước khác nhau24
Cũng không tồn tại một tiêu chí phân loại hợp đồng thống nhất, việc phân loại hợp đồng trong pháp luật Pháp từ lâu đã là một chủ đề gây tranh luận
Theo Điều 1107 Bộ luật dân sự Pháp, một hợp đồng có tên gọi riêng phải tuân thủ theo quy định chung về hợp đồng Đồng thời, phải tuân thủ những điều khoản riêng được quy định trong những phần riêng của Bộ luật dân sự Đối với những nguyên tắc đặc trưng trong lĩnh vực thương mại, còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật thương mại
Bộ luật dân sự Pháp ghi nhận sự tồn tại của một số loại hợp đồng tương tự như trong pháp luật Việt Nam, bao gồm hợp đồng song vụ- hợp đồng đơn vụ25; hợp đồng có tính chất ngang giá26; hợp đồng có đền bù- hợp đồng không có đền bù27
21 Điều 27 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
22 Điều 2 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
23 Điều 27 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
24 Điều 1 Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980)
25 Điều 1102; 1103 Bộ luật dân sự Pháp
Trang 16vụ trả tiền Tuy nhiên, nghĩa vụ này lại có trong rất nhiều hợp đồng khác như hợp đồng vay, hợp đồng dịch vụ, v.v…29 Bên cạnh đó, mục đích của việc trả tiền cũng không phải luôn luôn nhằm thực hiện nghĩa vụ Trong quan hệ mua bán, người mua trả tiền với mục đích chính là để có được quyền sở hữu đối với hàng hóa đó chứ không phải nhằm mục đích thực hiện nghĩa vụ30 Vậy, điểm đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa có phải
là nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu hay không Vẫn không thể thuyết phục vì nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu cũng xuất hiện trong rất nhiều loại hợp đồng như hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng vay, v.v…31
Quan điển thứ hai về phân loại hợp đồng cho rằng, tất cả những loại hợp đồng đều
đã hình thành và được biết đến từ rất lâu và sự hình thành những kiểu, loại hợp đồng mới chỉ là sự "trộn lẫn" giữa các loại hợp đồng vốn có32
Trong thực tiễn pháp luật của Pháp, các bên có xu hướng phân loại hợp đồng thành hợp đồng mua bán cùng với những hợp đồng "vệ tinh" của nó, hợp đồng trao đổi tài sản, thuê, vay, cấp tín dụng, ủy quyền, gửi giữ, trò chơi và đặt cược, niên kim trọn đời, thỏa thuận và những thỏa thuận trọng tài33
Ngoài ra, hợp đồng trong pháp luật của Pháp còn được phân thành hợp đồng trong nước và hợp đồng có yếu tố nước ngoài
26 Điều 1104 Bộ luật dân sự Pháp
27 Điều 1105 và 1106 Bộ luật dân sự Pháp
28 V.Ph JESTAZ, L’obligation et la sanction: À la recherché de l’obligation fondamentale; Me1langes P.Rayaud,
1985, p.273; Ch.LAVABRE, Éléments essentiels et obligation fondamentale du contrat, RJDA 1997, p 291
29 V.Ph MALAURE, L.AYNÈS et P.-Y.GAUTIER, n 0 11
30 Paul-Henri Antonmttei, Jacques Raynard, Droit Civil- Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, no 148
31 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.6
32 M.PLANIOL , art.cité, spec.p.484 Et, Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux,
deuxième édition, Litec, 2000, p.7
33 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.7
Trang 17Như vậy, quan điểm phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài theo sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia này trùng khớp với tiêu chí đang được Luật thương mại Việt Nam hiện hành sử dụng khi định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Thứ hai, hợp đồng quốc tế được xác định trên tiêu chí kinh tế Theo đó, một hợp đồng là hợp đồng quốc tế khi nó có liên quan đến một lợi ích thương mại quốc tế Quan điểm này được đưa ra vào năm 1980 Từ đó, một hợp đồng quốc tế được thừa nhận khi có đồng thời cả hai yếu tố là địa lý và kinh tế Quan điểm này đã bổ khuyết được quan điểm của luật gia Matter vào năm 1927 vì tiêu chí địa lý chưa thể bao quát hết tất cả hợp đồng quốc tế36
Một quan điểm khác được ghi nhận tại Tạp chí Thuế Châu Âu và Luật thương mại quốc tế” số 125 năm 2001 Theo đó, một hợp đồng quốc tế được thừa nhận khi có yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài này được định nghĩa và thừa nhận bởi một chủ thể có thẩm quyền như thẩm phán,v.v…Yếu tố nước ngoài này rất đa dạng, có thể là nơi cư trú
34 M Matter- Avocat general dans l’affaire PELISSER, 1927
35 KAHN Philippe, La vente commerciale unternationale, Tome 4, 1963, Syrey, p 3
36 Playmendroit,
[12/8/2011]
Trang 181.2 Những vấn đề chung về hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài
1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 không đặt ra những quy định riêng cho hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, do hợp đồng mua bán hàng hóa cũng là một dạng của hợp đồng mua bán tài sản nên có thể dựa vào định nghĩa hợp đồng mua bán tài sản để đưa ra định nghĩa, hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
là sự thỏa thuận có yếu tố nước ngoài giữa các bên Trong đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài trong thương mại, như đã phân tích ở trên, định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài không được luật thực định đặt ra mà phụ thuộc vào sự dịch chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa qua biên giới quốc gia theo những phương thức mua bán hàng hóa quốc tế được quy định tại Điều 27 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 và được thực hiện bởi những chủ thể của luật thương mại
Trong khi đó, hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài theo luật của Pháp
là sự thỏa thuận giữa bên bán và bên mua và đặc trưng bởi yếu tố nước ngoài38 Ngoài ra, dựa vào tiêu chí chủ thể trong hợp đồng là thương nhân hay không, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xếp vào hợp đồng trong lĩnh vực dân sự hay thương mại
37Cabinets Fontaneau Paris-Nice-Bruxelles, La formation des contrats internationaux, Article publié dans la Revue
Fiscalité Européenne et Droit International des Affaires, N° 125 (Année 2001)-
38 Xem luận văn trang 13-14
Trang 19
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Theo luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng của hợp đồng mua bán tài sản với tài sản là hàng hóa39 Chính vì vậy, nó có đầy đủ những đặc điểm chung của một hợp đồng mua bán tài sản
Thứ hai, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận, song vụ và có đền bù Hợp đồng này chỉ có giá trị khi thể hiện được sự thỏa thuận giữa các bên về nội dung chính của hợp đồng dưới một hình thức nhất định Trong hợp đồng đó, quyền và nghĩa vụ của các bên ở vị trí đối ứng nhau Phát sinh từ yếu tố song vụ này, giữa các bên trong hợp đồng phải có sự dịch chuyển các đối khoản tương ứng và phù hợp với giá trị hàng hóa40 Thứ ba, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng này là hàng hóa được phép giao dịch Hàng hóa được phép giao dịch trong trường hợp này cần phải được hiểu theo hướng là hàng hóa được phép giao dịch trong từng trường hợp cụ thể Bởi vì, nếu đáp ứng được một số điều kiện cụ thể trong từng trường hợp, các chủ thể vẫn được phép giao dịch đối với hàng hóa cấm hoặc hạn chế kinh doanh41
Thứ tư, hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài đặc trưng bởi yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài này có thể thuộc vào một trong những căn cứ đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài quy định tại Điều 758 Bộ luật dân sự; hoặc cũng có thể là sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới theo tiêu chí của Luật thương mại
Ngoài ra, hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài còn được đặc trưng bằng sự chuyển giao hàng hóa từ quyền sở hữu của người bán sang thuộc quyền sở hữu của người mua vào một thời điểm xác định42
39 Khoản 2 Điều 3 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định hàng hóa bao gồm động sản và vật gắn liền với đất đai Theo Điều 174 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, động sản và vật gắn liền với đất đai đều được xem là tài sản do đó, hợp đồng mua bán hàng hóa cũng là một dạng của hợp đồng mua bán tài sản
40 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007, trang 392
41 Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 được sửa đồi bổ sung bằng Nghị định số 43/2009/NĐ-CP) quy định chi tiết luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện có quy định về điều kiện kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế kinh doanh, cấm kinh doanh
42 Điều 439 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Điều 62 Luật thương mại Việt Nam năm 2005; Hoàng Thế Liên
(chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập 2, phần III: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang 294-296
Trang 20
Theo luật của Pháp, đặc điểm nổi bật nhất và được xem là điển hình trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài là sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang cho bên mua Trong chừng mực nào đó, nó có tác dụng phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa với các loại hợp đồng khác Ví dụ, trong việc chuyển giao quyền sở hữu đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, người mua sau khi hoàn thành hợp đồng sẽ trở thành chủ sở hữu thực sự của món hàng đó Trong khi đối với hợp đồng thuê, người thuê sau khi hoàn thành nghĩa vụ cũng chỉ được thụ hưởng giá trị sử dụng của món hàng thuê43 Ngoài ra, những yếu tố cần thiết đối với hợp đồng mua bán hàng hóa là sự ưng thuận đối với đối tượng của hợp đồng là hàng hóa và giá của hợp đồng44
1.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Luật Việt Nam nói riêng và luật các nước nói chung đều thừa nhận hợp đồng mua bán hàng hóa có thể chứa đựng trong ba hình thức cụ thể là hợp đồng miệng, hợp đồng bằng hành vi cụ thể và hợp đồng bằng văn bản Tùy điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và đảm bảo quyền lợi của mình, đồng thời tuân thủ quy định pháp luật, các bên có thể lựa chọn cho mình hình thức hợp đồng phù hợp45
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 không quy định hình thức bắt buộc Khoản 1 Điều 770 cũng chỉ là một quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật áp dụng điều chỉnh hình thức của hợp đồng chứ không quy định một hình thức cụ thể nào cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài Chính vì vậy, cả ba loại hình thức của hợp đồng bằng lời nói, hành vi cụ thể và hợp đồng bằng văn bản46 đều có thể thỏa mãn điều kiện hình thức Tuy nhiên, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong lĩnh vực thương mại, Luật thương mại Việt Nam hiện hành thừa nhận duy nhất một hình thức là hợp đồng bằng văn bản hoặc những hình thức khác tương đương văn bản được quy định tại Khoản 15 Điều 3 luật này47
43 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.71-72
44 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.80
45 Dương Anh Sơn- Khoa Luật, đại học Kinh tế- Luật, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Lê Minh Hùng- Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp- Văn phòng Quốc
hội, Hình thức văn bản, văn bản có công chứng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, http://www.nclp.org.vn/
111ong [truy cập ngày 21/8/2011]
ban_ve_du_an_luat/kinh-te-dan-su/hinh-thuc-van-ban-van-ban-co-chung-thuc-la-111ieu-kien-co-hieu-luc-cua-hop-46 Điều 401 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
47 Khoản 2 Điều 27 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
Trang 21
Luật Việt Nam thừa nhận giá trị của hình thức hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật nước nơi hợp đồng được giao kết Tuy nhiên, nếu hợp đồng vi phạm hình thức tại nước nơi giao kết hợp đồng nhưng lại phù hợp với pháp luật Việt Nam thì tại Việt Nam, hợp đồng đó vẫn được thừa nhận là thỏa mãn điều kiện hình thức48
Nếu luật điều chỉnh hình thức hợp đồng là Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980), hợp đồng có thể được lập
và chứng minh bằng mọi phương thức49
Như vậy, có thể thấy, cả ba hình thức hợp đồng miệng, hành vi cụ thể, hợp đồng bằng văn bản được phân tích sau đây đều có khả năng được áp dụng để điều chỉnh đối với hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
-Hợp đồng miệng
Hợp đồng miệng là hợp đồng giao kết bằng lời nói Thông qua lời nói, các bên thỏa thuận với nhau những nội dung cơ bản của hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng Đây là phương thức đơn giản nhất, nhanh nhất để giao kết hợp đồng Tuy nhiên, xét về
độ bảo đảm thì hợp đồng miệng có mức độ đáng tin cậy thấp nhất và cũng khó đưa ra được chứng cứ chứng minh khi xảy ra tranh chấp Chính vì vậy, trong những trường hợp này, sự tin cậy giữa các bên giao kết hợp đồng là một yếu tố đóng vai trò chủ chốt, thúc đẩy các bên giao kết hợp đồng miệng50
-Hợp đồng bằng hành vi cụ thể
Pháp luật Việt Nam còn thừa nhận một loại hợp đồng thông qua việc thực hiện một hành vi cụ thể mà các bên biết và phải biết về ý nghĩa và kết quả của hành vi đó là việc giao kết và thực hiện hợp đồng Tương tự như trong hợp đồng miệng, việc giao kết hợp đồng thông qua hành vi cụ thể đòi hỏi sự tin tưởng giữa các bên trong hợp đồng vì việc chứng minh sự tồn tại của hợp đồng giao kết bằng hành vi cụ thể không đơn giản51
48 Khoản 1 Điều 770 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
49 Điều 11 Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980)
50Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập 2, phần III: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân
sự, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2010, trang 224-225
51 Nguyễn Thị Dung (chủ biên), Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư- những vấn đề pháp lý cơ bản,
nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2008, trang 89
Trang 22
-Hợp đồng bằng văn bản
Với những điểm mạnh và đặc biệt là giá trị chứng minh khi xảy ra tranh chấp, hợp đồng bằng văn bản vẫn là sự lựa chọn tốt nhất cho các bên giao kết Thứ nhất, văn bản là một căn cứ vững chắc cho việc giao kết hợp đồng, đồng thời là nơi chứa đựng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mà bất kỳ sự làm trái nào so với hợp đồng, là bằng chứng rõ ràng về việc vi phạm hợp đồng Thứ hai, bằng việc giao kết hợp đồng bằng văn bản, ta có thể xác định được tính nghiêm túc của các bên trong hợp đồng
Luật của Pháp quy định tương tự điều kiện về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài trong lĩnh vực dân sự ở Việt Nam và Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980) Theo đó, hợp đồng có thể thiết lập bằng lời nói, hành vi cụ thể, bằng văn bản trọng thức hoặc không trọng thức Hợp đồng tuân theo nguyên tắc thiện chí giữa các bên và chỉ bị hủy bởi ý chí của các bên hoặc theo quy định của pháp luật52 Tuy nhiên, mặc dù có thể biểu đạt bằng mọi phương thức nhưng hợp đồng đó phải thể hiện được sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng Sự biểu hiện này có thể được thể hiện bằng nhiều cách, thông qua một chứng thư công chứng nhưng cũng có thể tối thiểu là một cái gật đầu, hoặc sự im lặng, v.v…53Ngoài ra, đối với những hợp đồng có giá trị lớn hoặc có mức độ phức tạp cao, các bên nên lập thành hợp đồng văn bản vì văn bản mang lại cho hợp đồng một sắc thái mà không một hình thức nào có thể mang lại54 Cũng như trong luật Việt Nam, khi tranh chấp xảy
ra, hợp đồng bằng văn bản là một bằng chứng có giá trị chứng minh tốt nhất về việc có hợp đồng và bảo vệ quyền lợi, nghĩa vụ của các bên
1.2.4 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
1.2.4.1 Cá nhân
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cá nhân bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài Trong đó, người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch55 Để được thừa nhận
là chủ thể của hợp đồng, trước hết cá nhân phải đáp ứng đủ điều kiện về năng lực chủ thể,
52 Điều 1134 Bộ luật dân sự Pháp
53 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000,
p.122-123
54 V.J-M Mousseron et alii, Sur les fonctions de l’écrit en fait, technique contractuelle, op.cit., nos, I, p.170
55 Khoản 2 Điều 3, Nghị định số 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, ngày 15 tháng 11 năm 2006
Trang 23-Năng lực pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Về nguyên tắc, công dân Việt Nam được thừa nhận có năng lực pháp luật để tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài57
Còn đối với người nước ngoài, năng lực chủ thể hợp đồng được xét theo những tiêu chuẩn và điều kiện của nước nơi cá nhân này là công dân hoặc theo luật nơi người không quốc tịch cư trú58 Trường hợp cá nhân có nhiều quốc tịch thì xem xét dựa trên pháp luật của nước mà cá nhân này có quan hệ gần gũi nhất về quyền và nghĩa vụ59 Tuy nhiên, nếu
cá nhân nước ngoài này xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của người này lại được xác định theo luật thực định của Việt Nam60
Ngoài ra, để tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong lĩnh vực thương mại, cá nhân đó cần phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh hoặc cá nhân hoạt động thương mại thường xuyên một cách độc lập, không có đăng ký kinh doanh61 và những cá nhân khác có tham gia vào hoạt động thương mại62
Theo luật của Pháp, sau khi Điều 1595 Bộ luật dân sự về việc cấm quan hệ mua bán hàng hóa giữa vợ- chồng bị bãi bỏ, tư cách chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật của Pháp được thừa nhận rộng rãi cho mọi chủ thể63 Tuy nhiên, năng lực chủ
56 Mục 1, chương III; Khoản 1 Điều 761; Khoản 1 Điều 762; Khoản 1 Điều 760 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
57 Theo Khoản 3; 4 Điều 14 Bộ luật dân sự 2005: Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra
và chấm dứt khi người đó chết và năng lực này được thừa nhận là bình đẳng cho tất cả cá nhân
58 Khoản 1 Điều 761; Điều 760 Bộ luật dân sự, Điều 5 và Khoản 1 Điều 7 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
59 Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, ngày 15 tháng 11 năm 2006
60 Khoản 2 Điều 761; Khoản 2 Điều 762 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
61 Cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh được quy định tại Nghị định số 39/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007, quy định chi tiết Luật thương mại Việt Nam năm 2005
62 Điều 3; Điều 6 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
63 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.79;
Điều 1594 Bộ luật dân sự Pháp
Trang 24
thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ không được thừa nhận trong những trường hợp thực hiện quan hệ mua bán giữa người giám hộ với đối tượng là tài sản của người được giám hộ; người được ủy thác đối với tài sản ủy thác, viên chức hành chính đối với tài sản của cơ quan do họ quản lý; viên chức nhà nước với đối tượng là tài sản Quốc gia do cơ quan họ đứng ra bán; hợp đồng mua bán bất hợp pháp tài sản của người khác64 dù hợp đồng đó được tự thực hiện hay thông qua trung gian
Ngoài ra, Bộ luật thương mại Pháp thừa nhận tư cách chủ thể của hợp đồng thương mại cho thương nhân, với mục tiêu lợi nhuận khi tham gia hoạt động thương mại65 Để được xem là thương nhân, chủ thể này cần phải thực hiện hành vi thương mại mang tính chất nghề nghiệp66 Riêng đối với thương nhân nước ngoài không cư trú tại Pháp và không là công dân của Liên minh Châu Âu, để được thừa nhận tư cách thương nhân trên lãnh thổ của Pháp, cần thiết phải thực hiện việc đăng ký theo quy định của pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi thương mại lần đầu tiên tại Pháp67
-Năng lực hành vi
Để cá nhân được tự mình xác lập một quan hệ dân sự mà cụ thể là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài thì năng lực pháp luật là chưa đủ mà còn phải xét đến một yếu tố quan trọng khác Đó là năng lực hành vi dân sự- khả năng tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự68
Đối với công dân Việt Nam, năng lực hành vi dân sự được xác định theo quy định
từ Điều 19 đến 23 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 và để tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài với tư cách là chủ thể của hợp đồng, cá nhân này cần phải có năng lực hành vi dân sự69
Việc xác định năng lực hành vi của người nước ngoài cũng căn cứ vào những yếu
tố do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến, tương tự như cách xác định năng lực pháp luật của đối tượng này70
64 Điều 1158 Bộ luật dân sự Pháp
65 Article 632, Code de Commerce; V.Y.Reinhard, Droit Commercial, Litec, 5e éd, 1998, nos 176 s
66 Article L121-1, Code de Commerce
67 Article L122-1 Code de Commerce
68 Điều 17 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
69 Khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
70 Điều 762;760 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Điều 5; Điều 7 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, ngày 15 tháng 11 năm 2006
Trang 25
Theo luật của Pháp, cá nhân dù có năng lực pháp luật giao kết hợp đồng cũng không thể cụ thể hóa năng lực này bằng cách tự mình tham gia và quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài nếu thuộc vào trường hợp chưa thành niên và chưa được công nhận có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc trường hợp người thành niên được pháp luật bảo hộ do năng lực hành vi dân sự bị biến đổi71 Một ngoại lệ được đặt ra đối với đối tượng vị thành niên được thoát quyền cũng có thể có được năng lực hành vi dân sự để xác lập các giao dịch dân sự, thậm chí được xem là thương nhân để giao kết hợp đồng72
1.2.4.2 Tổ chức
Luật Việt Nam thừa nhận quyền tham gia của các tổ chức pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân, trong và ngoài nước vào các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài73 Tuy nhiên, để được thừa nhận tư cách chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, tổ chức này cần phải thỏa mãn điều kiện về năng lực chủ thể
-Năng lực pháp luật của tổ chức
Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành không quy định về năng lực pháp luật của tổ chức mà chỉ quy định về năng lực pháp luật của pháp nhân Theo đó, năng lực pháp luật của pháp nhân được hình thành và tồn tại cùng với sự hình thành và hoạt động của pháp nhân đó74 Đối với pháp nhân nước ngoài, năng lực pháp luật được xem xét theo luật của nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch75 Tuy nhiên, nếu hợp đồng được giao kết và thực hiện tại Việt Nam thì năng lực pháp luật của pháp nhân này được xét theo luật Việt Nam76 Bên cạnh đó, luật Việt Nam còn thừa nhận tư cách chủ thể của hợp đồng dân sự
71 Điều 1123; 1124; 488 Bộ luật dân sự Pháp
72 Article L121-2 Code de Commerce
73 Nguyễn Thị Dung (chủ biên), Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư- những vấn đề pháp lý cơ bản,
nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2008, trang 94
74 Khoản 2 Điều 86 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
75 Khoản 1 Điều 765 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
76 Điều 10 Nghị định số 138/2005/NĐCP quy định chi tiết Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; Khoản 2 Điều 765; Điều 86 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
Trang 26
đối với doanh nghiệp tư nhân77, các tổ chức thành viên của pháp nhân78, hộ gia đình79, tổ hợp tác80 không phải là pháp nhân
Trong phạm vi hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, để được thừa nhận
tư cách chủ thể, tổ chức còn phải thỏa mãn điều kiện là thương nhân với những đặc điểm
cơ bản như có đăng ký kinh doanh, thực hiện hành vi thương mại với danh nghĩa chính pháp nhân mình và vì mục đích lợi nhuận mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên81 Ngoài ra, thương nhân là tổ chức chỉ được tham gia giao kết những hợp đồng mua bán hàng hóa phù hợp với nội dung đã đăng ký kinh doanh và không thuộc danh mục hàng hóa bị cấm, thu hồi, tạm ngừng lưu thông, hoặc kinh doanh có điều kiện 82
Đối với tổ chức là thương nhân nước ngoài, tổ chức này được phép giao kết và thực hiện các hợp đồng khi thỏa mãn điều kiện về năng lực chủ thể theo luật nước mà tổ chức
đó mang quốc tịch83 và quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan84
-Năng lực hành vi của tổ chức
Bộ luật dân sự Việt Nam và cả Luật thương mại hiện hành không quy định cụ thể
về năng lực hành vi của tổ chức ngay cả khi tổ chức đó là pháp nhân Xoay quanh vấn đề này, hiện tồn tại hai quan điểm
77 Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo luật doanh nghiệp năm 2005 nhưng không mang tư cách pháp nhân, do chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân đứng đầu và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình
78 Đây là những tổ chức không có tư cách pháp nhân riêng biệt, thuộc cơ cấu nội bộ của pháp nhân hoạt động dựa trên điều lệ của công ty Ví dụ: chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện,v.v…
79 Điều 106 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
80 Khoản 1, Điều 111 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
81 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Thương mại Việt Nam, nhà xuất bản Công an Nhân dân, năm 2006,
trang 48-51
82 Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại quy định về việc phạt vi phạm hành chính đối với hành vi kinh doanh sai mặt hàng trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với thương nhân là tổ chức kinh tế; danh mục hàng hóa cấm; hạn chế kinh doanh được quy định tại Nghị định 59/2006/NĐ-Cp quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện
83 Khoản 1 Điều 765 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Điều 16 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
84 Khoản 2 Điều 765 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Mục 3, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 được quy định từ Điều 16 đến Điều 23 Luật thương mại, quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
Trang 27sự phải được thực hiện thông qua người đại diện, bao gồm người đại diện theo pháp luật
và người đại diện theo ủy quyền86 Do đó, để xét năng lực tham gia ký kết hợp đồng của
tổ chức, còn phải căn cứ việc người đứng ra ký kết hợp đồng đó có phù hợp với thẩm quyền và phạm vi đại diện hay không87
1.2.4.3 Quốc gia
Nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế cho phép quốc gia được tham gia vào quan
hệ dân sự với tư cách một bên chủ thể đặc biệt của hợp đồng88 Không chỉ vậy, trong những giao dịch này, chủ thể là nhà nước luôn được hưởng những quyền, quy chế đặc biệt Quyền miễn trừ của quốc gia trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận rải rác trong các Điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Brussels về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền nhà nước ngày 14/4/1926, Công ước Vienne năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Vienne 1963 về quan hệ lãnh sự,v.v… Đặc biệt, các nội dung này được quy định một cách cụ thể và tập trung tại Công ước của Liên hiệp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia Các đặc quyền này cũng được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia89
85 Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, nhà xuất bản Công an Nhân dân, năm 2006, trang 113
86 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007, trang 57
87 Chương VII Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định về các hình thức đại diện; phạm vi đại diện và hậu quả pháp lý đối với những giao dịch dân sự giao kết không thuộc phạm vi đại diện
88 Bành Quốc Tuấn - Khoa Kinh tế , ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Quyền miễn trừ của quốc gia trong tư pháp quốc tế
Việt Nam, Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội,
quoc-te-viet-nam [truy cập ngày 30/9/2011]
http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/phap-luat/quoc-te/quyen-mien-tru-cua-quoc-gia-trong-tu-phap-89 Bành Quốc Tuấn - Khoa Kinh tế , ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Quyền miễn trừ của quốc gia trong tư pháp quốc tế
Việt Nam, Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội,
quoc-te-viet-nam , [truy cập ngày 30/9/2011]
Trang 28
Trong trường hợp chủ thể hợp đồng là Nhà nước, yếu tố thương nhân không được đặt ra khi chủ thể này giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại quốc tế vì theo luật quốc tế, Nhà nước được thừa nhận là chủ thể của mọi quan hệ pháp luật, kể cả lĩnh vực thương mại hàng hóa90
1.2.5 Nguồn của pháp luật về hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài
Quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài là những quan hệ pháp luật có tính chất quốc tế, có thể liên quan của từ hai quốc gia trở lên về luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết tranh chấp Chính vì vậy, khi có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xảy ra, luật Việt Nam không phải là nguồn duy nhất để giải quyết những tranh chấp này mà có thể có
sự tham gia điều chỉnh những nguồn pháp luật khác Từ đó có thể thấy, việc nhìn nhận những nguồn nào có khả năng được thừa nhận để điều chỉnh quan hệ pháp luật phát sinh
từ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài và việc lựa chọn luật áp dụng trong từng trường hợp cụ thể là vấn đề hết sức quan trọng
Để điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, pháp luật Việt Nam thừa nhận những nguồn sau đây
1.2.5.1 Điều ước quốc tế
Trong trường hợp Việt Nam là thành viên của một Điều ước quốc tế thì sẽ áp dụng những quy định của Điều ước này vào những hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của Điều ước91
Có thể phân loại Điều ước quốc tế bao gồm Điều ước song phương và Điều ước đa phương
Hiện nay, Việt Nam chỉ mới tham gia hoặc đang đàm phán đối với một số Hiệp định thương mại đa phương trong phạm vi khối Asean, Asean+ và giữa Asean với các đối tác khác như EU, Canada, TPP (Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương) Trong khi
đó, Điều ước có tính chất phổ biến nhất điều chỉnh về vấn đề mua bán hàng hóa quốc tế
là Công ước Liên hiệp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980-
90Bành Quốc Tuấn - Khoa Kinh tế , ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Quyền miễn trừ của quốc gia trong tư pháp quốc tế
Việt Nam, Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội,
quoc-te-viet-nam , [truy cập ngày 30/9/2011]
http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/phap-luat/quoc-te/quyen-mien-tru-cua-quoc-gia-trong-tu-phap-91 Khoản 2 Điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
Trang 29Công ước La Haye năm 1955 về luật áp dụng cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình cũng là một trong những văn bản có thể áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Điểm đặc biệt của Công ước này là được
áp dụng khi tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là tòa án của nước là thành viên của Công ước chứ không phụ thuộc vào việc các bên trong hợp đồng có là thành viên của Công ước hay không Hiện nay, Pháp là thành viên của Công ước này, vì vậy, khả năng Công ước này được áp dụng để điều chỉnh tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là có thể xảy ra khi tòa án thụ lý vụ việc là tòa án của Pháp94 Tuy nhiên, do số lượng thành viên của Công ước này là không nhiều nên tính chất phổ biến của Điều ước này không cao, chủ yếu được áp dụng cho những hợp đồng mua bán hàng hóa trong khu vực Châu Âu95
Sau nhiều Điều ước quốc tế mang tính chất bộ phận, riêng lẻ, không mang lại kết quả khả quan, Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980) được ban hành để điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Là thành viên của Công ước, Pháp thừa nhận giá trị ràng buộc của những điều khoản này và những nguyên tắc áp dụng luật của Công ước như một nguồn chính thức đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định áp dụng luật của Pháp
để điều chỉnh96
92 Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam- WTO Hội nhập kinh tế quốc tế , khac/da-phuong , [truy cập ngày 14/11/2011]
http://trungtamwto.vn/hiep-dinh-93 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.23
94 Công ước La Haye năm 1955 về luật áp dụng cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình đã được 9 quốc gia phê chuẩn: Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Ý, Nigeria, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sỹ
95Nguyễn Minh Hằng, Thông tin pháp luật dân sự, Sửa đổi Điều 769 Bộ luật dân sự 2005,
96 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.23-24
Trang 30
1.2.5.2 Pháp luật quốc gia
Với số lượng Điều ước quốc tế được ký kết còn hạn chế như ở Việt Nam, pháp luật Quốc gia được xem là nguồn chính yếu để điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa có yếu
tố nước ngoài Luật Việt Nam đương nhiên có quyền điều chỉnh đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác theo Điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 200597 Ngoài ra, đối với những hợp đồng được áp dụng luật Việt Nam để điều chỉnh hình thức và nội dung hợp đồng thì luật thực chất của Việt Nam sẽ được sử dụng để giải quyết mà không tiếp tục dẫn chiếu đến nước thứ ba98 Do đó, pháp luật quốc gia của Việt Nam là một nguồn rất quan trọng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Đối với Pháp, mặc dù là thành viên của khá nhiều Điều ước song phương lẫn đa phương, nhưng trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, với những điều khoản mà Điều ước quốc tế không điều chỉnh, pháp luật trong nước cũng được xem là một nguồn chính để điều chỉnh quan hệ pháp luật này Bộ luật dân sự Pháp dành hơn một trăm điều khoản để điều chỉnh riêng về hợp đồng mua bán hàng hóa99 Đây
là những điều khoản cổ xưa nhất và không hề được thay đổi kể từ lúc được hình thành, nhưng những điều khoản này, cùng với Bộ luật thương mại Pháp, là cơ sở pháp lý vững chắc cho hợp đồng mua bán hàng hóa cho đến ngày nay Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán
là một bộ phận gắn bó với sự phát triển tiêu dùng Để bảo vệ quyền lợi của người mua- người tiêu dùng và kích thích cạnh tranh lành mạnh, nhằm mang đến quyền lợi cho người tiêu dùng, Luật tiêu dùng100 đã được ban hành và phối hợp điều chỉnh những vấn đề liên quan đến quan hệ mua bán hàng hóa đã bị bỏ sót trong Bộ luật dân sự và Bộ luật thương mại
1.2.5.3 Tập quán pháp
Mặc dù cùng chung trong hệ thống pháp luật dân sự với Pháp nhưng đối với việc thừa nhận giá trị pháp lý của tập quán pháp, Việt Nam chấp nhận nhưng với thái độ còn e
97 Khoản 1 Điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
98 Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 138/2005/NĐCP quy định chi tiết Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; Khoản 2 Điều 765; 86 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định về việc áp dụng quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 tại Mục 7 Chương XVII phần thứ 3 đối với hợp đồng mà luật Việt Nam được xác định thẩm quyền điều chỉnh hình thức và nội dung của hợp đồng
99 Bộ luật dân sự Pháp, từ điều 1582 đến điều 1701
100 Luật tiêu dùng Pháp (Code de Consommation) ban hành ngày 26/7/1993
Trang 31
dè Nếu như ở Pháp, bên cạnh án lệ, tập quán pháp là một nguồn chính thức để điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các bên101 thì ở Việt Nam, để được áp dụng tập quán pháp vào quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, tập quán đó phải thỏa mãn những điều kiện luật định Thứ nhất, vấn đề không được luật thành văn của Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên điều chỉnh102 Thứ hai, việc áp dụng tập quán quốc tế không đi ngược lại với các nguyên tắc chung cơ bản của pháp luật Việt Nam.103 Luật thương mại tỏ ra dễ dàng hơn trong việc chấp nhận tập quán pháp điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại Theo đó, Luật thương mại thừa nhận cả thói quen giữa các bên và những tập quán quốc tế không trái với Bộ luật dân sự và những văn bản
có liên quan104
Hiện nay, tập quán được sử dụng rộng rãi và phổ biến đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong lĩnh vực thương mại là Incoterms qua tám ấn bản, các tập quán mang tính chất khu vực và những tập quán thương mại khác được thừa nhận
Trong một số hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, có thể thấy trường hợp lựa chọn áp dụng những nguyên tắc thương mại trong các bộ nguyên tắc mà điển hình là bộ nguyên tắc Unidroit Một số tác giả cho rằng, xem bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế như một loại tập quán quốc tế
là chưa có cơ sở vì những nguyên tắc này không được hình thành từ những hành vi tái đi tái lại trên thực tiễn mà do một tổ chức phi chính phủ thiết lập từ sự thống nhất về những trường phái luật khác nhau Vì vậy, theo những tác giả này, Bộ nguyên tắc Unidroit chưa thể được xem một tập quán pháp 105 Ngoài ra, việc chọn lựa những nguyên tắc này điều chỉnh hợp đồng là một rủi ro vì pháp luật Việt Nam hiện hành chưa ghi nhận cụ thể việc áp dụng những Bộ nguyên tắc này có được công nhận như thỏa thuận hợp pháp của các bên hay không
101 Paul-Henri Antonmttei, Jacques Raynard, Droit Civil- Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, page 25
102 Khoản 4 Điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
103 Khoản 4 Điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005;
Nguyễn Trung Tín, Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2004, trang 68
104 Điều 12; 13 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
105 Đỗ Văn Đại, Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam-quan hệ dân sự, lao động, thương mại có yếu tố nước
ngoài, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2010, trang 51
Trang 32
1.2.5.4 Luật nước ngoài
Trong trường hợp quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài hoặc thỏa thuận chọn luật của các bên trong hợp đồng có hiệu lực thì luật nước đó sẽ được áp dụng106 Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong hai trường hợp này cũng không giống nhau Thứ nhất, trong trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến, luật Việt Nam thừa nhận áp dụng nếu như việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Còn trong trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài do thỏa thuận chọn luật của các bên, luật Việt Nam lại thừa nhận việc áp dụng pháp luật nước ngoài nếu như sự thỏa thuận không trái với quy định của luật Việt Nam Vấn đề này sẽ được nhắc lại trong phần sau
106 Khoản 3 Điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
Trang 33
CHƯƠNG 2: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Với đầy đủ tính chất của một hợp đồng dân sự, hợp đồng mua bán hàng hóa
có yếu tố nước ngoài là một dạng hợp đồng tồn tại cả trong lĩnh vực dân sự và thương mại Trong Chương II của Luận văn này, tác giả tập trung đi vào phân tích một số khía cạnh liên quan đến loại hợp đồng này, mà trọng tâm là quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng trong giai đoạn thương lượng hợp đồng, thực hiện hợp đồng và những phương thức mà các bên có thể dự liệu và thực hiện để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế Đây là vấn đề mà các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa luôn đặt lên hàng đầu, cũng là khía cạnh mà các nhà làm luật, áp dụng luật và nghiên cứu pháp luật cần quan tâm để quan hệ pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế được hoàn thiện hơn, góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát
Thứ nhất, tự do giao kết trong khuôn khổ của pháp luật và không đi ngược lại đạo đức xã hội Nguyên tắc này xuất phát từ thế kỷ thứ XVIII trong thuyết tự do ý chí trong
107 Điều 389 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự
năm 2005, tập 2, phần III: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang
198-199
Trang 34
giao kết hợp đồng và là một trong những quan điểm của nền triết học ánh sáng108 Việc thực thi nguyên tắc này được thể hiện trong mối liên hệ giữa tự do ý chí và tuân thủ pháp luật Nếu như việc thỏa thuận giữa các bên không trái luật và đạo đức xã hội109 thì sẽ được tôn trọng, xem như nghĩa vụ ràng buộc các bên trong hợp đồng và được bảo hộ bằng quyền lực của Nhà nước110 Quyền tự do này được thể hiện thông qua các quyền tự chủ trong ký kết hợp đồng; lựa chọn đối tác; tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng,v.v 111trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội
Thứ hai, các bên trong hợp đồng cần phải tự nguyện, bình đẳng, có thiện chí, trung
thực và ngay thẳng Xác định dựa trên bản chất tự do ý chí giữa các bên, việc xem xét
nguyên tắc này được thực hiện trên nhiều phương diện: tự nguyện, bình đẳng, trung thực
và ngay thẳng Nếu thiếu một trong những yếu tố này thì nguyên tắc trên vẫn không thể đảm bảo112 Luật Việt Nam quy định cụ thể những trường hợp giao kết hợp đồng do lừa dối, đe dọa, bởi một bên trong hợp đồng hoặc từ người thứ ba; giao kết hợp đồng do lỗi nhầm lẫn vô ý của một bên trong hợp đồng là điều kiện để hợp đồng vô hiệu113
Cũng tương tự luật Việt Nam, luật của Pháp coi trọng vấn đề tự do giao kết, tự do
thỏa thuận và yếu tố tự nguyện, bình đẳng, có thiện chí, trung thực và ngay thẳng trong giao kết hợp đồng Theo đó, một hợp đồng chỉ được xem là có giá trị khi hội tụ đủ bốn điều kiện: Sự ưng thuận tuyệt đối114, năng lực hành vi của các bên, hợp đồng có đối tượng cụ thể hoặc có thể xác định được và việc kết ước có nguyên nhân, đồng thời, nguyên nhân của sự kết ước này phải hợp pháp115
108 Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập 2, phần III: Nghĩa vụ dân sự và
hợp đồng dân sự, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang 199
109 Điều 128; Khoản 1 Điều 389 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Khoản 1 Điều 11 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
110 Khoản 1 Điều 389 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Khoản 1 Điều 11 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
111 Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập 2, phần III: Nghĩa vụ dân sự và
hợp đồng dân sự, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang 201
112 Khoản 2 Điều 389 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Điều 10; Khoản 2 Điều 11 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
113 Điều 131; 132 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
114 Paul-Henri Antonnattei, Jacques Raynard, Droit Civil Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.26-27;
Điều 1109 Bộ luật dân sự Pháp
115 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật so sánh, khoa luật trường Đại học Cần Thơ, năm 2007, trang 36
-Điều 1108 Bộ luật dân sự Pháp
-Paul-Henri Antonmttei, Jacques Raynard, Droit Civil- Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, page 79
Trang 35
Có thể nói, quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất của các bên trong hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng chính là quyền thỏa thuận và nghĩa vụ tuân thủ sự thỏa thuận Trên nguyên tắc, các bên được tự do thể hiện ý chí trong hợp đồng mua bán hàng hóa miễn sao sự thỏa thuận này không làm phương hại đến quyền lợi hợp pháp của một chủ thể thứ ba hoặc phương hại đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước116 Có thể nói, giai đoạn tập trung cao nhất của sự thỏa thuận chính là giai đoạn thương lượng và giao kết hợp đồng Bởi đây chính là giai đoạn các bên tìm ra ý chí chung để thiết lập hợp đồng
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng) và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (chấp nhận chào hàng)
Có thể nói, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là hai yếu tố quan trọng để hình thành hợp đồng117 Đây là cơ sở pháp lý để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, nơi hợp đồng được giao kết118 và hệ quả kéo theo là quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Trong phần này, tác giả đề cập đến đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong giao kết hợp đồng gián tiếp
-Quyền và nghĩa vụ của bên đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng) được xem là quyết định đơn phương có chủ
ý của một bên bày tỏ ý định giao kết hợp đồng theo các điều kiện xác định trước do mình đưa ra119
Để thực hiện quyền tự do chọn lựa đối tác, luật Việt Nam cho phép bên đề nghị giao kết hợp đồng có quyền gửi lời chào hàng của mình đến đối tác xác định120 nhằm xác định thiện chí giao kết hợp đồng của mình Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý là định nghĩa đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật dân sự hiện hành không đề cập đến việc bên chào hàng được phép gửi lời đề nghị giao kết hợp đồng đến bao nhiêu đối tác Trong
116 Điều 389 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
117 Nguyễn Văn Phái, Tòa án nhân dân tối cao, Sửa đổi bổ sung một số quy định liên quan đến chấp nhận đề nghị
giao kết hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2005,
http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=8610050& article_details=1 , 01/6/2011, [truy cập ngày 17/11/2011]
118 Điều 405; 404; 771 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
119 Xem thêm Nguyễn Ngọc Lâm, Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế, nhận diện tranh chấp, biện
pháp ngăn ngừa và phương pháp giải quyết, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang 46
120 Điều 390 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
Trang 36
khi đó, Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980) có quy định cụ thể bên chào hàng được gửi lời chào hàng đến một hoặc nhiều đối tác, với điều kiện những chủ thể này phải được xác định cụ thể121
Theo tinh thần của Điều 390 Bộ luật dân sự và Điều 20 Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980), bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng còn được quyền quy định thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng Nếu như quy định thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, bên chào hàng chỉ phải chịu sự ràng buộc trong giới hạn thời gian do mình chủ động đề ra Trong khi, nếu đưa ra một lời đề nghị không xác định thời hạn trả lời sẽ có thể dẫn đến bất lợi cho phía
đề nghị giao kết hợp đồng vì hiện nay, cả luật Việt Nam và Công ước đều không có quy định cụ thể về thời hạn chịu ràng buộc của lời chào hàng122
Khi lời đề nghị giao kết hợp đồng đã được phát ra, bên đề nghị cũng chỉ được rút lại hoặc thay đổi đề nghị giao kết hợp đồng bằng một thông báo gửi bên được được đề nghị trước hoặc cùng lúc với thời điểm bên này nhận được lời đề nghị giao kết hợp đồng hoặc khi điều kiện được quy định trong lời đề nghị là điều kiện để thay đổi hoặc rút lại lời chào hàng xảy ra trên thực tế123 Ngoài ra, bên đưa ra lời đề nghị chỉ được hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng nếu như có thỏa thuận trong lời đề nghị là có thể hủy bỏ; đồng thời, thông báo hủy bỏ này phải được gửi đến người được chào hàng trước khi người được đề nghị trả lời chấp nhận124 Trong khi đó, theo Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980), quyền thu hồi lời chào hàng có thể thực hiện ngay cả khi không có quy định về việc thu hồi trong lời chào hàng, nhưng thông báo về việc thu hồi lời đề nghị giao kết hợp đồng phải đến nơi người được đề nghị giao kết hợp đồng trước thời điểm phía này chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng125
121 Điều 14 Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980)
122 Thời hạn chịu ràng buộc bởi lời chào hàng không xác định thời hạn được quy định trong Luật thương mại năm
1997 tại Khoản 1 Điều 53 là 30 ngày, kể từ ngày chào hàng được chuyển đi Tuy nhiên, Luật thương mại năm 2005
đã bãi bỏ quy định này Trong khi đó, Bộ luật dân sự hiện hành cũng không quy định rõ thời hạn Do đó, thời hạn chịu ràng buộc với lời chào hàng không xác định thời hạn được xem là một khoảng thời gian hợp lý Quan điểm này cũng trùng khớp với quy định trong Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980)
123 Điều 392 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Khoản 2 Điều 15 Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980)
124 Điều 393 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
125 Điều 16 Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980)
Trang 37
Một khi lời đề nghị giao kết hợp đồng đã được đưa ra, đồng nghĩa với việc, bên đề nghị phải chịu sự ràng buộc bởi chính lời chào hàng của mình và phải chịu trách nhiệm dân sự khi nguyên nhân phá hủy lời đề nghị của mình không thuộc vào những trường hợp pháp luật cho phép126 Nếu như người được chào hàng chấp nhận giao kết hợp đồng trong thời hạn cho phép thì bên đưa ra lời đề nghị không được phép phủ nhận việc giao kết hợp đồng và có thể phải bồi thường thiệt hại cho phía được chào hàng127
-Quyền và nghĩa vụ của bên được đề nghị giao kết hợp đồng
Bên được đề nghị có quyền chấp nhận hay không chấp nhận lời chào hàng được gửi đến Việc chấp nhận giao kết hợp đồng được xem là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận vô điều kiện nội dung đề nghị128; đồng thời, trả lời chấp nhận phải được gửi đến bên đề nghị trong thời hạn quy định nếu trong lời đề nghị giao kết có quy định về thời hạn này129 Mọi sự thay đổi, bổ sung khác đi so với lời đề nghị được gửi đến sẽ được xem như là đề nghị giao kết hợp đồng mới gửi ngược lại đối tác130 Như vậy, trong trường hợp này, tư cách chủ thể của hai bên đã có sự thay đổi từ người chào hàng trở thành người được chào hàng và ngược lại Còn nếu bên được chào hàng không muốn thiết lập hợp đồng thì có thể hành xử theo hai cách Thứ nhất, trả lời không chấp nhận giao kết hợp đồng Thứ hai, im lặng đến hết thời hạn đối với lời chào hàng có quy định thời hạn trả lời131
Bộ luật dân sự năm 2005 không quy định về việc thừa nhận hay không giá trị của
sự im lặng là đồng ý trong việc chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, bên được chào hàng cần phải lưu ý đến vấn đề này vì thực tế, án lệ một số nước thừa nhận giá trị của sự im lặng khi các bên có thỏa thuận im lặng là đồng ý giao kết hợp đồng132 Còn theo Công ước, sự im lặng không có giá trị hiển nhiên là một sự chấp nhận Tuy nhiên, nếu sự im lặng là đồng ý được thể hiện trong tập quán giữa các bên và theo như quy định
126 Điều 390 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
127 Khoản 2 Điều 390 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
128 Điều 396 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật Dân
sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007, trang 300
129 Điều 397 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
130 Điều 395 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
131 Điều 394 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
132 Nguyễn Ngọc Lâm, Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế, nhận diện tranh chấp, biện pháp ngăn
ngừa và phương pháp giải quyết, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2010, trang 50-51
Trang 382.1.3 Quyền thỏa thuận hình thức hợp đồng
Quyền thỏa thuận về hình thức hợp đồng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài là một quyền có giới hạn Luật thực chất của Việt Nam không thừa nhận sự thỏa thuận của các bên về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong lĩnh vực thương mại134
Trong khi đó, đối với luật của Pháp, luật Pháp không ràng buộc các bên vào một
hình thức nhất định nào đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Quyền thỏa thuận này được ghi nhận trong Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980) mà Pháp là thành viên Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài có thể được chứng minh bằng bất kỳ biện pháp nào, kể cả thông qua nhân chứng135
2.1.4 Quyền thỏa thuận nội dung của hợp đồng
Nếu như hình thức của hợp đồng là vật chất chứa đựng những thỏa thuận giữa các bên thì những thỏa thuận về nhiều phương diện, thể hiện qua các điều khoản và được gọi chung là nội dung của hợp đồng Quyền thỏa thuận của các bên trong nội dung hợp đồng được thể hiện qua việc các bên được quyền chọn lựa các điều khoản để đưa vào hợp đồng Đồng thời, nội dung của những điều khoản này, trong chừng mực nào đó vẫn thể hiện được ý chí giữa các bên
Khác với Bộ luật dân sự năm 1995136, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 không đề
ra những điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa, mà chỉ đưa ra những điều khoản mang tính chất tham khảo, gợi ý, mà các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng137
133 Điều 398; 399 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
134 Khoản 2 Điều 27 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
135 Điều 11 Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Vienne năm 1980)
136 Điều 401 Bộ luật dân sự 1995 quy định rõ các điều khoản là nội dung chủ yếu của hợp đồng Nếu như thiếu những điều khoản này thì hợp đồng sẽ không thể giao kết được
137 Điều 402 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
Trang 392.1.5 Nghĩa vụ cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng
Để tạo điều kiện cho bên mua hiểu rõ hơn về hàng hóa, đi đến quyết định giao kết hay không hợp đồng mua bán hàng hóa, trong giai đoạn thương lượng đàm phán hợp đồng, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005141, Luật thương mại 2005142 quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết về hàng hóa và hướng dẫn sử dụng hàng hóa của bên bán đối với bên mua Nghĩa vụ này có thể phát sinh trong bất kỳ giai đoạn nào suốt từ quá trình thương lượng, giao kết hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như có thể phát sinh sau khi hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài đã được hoàn thành, hàng hóa đã thuộc quyền sở hữu của bên mua, khi người mua thể hiện quyền yêu cầu
Tương ứng với quyền của bên mua, nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn sử dụng trong luật Việt Nam ở giai đoạn thương lượng giao kết hợp đồng thuộc về bên bán143 Tuy nhiên, việc cung cấp đầy đủ thông tin về hàng hóa, tính năng và cách thức sử dụng cũng nên được xem là quyền của bên bán Vì trong giai đoạn thương lượng hợp đồng, việc nhận được càng nhiều thông tin về hàng hóa càng có ảnh hưởng tích cực đến quyết định giao kết hợp đồng của bên mua Bằng việc cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng, bên bán có thể tranh thủ được tối đa ưu thế cho mình trong thương lượng hợp đồng Quyền được cung cấp thông tin và được bảo đảm về tính chính xác của thông tin cũng được xem là quyền lợi chính đáng của người mua ngay từ giai đoạn tiền hợp đồng trong luật của Pháp và quyền này được đảm bảo bởi nghĩa vụ tương ứng và trách nhiệm
138 Paul-Henri Antonmttei, Jacques Raynard, Droit Civil- Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.79
139 Paul-Henri Antonmttei, Jacques Raynard, Droit Civil- Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.92
140 Tuy nhiên, xét về cam kết giá, cam kết này vẫn có thể bị phá hủy bởi sự biến động của cạnh tranh và chính sách
thuế, Paul-Henri Antonmttei, Jacques Raynard, Droit Civil- Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, p.91
141 Điều 442 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
142 Khoản 1 Điều 14 Luật thương mại 2005
143 Điều 442 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005; Khoản 1 Điều 14 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
Trang 40
của bên bán về những thông tin do mình cung cấp144 Bộ luật dân sự Pháp ghi nhận việc cung cấp thông tin như một trong những nghĩa vụ đầu tiên của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa Theo đó, việc cung cấp thông tin sai lệch của về hàng hóa sẽ có giá trị chống lại bên bán145 Nghĩa vụ này cần được thực hiện ít nhất là trong quá trình thương lượng hợp đồng Cụ thể, trước khi bán, bên bán có nghĩa vụ phải giải thích những thông tin liên quan về đối tượng của hợp đồng đang được hướng tới146
2.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
2.2.1 Vai trò của nguyên tắc thực hiện hợp đồng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Sau khi được giao kết, hợp đồng trở thành luật, có giá trị ràng buộc với các bên trong hợp đồng và phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba Chính vì vậy, nếu như các bên không thỏa thuận đầy đủ những nội dung cần thiết thì “luật” này sẽ không phát huy được vai trò như mong muốn Trong những tình huống phát sinh mà không được điều chỉnh bởi những điều khoản trong hợp đồng, vai trò của những nguyên tắc thực hiện hợp đồng trở nên quan trọng đối với các bên
Trước hết, hợp đồng phải được thực hiện đúng147 Việc ít nhất một trong các bên không chấp hành nghĩa vụ trong hợp đồng được xem là vi phạm hợp đồng và là căn cứ cho trách nhiệm từ hợp đồng phát sinh
Nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa148, việc thực hiện hợp đồng phải trên tinh thần trung thực, hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm sự tin cậy giữa các bên trong hợp đồng149; đồng thời vẫn đảm bảo được sự tự do
tự nguyện150 Bên cạnh đó, để lợi ích của mình được đảm bảo, các bên trong hợp đồng cần phải tôn trọng quyền lợi của bên kia và giúp đỡ nhau hoàn thành nghĩa vụ151
144 Paul-Henri Antonmttei, Jacques Raynard, Droit Civil- Contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, page
159-160
145 Điều 1602 Bộ luật dân sự Pháp
146 Paul-Henri Antonmttei, Jacques Raynard, Droit civil- contrats spéciaux, deuxième édition, Litec, 2000, page 146
147 Khoản 1 Điều 412 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
148 Điều 10 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
149 Khoản 2 Điều 412 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
150 Điều 11 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
151Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập 2, phần III: Nghĩa vụ dân sự và
hợp đồng dân sự, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang 250