1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp

62 531 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 417 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, Luật Phá sản 2014 đã đưa ra một khoảng thời hạn “03 tháng” đểdoanh nghiệp, hợp tác xã khi không có khả năng thanh toán có thể tìm các phương án khác để thanh toán nợ đến hạn trư

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU -  -

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh các nền kinh tế trên thế giới ngày càng hội nhập mạnh mẽ, thúcđẩy sự phát triển thương mại và đầu tư quốc tế, pháp luật về phá sản doanh nghiệpngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự an toàn của các nhà đầu tưtrong và ngoài nước, góp phần đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của mỗi quốc gia

Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới và hội nhập quốc tế, chính sách phápluật về doanh nghiệp có những điều chỉnh phù hợp với những thay đổi của môitrường kinh tế trong và ngoài nước Trong đó, pháp luật về phá sản doanh nghiệpdần dần được xây dựng và hoàn thiện theo định hướng thị trường có sự quản lý củaNhà nước Có thể khẳng định rằng, khung pháp lý cơ bản về phá sản doanh nghiệp

đã hình thành tương đối đồng bộ, góp phần kiểm soát, quản trị ảnh hưởng tích cựccũng như tiêu cực của loại quan hệ pháp luật này trong đời sống kinh tế cũng nhưđời sống xã hội

Tuy nhiên, sự khủng hoảng tài chính toàn cầu, khu vực và những khó khăntrong quá trình điều hành kinh tế vĩ mô của nước ta trong thời gian gần đây đã đòihỏi phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, đặc biệt

là các vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp tại ViệtNam phù hợp với tình hình mới

Góp phần vào việc tìm hiểu, một phần mang tầm quan trọng như đã nêu trên,

trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp người viết sẽ tìm hiểu về “Một số vấn đề pháp

lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp”.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản

về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp Tổng kết, phân tích, đánh giáthực trạng việc áp dụng pháp luật phá sản năm 2004, để từ đó tìm hiểu những điểmmới của luật phá sản năm 2014

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu nói trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thểsau:

- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về phá sản doanhnghiệp;

Trang 2

- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ chủ nợ trongthủ tục phá sản doanh nghiệp hiện nay cũng như nêu ra những thực tế trong việc ápdụng quy định của pháp luật về vấn đề này;

- So sánh một số điểm mới của phá sản năm 2014 với luật phá sản năm 2004

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Đánh giá về pháp luật phásản doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, phương phápphân tích luật viết để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành, phương phápphân tích đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phásản doanh nghiệp Phương pháp tổng hợp nhằm nhìn nhận vấn đề một cách toàndiện Phương pháp so sánh để thấy được những điểm mới so với luật phá sản năm2004

4 Bố cục của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đượckết cấu bởi 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chủ nợ trong pháp luật về phá sản doanhnghiệp

Chương 2: Một số quy định pháp luật về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sảndoanh nghiệp

Chương 3: Một số bất cập trong việc áp dụng các quy định của pháp luật vềbảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản năm 2004 và những điểm mới nổi bật của luậtphá sản năm 2014

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ NỢ TRONG PHÁP LUẬT

VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP1.1 Khái quát chung về phá sản doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm

Hiện tượng phá sản phát sinh từ rất sớm Về phương diện ngôn ngữ, hiện cónhiều thuật ngữ dùng để thể hiện khái niệm về phá sản Trong tiếng La tinh phá sảnđược biểu đạt bằng hai từ: Ruin (sự khánh tận) và Banca Rotta (hình ảnh quầy hàngcủa thương nhân bị thu mất khi phá sản), trong tiếng Anh có các từ như Insolvency,Bankruptcy, trong tiếng Pháp là Baqueroute Còn trong từ điển tiếng Việt, phá sản

là "lâm vào tình trạng khánh kiệt tài sản, bị phá sản, do kinh doanh thua lỗ"1 Mặc dù

có sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ để chỉ khái niệm phá sản nhưng tựuchung lại thì bản chất của vấn đề đều nói về tình trạng không trả được nợ, mất khảnăng thanh toán nợ đến hạn của con nợ

Khái niệm về phá sản là vấn đề cực kỳ quan trọng và bất kỳ luật phá sảnnước nào cũng phải quan tâm hàng đầu để giải quyết Khi bàn về vấn đề này, một sốngười viết đã cho rằng định nghĩa phá sản có lẽ là khó nhất đối với các nhà lậppháp Vì tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà

sự can thiệp của nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay muộn, lập trường củanhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của chủ nợ hay con nợ nhiều hơn2 Để hiểu vànhìn nhận đúng hơn về khái niệm phá sản, chúng ta phải xem xét khái niệm này ởnhiều bình diện và góc độ khác nhau

Dưới góc độ kinh tế, phá sản theo nghĩa rộng đề cập đến thất bại kinh tế

mang tính quyết định của con nợ Ở Anh và Đức trước đây mục tiêu chủ yếu củaluật phá sản đã hướng vào chủ nợ mà chống lại việc tổ chức lại Do có nhiều phêphán nên luật phá sản của Anh năm 1986 và Đức năm 1994 đã được sửa đổi theohướng tăng cường khả năng tổ chức lại và nâng cao khả năng tồn tại của nhữngdoanh nghiệp bị lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính Ngược lại ở Mỹ, Pháp vàNhật Bản luật phá sản lại bị phê phán vì mục tiêu chủ yếu hướng vào con nợ, quánghiêng về biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp mà chèn ép quyền lợi của các chủ

1 Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, 1999.

2

Nguyễn Thái Phúc, Luật phá sản 2004 – Những tiến bộ và hạn chế, Tạp chí khoa học pháp lý, số 6

(31)/2005, tr 38.

Trang 4

nợ Luật phá sản sửa đổi ở Mỹ, Pháp năm 1994 và Luật phục hồi dân sự của NhậtBản năm 1999 đã có một số quy định nhằm tăng cường vị trí của chủ nợ Tuy nhiên,hai xu hướng này của luật phá sản ngày càng xích lại gần nhau.

Xu hướng chung, pháp luật phá sản trên thế giới ngày nay bên cạnh việcquan tâm đến bảo vệ quyền lợi chủ nợ còn chú ý tới việc phục hồi hoạt động sảnxuất kinh doanh cho con nợ Luật phá sản không đồng nghĩa với doanh nghiệp vàphát mại sản nghiệp của người mắc nợ mà còn trở thành công cụ tái tổ chức kinhdoanh

Dưới góc độ tài chính, phá sản là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến

hạn của chủ thể kinh doanh Tình trạng mất khả năng thanh toán được biểu hiện ởhai trường hợp Với khái niệm này thì sẽ đi theo một chiều là phá sản sẽ là lâm vàotình trạng phá sản, còn doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì cókhả năng doanh nghiệp sẽ không phá sản Và thuật ngữ lâm vào tình trạng phá sảndưới góc độ tài chính sẽ được hiểu trong hai trường hợp sau đây:

Thứ nhất, khi chủ thể kinh doanh không trả được nợ đến hạn, không thực hiện

được nghĩa vụ tài sản – trả tiền Đây chỉ là sự phá sản thực tế, là một biểu hiện bênngoài về tình hình tài chính không lành mạnh của doanh nghiệp Con nợ có thể cónhững khó khăn tạm thời do thiếu tiền mặt như chưa bán được hàng, chưa thu đượctiền hàng hoặc không đủ các tài sản có khả năng thanh toán nhanh, hoặc do doanhnghiệp đầu tư quá lớn vào máy móc thiết bị, bất động sản Khi cân đối giữa tổngtài sản của con nợ với các khoản nợ thì giá trị trong tổng tài sản lớn hơn giá trị cáckhoản nợ Do vậy, nếu có thời gian hoặc nếu áp dụng các biện pháp tài chính cầnthiết thì con nợ có thể vượt qua khó khăn tài chính đó và khôi phục lại được khảnăng thanh toán của mình3

Thứ hai, là trường hợp cân đối giữa tổng giá trị tài sản và tổng giá trị các

khoản nợ, con nợ có số nợ phải trả vượt quá tổng giá trị tài sản Trong trường hợpnày thì tình trạng mất khả năng thanh toán có tính chất tuyệt đối, không còn khảnăng cứu vãn Nếu có cho thêm thời gian hoặc áp dụng các biện pháp tài chính cầnthiết như tìm nguồn tín dụng mới, tìm người bảo lãnh nợ mới thì cũng không khắcphục được tình trạng này và tiếp tục rơi vào tình trạng nợ nần mới4

3 Dương Đăng Huệ - Nguyễn Thanh Tịnh, Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường

pháp luật kinh doanh tại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr15.

4

Dương Đăng Huệ - Nguyễn Thanh Tịnh, Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường

pháp luật kinh doanh tại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr20.

Trang 5

Dưới góc độ pháp lý, Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất

khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản Từ việctìm hiểu tình trạng lâm vào tình trạng phá sản để có một góc nhìn chính xác hơn về

khái niệm Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 định nghĩa rằng “Doanh nghiệp,

hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”

Khác với luật Phá sản năm 2004 chỉ quy định chung chung “Doanh nghiệp,

hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ

nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”.

Như vậy, Luật Phá sản 2014 đã đưa ra một khoảng thời hạn “03 tháng” đểdoanh nghiệp, hợp tác xã khi không có khả năng thanh toán có thể tìm các phương

án khác để thanh toán nợ đến hạn trước khi bị coi là lâm vào tình trạng phá sản.Quy định này phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của một số nước khi cho phép con

nợ có thời hạn trễ hạn thanh toán sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ, đồng thời khắcphục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ

nợ như quy định cũ Từ quy định này, luật cho phép các chủ thể có quyền nộp đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày khoản nợ đến hạn

mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thanh lý tài sản,các khoản nợ Như vậy, phá sản là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạncủa con nợ và thẩm phán sẽ quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản

1.1.2 Phân loại phá sản

Phân loại phá sản có vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết phá sản

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ, việc phân loại thể hiện rõ thái độcủa nhà nước đối với doanh nghiệp phá sản Có nhiều cách phân loại phá sản dựavào các căn cứ khác nhau, cụ thể như sau:

Căn cứ vào đối tượng và phạm vi điều chỉnh của luật phá sản, phá sản được chia thành phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Cách phân chia này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia

Ở nhiều nước trên thế giới không có sự phân chia này mà bất kể doanh nghiệp hay

cá nhân khi lâm vào tình trạng phá sản đều bị xử lý theo luật phá sản Ở TrungQuốc luật phá sản chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước Nước ta luật phá sảnđược áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và hợp tác xã,

Trang 6

còn đối với các cá nhân nếu lâm vào tình trạng phá sản thì được xử lý theo thủ tụctụng dân sự.

Căn cứ vào đối tượng yêu cầu tuyên bố phá sản, phá sản có thể chia ra phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc.

Phá sản tự nguyện là phá sản do chính con nợ yêu cầu khi thấy mình lâm vàotình trạng phá sản Tuy nhiên không phải bất kỳ con nợ nào nộp đơn xin phá sản thìđương nhiên phá sản mà phụ thuộc vào sự xem xét của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Quy định như vậy nhằm tránh việc con nợ lợi dụng thủ tục phá sản để chiếmđoạt tài sản của chủ nợ Ở Việt Nam việc phân định phá sản tự nguyện và phá sảnbắt buộc được phân biệt trong các trường hợp khác nhau giữa quyền hoặc nghĩa vụnộp đơn Nếu gọi là tự nguyện tất nhiên điều này phải xuất phát từ ý chí của con nợ,việc luật không bắt buộc họ mà chỉ khuyến khích, điều này được nhìn nhận ở LuậtPhá sản năm 2014 với quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanhnghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán (Điều 28) Chủ doanh nghiệp hoặc đạidiện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn ba tháng kể từ khi nhậnthấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nếu không nộp đơn yêucầu mở thủ tục phá sản thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Tuynhiên, xét ở một khía cạnh khác, các cổ đông hoặc nhóm cổ đông của công ty cổphần, thành viên hợp tác xã hoặc hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã,Luật Phá sản năm 2014 quy định họ được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phásản, như vậy việc quy định theo hướng mở như trên vừa đảm bảo được quyền cũngnhư quy định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của con nợ

Phá sản bắt buộc là phá sản được thực hiện theo yêu cầu của chủ nợ hoặc củađại diện chủ sở hữu một số loại hình doanh nghiệp

Việc phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng khi xây dựng hồ sơ và việc lựachọn thủ tục phá sản của thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản Khi con nợ

tự nguyện nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản vào thời điểm chưa quá muộn sẽ làmột khởi đầu thuận lợi để việc áp dụng thủ tục phục hồi có kết quả Do đó, phápluật của các nước đều dành cho con nợ quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản.Bởi hơn ai hết, con nợ là người biết rất rõ về tình trạng tài chính và tình hình sảnxuất kinh doanh của mình Nhưng trên thực tế không phải con nợ nào cũng dễ dàng

ý thức được việc làm này mà thường tìm cách né tránh việc yêu cầu giải quyết phásản Bởi họ có một tâm lý chung cho rằng doanh nghiệp của mình bị phá sản là nỗi

ô nhục lớn, ảnh hưởng đến uy tín thanh danh của họ Do đó, họ thường hy vọng với

Trang 7

quan niệm ”còn nước còn tát”, một ngày nào đó sẽ khôi phục lại được doanhnghiệp Đặc biệt ở Việt Nam số lượng đơn tự nguyện yêu cầu giải quyết phá sản rất

ít, không phản ánh đúng tình trạng tài chính của các doanh nghiệp Nhất là đối vớinhững doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ nhưng những nhà quản lý điều hànhdoanh nghiệp vẫn tìm mọi cách duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp do lo sợ bị mất

đi chức danh, vị trí lãnh đạo của mình Hiện nay, xu hướng chung của pháp luật phásản thế giới là tạo điều kiện để khuyến khích doanh nghiệp nộp đơn phá sản nên tựnguyện đang dần trở nên phổ biến

Căn cứ vào tính chất của sự phá sản thì phá sản được chia thành phá sản trung thực và phá sản gian dối.

Phá sản trung thực là sự phá sản do những nguyên nhân có thực gây ra Nhữngnguyên nhân này có thể là do chủ quan cũng có thể là do khách quan mang lại.Nguyên nhân chủ quan có thể là:

Sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của người kinhdoanh;

Do những rủi ro từ những biến động trên thương trường như sự biến động tỷgiá hối đoái, lãi suất, vấn đề lạm phát gây ra sự biến động giá cả hàng hóa Ngườikinh doanh không có khả năng thích ứng với những biến động trên thương trường

đó, không nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng sẽ dẫntới thua lỗ;

Sự liều lĩnh, mạo hiểm của người kinh doanh khi chưa cân nhắc và tính toán

kỹ kế hoạch kinh doanh

Nguyên nhân khách quan có thể là:

Những rủi ro từ thiên tai, địch họa, chiến tranh và các cuộc khủng hoảng tàichính;

Những rủi ro xuất phát từ sự thay đổi chính sách pháp luật của nhà nước Đặcbiệt là chính sách pháp luật về kinh tế của một quốc gia quyết định quan trọng đếnquá trình kinh doanh Những chính sách phù hợp với các quy luật của nền kinh tếthị trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh phát triển và ngược lại nó

sẽ là những rào cản cho các nhà kinh doanh

Phá sản gian dối là sự phá sản do con nợ sắp đặt trước bằng những thủ đoạngian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của các chủ nợ Ví dụ như để chiếm đoạt tài sản,

Trang 8

con nợ đã gian lận trong khi ký hợp đồng, tẩu tán tài sản, cố tình lạm dụng vốn, cốtình báo cáo sai tài chính của doanh nghiệp, qua đó tạo ra lý do phá sản không đúng

sự thật

Luật phá sản, của Liên bang Nga (Điều 10) còn đưa ra khái niệm phá sản giảtạo và phá sản cố ý Phá sản giả tạo theo luật được hiểu là việc đệ trình đơn về phásản của con nợ lên tòa án trọng tài trong trường hợp không thỏa mãn các điều kiện

để xác định con nợ không có khả năng thanh toán Trong trường hợp này khi xemxét tài sản của con nợ thì vẫn còn để thỏa mãn đầy đủ đòi hỏi của các chủ nợ Cònphá sản cố ý trong trường hợp con nợ bị phá sản do lỗi của những người sáng lập(thành viên) hay của những người quản lý Những người có quyền và trách nhiệmquyết định đối với hoạt động của pháp nhân thông qua hành vi cố ý của nhữngngười này dẫn đến việc phá sản của pháp nhân5

Việc phân loại này có ý nghĩa khi xác định thái độ đối xử của pháp luật đối vớicon nợ, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ Đối với phá sản trungthực, pháp luật chỉ tập trung giải quyết liên quan đến xử lý tài sản Còn đối với phásản gian trá, để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ pháp luật không chỉ giải quyết liênquan đến xử lý tài sản mà còn có thể giải quyết các vấn đề liên quan đến nhân thâncủa chủ doanh nghiệp và có các hình thức xử lý thích đáng kể cả truy cứu tráchnhiệm hình sự6

Căn cứ vào hình thức biểu hiện, phá sản có thể phân biệt thành phá sản thực

Phá sản tuyệt đối: Là tình trạng con nợ thực sự mất khả năng thanh toán nợđến hạn một cách tuyệt đối khi cân đối giữa tài sản của con nợ trong số nợ thì tổng

số nợ lớn hơn tổng tài sản của con nợ trong thời điểm không thanh toán được nợđến hạn

5

Nguyễn Thành Đức, Luật vỡ nợ Liên bang Nga, kỷ yếu đề tài NCKH cấp Bộ: Một số định hướng hoàn thiện

pháp luật phá sản DN, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr50.

6 Nguyễn Thành Đức, Luật vỡ nợ Liên bang Nga, kỷ yếu đề tài NCKH cấp Bộ: Một số định hướng hoàn thiện

pháp luật phá sản DN, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr52.

Trang 9

Việc phân biệt này có vai trò rất quan trọng đối với tòa án trong quá trìnhgiải quyết phá sản Đối với phá sản thực tế, tòa án có thể áp dụng thủ tục phục hồigiúp con nợ có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác phá sảnthực tế sẽ giúp con nợ an tâm để áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết khắcphục tình trạng khó khăn tạm thời này, tránh được sự quấy rầy của các chủ nợ.Đồng thời, nó còn có ý nghĩa khuyến khích con nợ tự nguyện nộp đơn yêu cầutuyên bố phá sản Còn đối với phá sản tuyệt đối tòa án có căn cứ lựa chọn thủ tục ápụng cho phù hợp Nếu xét thấy con nợ không còn khả năng phục hồi tòa án có thểtuyên bố phá sản ngay Áp dụng thủ tục này sẽ đỡ tốn kém về thời gian, công sức,tiền bạc cho chủ nợ, tòa án và các chủ thể có liên quan.

1.1.3 Lịch sử hình thành pháp luật phá sản

Trước năm 1986 đất nước ta thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung,bao cấp, chủ thể kinh tế chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã và do nhànước thành lập, tài sản thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể Các doanh nghiệp,hợp tác xã không có quyền hoặc ít có quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh,mọi hoạt động trong quá trình kinh doanh từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm đềutheo kế hoạch của nhà nước và cũng không có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.Hoạt động doanh nghiệp, hợp tác xã nếu có lãi thì nộp vào ngân sách nhà nước, nếuthua lỗ thì được nhà nước bù lỗ Do vậy hoạt động của các xí nghiệp, doanh nghiệp,hợp tác xã thời kỳ này thường kém hiệu quả, lãi giả, lỗ thật, nợ nần chồng chất nhànước phải luôn giúp đỡ các doanh nghiệp bằng cách khoanh nợ, giãn nợ, hoãn nợ,xoá nợ hoặc dùng các giải pháp mang tính chất hành chính như sáp nhập, giải thể đểchấm dứt hoạt động của doanh nghiệp Như vậy cùng với nền kinh tế tự cấp tự túckhông có hoạt động thương mại nên không có phá sản thì hoạt động của doanhnghiệp quốc doanh, hợp tác xã trong nền kinh tế tập trung, bao cấp không thể bị mấtkhả năng thanh toán và do đó không có hiện tượng phá sản Không có hiện tượngphá sản nên không có pháp luật, luật về phá sản Tuy nhiên nếu đặt vấn đề phá sản

và pháp luật phá sản ở Việt Nam thời kỳ đó và trước năm 1945 ta thấy có một sốvấn đề sau:

Pháp luật phá sản đã có và được biết đến ở Việt Nam trước năm 1945 là mộtluật được đưa ra trong thời kỳ luật thuộc địa của Pháp, nhưng luật này phần lớnđược áp dụng ở miền Nam và ít được áp dụng (theo khảo sát và đánh giá của Vănphòng Hội đồng tư vấn chung - Ngân hàng phát triển châu á)

Trang 10

Pháp luật phá sản đã được xây dựng và thực hiện ở miền Nam dưới chế độViệt Nam cộng hoà (Nguỵ, Sài Gòn, Chính phủ do Mỹ lập nên và bảo trợ) Tuynhiên nó được coi như là một bộ phận của Luật thương mại năm 1972.

Ở miền Bắc nước ta từ 1945 - 1975 và cả nước từ 1975 - 1985 vì là nền kinh

tế thời chiến, thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp nên không có hiệntượng phá sản và không có pháp luật về phá sản

Bước vào sự nghiệp đổi mới đất nước kể từ Đại hội 6 của Đảng (năm 1986),nước ta thừa nhận nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế và hình thức sởhữu, tăng trách nhiệm và tính chủ động cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, thực hiện

tự chủ, tự hạch toán và tự chịu trách nhiệm do đó đã tạo ra sự năng động của nềnkinh tế, dần dần đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội Tuy nhiên giaiđoạn 1986 - 1992 là giai đoạn kinh tế thị trường sơ khai, nhiều vấn đề chúng ta vừalàm, vừa thử nghiệm rút kinh nghiệm do đó một số vấn đề về thể chế, chính sách,pháp luật chưa được đầy đủ, hoàn thiện

Xuất phát từ lý luận cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu của hệthống pháp luật; tính chất của các quan hệ kinh tế, của cơ chế kinh tế quyết địnhtính chất của các quan hệ pháp luật, mức độ và phương pháp điều chỉnh pháp luật

Ta thấy sự khác biệt của pháp luật kinh tế thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mớicũng như thấy được tính tất yếu khách quan của hiện tượng phá sản và pháp luậtphá sản trong nền kinh tế thị trường

Từ năm 1986 đến trước khi Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 ra đời,pháp luật nước ta chưa có quy định về phá sản (như đã trình bày ở trên) do vậy việc

xử lý những doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản gặp rất nhiều khó khăn, mặc

dù nhà nước có ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật như: Quyết định 315 HĐBT ngày 01/9/1990, Quyết định 330-HĐBT ngày 23/10/1991 của Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng; Nghị định 388-HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng

-về việc giải thể các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc doanh Theo đó việctiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp thuộc thẩm quyền của trọng tài kinh tế nhànước Tuy vậy khi thực hiện việc giải thể đã nảy sinh những hiện tượng tiêu cựcnhư: doanh nghiệp tìm mọi cách xoá nợ để lẩn tránh trách nhiệm, gây tổn hạinghiêm trọng đến lợi ích của nhà nước và các chủ thể khác tham gia thủ tục giải thểdoanh nghiệp (tất nhiên là có chủ thể được lợi) Mặt khác trong khu vực kinh tếngoài quốc doanh chưa có các quy định của pháp luật về phá sản điều chỉnh nênnhiều doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản bị xử lý theo nhiều cách khác

Trang 11

nhau thậm chí có trường hợp cac bên tự xử lý lẫn nhau làm mất trật tự an toàn xãhội, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các bên, các doanh nghiệp làm tổn hại đến hoạtđộng kinh tế chung của đất nước Điều này cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc, phápchế của pháp luật XHCN Làm nảy sinh tình trạng vô chính phủ trong xử lý phá sảncủa các doanh nghiệp Thực trạng của các doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốcdoanh, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản như "chết mà không được chôn" vậy.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, ngày 30/12/1993 tại hỳ họp thứ IV Quốchội khoá IX Việt Nam đã ban hành Luật phá sản doanh nghiệp và có hiệu lực thihành kể từ ngày 01/7/1994 Đạo luật này ra đời có ý nghĩa hết sức to lớn trong việcthúc đẩy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời cũng bảo đảm đượctrật tự, kỷ cương xã hội trong những năm đầu của tiến trình đổi mới đất nước

Tuy nhiên với sự phát triển của nền kinh tế thị trường qua hơn 10 năm thựchiện, Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập

và không còn phù hợp, đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế, xã hội trongnước cũng như xu thế mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Đòi hỏi phápluật phá sản phải tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng được yêucầu trong thời kỳ mới Ngày 15/6/2004, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XI đãthông qua Luật phá sản thay thế Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 và có hiệulực thi hành từ ngày 15/10/2004 Luật phá sản 2004 ra đời có các văn bản dưới luậtnhư Nghị quyết số 03/2005/HĐTP ngày 28/4/2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà ánnhân dân Tối cao được ban hành "Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luậtphá sản"; Nghị định 94/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 của Chính phủ "Hướng dẫn vềgiải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản;Quyết định số 01/2005/QĐ-TANDTC ngày 27/4/2005 của Chánh án Toà án NDTC

về "Quy chế lam việc của tổ chức Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản" Luật Phá sản năm 2004 được ban hành nhằm để xử lý tình trạng doanh nghiệp,hợp tác xã làm ăn thua lỗ trầm trọng, mất khả năng thanh toán, không còn khả nănghoạt động, được chấm dứt tồn tại về mặt pháp lý và xử lý hậu quả theo quy địnhpháp luật, tránh tình trạng tẩu tán tài sản hoặc xiết nợ, bảo đảm quyền lợi cho cácchủ nợ, người lao động và những cá nhân, tổ chức có liên quan, quản lý việc phásản diễn ra trong trật tự có sự kiểm soát của Nhà nước Mặt khác, Luật Phá sản cũngnhằm giúp cho doanh nghiệp có phương án phục hồi sản xuất, kinh doanh

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy Luật Phá sản năm 2004 chưa đạt đượchiệu quả như mong muốn Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004

Trang 12

của Tòa án nhân dân tối cao số 04/BC – TANDTC ngày 09 tháng 9 năm 2013 trình

Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì sau 09 năm áp dụng Luật này đã bộc lộ một số hạnchế, tác động tiêu cực đến việc thúc đẩy sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp,hợp tác xã; có những quy định còn mâu thuẫn, chưa tương thích với các văn bảnquy phạm pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp hoặc không còn phùhợp, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau nhưng chưađược hướng dẫn kịp thời; có những quy định chưa đảm bảo được quyền và lợi íchhợp pháp của người yêu cầu mở thủ tục phá sản, chưa tương thích với pháp luậtquốc tế; chưa phù hợp với tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn liền với chuyển đổi

mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp, hợp tác xã dẫn đến hiệu quả áp dụng quy định Luật Phásản vào thực tiễn không cao

Vì vậy, ngày 16/9/2014, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Namkhóa XIII thông qua Luật Phá sản¸ thay thế Luật Phá sản năm 2004, luật này cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2015

1.2 Khái quát chung về chủ nợ trong phá sản doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm chủ nợ

1.2.1.1 Định nghĩa chủ nợ

Theo từ điển tiếng Việt7 thì chủ nợ được hiểu là người cho vay nợ trong quan

hệ với người vay nợ Đây là khái niệm chủ nợ được hiểu theo nghĩa chung Trongquan hệ vay nợ này thì chủ nợ là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào mà có tài sản cho tổchức, cá nhân khác vay đều được gọi là chủ nợ Các khoản nợ ở đây có thể là nợtiêu dùng, nợ kinh doanh

Nhưng trong quan hệ phá sản thì chủ nợ được hiểu theo nghĩa riêng và ởphạm vi hẹp hơn Pháp luật phá sản nước ta được áp dụng đối với doanh nghiệp,

hợp tác xã thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam Khác với một số nước

như Úc, Mỹ, Thái Lan, Singapore pháp luật phá sản được áp dụng cho tất cả cáccon nợ không phân biệt họ là ai (là cá nhân hay pháp nhân, là thương nhân haykhông phải là thương nhân) và tính chất của nợ không trả được là nợ thương mạihay nợ dân sự8 Trong luật phá sản của nhiều nước, chủ nợ được hiểu là các đốitượng (pháp nhân hay thể nhân) có các khoản nợ không được đảm bảo trả đúng hạn,

7 Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, 1999, tr 102.

8

Cải tổ Luật phá sản ở những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi – một khung cảnh của luật so sánh, Viện khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao, Thông tin khoa học xét xử số 2/2003

Trang 13

kể cả chủ nợ có bảo đảm, nhưng chỉ đối với phần nợ vượt quá giá trị vật chất bảođảm đang nằm trong tay mình (tay chủ nợ)9 Còn con nợ trong pháp luật phá sảnnước ta có thể là các doanh nghiệp, hợp tác xã và khoản nợ ở đây là nợ kinh doanh.

Do đó, chủ nợ trong thủ tục phá sản nước ta có thể được hiểu là những cá nhân, tổchức mà các doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ trả tiền

Theo cách hiểu này thì chủ nợ ở đây, ngoài những chủ nợ trong quan hệthương mại còn có các chủ nợ đặc biệt khác như người lao động mà doanh nghiệp

nợ lương, nhà nước mà doanh nghiệp nợ thuế Đây là cách hiểu dùng cho trường

hợp đặc biệt và nghĩa vụ trả tiền ở đây được áp dụng một cách phù hợp nhất.

1.2.1.2 Phân loại chủ nợ

Về nguyên tắc các chủ nợ đều bình đẳng khi tham gia quan hệ phá sản Tuynhiên, mỗi loại chủ nợ có những quyền và nghĩa vụ khác nhau Do vậy, việc phânloại chủ nợ có vai trò rất quan trọng trong thủ tục giải quyết phá sản Nếu phân loạikhông chính xác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các chủ nợ, làm mất đi tínhcông bằng của luật pháp

Vì như Luật vỡ nợ (phá sản) Liên bang Nga thì tất cả các chủ nợ chỉ có "chủ

nợ lựa chọn" mới có quyền yêu cầu tòa án trọng tài công nhận con nợ bị phá sản.Chủ nợ lựa chọn: bao gồm thể nhân hay pháp nhân, Liên bang Nga và các chủ thể làcác cơ quan nhà nước khác Đối với chủ nợ là các cơ quan nhà nước thi được thựchiện theo cơ chế đại diện ủy quyền đệ đơn lên tòa án trọng tài Có hai loại chủ nợkhông được tham gia với chất lượng là "chủ nợ lựa chọn" đó là:

- Các sáng lập viên của pháp nhân là con nợ;

- Các chủ nợ mà con nợ phải có nghĩa vụ thanh toán do xâm phạm đến tínhmạng và sức khỏe

Đối với chủ nợ là thành viên của con nợ thì hoàn toàn bị tước đi quyền đòihỏi bất cứ quyền lợi gì đối với con nợ trong quá trình giải quyết phá sản con nợ; cácchủ nợ này chỉ có quyền đối với tài sản còn lại của chủ nợ, sau khi đã thanh toáncho các chủ nợ khác Đối với các chủ nợ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ củacon nợ thông qua hành vi xâm hại đến tính mạng và sức khỏe thì những đòi hỏi của

họ được ưu tiên công nhận và giải quyết (được thanh toán vào hàng thứ nhất bằng

9

Cải tổ Luật phá sản ở những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi – một khung cảnh của luật so sánh, Viện khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao, Thông tin khoa học xét xử số 2/2003

Trang 14

tài sản của con nợ) và không thuộc diện chủ nợ bị hoãn thanh toán trong trường hợp

áp dụng thủ tục điều hành từ bên ngoài.10

Khác với Luật vỡ nợ (phá sản) Liên bang Nga, luật phá sản nước ta lại chiachủ nợ thành ba loại: Chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợkhông bảo đảm

Thứ nhất: Chủ nợ có bảo đảm là là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêucầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảođảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba

Theo Luật phá sản của nhiều nước thì chủ nợ có bảo đảm được hiểu là chủ

nợ giữ vật cầm cố (hoặc tài sản thế chấp) của doanh nghiệp hoặc (của con nợ) hoặc

có các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của người đi vay (doanh nghiệp) Giátrị tài sản thế chấp ở các nước đều được tính theo giá thị trường Như vậy, luật phásản của các nước đã quy định về tài sản bảo đảm rất cụ thể, rõ ràng nhằm bảo vệquyền lợi của các chủ nợ

Thứ hai: Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyềnyêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đượcbảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trịtài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó Định nghĩa trên quy định rõ từng loại chủ nợhơn so với luật phá sản năm 2004, trong khi luật phá sản năm 2004 chỉ nêu mộtcách chung chung là chủ nợ

Tuy nhiên, định nghĩa như trên của chúng ta lại khác xa với luật phá sản củacác nước trên thế giới Pháp luật phá sản của họ không phân biệt giữa chủ nợ có bảođảm một phần và chủ nợ có bảo đảm mà hầu như chỉ có chủ nợ bảo đảm và chủ nợkhông có bảo đảm

Thứ ba: Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêucầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ khôngđược bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.Nếu như Luật vỡ nợ (phá sản) của Nga dành cho "chủ nợ lựa chọn" quyền ưu

ái nhất thì luật phá sản nước ta cũng dành quyền ưu tiên hơn hẳn cho chủ nợ không

có bảo đảm Luật phá sản nước ta chỉ cho phép chủ nợ có bảo đảm một phần và cácchủ nợ không có bảo đảm mới có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ

10

Nguyễn Thành Đức, Luật vỡ nợ Liên bang Nga, kỷ yếu đề tài NCKH cấp Bộ: Một số định hướng hoàn

thiện pháp luật phá sản DN, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr42

Trang 15

nợ không có bảo đảm mới có quyền biểu quyết tại hội nghị chủ nợ Đặc biệt, để bảo

vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động, luật đã coi người lao động như là một chủ

nợ Khoản 4 Điều 14 Luật phá sản năm 2004 quy định: Sau khi nộp đơn, đại diệncho người lao động hoặc đại diện công đoàn được coi là chủ nợ

So với luật cũ, Luật Phá sản 2014 quy định theo hướng mở rộng phạm vi vàtạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

để đảm bảo quyền lợi của mình Trước đây trong Luật Phá sản 2004, người laođộng phải nộp đơn thông qua đại diện, thì trong luật mới, người lao động có quyền

tự mình nộp đơn mà không cần phải thông qua đại diện

Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nhữngnơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảnkhi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản

nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thựchiện nghĩa vụ thanh toán.11

Đối với công ty cổ phần, Luật Phá sản 2004 quy định cổ đông hoặc nhóm cổđông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng

có quyền nộp đơn, trong Luật Phá sản mới vẫn giữ nguyên quy định này, đồng thờicũng cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thôngtrong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn nếu điều lệ công ty có quyđịnh.12

Trong hội nghị chủ nợ, người lao động cũng có quyền và nghĩa vụ như chủ nợ

"Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền.Trong trường hợp này đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn có quyền,nghĩa vụ như chủ nợ (Khoản 2 Điều 62 Luật phá sản năm 2004 giống như khoản 2Điều 77 Luật phá sản 2014) Về thực chất, đối với doanh nghiệp mắc nợ thì ngườilao động là một chủ nợ đặc biệt và không có bảo đảm Họ chỉ khác với các chủ nợ

là nhà kinh doanh, quan hệ nợ nần không phải là tài sản thông thường mà là giá trịsức lao động Với họ, tiền lương là nguồn sống chính của bản thân gia đình họ.Chính vì thế, pháp luật phá sản đã đối xử rất công bằng và nhân đạo với người laođộng

Bên cạnh đó, luật phá sản nước ta cũng coi người bảo lãnh sau khi đã trả nợthay cho doanh nghiệp mắc nợ cũng có quyền tham gia hội nghị chủ nợ và họ được

11

Khoản 2 Điều 5 Luật phá sản 2014.

12 Khoản 5 Điều 5 Luật phá sản 2014.

Trang 16

coi là chủ nợ không có bảo đảm Khoản 3 Điều 77 Luật phá sản năm 2014 quy địnhkhông khác gì khoản 3 Điều 62 Luật phá sản năm 2004 "Người bảo lãnh sau khi đãtrả nợ thay cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Trong trườnghợp này họ trở thành chủ nợ không có bảo đảm".

1.2.2 Khái quát về quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ

Về quyền, từ điển tiếng Việt định nghĩa "quyền là điều mà pháp luật hoặc xã

hội công nhận cho phép được hưởng, được làm và được đòi hỏi"13 Trong quan hệpháp luật thì quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất địnhđược pháp luật cho phép14 Khả năng ở đây có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữaviệc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc không xử sự như vậy.Quyền chủ thể có những đặc tính sau:

Khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép;Khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành động cản trở nó thựchiện quyền và nghĩa vụ hoặc yêu cầu chúng tôn trọng các nghĩa vụ tương ứng phátsinh từ quyền và nghĩa vụ này;

Khả năng của chủ thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệlợi ích của mình15

Các thuộc tính kể trên của quyền chủ thể là thống nhất, không thể tách rời.Trong quan hệ pháp luật phá sản chủ nợ là một chủ thể pháp lý độc lập với con nợnên quyền của chủ nợ cũng thỏa mãn như những thuộc tính trên Do đó, có thể hiểuquyền của chủ nợ là khả năng của chủ nợ xử sự theo cách thức nhất định được phápluật cho phép tiến hành

Quyền chủ nợ là phạm trù pháp lý có giới hạn Không phải chủ nợ đượcquyền làm tất cả những gì họ muốn mà những quyền đó phải trong khuôn khổ pháp

luật Lênin đã khẳng định "Sống trong một xã hội mà lại thoát khỏi xã hội ấy để

được tự do, đó là điều không thể được"16 Quyền chủ nợ có thể được cụ thể hóa thànhcác quyền cơ bản như sau:

Quyền tự định đoạt đối với các khoản nợ của mình như: chủ nợ có thểthương lượng với con nợ để xóa nợ, giảm nợ, hoãn nợ, giãn nợ,

13 Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, 1999, tr521.

14 http://thuvienphapluat.vn/page/ThuatNguPhapLy.aspx?q=Q*&P=7 , Từ điển Luật học, tr395.

15

Trường Đại học Luật Hà Nội 2004, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Tư Pháp, tr 454

16 Từ điển luật học trang 398

Trang 17

Quyền yêu cầu con nợ thanh toán nợ cho mình đúng thời hạn, yêu cầu con nợchấm dứt hành vi làm hại đến lợi ích chính đáng của mình, tôn trọng các nghĩa vụcam kết trong hợp đồng.

Quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm bảo những lợi ích hợppháp của mình như: quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyền yêu cầu tòa

án ra các quyết định cần thiết nhằm bảo toàn tài sản của con nợ

Về lợi ích hợp pháp, từ điển tiếng Việt có giải thích: "lợi ích là cái có tác

dụng tốt đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, điều có lợi cho tập thể hay một cá nhân "17

Còn theo từ điển triết học "Lợi ích là khái niệm nói lên đặc điểm của cái có ý

nghĩa khách quan, cần thiết cho cá nhân, gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung"18

Theo nghĩa pháp lý, lợi ích hợp pháp là những lợi ích vật chất hoặc tinh thầnphù hợp với quy định của pháp luật Trong quan hệ pháp luật phá sản, các chủ nợđều mong muốn đạt được những lợi ích nhất định Điều mà các chủ nợ mong muốnnhất ở quan hệ này là thu hồi được khoản nợ của mình

Từ những lý luận trên, có thể hiểu lợi ích hợp pháp của chủ nợ như sau: Lợiích hợp pháp của chủ nợ là tất cả những giá trị vật chất hoặc tinh thần phát sinh từquyền của chủ nợ do pháp luật quy định

Đó là những điều có lợi đối với chủ nợ mà pháp luật cho phép họ đượchưởng Lợi ích quan trọng nhất là giá trị của các khoản nợ mà chủ nợ có thể nhậnlại một cách tối đa từ tài sản của chủ thể mắc nợ

Tóm lại, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ là những hành vi, những điều

có lợi cho chủ nợ mà pháp luật cho phép chủ nợ được hưởng Khi quyền của chủ nợđược bảo đảm và thực hiện thì lợi ích của họ cũng đựợc bảo đảm Quyền và lợi ích

là hai phạm trù pháp lý có mối quan hệ mật thiết với nhau Pháp luật phá sản làcông cụ đòi nợ đặc biệt đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ.Pháp luật phá sản là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống pháp luật kinh

tế, đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý nợ và cơ cấu lại con nợ lâm vào tìnhtrạng khó khăn về tài chính Khi một con nợ không thực hiện được việc thanh toáncác khoản nợ thì các chủ nợ có hai phương thức đòi nợ: Đòi nợ bằng biện pháp

17

Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, 1999.

18 Từ điển Triết học, NXB Văn hóa Thông tin, 2010, tr126

Trang 18

thông thường (thương lượng, thỏa thuận hoặc thông qua việc đưa đơn kiện ra tòa ántheo thủ tục giải quyết vụ án dân sự, kinh tế) và đòi nợ bằng một cơ chế đặc biệt(thông qua thủ tục nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ) Tính chấtđặc biệt của thủ tục này thể hiện ở chỗ, để giúp các chủ nợ thu hồi được các món nợcủa mình, Tòa án phải ra quyết định tuyên bố con nợ bị phá sản và tiến hành thủ tụcbán toàn bộ tài sản của con nợ để phân chia cho các chủ nợ Khác với thủ tục đòi nợthông thường, việc thanh toán nợ cho các chủ nợ theo thủ tục phá sản mang tính tậpthể, tất cả các khoản nợ được tòa án phân loại và thực hiện việc thanh toán theo mộtthứ tự nhất định, trên cơ sở đảm bảo công bằng.

Trong thời gian tiến hành thủ tục phá sản, các chủ nợ không được thực hiệnbất kỳ hành vi pháp lý nào khác chống lại con nợ bị mở thủ tục phá sản mà chỉ cóquyền yêu cầu phải chia số tài sản còn lại của con nợ để thu hồi nợ Hay nói cáchkhác, trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, các chủ nợ không thể

xé lẻ đòi nợ riêng cho mình mà tất cả họ đều phải được tập hợp lại thành một chủthể pháp lý gọi là hội nghị chủ nợ Hội nghị chủ nợ đại diện cho tất cả chủ nợ thamgia giải quyết việc phá sản để bảo vệ lợi ích cho họ Toàn bộ tài sản của con nợđược đưa vào một quỹ chung để trả cho các yêu cầu thanh toán của chủ nợ theo mộtthứ tự ưu tiên nhất định Nếu tài sản của con nợ không đủ thanh toán tất cả cáckhoản nợ thì các chủ nợ được thanh toán theo tỷ lệ giữa khoản nợ mà con nợ phásản còn thiếu với số tài sản còn lại của chủ nợ

Pháp luật phá sản các nước đều coi trọng vai trò của các chủ nợ trong quátrình tiến hành thủ tục phá sản, có hiệu quả hay không thể hiện ở việc bảo vệ đượclợi ích của chủ nợ Hơn ai hết, việc quyết định thanh lý con nợ hay cho phép con nợđược tiến hành phục hồi cần phải dựa trên tiêu chí khả năng thu hồi nợ tối đa chocác chủ nợ và phải có ý kiến của các chủ nợ Pháp luật các nước đều có quy địnhhội nghị chủ nợ là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí của các chủ nợ, có quyềnquyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến chủ nợ cũng như việc giải quyếtphá sản Hội nghị chủ nợ thường do tòa án hoặc người quản lý tài sản triệu tập vàchủ trì, có sự tham gia của tất cả các chủ nợ Bên cạnh đó, pháp luật phá sản củamột số nước còn quy định một cơ quan khác đại diện cho chủ nợ là ủy ban chủ nợ(hội đồng chủ nợ) gồm một số chủ nợ lớn hoặc chủ nợ được bầu là cơ quan đại diệnthường trực của hội nghị chủ nợ19

19 Viện khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao, Thông tin khoa học xét xử số 2/2003, tr25.

Trang 19

Về cơ bản, địa vị pháp lý của các chủ nợ trong pháp luật phá sản các nướckhông có sự khác biệt lớn Trong quá trình tố tụng phá sản, các chủ nợ tham gia vàohầu hết các giai đoạn từ khởi kiện đến thi hành tuyên bố phá sản con nợ nhằm gópphần vào hoạt động xét xử, bảo vệ lợi ích của các chủ nợ một cách tốt nhất Chủ nợ

có quyền tham gia ý kiến trước khi người quản lý tài sản quyết định những vấn đề

có liên quan đến tài sản của con nợ, có quyền đệ trình kế hoạch tổ chức lại hoạtđộng của con nợ20

Pháp luật phá sản của Việt Nam được xây dựng và hình thành trong điềukiện nước ta chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế, việc phá sản và giải quyết phá sảnhầu như chưa xảy ra Do đó, nhiều quy định của pháp luật về phá sản đã bộc lộnhững điểm yếu, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết đặt ra, đòihỏi phải được sửa đổi, bổ sung Chính vì vậy, Luật Phá sản năm 2014 ra đời trên cơ

sở kế thừa quy định của Luật phá năm 2004, đã hoàn thiện thêm một bước các quy

định về phạm vi áp dụng của luật phá sản, định nghĩa rõ ràng tình trạng “Doanh

nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” và thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, về các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, thay thế chế định tổ quản lý, thanh lý tài sản bằng một chế định hoàn toàn mới là Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, kéo dài thời gian quy định về giao dịch bị coi là vô hiệu đối với DN, HTX mất khả năng thanh toán.

Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng loại chủ nợ mà có những quyền, nghĩa vụ khác nhau

Đó là các nhóm chủ nợ:

Nhóm 1: Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêucầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ khôngđược bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba Nhóm 2: Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyềnyêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đượcbảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trịtài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó Đối với nhóm chủ nợ này thì pháp luật phásản quy định cho họ thẩm quyền khá rộng rãi, có quyền quyết định những vấn đềquan trọng ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ

Nhóm 3: Chủ nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầudoanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảođảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba So với chủ

20 Viện khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao, Thông tin khoa học xét xử số 2/2003, tr55.

Trang 20

nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần thì nhóm chủ nợ này bị hạn chếmột số quyền nhất định như không có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,không có quyền biểu quyết thông qua nghị quyết hội nghị chủ nợ thông qua phương

án phục hồi hoạt động kinh doanh Quy định này của pháp luật Việt Nam xuấtphát từ quan điểm cho rằng: đối với chủ nợ có bảo đảm thì lợi ích của họ đã đượcbảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố của doanh nghiệp hay của người thứ ba Vìvậy, việc doanh nghiệp có bị tuyên bố phá sản hay không thì lợi ích của họ cũngkhông bị thiệt hại

1.3 Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong thủ tục phá sản

Để ổn định nền kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanhnghiệp, tổ chức, cá nhân, Việt Nam cũng như đa số các nước khác đều quan tâmđến xây dựng chế định pháp luật về phá sản với mục tiêu hạn chế thấp nhất nhữnghậu quả do phá sản gây ra

Trong thời đại ngày nay, với sự đề cao nhân quyền, dân chủ, tự do, bìnhđẳng, pháp luật phá sản hiện đại đã có cách nhìn và xử sự khoan dung hơn đối vớinhững người bị lâm vào tình trạng phá sản Nó trái ngược với thời trung cổ, trungđại và nơi không có pháp luật, ở đó pháp luật phá sản đều mang nặng tính trừngphạt nặng nề Khi không trả được nợ không chỉ tài sản của con nợ bị đưa ra thanh lýngay mà thân nhân của họ cũng phải chịu những chế tài hình sự nghiêm khắc hoặcchịu sự hành xử theo "luật rừng"

Hoạt động kinh doanh là một lĩnh vực đầy khó khăn và rủi ro, mặt khác hậuquả của phá sản rất lớn Thực tế người tự sát, phát điên, bỏ đi biệt tích do phá sảnkhá phổ biến trong xã hội ở nhiều quốc gia, và ở cả Việt Nam, người kinh doanhkém may mắn, thất thế cần phải được bảo vệ Do đó, pháp luật phá sản không chỉbảo vệ lợi ích cho chủ nợ mà còn quan tâm bảo vệ lợi ích của cả con nợ

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CHỦ NỢ TRONG THỦ

TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

Trang 21

Thủ tục phá sản là con đường cuối cùng mà các chủ nợ bắt buộc phải đi để đòiđược các món nợ của mình Pháp luật phá sản Việt Nam đã thể hiện rất rõ sự quantâm của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Kếthừa những tư tưởng tiến bộ của pháp luật phá sản thế giới và các quy định trướcđây, pháp luật về phá sản và doanh nghiệp hiện tại đã tạo cơ sở pháp lý vững chắccho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Điều này, trước tiênđược thể hiện qua hàng loạt các quy định pháp luật liên quan đến quyền năng củachủ nợ Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật về phá sản doanh nghiệp cũnggặp nhiều vướng mắc, một phần do quy định pháp luật, mặt khác do nhận thứcpháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế Do đó cần phải có nhữngphương hướng và bước đi phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật vềphá sản và doanh nghiệp nhằm bảo vệ tối đa và hài hòa lợi ích của các bên có liênquan trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ.

2.1 Các nguyên tắc cơ bản đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản

Để đảm bảo tốt quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, pháp luật về phá sảnkhông chỉ chú ý tới quyền lợi riêng của các chủ nợ mà còn phải xét chúng trong mốiquan hệ với lợi ích chung của xã hội và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liênquan Bởi xã hội là một tổng thể các quan hệ phức tạp, đa dạng, đan xen và ảnhhưởng lẫn nhau Do đó, các quy định pháp luật phá sản phải được đặt trong tínhthống nhất và đồng bộ của cả hệ thống pháp luật, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn.Quyền tự định đoạt của chủ nợ trong luật phá sản phải dựa trên cơ sở tôn trọng cáclợi ích mà các quy phạm pháp luật khác cho phép chủ thể có liên quan được hưởng.Nói như vậy có nghĩa là các quy định về việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa chủ nợ trong thủ tục phá sản phải rõ ràng, hợp lý và tuân theo các nguyên tắcnhất định

Các nguyên tắc cơ bản đó sẽ là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt cho quá trìnhxây dựng, ban hành, hoàn thiện và áp dụng luật vào thực tiễn cuộc sống Địnhhướng đúng các nguyên tắc cơ bản tạo điều kiện cho các chủ nợ thu hồi được cáckhoản nợ một cách hiệu quả, nhanh chóng, trên tinh thần nhân đạo, công bằng củapháp luật

2.1.1 Nguyên tắc pháp chế

Pháp luật là công cụ quan trọng nhất để nhà nước quản lý xã hội Nguyên tắcpháp chế là nguyên tắc cơ bản nhất của quá trình điều chỉnh pháp luật Trong đó,

Trang 22

mọi chủ thể pháp luật đều phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật Thựchiện tốt nguyên tắc pháp chế là có cơ sở đảm bảo công bằng xã hội và bình đẳnggiữa các chủ thể pháp luật Trong quá trình giải quyết phá sản đảm bảo nguyên tắcpháp chế còn là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ.

Pháp luật phá sản phải quy định chặt chẽ các bước trong trình tự giải quyếtphá sản doanh nghiệp Thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ đặc biệt không chỉ xét

về quy mô, về tính chất mà còn về cả thành phần chủ thể tham gia Do đó, luật phảiquy định về các chủ thể đó có quyền, nghĩa vụ như thế nào, được làm gì, phải làm

gì, mối quan hệ giữa họ với nhau ra sao để tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫnhoặc bỏ sót công việc

Thẩm phán phụ trách, chấp hành viên, người quản lý tài sản cũng phải chấphành đúng pháp luật và chịu trách nhiệm về hành vi của mình Mọi hành vi vi phạmpháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tùy mức độ nặng nhẹ mà áp dụng cáchình thức xử lý khác nhau Đặc biệt, pháp luật phải có các chế tài nghiêm khắc đểhạn chế sự lạm quyền, trốn tránh nghĩa vụ của các chủ thể công quyền làm ảnhhưởng đến quyền và lợi ích của các chủ nợ, con nợ, của nhà nước và toàn xã hội Đểbảo vệ lợi ích của các chủ nợ, pháp luật nên hạn chế tối đa sự tham gia của các cơquan công quyền vào quá trình tham gia giải quyết phá sản mà tăng cường sự tựđịnh đoạt của các chủ nợ

Các chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ cung cấp các giấy tờ, sổsách cần thiết theo yêu cầu của tòa án Những người này phải chịu trách nhiệmtrước pháp luật về tính xác thực của các tài liệu mà mình cung cấp

Như vậy, các chủ thể tham gia trong thủ tục phá sản đều phải nghiêm chỉnhchấp hành đúng quy định của pháp luật Nguyên tắc pháp chế sẽ bảo đảm được tối

ưu quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ cũng như các chủ thể có liên quan, đảmbảo trật tự kỷ cương của nhà nước và xã hội

2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ nợ

Mục đích quan trọng của luật phá sản là bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ Đểđảm bảo tốt được quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì điều kiện quan trọng là pháp

luật phá sản phải đảm bảo được tính công bằng Xuất phát từ nguyên tắc ''mọi công

dân đều bình đẳng trước pháp luật'' 21, nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ nợ là mộttrong những nguyên tắc cơ bản trong thủ tục phá sản Mỗi chủ nợ tham gia quan hệ

21 Điều 52 Hiến pháp năm 1992

Trang 23

pháp luật phá sản có quyền đòi hỏi được đối xử như nhau không phân biệt nó làthành phần kinh tế tư nhân hay là thành phần kinh tế quốc doanh, có số nợ ít hay số

nợ nhiều, tình trạng tài sản ra sao và bất luận là nhà nước hay là những thương nhânbình thường

Đối với phá sản luật pháp nước ta không thừa nhận bất kỳ sự đặc quyền, đặclợi của bất kỳ đối tượng, tầng lớp nào Các chủ nợ đều bình đẳng về quyền đòi nợ

và cung cấp giấy tờ tài liệu liên quan đến khoản nợ của mình Họ đều có quyềnkhiếu nại đối với các quyết định của tòa án, tổ quản lý thanh toán tài sản Tại hộinghị chủ nợ, các chủ nợ đều có quyền tham gia thảo luận các phương án, giải pháp

tổ chức, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ Do đặc điểm khó thu hồi

nợ nên các chủ nợ không có bảo đảm có quyền bình đẳng trong việc biểu quyết,thông qua phương án hòa giải, các giải pháp tổ chức kinh doanh hoặc phân chia giátrị tài sản của doanh nghiệp mắc nợ

Khác với thủ tục đòi nợ thông thường, việc thanh toán nợ cho các chủ nợtheo thủ tục phá sản mang tính tập thể, tất cả các khoản nợ được thanh toán trên cơ

sở đảm bảo công bằng Các chủ nợ không thể đòi nợ riêng cho mình mà tất cả họđều phải được tập hợp lại thành một tập thể pháp lý gọi là hội nghị chủ nợ22 Hộinghị chủ nợ đại diện cho tất cả chủ nợ tham gia giải quyết việc phá sản để bảo vệ lợiích cho họ Toàn bộ tài sản của con nợ được đặt vào một quỹ chung, dùng để trảcho các yêu cầu thanh toán của chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định Nếu tàisản của con nợ không đủ thanh toán tất cả các khoản nợ thì các chủ nợ được thanhtoán theo tỷ lệ giữa các khoản nợ mà doanh nghiệp phá sản còn thiếu với số tài sảncòn lại của doanh nghiệp

Các chủ nợ bình đẳng trước pháp luật còn có nghĩa là các chủ nợ đều phảitôn trọng và tuân thủ hiến pháp, pháp luật và các quy định phạm pháp luật phá sản,nói riêng Bất kỳ chủ nợ nào vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật nhưnhau Mọi hành vi câu kết giữa một chủ nợ nào đó với doanh nghiệp mắc nợ để tẩután tài sản đều bị xử lý theo quy định của pháp luật

Sự bình đẳng trước pháp luật không có nghĩa là tất cả các chủ nợ đều đượcđối xử giống nhau một cách máy móc Trong thực tiễn bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các chủ nợ phải chú ý tới sự khác biệt của mỗi chủ nợ về điều kiện xã hội

và cá nhân cụ thể Đặc biệt trong trình tự phân chia tài sản của doanh nghiệp mắc

nợ, chúng ta phải tránh được sự áp dụng pháp luật giống nhau một cách hình thức

22 Điều 63 Luật Phá sản năm 2004

Trang 24

đối với mọi chủ nợ Người lao động là lực lượng chính trong xã hội, họ sẽ gặp nhiềukhó khăn khi không có tiền lương – nguồn sống của họ Vị trí xã hội và vai trò của

họ khác với các chủ nợ khác nên họ phải đứng ở hàng ưu tiên thanh toán khác vớicác chủ nợ khác Đối với các chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần,chủ nợ không có bảo đảm có địa vị pháp lý khác nhau nên cũng cần có sự ưu tiênkhác nhau

Trong doanh nghiệp, không nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người laođộng, các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự, đầu tiên là cáckhoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật và cácquyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng laođộng đã ký kết, sau đó là nợ thuế và các khoản nợ khác Sau khi đã thanh toán hếtcác khoản nợ và chi phí doanh nghiệp, phần còn lại thuộc về chủ doanh nghiệp tưnhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty

2.1.3 Nguyên tắc hòa giải

Trong pháp luật phá sản của nhiều nước trên thế giới, hòa giải được coi làmột bước bắt buộc trong thủ tục giải quyết phá sản Hòa giải có thể được tiến hànhtrước khi tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản

Hòa giải thực chất là một quá trình thương lượng, là việc thống nhất ý chígiữa con nợ với các chủ nợ để tìm ra phương án tối ưu nhất đảm bảo quyền và lợiích hợp pháp giữa các bên

Trước đây, theo quy định của Luật Phá sản Doanh nghiệp thì hòa giải đượctiến hành ngoài tố tụng và trong tố tụng (hòa giải tại tòa án) Khoản 2 Điều 3 Nghịđịnh 189-CP ngày 23/12/1994 hướng dẫn đã cho phép các bên được hòa giải vớinhau trước khi đưa ra tòa án: Con nợ phải thực hiện biện pháp tài chính cần thiếttrong đó có biện pháp thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, giảm nợ,bảo lãnh nợ, xóa nợ Việc hòa giải tự nguyện này được ưu tiên giải quyết cho đếntrước ngày tòa án mở thủ tục phá sản Khi những thỏa thuận giữa hai bên không đạtđược hội nghị chủ nợ trở thành bước hòa giải trong tố tụng và được coi là một giaiđoạn bắt buộc trong tố tụng phá sản Luật đã quy định một thủ tục áp dụng đối vớidoanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo các bước: Mở thủ tục phá sản, tiếnhành hòa giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vàsau đó nếu biện pháp này bị thất bại mới ra quyết định bị tuyết bố phá sản Đây làmột thủ tục cứng nhắc gây lãng phí thời gian, tiền bạc và hạn chế quyền quyếtđịnh của các thẩm phán trong việc giải quyết vụ phá sản Nhưng trên thực tế

Trang 25

không những doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã không còn tài sản gìđáng kể, khả năng phục hồi hầu như không có Tòa án đã biết trước việc tổ chứchội nghị chủ nợ để xem xét, thông qua phương án hòa giải không thể đem lại kếtquả nhưng vẫn phải tiến hành đầy đủ các giai đoạn theo quy định của pháp luật.

Luật Phá sản năm 2004 đã khắc phục được hạn chế đó và đi theo hướng quyđịnh nhiều thủ tục khắc phục trong thủ tục phá sản Sau khi quyết định mở thủ tụcphá sản, căn cứ vào tình trạng thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tìnhtrạng phá sản, tòa án sẽ quyết định áp dụng thủ tục nào cho phù hợp Đối với nhữngdoanh nghiệp không còn khả năng phục hồi thì tòa án có thể tuyên bố phá sản ngay

mà không cần triệu tập hội nghị chủ nợ để xem xét áp dụng thủ tục phục hồi Quyđịnh như vậy đã tạo điều kiện chấm dứt nhanh chóng sự tồn tại của những doanhnghiệp trong tình trạng chết "lâm sàng" và giảm thiểu đến mức tối đa chi phí choviệc tiến hành thủ tục phá sản, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các chủ nợ

Còn đối với những doanh nghiệp có khả năng phục hồi thì việc tiến hành hòagiải về giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh lại là giải pháp tối ưu để bảo vệtốt hơn quyền và lợi ích của các chủ nợ, con nợ Tại hội nghị chủ nợ các bên có thểchấp nhận hoặc không chấp nhận kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh củacon nợ Hòa giải sẽ giải quyết được xung đột pháp lý giữa các bên Mặt khác, trênthực tế không phải khi nào đóng cửa doanh nghiệp mắc nợ cũng đảm bảo được trả

nợ một cách hợp pháp của chủ nợ và thể hiện đầy đủ ý chí của chủ nợ Do vậy, chỉ

có thông qua hòa giải các bên sẽ cân nhắc lợi thiệt đối với mình để bảo vệ tốt hơnquyền và lợi ích của mình nhưng vẫn đáp ứng quyền và lợi ích chính đáng của bênkia Hòa giải là giải pháp nhằm tìm ra cơ hội để doanh nghiệp mắc nợ khôi phục lạihoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo dung hòa lợi ích của chủ nợ và doanhnghiệp mắc nợ trên cơ sở tôn trọng lợi ích chung của xã hội Như vậy, hòa giải đượccoi là nguyên tắc chủ đạo trong quá trình giải quyết phá sản

2.1.4 Nguyên tắc nhân đạo

Trong nền kinh tế thị trường, phá sản trở nên phổ biến và là sản phẩm tất yếucủa nền kinh tế thị trường Do vậy, từ lâu pháp luật phá sản không còn coi con nợ bịphá sản là tội phạm để xử lý hình sự Nhiều nước đã nhìn con nợ nhân đạo hơn,pháp luật phá sản đã tạo điều kiện tối đa để các con nợ phục hồi sản xuất kinhdoanh Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Pháp luậtcủa ta đề ra không phải vì mục đích trừng trị, răn đe mà quan trọng hơn là bảo vệtrật tự xã hội và đem lại hạnh phúc cho mọi người Chính vì thế, luật phá sản không

Trang 26

chỉ là cái gậy để răn đe những nhà kinh doanh mà còn phải bảo vệ quyền lợi ích hợppháp của họ Khi đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ, luật phá sản khôngđược từ chối những lợi ích chính đáng của con nợ23

Phù hợp với xu thế thế giới, luật phá sản nước ta cũng ưu tiên tạo điều kiệnkhôi phục lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ Trước khi tòa án

mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, pháp luật cũng thừa nhận việcthương lượng của con nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm nợ, xóa nợ, giãnnợ nhằm giảm bớt những gánh nặng tài chính cho việc phục hồi hoạt động kinhdoanh, luật phá sản cho phép doanh nghiệp được ngừng tính lãi, ngừng thanh toán

nợ ngay từ thời điểm có quyết định của tòa án

Nguyên tắc nhân đạo đã thể hiện sự tiến bộ trong cách nhìn nhận của nhànước ta đối với những rủi ro của doanh nghiệp phá sản Chính tinh thần nhân đạonày là động lực để thu hút các nhà kinh doanh đầu tư vào những ngành nghề mạohiểm góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

2.2 Quyền được thông tin

2.2.1 Quyền được thông báo khi tổ chức, cá nhân phát hiện ra doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán

Luật phá sản luôn bảo vệ quyền của chủ nợ được biết thông tin về doanhnghiệp khi bị mất khả năng thanh toán Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có tráchnhiệm thông báo bằng văn bản trong quá trình giải quyết phá sản, nhằm tạo hànhlang pháp lý vững chắc cho chủ nợ Đối với Luật phá sản 2004 chưa có quy định vềquyền này của tổ chức, cá nhân mà đến khi Luật phá sản 2014 ra đời, ghi nhận cụthể quyền của cá nhân, tổ chức khi phát hiện ra doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán, thì phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người cóquyền và nghĩa vụ liên quan nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định Cụthể như sau:

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho những người cóquyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại Điều 5 của Luậtnày.24

23 Nguyễn Thái Phúc, Luật Phá sản 2004 – Những tiến bộ và hạn chế, tạp chí Khoa học pháp lý, tháng

3/2004

24 Khoản 1, Điều 6 Luật phá sản 2014.

Trang 27

Như vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ, Luật phá sản

2014 ghi nhận cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền thông báo bằng văn bản chongười có quyền và nghĩa vụ liên quan Song song đó, cá nhân cơ quan, tố chứcphải có trách nhiệm thông báo chính xác thông tin, tránh trường hợp cố tình bêuxấu gây thiệt hại cho doanh nghiệp, hợp tác xã Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổchức cố ý thông báo sai mà gây thiệt hại cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì phải bồithường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật.25

2.2.2 Quyền được thông báo việc tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu thấy cần sửa đổi đơn,

bổ sung tài liệu thì Toà án yêu cầu người nộp đơn thực hiện việc sửa đổi, bổ sungtrong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Toà án

Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, kể từ ngày người nộp đơn xuấttrình biên lai nộp tiền tạm ứng phí phá sản Trường hợp người nộp đơn không phảinộp tiền tạm ứng phí phá sản thì ngày thụ lý đơn là ngày Toà án nhận được đơn.Toà án phải cấp cho người nộp đơn giấy báo đã thụ lý đơn.26

Bên cạnh đó, Luật cũng bắt buộc Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảntrong trường hợp người nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợppháp của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì trong thời hạnnăm ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải thông báo cho doanh nghiệp, hợp tác

xã đó biết

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án,doanh nghiệp, hợp tác xã phải xuất trình cho Toà án các giấy tờ, tài liệu quy định tạikhoản 4 Điều 15 của Luật này; nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phásản là người bảo lãnh cho người khác thì trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhậnđược thông báo của Toà án, doanh nghiệp, hợp tác xã phải thông báo việc mình bịyêu cầu mở thủ tục phá sản cho những người có liên quan biết.27

Theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật phá sản 2014 quy định thời hạn thôngbáo ngắn hơn so với Luật phá sản 2004 là 03 ngày “1 Trong thời hạn 03 ngày làmviệc kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án nhân dân phải thông báo bằng văn bản cho ngườinộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh

25 Khoản 2, Điều 6 Luật phá sản 2014.

26

Điều 22 Luật phá sản 2004.

27 Điều 23 Luật phá sản 2004.

Trang 28

toán, các cơ quan, tổ chức đang giải quyết vụ việc liên quan đến doanh nghiệp, hợptác xã mất khả năng thanh toán do các bên cung cấp và Viện kiểm sát nhân dâncùng cấp về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là người đại diện theopháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì Tòa án nhândân phải thông báo cho các chủ nợ do doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp”

2.2.3 Quyền được Tòa án thông báo đã mở thủ tục phá sản

Theo quy định tại Điều 29 Luật phá sản 2004, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có

quyền được Tòa án thông báo đã mở thủ tục phá sản và thời hạn gửi cũng được ấn

định cụ thể nhằm tránh tình trạng kéo dài khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tìnhtrạng phá sản

Thời hạn gửi và thông báo quyết định mở thủ tục phá sản là bảy ngày, kể từngày Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản

Quyết định được gửi cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản,Viện kiểm sát cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xãlâm vào tình trạng phá sản có địa chỉ chính, báo hàng ngày của trung ương trong ba

số liên tiếp

Quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản phải được thông báo cho các chủ

nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

2.3 Quyền được khiếu nại

2.3.1 Quyền đề nghị xem xét lại quyết định không thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Theo khoản 1 Điều 25 luật phá sản 2004 quy định cụ thể thời hạn là mườingày, kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án trả lại đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản, người làm đơn có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án đó

2.3.2 Quyền khiếu nại Tòa án không ra quyết định mở thủ tục phá sản

Toà án ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy doanh nghiệp, hợptác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản28

Quyết định không mở thủ tục phá sản phải được Toà án gửi cho người làm đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được quyết

28 Khoản 4 Điều 28 Luật phá sản 2004.

Trang 29

định không mở thủ tục phá sản, người làm đơn yêu cầu có quyền khiếu nại vớiChánh án Toà án đó.

Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại đối với quyết địnhkhông mở thủ tục phá sản, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sauđây:

Giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản;

Huỷ quyết định không mở thủ tục phá sản và ra quyết định mở thủ tục phásản.29

2.3.3 Quyền khiếu nại về danh sách chủ nợ

Quyền khiếu nại về danh sách chủ nợ không chỉ dành cho chủ nợ mà còn dành

cả cho con nợ Ngoài ra, trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày niêm yết danh sáchngười mắc nợ doanh nghiệp, hợp tác xã thì con nợ có quyền khiếu nại với Tòa án vềdanh sách người mắc nợ (Điều 52, Điều 53 Luật phá sản 2004)

Theo quy định tại khoản 3 và 4 Điều 67 Luật phá sản 2014 khiếu nại về danhsách chủ nợ “Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn niêmyết, chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có quyền đề nghịThẩm phán xem xét lại danh sách chủ nợ Trường hợp bất khả kháng hoặc có trởngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quankhông tính vào thời hạn quy định tại khoản này

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xem xétlại, Thẩm phán phải xem xét, giải quyết đề nghị, nếu thấy đề nghị có căn cứ thì sửađổi, bổ sung vào danh sách chủ nợ.”

Theo quy định tại khoản 3 và 4 Điều 68 Luật phá sản 2014 khiếu nại về danhsách người mắc nợ “Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạnniêm yết, người mắc nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cóquyền đề nghị Thẩm phán xem xét lại danh sách người mắc nợ

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị xem xét lại,Thẩm phán phải xem xét, giải quyết đề nghị, nếu thấy đề nghị có căn cứ thì sửa đổi,

bổ sung vào danh sách người mắc nợ.”

Luật phá sản 2004 quy định trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của tổquản lí, thanh lí tài sản, thẩm phán phụ trách thủ tục phá sản có quyền quyết định áp

29 Điều 32 Luật phá sản 2004.

Trang 30

dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo toàn tài sản của doanh

nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Đồng thời, theo Điều 70 Luật phá sản

2014 cũng quy định trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, người cóquyền, nghĩa vụ nộp đơn theo quy định tại Điều 5 của Luật này, Quản tài viên, doanhnghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyềntiến hành thủ tục phá sản ra quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấptạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán,bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động

2.3.4 Quyền khiếu nại quyết định mở thủ tục thanh lý

Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, các chủ nợ có quyềnkhiếu nại quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản Thời hạn khiếu nại, kháng nghị làhai mươi ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định mở thủ tục thanh lý tàisản.30

Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kháng nghị, Toà

án đã ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phảigửi hồ sơ về phá sản kèm theo đơn khiếu nại, quyết định kháng nghị cho Toà án cấptrên trực tiếp để xem xét, giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tụcthanh lý tài sản

2.4 Quyền nộp đơn và tham gia vào quá trình giải quyết phá sản

2.4.1 Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Pháp luật phá sản được đặt ra trước hết nhằm bảo vệ quyền về tài sản của cácchủ nợ Do vậy, Luật phá sản của tất cả các nước đều dành cho chủ nợ có quyềnnộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ Tuy nhiên có sự khác nhautrong việc quy định phạm vi các chủ nợ có quyền nộp đơn Có nước cho phép cảchủ nợ có bảo đảm cũng có quyền đệ đơn (Trung Quốc và Hung-ga-ry) Một sốnước khác lại quy định chỉ có chủ nợ không có bảo đảm mới có quyền này hoặc cảchủ nợ có bảo đảm nhưng phải kèm theo những điều kiện nhất định như phải từ bỏquyền được bảo đảm (Luật phá sản Malayxia), hoặc là chủ nợ có phần giá trị nợ lớnhơn phần giá trị tài sản bảo đảm (chủ nợ có bảo đảm một phần)

Luật phá sản 2004 của Việt Nam chỉ quy định cho chủ nợ không có bảo đảmhoặc chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảnđối với doanh nghiệp, hợp tác xã khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào

30 Điều 83 Luật phá sản 2004.

Trang 31

tình trạng phá sản (khoản 1 Điều 13) Quy định như vậy là hợp lý vì chủ nợ có bảođảm một phần vẫn còn có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã (con nợ) trả hếtphần không có bảo đảm.

Luật phá sản đã không cho phép chủ nợ có bảo đảm được quyền nộp đơn, họ

bị hạn chế quyền này bởi chính sự thỏa thuận về việc xử lý giá trị tài sản bảo đảm.Bản thân số nợ của chủ nợ này đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợptác xã hoặc của người thứ ba Chính vì vậy, trong mọi trường hợp lợi ích của chủ nợ

có bảo đảm cũng luôn được bảo vệ, nên việc quy định cho họ có quyền nộp đơn làkhông cần thiết 31

Luật phá sản 2004 đã quy định đơn giản điều kiện nộp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản và chủ nợ không phải cung cấp cho Tòa án các giấy tờ, tài liệu chứng minhdoanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đến hạn khi gửi đơn yêu cầu.Đơn yêu cầu phải được gửi cho tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

và phải bao gồm các nội dung theo quy định tại Điều 13 Luật phá sản 2004

Liên quan đến quyền của chủ nợ, Luật phá sản 2004 quy định một loại chủ nợkhá đặc biệt là người lao động với những khoản nợ lương, bảo hiểm xã hội Về thựcchất đối với doanh nghiệp mắc nợ, người lao động là một chủ nợ không có bảo đảm,hàng hóa duy nhất đem ra trao đổi là sức lao động và tiền lương là nguồn sốngchính của bản thân và gia đình họ Do đó, khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tìnhtrạng phá sản thì người lao động là một trong những người bị thiệt hại nhiều nhất vàthực sự lâm vào cảnh "tứ cố vô thân" 32, không có lương, nguy cơ thất nghiệp đedọa Chính vì thế, Điều 14 Luật phá sản 2004 đã quy định quyền nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản của người lao động thông qua người đại diện được cử hoặc đạidiện công đoàn

Theo Điều 14 Luật phá sản 2004 quy định: "Trong trường hợp doanh nghiệp,hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấydoanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì người lao động cử người đạidiện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối vớidoanh nghiệp, hợp tác xã đó

Đại diện cho người lao động được cử hợp pháp sau khi được quá nửa số ngườilao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấychữ ký; đối với doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì

31

Theo Ths Vũ Hồng Vân, tạp chí Tòa án nhân dân tháng 11-2005(số 21), tr9.

32 Theo Ths Vũ Hồng Vân, tạp chí Tòa án nhân dân tháng 11-2005(số 21), tr9.

Ngày đăng: 06/04/2017, 13:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Cao Đăng Vinh (2009), Giải quyết phá sản tổ chức tín dụng, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết phá sản tổ chức tín dụng, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Tác giả: Cao Đăng Vinh
Năm: 2009
13. Đỗ Văn Đại (2010), Hoàn cảnh pháp lý của người bảo lãnh khi người được bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản, tạp chí Khoa học pháp lý, số 5 (60), tr.58-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn cảnh pháp lý của người bảo lãnh khi người được bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Năm: 2010
15. Nguyễn Thái Phúc, Luật Phá sản 2004 – Những tiến bộ và hạn chế, tạp chí Khoa học pháp lý, tháng 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phá sản 2004 – Những tiến bộ và hạn chế
18. Vũ Thị Hồng Vân (2009), tạp chí Nghề luật, số 6, Vài suy nghĩ từ một vụ phá sản doanh nghiệp, tr. 45-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ từ một vụ phá sản doanh nghiệp
Tác giả: Vũ Thị Hồng Vân
Năm: 2009
6. Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của tổ quản lý, thanh lý tài sản Khác
7. Nghị định 114/2008/NĐ-CP ngày 03/11/2008 của Chính phủ hướng dẫn Luật Phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác Khác
8. Nghị định 05/2010/NĐ-CP ngày 18/01/2010 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với các tổ chức tín dụng Khác
9. Nghị quyết 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/4/2005 về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành.* Sách, báo, tạp chí Khác
11. Cao Bá Quát, Báo cáo rà soát Luật Doanh nghiệp 2005 Khác
12. Dương Đăng Huệ - Nguyễn Thanh Tịnh (2008), Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam Khác
14. Nguyễn Đình Cung – Phan Đức Hiếu (2007), Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam – Đâu là loại hình phù hợp nhất với doanh nghiệp của bạn Khác
16. Phạm Duy Nghĩa (2003), Đi tìm triết lý của Luật Phá sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 11 (34) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w