Theo Văn phòng Cao ủy LHQ về quyền con người đưa ra: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu universal legal guarantees có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại n
Trang 1QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN TRONG
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 5095487 Lớp: Luật Thương Mại 1-K35
Cần Thơ, tháng 5 năm 2013
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày … tháng …… năm ……
Giáo viên hướng dẫn [Ký tên và ghi rõ họ tên]
Trang 3NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày … tháng …… năm ……
Giáo viên hướng dẫn [Ký tên và ghi rõ họ tên]
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Người viết cũng xin chân thành cảm ơn Giảng viên Ths Thạch Huôn đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt thời gian qua để người viết có thể hoàn
thành bài luận văn này
Với sự hiểu biết trên lĩnh vực này còn hạn chế, trong quá trình nghiên cứu
có thể xảy ra những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy
cô và các bạn để bài luận được hoàn thiện hơn
Sinh Viên Thực Hiện
Nguyễn Thanh Tuyền
Trang 5DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Đông Nam Á)
against Women (Tuyên bố Hành động Bắc Kinh và Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với Phụ nữ)
xoá bỏ phân biệt chủng tộc)
quyền văn hoá, xã hội và kinh tế)
quyền của người tàn tật)
phân biệt đối xử trong giáo dục)
Trang 6ICC International Chamber of Commerce
Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị)
(Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa)
kỷ)
người lao động di trú)
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
người tỵ nạn)
Trang 7UNIFEM United Nations Development Fund for Women (Quỹ phát triển Phụ
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU………1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN………3
1.1 Khái niệm về quyền con người và quyền công dân……….… 3
1.1.1 Khái niệm quyền con người (Nhân quyền)……… ……… 3
1.1.2 Khái niệm quyền công dân……….5
1.1.3 Quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân……….……….8
1.2 Sự phát triển của chế định quyền con người trên thế giới và Việt Nam 10
1.2.1 Sự phát triển của chế định quyền con người trên thế giới….……10
1.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển chế định quyền con người… 11
1.2.1.2 Các văn bản pháp lý quốc tế về nhân quyền……….…… 13
1.2.1.3 Các nhóm quan điểm chính hiện nay về nhân quyền…………14
1.2.2 Sự phát triển của chế định quyền con người trong pháp luật Việt Nam……… ……… 16
1.2.2.1 Lịch sử hình thành và nhận thức về quyền con người……… 16
1.2.2.2 Sự phát triển của quyền con người và quyền công dân qua các bản hiến pháp Việt Nam……….……… 18
1.3 Các chủ thể liên quan đến quyền con người………….……… 23
Trang 9CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VÀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ QUYỀN CÔNG DÂN……….28
2.1 Quyền con người được quy định trong pháp luật quốc tế……….…….28
2.1.1 Các văn kiện quốc tế……….……….28
2.1.1.1 Hiến chương Liên Hiệp Quốc, 1945……….………… 28
2.1.1.2 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền, 1948……… ……… 29
2.1.1.3 Tuyên bố Viên và Chương trình Hành động, 1993……….……33
2.1.1.4 Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc, 2000……… 35
2.1.2 Các công ước quốc tế cơ bản……… ………40
2.1.2.1 Về các quyền và tự do cơ bản……….40
2.1.2.2 Về ngăn chặn sự phân biệt đối xử về chủng tộc, trong giáo dục, nghề nghiệp và việc làm……….……….44
2.1.2.3 Về quyền của phụ nữ……….……… 47
2.1.2.4 Về quyền trẻ em……… ……… 49
2.1.2.5 Về quyền của người lao động di trú……….……… 51
2.1.2.6 Về quyền của người khuyết tật……….…… 54
2.1.2.7 Về bảo vệ người tỵ nạn và người không quốc tịch………55
2.2 Quyền con người được quy định trong pháp luật Việt Nam………….56
2.2.1 Các quyền con người cơ bản theo pháp luật Việt Nam hiện hành 56
2.2.1.1 Trong lĩnh vực kinh tế, xã hội……….…56
Trang 102.2.1.2 Trong lĩnh vực chính trị……….……….…….58
2.2.1.3 Trong lĩnh vực văn hóa giáo dục……….………59
2.2.1.4 Trong lĩnh vực tự do dân chủ và tự do cá nhân………59
2.2.2 Các thể chế hành chính tư pháp của Việt Nam để bảo về quyền con
người về văn hóa, xã hội, kinh tế………60
2.3 Cơ chế bảo vệ quyền con người……… 63
2.3.1 Cơ chế bảo vệ quốc tế về quyền con người……….……….63
2.3.1.1 Cơ chế quốc tế về thúc đẩy bảo vệ nhân quyền trong khuôn khổ
Hiến chương của Liên Hợp Quốc……….……… 63
2.3.1.2 Cơ chế bảo vệ quyền con người dựa trên ác công ước……….…65
2.3.1.3 Hệ thống các tổ chức nhân quyền khu vực……….………67
2.3.2 Cơ chế bảo vệ quốc gia về quyền con người………….………… 72
2.3.2.1 Ủy ban quyền con người quốc gia (National Commissions of
Human Rights)……… 72
2.3.2.2 Thanh tra Quốc hội (Ombudsman)………… ………73
2.4 Thực tiễn bảo vệ quyền con người trên phương diện quốc tế và Việt
Nam……… 75
2.4.1 Tình hình thúc đẩy bảo vệ nhân quyền trên thế giới……….……75
2.4.2 Việt Nam và thực trạng bảo đảm thực thi quyền con người và
quyền công dân……… ………78
2.4.3 Những hạn chế trong cơ chế bảo vệ nhân quyền trong pháp luật
Viêt Nam và giải pháp thực hiện……….……80
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
1 Giới thiệu đề tài
Ở mọi xã hội, với những nền văn hóa khác biệt nhau về truyền thống,
phong tục, tập quán, nhận thức và lối sống,v.v… Dẫn tới những bất đồng, thậm
chí xung đột trong nhận thức và thực hiện các quyền con người ở một vài nơi
trên thế giới Để thực hiện mục tiêu chung là bảo vệ và thúc đẩy các quyền con
người ở mọi nền văn hóa trên thế giới vẫn đang là một thách thức được đặt ra
Hiện nay, vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân không chỉ dừng lại
ở vấn đề nội bộ của mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề được cả thế giới quan
tâm Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một chức năng rất quan
trọng, một trong những tiêu chí đánh giá mức độ dân chủ của một chế độ xã hội
Một điều hoàn toàn hiển nhiên là trong thực tế, con người không bình
đẳng xét từ góc độ các năng lực tính cách, thể lực, khát vọng và nhu cầu của
mình Điều đó không những không thể mà còn không mong muốn loại bỏ sự bất
bình đẳng như vậy bằng những biện pháp được các thiết chế xã hội áp dụng
Những tính cách và ý kiến đa dạng và cá biệt của con người là một trong các điều
kiện chủ yếu cho tiến bộ vật chất và tinh thần
Vì vậy người viết chọn đề tài “Quyền con người và quyền công dân trong
pháp luật quốc tế và luật Việt Nam” để nghiên cứu là bài luận cuối khóa
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quyền con người, quyền công dân đã đang và được Liên Hợp
Quốc, các nhà khoa học pháp lý nước ta và thế giới quan tâm nghiên cứu Tuy
nhiên, có thể xuất phát từ quan điểm cho rằng giáo dục pháp luật đã bao hàm cả
giáo dục quyền con người, quyền công dân nên các nhà luật học nước ta mới chỉ
tập trung nghiên cứu về giáo dục pháp luật mà chưa quan tâm nghiên cứu vấn đề
quyền con người, quyền công dân như là một lĩnh vực nghiên cứu độc lập, riêng
biệt Nhưng hiện nay, các xu hướng của xã hội đang thay đổi dần, vì thế luận văn
này sẽ góp phần vào việc nghiên cứu, tuyên truyền và giáo dục quyền con người
cho mọi người
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề quyền con người, quyền
công dân để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo vệ quyền con
người và quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước
ta hiện nay
Trang 134 Giới hạn nghiên cứu của luận văn
Đề tài có thể mang tính bao trùm và rộng lớn về nhân quyền nói chung và
quyền công dân nói riêng Tuy nhiên, trong bài luận này, người viết tham gia vào
việc tái hiện lại quyền con người song hành cùng nhưng nguyên tắc quốc tế, xen
kẽ với pháp luật quốc gia ở những giới hạn nhất định Trong bài người viết quan
tâm đi sâu vào những quy định đáng lưu ý trên phương diện nhân quyền và
những cơ chế bảo vệ nhân quyền đang tồn tại hiện nay Tuy nhiên có thể không
đi sâu vào tìm hiểu tất cả, nhưng vẫn phải nói rằng đây là bài luận nghiên cứu về
nhân quyền theo sự nghiên cứu và hiểu biết của người viết
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở tham khảo các quan điểm nhân quyền
đang tồn tại trên thế giới, sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân
tích, tổng hợp để đánh giá thực trạng quyền con người, quyền công dân hiện nay
nhằm phân tích, luận chứng một cách khoa học khi đề ra sự cấp thiết, phương
hướng, giải pháp tăng cường sức mạnh của hành lang pháp lý về quyền con
người, quyền công dân
6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm 2 chương:
Lời nói đầu
Chương 1 Cở sở lý luận về quyền con người và quyền công dân
Chương 2 Pháp luật và cơ chế bảo vệ quyền con người và quyền công dân
Kết luận
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN
CÔNG DÂN
1.1 Khái niệm về quyền con người và quyền công dân
Đối với giới luật học chuyên nghiên cứu về quyền con người thì việc xác
lập các quy tắc về tôn trọng và bảo đảm nhân phẩm và các quyền tự nhiên, chính
đáng của con người, các cơ chế, biện pháp, chế tài để bảo đảm các quy tắc cư xử
chung đó được thực hiện là vô cùng quan trọng
Thế nhưng quyền con người sẽ toàn diện và mạnh mẽ hơn khi nó gắn với
quyền công dân, một phương thức đảm bảo an toàn và toàn diện cho sự phát triển
của con người trong cộng đồng xã hội theo quốc gia, lãnh thổ
1.1.1 Khái niệm quyền con người (Nhân quyền)
Hiện tại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người Quyền
con người là một phạm trù đa diện Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ
khác nhau, khó có thể bao quát đầy đủ các thuộc tính của nó Theo Văn phòng
Cao ủy LHQ về quyền con người đưa ra: “Quyền con người là những bảo đảm
pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và
các nhóm chống lại những hành động (action) hoặc sự bỏ mặc (omission) làm tổn
Bên cạnh đó, nhân quyền còn được định nghĩa một cách khái quát là
những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì
Hay theo Thomas Fleiner, một chuyên gia hiến pháp nổi tiếng của Thụy
Sỹ và của thế giới, định nghĩa: “Các quyền con người là các quyền của con người
cạnh khác về khái niệm quyền con người từ một Giáo sư khoa Triết học của
trường Đại học Tổng hợp Bắc Kinh, ông Hoàng Nam Sâm (Huang Nansen) thì
“Quyền con người có thể nói một cách giản dị là những quyền cơ bản mà một
con người sinh ra đã được hưởng; bao gồm, đầu tiên là quyền được sống và
quyền được phát triển; sau đó là các quyền khác, chẳng hạn như quyền được
1
United Nations, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development
Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr.8
2 United Nations, Human Rights: Questions and Answers, New York and Geneva, 2006, tr.4
3
Thomas Fleiner, What are Human Rights?, The Federation Press, 1999, p 8
Trang 15tham gia các hoạt động chính trị và xã hội Trong tất cả các quyền này, quan
trọng nhất là quyền bình đẳng Quyền này thể hiện ở chỗ tất cả mọi người có thể
sống như một cá nhân độc lập và quan hệ giữa con người với con người là bình
đẳng, xét trên phương diện nhân phẩm.”
Như vậy, quyền con người: bao gồm cả những quyền tự nhiên không thể
tước đoạt, phản ánh nhu cầu thể chất và tinh thần mà ngay từ khi sinh ra mỗi cá
nhân con người riêng lẻ đã phải được hưởng
Với những khái niệm trên, ta có thể hiểu nhân quyền là những giá trị đã
được xã hội hóa với những thể chế thành các quyền năng cụ thể, mang tính phổ
cập, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn
ngữ, giới tính, Và quyền con người ở đây không mang tính biên giới, không bị
một giới hạn thu hẹp nào có thể xóa đi những tự do cơ bản hay sự bảo vệ thiết
yếu cho nhân phẩm của một con người Đây là khái niệm mang tầm khái quát
cao, nhấn mạnh sự tôn trọng nhân quyền cho thời đại của chúng ta
Nhân quyền chính là một lĩnh vực của Quyền Nhưng khái niệm về nhân
quyền khác với khái niệm quyền ở chỗ, nhân quyền chỉ phục vụ lợi ích về vật
chất hay tinh thần cho mỗi con người riêng biệt mà không gắn với họ bất kỳ một
nghĩa vụ nào Khái niệm quyền là để chỉ cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay
lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành và, khi thiếu được quyền yêu
cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại như: Quyền ứng cử và bầu
cử; Khi bị hành hung thì bất kỳ ai cũng có quyền tự vệ Quyền có nghĩa là sức
mạnh được vận dụng khi thực hiện chức năng trong một lĩnh vực nhất định như:
Quyền của sĩ quan chỉ huy ngoài mặt trận; Quyền lập pháp
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia,
cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn
chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên,
vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
Trên thực tế ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, có một
thuật ngữ khác cũng được sử dụng, đó là “nhân quyền” Cả hai thuật ngữ này đều
bắt nguồn từ thuật ngữ chung bằng tiếng Anh được sử dụng trong môi trường
quốc tế, đó là “human rights” Từ “human rights” trong tiếng Anh có thể được
dịch là quyền con người (thuần Việt) hoặc nhân quyền (Hán - Việt) Theo Đại Từ
ngôn ngữ học, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn
4
Viện Ngôn ngữ học: “Đại Từ điển Tiếng Việt”, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, năm 1999, tr 1239
Trang 16toàn có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực
tiễn về nhân quyền
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nhân quyền Nhưng định nghĩa mà
theo người viết đồng tình nhất về nhân quyền đó là quyền căn bản mà người ta có
chỉ đơn giản là vì người ta là con người Mà đã là con người thì bất kể màu da,
tôn giáo hay giai cấp, ai cũng phải có những quyền ấy Đó là những quyền được
san sẻ một cách phổ quát, đồng đều và thiêng liêng Phổ quát là ở đâu cũng có
Đồng đều là vì ai cũng có Thiêng liêng ở chỗ không ai được chiếm đoạt của
người khác
Trong những quyền gọi là căn bản ấy, có các quyền chính như:
Quyền được sống (right to live)
Quyền được xét xử một cách công bình (right to a fair trial)
Quyền được tự do ngôn luận (freedom of speech)
Quyền được tự do tư tưởng và tôn giáo (freedom of thought and
religion)
Thiết chế nhân quyền sẽ bảo vệ cho cá nhân con người trong xã hội, bảo
đảm cho họ những yêu cầu thiết yếu nhất để tồn tại và phát triển Ở đây quyền
con người mang tính công bình, bình đẳng giữa những cá nhân trong xã hội,
đồng thời đây cũng là một điều hết sức cần thiết trong việc bảo đảm quyền con
người trong xã hội ngày càng có quá nhiều bất công và chênh lệch Quyền con
người theo như Các Mác đã nói, nó mang tính nhân loại sâu sắc Có ý nghĩa hết
sức to lớn đối với nhân loại
Việc không có một cách hiểu thống nhất về khái niệm quyền con người
chính là điều giúp cho khái niệm này luôn được phát triển
1.1.2 Khái niệm quyền công dân
Như ta đã biết khái niệm “công dân” có một nội hàm thay đổi theo chiều
dài phát triển của lịch sử Sau đây chúng ta đi tìm hiểu một số quan niệm về
“công dân” của những nhà triết học Phương Tây
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, “công dân” được hiểu là một người đàn
ông tự do, là thành viên của một chế độ chính trị và có đủ phẩm chất mà chính
thể đó yêu cầu Còn “công dân” trong thời kỳ Trung cổ lại được dùng để chỉ
những người dân sống trong các pháo đài và các thành thị, những người hoạt
động sản xuất thủ công và buôn bán trong các phường hội
Trong quyển thứ 3 của cuốn Politic (Chính trị), Aristotle có đưa ra một
định nghĩa kinh điển về công dân thị thành (polites) Một polites là một người
Trang 17vừa có khả năng tham gia vào công việc cai trị, đồng thời lại vừa có khả năng bị
cai trị bởi người khác Như vậy, trái với các lý thuyết hiện đại sau này như của
Machiavelli hay của Hobbes, Aristotle không thấy có vấn đề hay không cảm thấy
có trở ngại gì trong việc một công dân chuyển từ trạng thái thống trị sang trạng
thái bị trị Quan niệm của Aristotle bắt nguồn từ hiện thực lịch sử của các thị
thành Hy Lạp lúc bấy giờ, khi đó mọi công dân tự mình đều phải đảm nhiệm các
chức năng và các công việc lập pháp Tuy nhiên, sau này các công dân tự do La
Mã chỉ tham gia tích cực vào hoạt động chính trị trong một số trường hợp đặc
biệt, còn nhìn chung, họ phải tuân thủ các quyết định có tính chất cưỡng chế của
Hội đồng nguyên lão
Sự phát triển của các thị thành trong thời Trung cổ đã dẫn đến cách hiểu
“công dân” theo nghĩa là những người thuộc về tầng lớp thương gia và thợ thủ
công Cùng với sự phát triển của sản xuất và thương mại, tầng lớp “công dân”
cũng ngày càng gia tăng, với những đặc trưng về tâm lý, lối sống và hệ tư tưởng
cũng thay đổi như niềm tin vào sự tiến bộ, vào chủ nghĩa duy vật và các giá trị cá
nhân
Từ thế kỷ XVII, vấn đề tính chủ động chính trị của công dân đã được các
nhà triết học chính trị Anh đặt ra Theo đó, chế độ chính trị không bị quy định từ
trước bởi một mục đích nào đó hay bởi tôn giáo, mà do chính các hoạt động thực
tế có chủ đích của con người Chẳng hạn như Hobbes cho rằng, nhà nước là sản
phẩm của hoạt động, là tác phẩm do con người tạo nên Song, đối với từng công
dân riêng lẻ của nhà nước thì hoạt động sản sinh ra nhà nước cũng đồng thời bao
hàm cả “quyền lực tự nhiên” lẫn quyền phản kháng của họ Ngoài ra, theo
Hobbes, các phẩm chất của công dân không phải là mục đích (theo như truyền
thống Aristotle) mà là “phương tiện” để gìn giữ hòa bình
Học thuyết của Locke vào thế kỷ XVII đã đưa lý luận chính trị của nước
Anh tiến lên một bước Locke cho rằng, về bản tính tự nhiên thì các công dân của
nhà nước đều tự do và bình đẳng và cần phải tạo ra các khuôn khổ pháp lý để
đảm bảo sự thực thi pháp luật, cũng như đảm bảo cho việc các quyết định chính
trị không đi ngược lại hệ thống pháp luật, chống lại nền dân chủ Chính nhờ các
khuôn khổ ấy mà công dân biết được chính phủ hạn chế lợi ích của xã hội đến
mức độ nào
Đối với Rousseau thì phẩm chất của công dân là kết quả của khế ước xã
hội và cùng với khế ước xã hội đã xuất hiện tình trạng “giằng xé” ở mỗi công dân
giữa chuẩn mực của ý chí chung và lợi ích riêng tư Điểm đáng lưu ý trong khái
niệm “công dân” của Rousseau là mối liên hệ nội tại giữa quyền của các công
dân và việc họ tham gia vào một cộng đồng chính trị nhất định với tư cách là các
Trang 18thành viên tự do và bình đẳng Rousseau nhấn mạnh đến vai trò của văn hóa
chính trị đối với sự phát triển ý thức công dân
Đáng chú ý là định nghĩa của Kant về công dân (của nhà nước) như là
xã hội theo hai nghĩa: nó vừa là “xã hội công dân” và đồng thời cũng vừa là “nhà
nước” Đặc điểm cơ bản của công dân là sự tự do, bình đẳng giữa tuân thủ chuẩn
tắc pháp lý do một cộng đồng xác lập và sự tự chủ của chính họ trong các công
việc pháp lý Kant phân biệt giữa “công dân tích cực” và “công dân thụ động”
“Công dân thụ động” là những người không tự mình làm ra được mà phải nhận
mỗi công dân đều có khả năng chuyển từ trạng thái “thụ động” sang trạng thái
cao hơn là trạng thái “tích cực” Quan niệm về “công dân tích cực” của Kant
được xây dựng trên cơ sở khế ước xã hội theo kiểu riêng, theo đó thì tất cả các
thành viên của xã hội phải từ bỏ quyền tự do bề ngoài để trở thành thành viên của
một “chế độ chung”, tức là trở thành thành viên của nhà nước
Trong Triết học pháp quyền, Hegel đã phát triển khái niệm “công dân”
theo hướng trình bày các tính quy định của cá nhân về mặt luật pháp, các tính
quy định của chủ thể đạo đức và của các thành viên trong gia đình Cũng giống
như Rousseau, Hegel cho rằng khái niệm “công dân” là khái niệm mà dựa vào đó
ta có thể xây dựng được khái niệm “con người hiện đại” Theo quan niệm của
Hegel, công dân vừa là thành viên của xã hội công dân, vừa là thành viên của
một tầng lớp nào đó và nằm trong mối liên hệ, tác động qua lại với các cơ quan
hành chính và với các thiết chế chính trị Chúng vừa hạn chế hoạt động của công
dân và đồng thời lại vừa làm cho anh ta được “tự do” Các phẩm chất công dân
liên quan đến các thiết chế và phương thức hành động cũng chính là biểu lộ “tinh
thần khách quan” của xã hội mà anh ta đang sống Phẩm chất quan trọng của
Ngược lại với Hegel, Mác đã nghiên cứu nội dung ý thức công dân từ
những mâu thuẫn của “xã hội công dân” với tư cách là xã hội có giai cấp đối
kháng Mác và Ăngghen phê phán mạnh mẽ cách hiểu “xã hội công dân” theo
quan điểm cũ Trong Hệ tư tưởng Đức, các ông viết: “Xã hội công dân bao trùm
toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất
định của lực lượng sản xuất Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và
công nghiệp trong giai đoạn đó và do đó, vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và dân
5 I Kant, 1968, tr 432
6 I Kant, 1968, tr 433
7 G.W.F Hegel, 1986, tr 298
Trang 19tộc, mặc dù, mặt khác, về đối ngoại nó vẫn phải hiện ra như là một dân tộc và về
niệm trước kia về “xã hội công dân” các ông đã không chỉ xem đó là nơi tồn tại
của những lợi ích tư nhân và tầng lớp thị dân gắn liền với chúng, mà còn thấy
được “xã hội công dân” còn là lĩnh vực sinh hoạt của đông đảo quần chúng lao
động bị tước mất những lợi ích cơ bản
Như vậy, quyền công dân đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhân loại, được
sử dụng phổ biến trong khoa học pháp lý Quyền công dân ở các quốc gia trên
thế giới thường quy định các chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
trong các văn bản pháp luật, đặt biệt là trong Hiến pháp - văn bản có giá trị pháp
lý cao nhất Quyền công dân gắn liền với một quốc gia nhất định, được pháp luật
của mỗi quốc gia ghi nhận Theo PSG.TS Trần Ngọc Đường có đúc kết quan
niệm về quyền công dân như sau: “Quyền công dân là quyền con người, là
những giá trị gắn liền với một nhà nước nhất định và được nhà nước đó bảo hộ
bằng pháp luật của mình đối với người mang quốc tịch của nước mình, thể hiện
mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ
thể.”9
Vậy nên, quyền công dân ở mỗi nước không thể tách rời bản chất của chế
độ chính trị, sự phát triển kinh tế và truyền thống văn hóa của nước đó
1.1.3 Quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân
Một nền dân chủ thực sự ở đâu cũng bao gồm bốn yếu tố chính: cơ chế
(mechanism), thiết chế (institution), xã hội dân sự (civil society) và quyền công
dân (citizen rights) Không có cơ chế (chủ yếu qua cách bầu cử tự do theo nhiệm
kỳ) và thiết chế (vừa phân lập và độc lập, đặc biệt giữa lập pháp, hành pháp và tư
pháp) thích hợp, không thể có dân chủ thực sự Nhưng nếu không có xã hội dân
sự và quyền công dân, mọi cơ chế và thiết chế, dù “hiện đại” đến mấy, cũng
không thể bảo đảm được dân chủ Và trong bốn yếu tố kể trên, khái niệm quyền
công dân gắn liền với khái niệm nhân quyền hay quyền làm người
Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi nhưng
không đồng nhất Quyền công dân là một khái niệm xuất phát cùng cách mạng tư
sản Cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần dân trở thành
những công dân (với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một nhà nước)
và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền
8 C Mác và Ph Ăngghen, 1995, tập 3, tr 52
9
PGS.TS Trần Ngọc Đường: “Bàn về Quyền con người Quyền công dân”(Sách tham khảo), NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2004, tr 22
Trang 20công dân Như vậy, về bản chất, các quyền công dân chính là những quyền con
người dưới hình thức các quyền công dân Vậy nên, các quyền công dân chính là
những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân
của mình
Trước hết nói về những điểm khác nhau Khái niệm quyền con người xét
về nguồn gốc tự nhiên là quyền của tất cả các cá nhân, không liên quan đến việc
nó có được ghi nhận trong pháp luật một nhà nước cụ thể nào không Trái lại,
khái niệm quyền công dân lại là các quyền được thể hiện trong pháp luật của một
nước ghi nhận (dưới dạng là các quyền và nghĩa vụ cụ thể) và đảm bảo thực hiện
trong một nhà nước cụ thể Nội hàm của khái niệm “quyền con người” rộng hơn
khái niệm “quyền công dân”, hay nói cách khác, “quyền công dân” không thể
bao quát hết được “quyền con người”
Tuy nhiên, quyền công dân không phải là hình thức cuối cùng và toàn diện
của quyền con người Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, thể
hiện mối quan hệ giữa công dân với nhà nước, được xác định thông qua một chế
định pháp luật đặt biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những
quyền tự nhiên được pháp luật của một quốc gia ghi nhận và đảm bảo thực hiện,
nhưng chủ yếu dành cho những người có quốc tịch của quốc gia đó Không phải
ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định, và không
phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như
đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con
người
Ở nhiều góc độ khác nhau, quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền
công dân Về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa
cá nhân với nhà nước mà thể hiện mối quan hệ cá nhân với toàn thể cộng đồng
nhân loại Về phạm vi ứng dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch,
chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của gia đình nhân loại, bất
kể vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch, Nói cách khác, quyền con người được áp dụng
một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên
phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay
môi trường sống của chủ thể quyền
Một cá nhân, ngoại trừ những người không quốc tịch, về danh nghĩa đồng
thời là chủ thể của cả hai loại quyền con người và quyền công dân, tuy nhiên, sự
phân biệt trong thụ hưởng hai loại quyền này chỉ được thể hiện trong một số hoàn
cảnh đặt biệt Ví dụ, một người nước ngoài sẽ không được hưởng một số quyền
công dân (và cũng là quyền con người) đặt thù, chẳng hạn như quyền bầu cử, ứng
cử Tuy nhiên, người đó vẫn được hưởng các quyền con người phổ biến (mà
Trang 21đồng thời cũng là quyền công dân) áp dụng cho mọi thành viên của nhân loại
Xuất phát từ quan niệm quyền con người là các quyền tự nhiên, nên chúng
“phổ biến”, “cơ bản” và “tuyệt đối” Không kể chủng tộc, nòi giống, địa vị xã hội
hay quốc tịch mọi người đều có quyền như nhau ở mọi lúc, mọi nơi Đó là đặt
tính “phổ biến” của quyền con người Các quyền này mang đặt tính “cơ bản” là
bởi chúng không thể chuyển nhượng được, dù chúng ta có thể từ chối hay vi
phạm Quyền con người mang “tính tuyệt” đối bởi nó là nền tảng căn bản cho đời
sống thực sự của con người và không thể bị hạn chế hay giảm bớt Các quyền
này khác với các quyền dân sự ở chỗ nó là các nguyên tắc đạo đức đòi hỏi phạm
vi toàn cầu, trong khi các quyền dân sự tùy thuộc vào sự tự do hay thân phận
được ban cho các công dân trong một xã hội nhất định Tuy nhiên các khái niệm
tự do dân sự hay các quyền dân sự thường dựa trên vấn đề quyền con người mà
Liên quan tới quyền con người thì ngoài pháp luật quốc tế ra còn có luật
pháp quốc gia, đây là hai hệ thống khác nhau nhưng không hẳn là đối lập nhau
Pháp luật quốc gia đóng vai trò cực kì quan trọng, nó vừa là phương tiện để
truyền tải nhưng mặc khác cũng là điều kiện cần và đủ để cho pháp luật quốc tế
được thực hiện Quyền con người hiện nay đã vượt khỏi phạm vi biên giới mỗi
quốc gia Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về quyền con người như bình đẳng,
tự do, suy đoán vô tội… đều xuất phát từ pháp luật quốc gia Trong hơn nữa thế
kỉ qua, hệ thống luật pháp của các quốc gia cũng thay đổi khá lớn, họ pháp điển
hóa các văn kiện quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia theo hướng làm cho hài
hòa các chuẩn mực quốc tế về quyền con người
Tuy nhiên trong trường hợp pháp luật quốc gia chưa hài hòa với luật pháp
quốc tế mà quốc gia đó là thành viên thì hầu hết các quốc gia này sẽ đặt sự ưu
tiên áp dụng với các điều ước quốc tế Đây cũng chính là một trong những
nguyên tắc cơ bản của LHQ, nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết
quốc tế - pacta sun servanda
Vấn đề quyền con người là một điểm nhạy cảm chính trị và được hiểu
cũng như tranh luận quyết liệt Nhiều Hiến pháp ghi nhận các quyền này và
không ít các Hiến pháp chưa thể hiện chúng Nhưng có một điều cần khẳng định
rằng không thể áp đặt các giá trị trong quan niệm về chính trị của quốc gia này
cho một quốc gia khác Các thành viên trong một cộng đồng chính trị sẽ tự lựa
Trang 22chọn cho họ một chế độ chính trị.12
Và hiển nhiên rằng quyền công dân sẽ là hiện thân của quyền con người
trong pháp luật quốc gia, nhằm bảo đảm cho cá nhân được tự do, bình đẳng, được
sống, được phát triển trong một xã hội có thể chế nhất định Đó là tấm thẻ bài
cho sự phát triển của con người trong nhiều thiên niên kỉ tới
1.2 Sự phát triển của chế định quyền con người trên thế giới và Việt Nam
Ý thức về nhân quyền và việc thực hiện nhân quyền là một quá trình lịch
sử lâu dài gắn với lịch sử phát triển của loài người và giải phóng con người qua
các hình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp qua đó quyền
con người trở thành giá trị chung của nhân loại
Jacques Mourgon - một học giả nổi tiếng thế giới đã cho rằng “ quyền
con người không có lịch sử vì lịch sử, nếu có, thì hình như rất hỗn độn Nó pha
lẫn những lặp lại, những xen kẽ, những tương phản và những đứt đoạn giữa
những bước tiến triển và những bước thụt lùi”13 Thế nhưng quyền con người
không phải là điều gì siêu nhiên xa rời thực tế, có lẽ tư tưởng về quyền con người
được khởi tạo từ nền văn minh cổ đại của xã hội loài người chúng ta Và sự phát
triển của nó hoàn toàn phụ thuộc vào hình thái xã hội loài người, bước qua từng
thời kỳ, nhân quyền ngày càng được hoàn thiện hơn
1.2.1 Sự phát triển của chế định quyền con người trên thế giới
Theo phương pháp tiếp cận lịch sử, các quyền con người có thể được chia
thành ba thế hệ, thể hiện sự phát triển của khái niệm quyền con người qua các
giai đoạn lịch sử, như sau: Thế hệ thứ nhất: Các quyền cá nhân trong lĩnh vực
dân sự, chính trị, các quyền bình đẳng và tự do cá nhân Thế hệ thứ hai: Các
quyền cá nhân trong lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hoá Thế hệ thứ ba: Các
quyền tập thể như quyền dân tộc cơ bản, tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc và
quốc gia; quyền phát triển, quyền thông tin, quyền được sống trong hoà bình,
trong môi trường lành mạnh
Từ sau chiến tranh thế giới 2, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của
loài người, nội dung các quyền con người tiếp tục phát triển
1.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển chế định quyền con người
Tư tưởng về quyền con người là cái mà con người nhận thức rõ hơn so với
ý thức, việc chúng ta đối xử với một con người phù hợp với bất kỳ quyền nào mà
một con người khi sinh ra đã được hưởng và tất nhiên là sẽ được hưởng liên tục
Trang 23cho tới khi mà người đó vẫn còn tồn tại như một con người Từ đó, quyền con
người xuất đầu lộ diện dưới góc độ pháp lý, ý tưởng về quyền con người được
ghi nhận và đảm bảo thực hiên
Thời kỳ cổ đại: Từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên, một vị vua vĩ đại của
xứ Babyon là Hammurabi (1810 - 1750 TCN) đã tuyên bố rằng, mục đích của
ông trong việc ban hành đạo luật cổ nổi tiếng Bộ luật Hammurabi là “…ngăn
ngừa kẻ mạnh áp bức kẻ yếu… làm cho người cô quả có nơi nương tựa ở thành
Babilon… đem lại hạnh phúc chân chính và đặt nền thống trị nhân từ cho mọi
thần dân trên vương quốc” được xem là văn bản pháp luật đầu tiên của nhân loại
nói đến quyền con người Ngoài ra, tư tưởng quyền con người còn thể hiện trong
các tác phẩm tôn giáo kinh điển như Kinh Vệ đà của đạo Hinđu, Kinh Phật, Kinh
Thánh, Kinh Kôran của đạo Hồi; trong học thuyết chính trị của Nho giáo như
Khổng Tử có câu “Thiên ý dân tâm” Còn Mạnh Tử thì lấy tinh thần xem trọng
con dân: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Tuân Tử đưa ra một câu
triết lý sâu sắc: “Vua với dân như nước với thuyền, nước chở thuyền nhưng nước
cũng làm đắm thuyền”; trong những cuộc đấu tranh của người nô lệ (Spartacuse -
La Mã); trong tư tưởng triết học như Protagoras (490-420 TCN) đã nói rằng:
“Thượng đế tạo ra mọi người đều là người tự do, không ai tự nhiên biến thành
nô lệ cả”…
Thời kỳ trung đại: Ngay trong thời kỳ Đêm trường trung cổ ở châu Âu
(với sự thống trị của tư tưởng thần quyền của nhà thờ Thiên chúa giáo), nhà vua
John của nước Anh đã ban hành Đại hiến chương Magna Carta năm 1215 thừa
nhận một số quyền cơ bản của con người như quyền sở hữu, thừa kế tài sản;
quyền tự do buôn bán và không bị đánh thuế quá mức; quyền tái hôn của phụ nữ
góa chồng; quyền được xét xử đúng đắn và bình đẳng trước pháp luật… Đặc biệt,
Hiến chương này được xem là văn bản pháp luật đầu tiên xác lập ý tưởng giới
hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền công dân thông qua quy phạm habeas
corpus (luật bảo thân) và due process of law (luật tôn trọng các quyền hợp pháp
của công dân)… Thời kỳ Phục hưng nở rộ hàng loạt tư tưởng tiến bộ về quyền
con người, đặc biệt là các trường phái quyền tự nhiên và quyền pháp lý với
những nhà triết học tiêu biểu như Thomas Hobbes, John Locke, Thomas Paine,
John Stuart Mill… Một hệ thống tư tưởng về quyền con người đã xuất hiện và
lần đầu tiên được đề cập bởi các nhà tư tưởng phương Tây trong thế kỷ XVII,
XVIII, tiêu biểu là Jean-Jacques Rouseau và John Loke
Thời kỳ cận đại: Hai cuộc cách mạng nổ ra và cuối thế kỷ thứ XVIII ở
Mỹ và Pháp đã có những đóng góp rất to lớn vào sự phát triển tư tưởng và quá
trình lập pháp về quyền con người trên toàn thế giới Tuyên ngôn độc lập năm
Trang 241776 của nước Mỹ khẳng định rằng: “…Mọi người sinh ra đều bình đẳng Tạo
hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền đó
có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Bản Tuyên
ngôn này được coi là sự xác nhận chính thức đầu tiên trên phương diện Nhà nước
về quyền con người Điều 1 Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền năm 1789
của Pháp thì khẳng định: “Người ta sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các
quyền” Sau đó, một loạt Hiến pháp được ban hành ở châu Âu đã thể hiện những
luận điểm quan trọng của văn kiện này
Tuy nhiên, quyền con người chỉ thực sự nổi lên như một vấn đề ở tầm
quốc tế từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cùng với cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ
chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ diễn ra rất mạnh mẽ và liên tục đến cuối thế kỷ
này và phong trào đấu tranh đòi cải thiện điều kiện sống cho người lao động và
bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang trên thế giới Cũng vào những
năm đầu của thế kỷ XIX, cùng với việc thành lập Hội quốc liên và Tổ chức lao
động quốc tế (năm 1919), quyền con người ngày càng trở thành một vấn đề có
tầm quốc tế rộng lớn Cả hai tổ chức này đã nâng nhận thức và hoạt động về
quyền con người lên một mức độ mới
Thời kỳ hiện đại: Sau hai cuộc chiến tranh thế giới khốc liệt đầu thế kỷ
XX, LHQ ra đời nhằm duy trì hòa bình cho nhân loại Hiến chương LHQ đã dành
nhiều đoạn, mục khẳng định mục tiêu, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của
LHQ trong việc bảo vệ và thúc đẩy tôn trọng các quyền và quyền tự do cơ bản
của con người Hiến chương LHQ và Tuyên ngôn nhân quyền là hai văn kiện
quốc tế quan trọng đầu tiên về nhân quyền
Hội nghị thế giới về quyền con người năm 1993 đánh dấu bước ngoặc
trong nổ lực thúc đẩy các quyền con người trên thế giới sau những trì trệ ở thời
giữa dân chủ, phát triển và quyền con người cũng như giữa các quyền con người
về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Hội nghị đã thiết lập “một khuôn
khổ mới cho việc đối thoại, hợp tác và phối hợp của cộng đồng quốc tế trong lĩnh
1.2.1.2 Các văn bản pháp lý quốc tế về nhân quyền
14
Hội nghị này ghi dấu một kỷ lục về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, với khoảng 7.000 đại biểu đại
diện cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các nhà nghiên cứu và nhà hoạt động
quyền con người từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có 800 đại biểu của các tổ chức phi chính phủ
Nguồn: OHCHR (http://www.unhchr)
15 Diễn văn bế mạc của Tổng thư ký Liên hợp quốc, OHCHR (http://www.unhchr)
Trang 25Luật quốc tế về quyền con người (international human rights law) có thể
hiểu “là một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn và tập quán pháp lý quốc tế xác lập,
bảo vệ và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản cho mọi hình thành viên của cộng
đồng nhân loại”
Về khái niệm luật quốc tế về quyền con người sẽ hẹp hơn khái niệm luật
Vẫn còn rất nhiều những bàn cãi về nguồn của luật quốc tế về nhân quyền,
theo như người viết thì ICJ (Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế) ở Điều 38 (1) thì
bao gồm các văn bản sau: (i) Các điều ước quốc tế (chung hoặc riêng); (ii) Các
tập quán quốc tế; (iii) Các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc văn minh
thừa nhận; (iv) Các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế và quan điểm của
các chuyên gia pháp luật có uy tín cao
Như vậy, theo như Điều 38 (1) thì luật quốc tế về nhân quyền cũng sẽ bao
gồm các nguồn trên, như một cách thừa nhận rằng, nhân quyền có một cơ sở
pháp lý quốc tế vững chắc để bảo đảm thực thi công lý cho con người ngày hôm
nay
Hiến chương LHQ đã dành nhiều đoạn, mục khẳng định mục tiêu, quy
định nghĩa vụ và trách nhiệm của LHQ trong việc bảo vệ và thúc đẩy tôn trọng
các quyền và quyền tự do cơ bản của con người Quyền con người được pháp
điển hoá trong một loạt Công ước quốc tế về nhân quyền
Sau đây là các văn kiện quốc tế quan trọng về nhân quyền 17 :
Hiến chương Liên Hiệp Quốc về quyền con người, 1945
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, 1948
Tuyên bố Viên và Chương trình Hành động, 1993
Tuyên bố Thiên niên kỷ của LHQ, 2000
Các điều ước quốc tế: Về các quyền và tự do cơ bản; về ngăn chặn sự
phân biệt đối xử về chủng tộc, trong giáo dục, nghề nghiệp và việc làm; về quyền
của phụ nữ; về quyền trẻ em; về quyền của người lao động di trú; về quyền của
người khuyết tật; về chống buôn bán nô lệ; về bảo vệ người tỵ nạn và người
không quốc tịch và các trường hợp không ràng buộc
Các văn kiện quốc tế về một số nhóm đối tượng: Các nguyên tắc của
LHQ về người cao tuổi, 1991 Tuyên bố Cam kết về HIV/AIDS, 2001 Các
Hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người, 1996 Tuyên bố về quyền
Trang 26của những người không phải công dân của quốc gia nơi họ đang sinh sống, 1985
Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng
tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, 1992
1.2.1.3 Các nhóm quan điểm chính hiện nay về nhân quyền
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhân quyền trên thế giới, các quan
điểm này vừa mang tính phức tạp, lại vừa mang tính nhạy cảm Tính phức tạp thể
hiện ở việc, hiện vẫn còn rất nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau liên quan hầu hết
đến các khía cạnh của quyền con người, từ khái niệm, bản chất, nội dung và cách
thức thực hiện các quyền con người cụ thể Tính nhạy cảm thể hiện ở vấn đề
quyền con người đã và đang bị một thế lực lợi dụng như một công cụ chống phá
những quốc gia không chấp nhận sự áp đặt
Có hai học thuyết phổ biến trên thế giới trái ngược nhau về nhân quyền,
đã tồn tại từ thuở sơ khai và cho đến ngày hôm nay các hậu duệ của hai học
thuyết này vẫn còn tranh cãi với nhau về tính hợp lý cũng như tính đúng đắn của
hai học thuyết này Tuy nhiên thì việc tranh cãi đó chưa kết thúc, câu trả lời sẽ là
câu hỏi lớn nhất cho các nhà nghiên cứu về nhân quyền Dựa trên nguồn gốc của
quyền con người, có hai trường phái cơ bản đưa ra hai quan điểm trái ngược
quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được
hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại Các quyền con
người vì đó mà không phụ thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa
hay ý chí của bất kỳ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước
nào; và không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các
quyền con người bẩm sinh, vốn có của các cá nhân
Ngược lại với học thuyết các quyền tự nhiên là học thuyết về các quyền
gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp
điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa
Như vậy, theo học thuyết pháp lý, phạm vi, giới hạn và ở góc độ nhất định, cả
thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp
thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa…của các
xã hội Ở đây khi các quyền tự nhiên có tính đồng nhất trong mọi hoàn cảnh
(universal), mọi thời điểm, thì các quyền pháp lý mang tính khác biệt tương đối
về mặt văn hóa và chính trị (culturally and politically relative)
18 Trong một số tài liệu, các quyền tự nhiên còn được gọi là các quyền có tính đạo đức/luân lý (moral
rights) hoặc các quyền không thể chuyển nhượng (inalienable rights)
19 Trong một số tài liệu, các quyền pháp lý còn được gọi là các quyền dân sự (civil rights), hoặc các
quyền luật định (statutory rights)
Trang 27Trong khi quyền con người đã trở thành ngôn ngữ chung của nhân loại và
nó trở thành chủ đề chính trong các chương trình nghị sự quốc tế thì bên cạnh đó
vẫn còn những khác biệt nhất định trong quan điểm về quyền con người giữa các
quốc gia, khu vực và cộng đồng
Cùng với sự quan tâm ngày càng tăng đối với nhân quyền, trên phạm vi
toàn cầu, tại các diễn đàn đa phương đã diễn ra sự đấu tranh, phân hóa theo hai
nhóm quan điểm trên lĩnh vực này xuất phát từ lợi ích và điều kiện kinh tế - xã
hội khác nhau: Quan điểm của các nước đang phát triển - Không Liên Kết và
quan điểm Mỹ và phương Tây Việt nam vừa là nước đang phát triển vừa là nước
XHCN có quan điểm rất gần với các nước Không Liên Kết tích cực Cuộc đấu
tranh xoay quanh ba cụm vấn đề chính:
Thứ nhất là tính phổ biến và tính đặc thù, thẩm quyền quốc gia và thẩm
quyền quốc tế: Phương Tây tuyệt đối hoá tính toàn cầu, phổ cập của nhân quyền
vượt lên trên thẩm quyền quốc gia, chủ trương can thiệp quốc tế đối với tình hình
vi phạm nhân quyền ở các nước Các nước đang phát triển thừa nhận tính chất
chung của những giá trị cơ bản nhất trong khái niệm nhân quyền nhưng đồng
thời cho rằng trong việc hiểu và thực hiện nhân quyền ở các nước không thể
không dựa trên đặc thù lịch sử, văn hoá, kinh tế - xã hội của từng khu vực và
từng nước; họ chống lại sự áp đặt mô hình và tiêu chuẩn về giá trị của bên ngoài,
chống việc nhân danh bảo vệ nhân quyền để can thiệp nội bộ vi phạm chủ quyền
quốc gia và quyền tự quyết dân tộc
Thứ hai là mối tương quan giữa các loại quyền con người: Phương Tây
nhấn mạnh các quyền chính trị - dân sự và các quyền tự do cá nhân với dụng ý đề
cao và áp đặt nền “dân chủ” và hệ thống giá trị chính trị - xã hội của phương Tây
Các nước đang phát triển đòi hỏi phải coi trọng ngang bằng cả hai loại quyền
chính trị -dân sự và kinh tế - xã hội - văn hoá, không thể chỉ chú trọng một loại
quyền, ưu tiên thúc đẩy các quyền tự do chính trị; đồng thời họ cho rằng các
quyền tự do cá nhân không thể vượt lên trên mà phải gắn liền với quyền và lợi
ích của số đông, của cộng đồng và dân tộc, quyền của thiếu số phải phục tùng
quyền của đa số, quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội
Cuối cùng là quyền phát triển và loại bỏ việc gắn điều kiện nhân quyền
đối với hợp tác - viện trợ cho phát triển: Ở những mức độ khác nhau các nước
phương Tây đặc biệt là Mỹ, ngần ngại thừa nhận quyền phát triển của các dân tộc
như một quyền con người cơ bản vì điều này dẫn đến trách nhiệm của họ với tư
cách là những nước giàu, nước phát triển, một số đã từng bóc lột và vơ vét tài
nguyên của các nước thuộc địa trước kia, phải đóng góp, hỗ trợ cho nỗ lực phát
triển của các nước đang phát triển Thậm chí một số nước phương Tây vẫn chủ
Trang 28trương đặt tiến bộ về nhân quyền tại một nước - theo thái độ của họ - thành điều
kiện cho việc cung cấp hay duy trì viện trợ cho phát triển hoặc những điều kiện
thuận lợi cho buôn bán, xuất khẩu
Các nước đang phát triển khẳng định quyền phát triển là quyền phổ biến,
một trong những quyền cơ bản của con người Họ bác bỏ việc gắn điều kiện nhân
quyền cho phát triển, đấu tranh chống lại việc phương Tây lẩn tránh trách nhiệm
của họ đối với Hội nghị Nhân quyền thế giới (Viên - 93) đã khẳng định lại nội
dung tích cực của quyền phát triển và chống việc đặt điều kiện cho viện trợ phát
triển
Nhân quyền trong quan hệ quốc tế thể hiện xu thế chung là vừa hợp tác,
vừa đấu tranh giữa các nước, và giữa một nước với các tổ chức quốc tế hoặc
nhân vật nước khác, với những tương tác thường xuyên và lợi ích đan xen giữa
kinh tế - thương mại và chính trị, chính thức và không chính thức không ngừng
gia tăng và mở rộng
Do tính chưa ngã ngũ của vấn đề thường xuất hiện hai thái cực khi xem
xét quyền con người trong thực tế: Hoặc dựa vào con bài nhân quyền để can
thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, hoặc dựa vào nguyên
tắc không can thiệp vào nội bộ của nước khác để cản trở sự điều tiết của luật
quốc tế đối với vấn đề quyền con người Thiết nghĩ ở đây nên có một cách nhìn
đúng đắn và những việc làm cụ thể để quyền con người được thực hiện mà chủ
quyền của quốc gia vẫn được toàn vẹn Và cũng cần nhấn mạnh rằng chủ yếu
không phải là tuyên bố một cách hình thức về tính chủ thể pháp lý cá nhân, về
quyền con người mà tìm các biện pháp hữu hiệu để cho quyền con người được
đảm bảo trong mối tương hỗ giữa nội luật và công pháp quốc tế, trong sự hợp tác
quốc tế giữa các tổ chức, quốc gia với nhau
“Tương lai của quyền con người sẽ ra sao?” Câu trả lời cho câu hỏi này
có lẽ ở mỗi quốc gia là khác nhau Nó hoàn toàn phụ thuộc vào nổ lực chung của
nhiều chủ thể, trong đó bao gồm các tổ chức quốc tế, các chính phủ và từng cá
nhân trong cộng đồng nhân loại trong việc bảo vệ và thúc đẩy các tiêu chuẩn
quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người
1.2.2 Sự phát triển của chế định quyền con người trong pháp luật Việt Nam
Sự phát triển của chế định về quyền con người đã sớm len lõi hình thành
trong quá trình lập pháp của Việt Nam, cũng như trong từng tiến trình phát triển
của đất nước, có lẽ nó chỉ thực sự được ghi nhận một cách ngày càng rõ ràng hơn
ở các bản Hiến pháp của chúng ta
1.2.2.1 Lịch sử hình thành và nhận thức về quyền con người
Trang 29Như những quốc gia trên thế giới, Việt Nam có một quá trình hình thành
và phát triển qua bao nhiêu thăng trầm, biến động lịch sử Biết rằng con người
sinh ra có những nhu cầu thiết yếu về sự sinh tồn, tức là sự khác biệt các nền văn
hóa không làm thay đổi bản chất của con người sơ khai, làm cho chúng ta có thể
tồn tại, vượt qua chiến tranh, vươn lên như ngày hôm nay
Trong xã hội Việt Nam thời xưa, nhà Vua tập trung trong tay mình uy
quyền tuyệt đối, thể hiện trên mọi lĩnh vực Nhà Vua vừa là người trực tiếp quản
lý kinh tế, tổ chức hành chính, thực hiện luật pháp, chỉ huy quân sự, giáo dục đạo
đức và đứng đầu cả tôn giáo
Nhà nước Việt Nam thời phong kiến cũng tiếp thu Nho giáo ở tinh thần
chăm lo cho dân, trước hết là làm cho dân no đủ Khi Khổng Tử khen “dân nước
Vệ đông thay” và có học trò hỏi: “dân đã đông thì nhà cầm quyền phải làm gì
cho họ?”, thì Khổng Tử đáp gọn: “Phú chi” (giúp cho họ giàu có) Lại hỏi: “Giàu
có rồi, phải làm làm gì cho họ nữa?” Đáp: “Giáo chi” (Phải giáo hóa họ)
Mạnh Tử cho rằng, trách nhiệm của nhà cầm quyền là phải làm cho dân
no đủ Ông chủ trương nhiều vấn đề cụ thể liên quan đến đời sống hằng ngày của
nhân dân, từ việc khuyến khích tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đẩy mạnh
chăn nuôi lợn gà, trồng dâu nuôi tằm… đến việc không thu thuế nặng, không huy
động dân công lao dịch giữa lúc thời vụ nghề nông căng thẳng Ông cũng kêu gọi
sự quan tâm của xã hội đối với những người mà cùng khổ nhất trong thiên hạ Đó
là những “quan, quả, độc, cô” tức là những ông lão không vợ, bà lão không
chồng, người già không có con phụng dưỡng, những trẻ mồ côi
Xây dựng và bảo vệ đê điều là lợi ích cơ bản của nông dân, đã được coi là
một chức năng quan trọng của Nhà nước và là nhiệm vụ của toàn dân Vua nhà
Trần đã từng tự mình đi trông nom việc đắp đê Hành khiển Trần Khắc Chung
nhận thức được ý nghĩa quan trọng của việc đó, nói rằng: “lúc dân gặp nạn lụt,
người làm vua phải cứu giúp ngay Sửa sang đức chính không còn gì trọng đại
hơn công việc ấy” (Đại Việt sử ký toàn thư)
Nhà nước cũng có những chính sách bảo trợ cho những người tàn tật, trẻ
mồ côi, người già không nơi nương tựa Bộ luật Hồng Đức đời Lê có những điều
khoản quy định đối với những kẻ ốm đau không ai nuôi nấng, nằm ở đường sá,
cầu điếm, thì các xã quan phải dựng lều, chăm sóc cơm cháo, thuốc men cho họ
Đối với những người góa vợ, góa chồng, mồ côi và tàn tật nặng, thì quan sở tại
phải thu nuôi, nếu không làm hoặc làm trái thì quan ở đó phải bị biếm, bãi chức
hoặc bị xử đánh
Nhà Trần cũng đã thành lập hàng loạt kho thóc nhằm chuẩn cấp cho dân
Trang 30nghèo, nhất là khi gặp thiên tai, mùa màng thất bát, đói kém lan tràn Sau việc
chăm lo cho dân no đủ, thì việc giáo hóa dân luôn là trách nhiệm lớn lao và là
nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên, quan trọng bậc nhất của Nhà nước Đó cũng là
một điều cơ bản mà giới cầm quyền Việt Nam đã tiếp thu
Ở Việt Nam, hầu hết các vương triều, nhất là trong thời kỳ cường thịnh
của mình, đều rất quan tâm đến vấn đề giáo dục đại đức trong dân và luôn luôn
chăm lo chỉnh đốn việc học hành thi cử
Nhà Lý đã lập Văn Miếu năm 1070, mở khoa thi đầu tiên gọi là Minh
Kinh Bác Học năm 1075, lập Quốc Tử Giám năm 1076, sau đó mở tiếp các khóa
vào các năm 1086, 1152, 1193, 1195 Đó là những viên gạch đầu tiên đặt nền
móng cho sự phát triển của chế độ giáo dục và thi cử trong suốt thời kỳ phong
kiến từ đó về sau Nhà Trần lập Quốc Học viện, mở các khoa thi đều đặn hơn và
còn bổ dụng các học quan xuống các lộ phủ để trông coi việc học tập Triều Hồ
ngắn ngủi chỉ tồn tại mấy năm cũng có chấn chỉnh chế độ thi cử và có ý định mở
rộng việc học để đào tạo quan lại Đến thời Lê Sơ thì chế độ khoa cử càng được
hoàn chỉnh, cứ ba năm có một kỳ thi hương và một kỳ thi hội Thời Lê Thánh
Tông là thời thịnh đạt nhất, số sĩ tử rất đông Quốc Tử Giám có giảng đường học
tập, có ký túc xá cho học sinh, có kho lưu trữ sách
Các vua đầu triều Nguyễn như: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều là
những người uyên thâm Nho học, thường đích thân ra đề và chấm bài các kỳ thi
đình hoặc trực tiếp khảo hạch các nhà khoa bảng
Sỡ dĩ người viết đưa ra hàng loạt các chứng cứ lịch sử của Việt Nam là vì
rằng chứng minh: Nhân quyền thật sự tồn tại trong xã hội Việt Nam dù là trong
lịch sử hay hiện tại ngày hôm nay, sự đảm bảo này, chắc rằng vẫn chưa hoàn
thiện nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng, nó vẫn tồn tại và được tôn trọng
như những chân lý đạo đức mang tính nhân văn, là điều kiện cho sự tồn tại và
phát triển của con người và đất nước Việt Nam
Ngày 20/9/1977, Việt Nam chính thức trở thành thành viên LHQ Trải qua
36 năm kể từ ngày gia nhập tổ chức quốc tế đa phương quan trọng bậc nhất này,
Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước về quyền con người và thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ của một quốc gia thành viên
Hiến pháp 1992, văn kiện có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công
dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước
pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam;
quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe… không
Trang 31phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam
tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về
nhân quyền
1.2.2.2 Sự phát triển của quyền con người và quyền công dân qua các bản
Hiến pháp Việt Nam
Pháp luật không chỉ là công cụ của nhà nước Theo PGS TS Nguyễn
Đăng Dung: “Nếu chỉ có vai trò là công cụ của nhà nước, hoặc chí ít là vai trò
thứ nhất của nhà nước… thì… pháp luật không cần thiết đối với nhà nước Nhà
nước có thể quản lý pháp luật mà không cần có đến pháp luật, vì vậy pháp luật
trước hết phải là công cụ của nhân dân Nhân dân sử dụng pháp luật như là một
công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ mình”20 Nói vậy, có nghĩa là trước tiên, chế
định quyền công dân tồn tại thể hiện cho thể chế dân chủ, vì con người, bảo hộ
họ trước xã hội Khẳng định rằng, Nhà nước hoàn toàn tôn trọng quyền con
người, một điều cần thiết và tất yếu Bản Hiến pháp có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
trong trường hợp này, một bộ luật mang tính tối thượng về vị trí, được tôn trọng
tuyệt đối
Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam đã đặt ở vị trí cao nhiệm vụ bảo
đảm quyền con người Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2 tháng 9 năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền
hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân
tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để
Nhận xét về bản Hiến Pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết:
“Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn, nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh
thực tế Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập Hiến pháp
đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến
pháp đó tuyên bố với thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với
đàn ông để hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân Hiến pháp đó đã
nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần
liêm khiết, công bình của các giai cấp”22 Thật vậy, bản Hiến pháp đầu tiên của
một đất nước đã trải qua quá nhiều mất mát và đau thương thật sự có ý nghĩa hết
sức quan trọng đối với những người dân cần lao, trực tiếp khẳng định và thừa
nhận rằng quyền lợi cơ bản của con người sẽ được đảm bảo vô điều kiện, sẽ được
sống trong một xã hội dân chủ và công bằng
20 Nguyễn Đăng Dung: “Pháp luật không chỉ là công cụ của nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
11, 2000, tr 54 - 55
21 “Hồ Chí Minh Toàn tập”, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, năm 1995, tr 108
22 “Hồ Chí Minh: Toàn tập”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr 440
Trang 32Bản Hiến Pháp năm 1946, đạo luật cơ bản đầu tiên của đất nước chỉ có 70
điều, nhưng đã dành cho chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân đến 18
điều được trình bày tập trung tại chương II “Quyền lợi và nghĩa vụ công dân”,
ngay sau chương I, quy định về chính thể, đây có thể nói là một vị trí quan trọng
Vấn đề ở đây người viết muốn đề cập đến không phải là số lượng điều luật, mà
chính là nội dung của các quy định Bản Hiến pháp đã ghi nhận rất đầy đủ quyền
công dân có thể có được trong hoàn cảnh lúc bấy giờ của đất nước
Về quyền bình đẳng: tất cả công dân Việt Nam ngang quyền về mọi
phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều 6); bình đẳng trước pháp luật; đều
được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc (Điều 7); bình đẳng giữa các
dân tộc (Điều 8); bình đẳng nam, nữ (Điều 9);
Về quyền tự do: công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất
bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và
nước ngoài (Điều 10), quyền bất khả xâm phạm về thân thể (tư pháp chưa quyết
định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân), về thư tín, về nhà ở
(không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật) (Điều 11)
Các quyền dân chủ chính trị được đảm bảo, tất cả công dân Việt Nam từ
18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên
đều có quyền ứng cử Thực hiện chế độ bỏ phiếu tự do, trực tiếp và kín (Điều
17) Thừa nhận quyền của người ngoại quốc đấu tranh cho dân chủ và tự do mà
phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam (Điều 16)
Cùng với đó là quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội được ghi nhận: quyền tư
hữu tài sản, quyền lợi của các giới cần lao tri thức và chân tay được đảm bảo
(Điều 12, Điều 13); nền sơ học là cưỡng bách và không học phí, học trò nghèo
được Chính phủ giúp đỡ (Điều 15), trường tư được mở dạy tự do và dạy theo
chương trình của Nhà nước, quốc dân thiểu số được học bằng tiếng của mình ở
sơ học địa phương; những người công dân già cả hoặc tàn tật thì được giúp đỡ,
trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng (Điều 14)
Một nền dân chủ còn trong trứng nước, còn nguyên sơ, nhưng rõ ràng nó
đã hoàn thiện về mặt tư tưởng, đạt được trình độ cao và hoàn thiện Hạn chế có
tính đương nhiên ở chỗ: những người được bầu cử thì không thể là người mất trí
và người mất công quyền; người ứng cử phải biết học, biết viết chữ quốc ngữ
(Điều 18) Tuy nhiên thì cái bản chất nhân dân, tính dân chủ rộng rãi của các
quyền tự do dân chủ được thừa nhận ở đây là điều hiển nhiên
Trong lĩnh vực quyền công dân di sản hiến định mà Hiến pháp năm 1946
để lại cho ba Hiến pháp sau - Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp
Trang 331992 - là đồ sộ Cả ba Hiến pháp sau đều dành hẳn một chương để quy định về
quyền và nghĩa vụ của công dân và có một điều đáng lưu ý là số lượng các điều ở
mỗi chương ngày càng phát triển: ở Hiến pháp sau bao giờ cũng lướn hơn ở Hiến
pháp trước Nếu ở Hiến pháp 1946 là 18 điều thì ở Hiến pháp 1959 là 21 điều (từ
Điều 22 đến Điều 43); ở Hiến pháp 1980 là 29 điều (từ Điều 53 đến Điều 81) và
ở Hiến pháp 1992 là 34 điều (từ Điều 49 đến Điều 82)
Sự kế thừa biện chứng không bao giờ đồng nghĩa với sự sao chép nguyên
xi cái đã qua, cái đi trước Theo nghĩa chính xác của nó, sự thừa kế đúng đắn bao
giờ cũng diễn ra trong sự phát triển Tính hoàn chỉnh của chế định công dân trong
Hiến pháp 1959 so với Hiến pháp 1946 là bước phát triển dài, thể hiện theo các
khuynh hướng: Trước hết, quyền bầu cử ở Hiến pháp 1946 được giành hẳn một
mục với 5 điều thì ở Hiến pháp 1959 chỉ còn một điều, nhưng để được cụ thể hóa
thành cả một chế định hoàn chỉnh trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa cùng được thông qua trong một ngày với Hiến Pháp
1959 (31 tháng 12) và Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các
cấp
Có thể nói Hiến pháp 1980 có những quy định về quyền công dân khá là
phong phú và đa dạng Hiến pháp này còn có một loạt những quy định mới về
quyền cơ bản của công dân cho phù hợp với tình hình của đất nước Đó là quyền
có quốc tịch Việt Nam (Điều 53), quyền tham gia quản lý công việc của Nhà
nước và xã hội (Điều 50), quyền được bảo vệ sức khỏe (Điều 61), quyền có nhà ở
(Điều 62), quyền được ưu tiên bảo vệ, chăm sóc, giáo dục của thiếu niên, nhi
đồng (Điều 65), quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và
nhân phẩm (Điều 70), quyền được bảo đảm bí mật về điện thoại, điện tín (Điều
71), quyền được Nhà nước bảo hộ về quyền lợi của tác giả, của người sáng chế,
phát minh (Điều 72), quyền được hưởng chính sách ưu đãi của thương binh và
gia đình liệt sĩ, quyền được nhà nước và xã hội giúp đỡ của người gia, người tàn
tật không nơi nương tựa và trẻ mồ côi (Điều 74) Những quy định này thể hiện sự
quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo và mở rộng các quyền tự do và dân chủ
của công dân Điều đáng ghi nhận là trong 22 điều quy định các quyền cơ bản
của công dân thì có đến 16 điều ấn định nghĩa vụ kèm theo của Nhà nước (trong
Hiến pháp 1959 chỉ có 9 điều như vậy) Hiến pháp 1980 không những khắc phục
một bước tính hình thức, tính tuyên ngôn của những quy định về các quyền cơ
bản của công dân trong hai hiến pháp trước, mà còn củng cố thêm tính thống nhất
giữa quyền và nghĩa vụ trong quan hệ nhà nước - công dân
Hiến pháp năm 1992 sử dụng khái niệm “quyền con người” với nội dung
chính trị - pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của cá nhân con người trong mối
Trang 34quan hệ với một nhà nước nhất định, lẫn giá trị tổng hợp được cộng đồng quốc tế
thừa nhận Quan niệm như thế trong Hiến pháp 1992 sẽ là cầu nối tăng cường
mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế Như vậy,
khái niệm “quyền con người” không loại trừ khái niệm “quyền công dân” và
cũng không thay thế nó được Quyền cá nhân của con người hiện đã và đang
được pháp luật quốc gia và luật quốc tế thừa nhận và bảo vệ Với nhận thức như
vậy, bản Hiến pháp này vừa ghi nhận quyền công dân vừa để nhấn mạnh mối
quan hệ mật thiết giữa nhà nước và cá nhân con người, lại vừa tạo nên sự thống
nhất giữa luật quốc gia và luật quốc tế về giá trị của con người, từng bước xóa bỏ
quan niệm “khép kín” pháp luật trong nước trong lĩnh vực này Ghi nhận quyền
con người không tách rời quyền công dân - điều đó chỉ ra rằng, nội dung cơ bản
của quyền con người ở mỗi quốc gia chính là quyền công dân Quyền con người,
quyền công dân không tách rời với nghĩa vụ của công dân và mối quan hệ thống
nhất về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa nhà nước và công dân bằng việc đề cao
trách nhiệm pháp lý của mỗi bên chủ thể
Một điều hết sức quan trọng khác, Hiến pháp năm 1992 quy định trách
nhiệm pháp lý theo nguyên tắc quyền của công dân là nghĩa vụ của Nhà nước và
ngược lại Điều đó thể hiện rằng, Nhà nước coi quyền cá nhân của công dân là
nghĩa vụ pháp lý của mình, các cơ quan nhà nước và các nhân viên có trách
nhiệm và nghĩa vụ thi hành Việt Nam thể hiện rằng mình sẽ không bao giờ cho
phép mối quan hệ chỉ xảy ra một chiều, tức là chỉ có một bên có quyền, bên kia
có nghĩa vụ Điều này cho phép chúng ta hiểu rằng mối quan hệ chặt chẽ giữa
công dân và Nhà nước
Điều 51 có một quy định mới là, chỉ có Hiến pháp và luật mới được quy
định quyền và nghĩa vụ của công dân Thể hiện rằng quyền công dân là các giá
trị xã hội, được trân trọng và bảo vệ
Tính hoàn chỉnh của chế định quyền công dân ở Hiến pháp 1959 cũng như
Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 so với Hiến Pháp 1946 là bước phát triển dài,
và để thấy được sự kế thừa trong phát triển của chế định quyền công dân qua các
giai đoạn phát triển của nền lập hiến Việt Nam có thể so sánh, đối chiếu một số
quy định của Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp 1992: Nếu ở Hiến pháp 1946 tại
Điều 12 có quy định một cách cô đọng “Quyền tư hữu tài sản của công dân được
bảo đảm” thì đến Hiến pháp 1992 tại Điều 58 quy định đó được diễn giải, mở
rộng: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập, của cãi để dành, nhà ở, tư liệu ”
Theo một hướng khác, nếu ở Hiến pháp 1946 mỗi quyền công dân thường
đượt diễn đạt một cách cô đọng, đặt biệt ngắn gọn, thì ở những bản Hiến pháp
sau, đã được diễn giải theo chiều rộng và cả chiều sâu và quy định của bốn bản
Trang 35Hiến pháp về quyền nam nữ bình đẳng là rất đặt trưng cho khuynh hướng này Ở
Hiến pháp 1946, Điều 9 có ghi: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi
phương diện” Nội dung của quy định thật hoàn chỉnh, nhưng cũng thật cô đọng
Đến năm 1959, công thức cô đọng đó vẫn được diễn giải, bổ sung, cụ thể hóa
nhiều nội dung và đến 1980, quyền bình đẳng nam nữ lại càng được mở rộng,
hoàn chỉnh và hoàn thiện hơn ở Điều 63, Hiến pháp 1992 quy định về quyền bình
đẳng nam nữ, và nội dung định hướng cũng không có gì thay đổi Đối với các
chế định khác cũng vậy, từ các quyền tự do đến các quyền dân chủ văn hóa - xã
hội, từ hiến pháp này qua hiến pháp khác đã có sự phát triển liên tục, không
ngừng
Tuy nhiên, không chỉ là vấn đề bình đẳng nam nữ mà cả trong các quy
định khác của Hiến pháp về quyền công dân, bản chất nhân dân, tính chất dân
chủ rộng rãi như sợi chỉ đỏ xuyên suốt các hiến pháp Việt Nam
Những quyền chưa được đặt ra ở Hiến pháp 1946 như một đòi hỏi của
cuộc sống hoặc chưa cho phép thì ở Hiến pháp sau, nhất là ở Hiến pháp hiện
hành năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001
Ở Hiến pháp 1992 nhiều quyền mới đã được bổ sung, trong đó phải nói
đến như quyền tự do kinh doanh (Điều 57), quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 74),
quyền làm việc (Điều 30), quyền nghỉ ngơi (Điều 31), quyền nghiên cứu khoa
học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác (Điều
34)
Chế định này bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố như: sự phát triển của
xã hội, truyền thống và môi trường dân chủ, dân trí Bản thân các yếu tố này
mang tính “động” Trong mối quan hệ này, chế định quyền công dân được xem
như thước đo cho mặt bằng dân chủ của xã hội
Như vậy, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đã thể hiện đầy đủ tất cả các
quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền
thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của LHQ về quyền con người
Điều này chứng tỏ những tiến bộ vượt bậc và những cố gắng rất lớn của Nhà
nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người trong
bối cảnh Việt Nam còn đang trong quá trình xây dựng một Nhà nước pháp
quyền, khi tình hình kinh tế, xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn
Sau 20 năm thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con
người và quyền công dân đã bộc lộ một số hạn chế: chưa làm rõ và tách bạch
giữa quyền con người và quyền công dân, giữa quyền và nghĩa vụ cơ bản với
quyền và nghĩa vụ khác… Hiến pháp năm 1992 cũng còn nhiều quy định về
Trang 36quyền con người chưa gắn với trách nhiệm của Nhà nước; hoặc có những nghĩa
vụ của công dân chưa gắn với quyền hạn của Nhà nước; một số quy định về
quyền con người, quyền công dân chưa phản ánh đúng bản chất và ý nghĩa của
mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước
Bản Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp trong những tháng đầu năm 2013, trong
đó có các vấn đề được thảo luận dưới đây thì văn bản này đã chứa đựng một vài
điểm tích cực, như: Phần Lời nói đầu đã xác nhận sự tôn trọng và bảo đảm
Quyền Con người, thúc đẩy dân chủ và xây dựng một Chính phủ của Dân, do
Dân và vì Dân Chương hai được dành cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và
đảm bảo Quyền Con người (Khoản 1 Điều 15) Có một số quyền mới được bổ
sung vào bản Dự thảo Hiến Pháp, bao gồm: quyền được hưởng và tham gia vào
đời sống văn hỏa (Điều 44), quyền được tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều
45), quyền được sống trong “môi trường trong sạch” (Điều 46)
Tuy nhiên, Bản Dự Thảo Hiến Pháp đã không chỉ ra rõ vị trí pháp lý của
các hiệp ước Quốc tế về Quyền con người mà Việt Nam đã ký kết, đã phê chuẩn
và bắt buộc phải được thực thi thông qua các Luật trong nước Hơn thế nữa,
không có điều khoản nào chỉ ra các cơ quan có thẩm quyền ký kết và phê chuẩn
các hiệp ước Quốc tế một các cụ thể
Có thể khẳng định các quyền cơ bản của con người đã được quy định
tương đối đầy đủ, rõ nét trong hệ thống pháp luật của nước ta Tuy vậy vẫn còn
nhiều quy định mang tính cương lĩnh, tuyên ngôn, dẫn đến những khó khăn,
vướng mắc khi áp dụng trong thực tế cuộc sống
Trong quá trình xây dựng và trước khi thông qua Hiến pháp và các đạo
luật quan trọng, dự thảo các văn bản đều được công bố rộng rãi để lấy ý kiến
đóng góp của nhân dân và được chỉnh lý trên cơ sở các ý kiến đóng góp trên
Bằng việc tham gia vào quá trình xây dựng luật pháp, nhân dân đã thực hiện các
quyền tự do, dân chủ của mình và các văn bản pháp luật quan trọng đều thể hiện
được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân
1.3 Các chủ thể liên quan đến quyền con người
Chủ thể chiếm vị trí trung tâm trong luật quốc tế với nhiệm vụ chính là
phục vụ các quyền lợi của chủ thể, điều tiết các mối quan hệ giữa chúng với
nhau Bản tính của luật quốc tế gắn liền với tính chất của chủ thể và mối quan hệ
đó Chủ thể luật quốc tế không những là chủ các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ
quốc tế, mà còn là những chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình thiết lập và thi
hành các qui tắc của luật quốc tế Như vậy chủ thể của luật quốc tế là những thực
thể độc lập có những quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, tham gia vào quá trình
Trang 37thiết lập và thực hiện các quy tắc của luật quốc tế nhờ những đặc điểm và bản
chất của mình Đó là các quốc gia có chủ quyền - chủ thể chính của luật quốc tế;
các tổ chức liên Chính phủ; các quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập của
mình; các tổ chức tương đương với nhà nước; và cuối cùng - trong phạm vi nào
đó là cá nhân con người
Các quyền quốc tế của cá nhân xuất phát từ những nguyên tắc và điều luật
chung của luật quốc tế được công nhận và khẳng định trong 20 Công ước đa
phương và trong một loạt các điều ước song phương khác Ví dụ như theo Công
ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá 1966 công nhận quyền mỗi cá
nhân được: a) Tham gia vào đời sống văn hoá; b) Sử dụng các thành tựu của tiến
bộ khoa học và ứng dụng thực tiễn; c) Bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần
liên quan đến các công trình khoa học, các tác phẩm văn học - nghệ thuật mà họ
là tác giả Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế khẳng định: “Mỗi cá nhân con người
dù ở đâu đều có quyền yêu cầu công nhận tính chủ thể pháp lý của mình” (Điều
6) Điều 23 Công ước của các nước SNG cũng có tuyên bố tương tự
Ở đây cần làm sáng tỏ thêm về tính chủ thể pháp lý của cá nhân trong các
điều luật quốc tế về quyền con người Một mặt những điều luật này nói đến
quyền của cá nhân, điều đó chứng tỏ chính cá nhân là chủ thể của những điều
luật đó Nhưng mặt khác các Công ước quốc tế về quyền con người đều đòi hỏi
nhà nước phải đảm bảo cho cá nhân những quyền hạn trên Bản thân phần lớn
các quyền được nói đến trong các điều luật quốc tế về nhân quyền không được
đảm bảo trực tiếp bởi Công pháp quốc tế mà thông qua các điều luật của nội luật
Trong trường hợp này có thể nói đến tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân đặt
trong mối tương quan với các điều luật quốc tế về nhân quyền và tự do của con
người được không?
Phần lớn các điều luật quốc tế trong lĩnh vực quyền con người là những
điều luật được tạm gọi là bất tự thi Bản thân chúng không đảm bảo cho cá nhân
các quyền, tự do (thậm chí nếu hiến pháp của nước đó công nhận chúng là một
phần của nội luật) nếu như không có bộ máy thực thi thích hợp Bởi vậy nhiều
điều luật, ví dụ như Công ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị 1966,
bắt buộc nhà nước phải đảm bảo cho cá nhân những quyền đã được công nhận và
khẳng định trong công ước
Phải chăng là cá nhân con người không liên quan gì đến các chuẩn mực
quốc tế về quyền con người và chỉ có quyền đó qua các điều luật của nội luật?
Theo người viết thì không phải là như vậy Điều luật của Công pháp quốc tế về
nhân quyền một mặt bắt buộc quốc gia đảm bảo cho cá nhân các quyền đã được
quy định, đồng thời mặt khác quy định cho cá nhân quyền đòi hỏi ở quốc gia việc
Trang 38thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, hơn nữa cá nhân còn có quyền thỉnh cầu lên toà
án quốc tế nếu mọi biện pháp của luật không đáp ứng đòi hỏi pháp lý của cá
nhân Có thể nói khi chấp nhận với các điều luật quốc tế về quyền con người,
quốc gia tự nhận trách nhiệm pháp lý không chỉ trước các quốc gia tham gia
Công ước mà còn trước các công dân của mình
Thậm chí nếu bản thân điều luật quốc tế không đảm bảo những quyền
được quy định, điều luật đó vẫn có khả năng cản trở việc áp dụng những điều luật
của nội luật trái với nó Ví dụ nếu như luật pháp của một nước nào đó không đảm
bảo quyền được hội họp (đã nhắc đến trong Công ước về quyền công dân và
quyền chính trị, Điều 20) thì bản thân Điều khoản này là cơ sở để đòi hỏi nhà
nước đảm bảo quyền đó Các chuẩn mực quốc tế trong những trường hợp đó là
cơ sở pháp lý cho những đòi hỏi của cá nhân
Những điều vừa nói chứng minh vai trò ngày càng tăng của tính chủ thể
pháp lý cá nhân trong lĩnh vực quyền con người và công pháp quốc tế, về mối
quan hệ trực tiếp giữa cá nhân và công pháp quốc tế Trong đó, theo người viết
đối với việc xác định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân thì không có ý
nghĩa khi các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền phần lớn được thi hành qua các
điều của nội luật Nhân đây cũng xin dẫn ra ví dụ: các điều khoản liên quan đến
quyền con người của Hiến pháp các nước cũng có nhiều điều không đảm bảo trực
tiếp các quyền này Đòi hỏi phải có sự thông qua những điều luật khác, thậm chí
cả các biện pháp hành chính Nhưng điều đó không có nghĩa cá nhân phải là chủ
thể của luật hiến pháp Ngoài ra sự phát triển của các tổ chức quốc tế có nhiệm
vụ theo dõi, hỗ trợ cho việc chấp hành quyền và tự do của con người, việc tiếp
nhận các cá nhân vào những tổ chức đó chứng minh rằng cá nhân ngày càng gắn
liền với luật quốc tế
Cá nhân không những có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế được nảy sinh
từ điều luật quốc tế mà còn có quyền và khả năng yêu cầu quốc gia thực hiện các
quyền con người và trong trường hợp cần thiết có thể thỉnh cầu lên các Toà án
quốc tế để đảm bảo cho các quyền đó
Thế nhưng một mặt khác việc những chủ thể khác của luật quốc tế ngày
càng tích cực tham gia vào hoạt động trên trường quốc tế làm cho các hoạt động
này phức tạp hơn, khó điều khiển hơn Kết quả là vai trò của quốc gia - chủ thể
chính của luật quốc tế, không những không giảm đi mà ngày càng tăng lên Điều
đó được các nhà luật học trên thế giới khẳng định, nhất là những ai đó hoạt động
thực tế, chẳng hạn như nguyên Tổng thư ký liên hợp quốc, giáo sư luật quốc tế
B.Butros Galli nhấn mạnh đến “sự quan trọng và tính không thể thay thế của
quốc gia có chủ quyền như chủ thể chính của luật quốc tế”
Trang 39Sự khác biệt trong nhận thức về quyền con người giữa các chính phủ và
trong giới học thuật là điều hết sức hiển nhiên Trong thời kỳ chiến tranh lạnh,
cuộc tranh luận về quyền con người chủ yếu diễn ra giữa hai hệ thống chủ nghĩa
xã hội và tư bản chủ nghĩa và mang màu sắc ý thức hệ, xoay quanh giữa hai
nhóm quyền (nhóm quyền chính trị - dân sự với nhóm quyền kinh tế - xã hội)
Ngày nay, mọi thứ đã thay đổi, các cuộc tranh luận chủ yếu diễn ra giữa các quốc
gia phát triển và các quốc gia đang phát triển, vấn đề xoay quanh các vấn đề về
tính phổ biến của quyền con người với các đặt thù về kinh tế, văn hóa, xã hội
Tiếng nói của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các doanh nghiệp, bao
gồm các công ty đa quốc gia (MNCs), xuyên quốc gia (TNCs) cùng các nhóm
chủ thể phi nhà nước (non-state actors) ngày càng có trọng lượng trên các diễn
đàn về quyền con người, họ đang tác động đến quyền con người theo nhiều chiều
hướng khác nhau Khi các NGOs của quốc gia và cả quốc tế đã nổi lên như là
một lực lượng có tiếng nói thuyết phục với các tổ chức liên chính phủ quốc tế và
các chính phủ trong các vấn đề về quyền con người thì trách nhiệm xã hội của
các doanh nghiệp (corporate social responsibility) nói chung và các công ty đa
quốc gia nói riêng đang là mối lo ngại lớn trên thế giới, đặt biệt là ở các nước
đang phát triển Bên cạnh những đóng góp hết sức tích cực, vì chạy theo lợi
nhuận các doanh nghiệp đã gây ra nhiều vấn đề nan giải như bóc lột sức lao
động, điều kiện lao động tồi tệ, gây tổn hại sức khỏe cho người tiêu dùng, gây ô
nhiễm môi trường… Ở nhiều quốc gia, xu hướng tư nhân hóa khiến nhiều loại
dịch vụ công cộng được chuyển sang thực hiện bởi các doanh nghiệp tư nhân
càng đặt ra nhiều thách thức hơn trong việc kiểm soát tuân thủ trách nhiệm xã hội
của các doanh nghiệp
Ít nhất về mặt lý thuyết, các quốc gia ngày càng có trách nhiệm trước cộng
đồng quốc tế về tình hình nhân quyền của chính quốc gia mình Hơn ¾ quốc gia
trên thế giới đã phê chuẩn các Công ước Quốc tế về Nhân quyền
Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ cũng rất quan trọng đối với nền
chính trị nhân quyền quốc tế Các tổ chức Ân xá Quốc tế, Americas Watch, Liên
minh các quyền Tự do Dân sự Mỹ và một số tổ chức khác đóng vai trò quan
trọng trong các cuộc tranh luận về chính sách Trung Mỹ những năm 1980 Ở cả
Bắc Mỹ và châu Âu, các tổ chức phi chính phủ đóng một vai trò lớn trong các
cuộc tranh luận quốc gia về lệnh cấm vận đối với Nam Phi trong những năm
1980
Các tổ chức phi chính phủ - với tư cách tư nhân - có thể hoạt động mà
không chịu sự kiểm soát chính trị của chính phủ Hơn nữa, do không có những
tham vọng chính trị lớn có thể xung đột với các mục tiêu nhân quyền nên các tổ
Trang 40chức phi chính phủ thường ở vị trí thuận lợi hơn khi nêu ra những quan ngại về
nhân quyền Do tính chất phi đảng phái và hoạt động có tiêu điểm, nên đôi khi
các tổ chức phi chính phủ có thể nêu lên những vấn đề nhân quyền trong phạm vi
một quốc gia mà các tổ chức khác không làm được, điển hình là ở những quốc
gia mà hoạt động chính trị độc lập bị đàn áp và xã hội dân sự yếu
Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng, sức mạnh của các tổ chức phi chính phủ có
giới hạn, họ phải dựa vào sức mạnh của việc công khai các vụ vi phạm và tính
thuyết phục Rất nhiều quốc gia đã sử dụng quyền hạn để ép thành viên các nhóm
nhân quyền địa phương thành những nạn nhân mới Một số quốc gia cấm tài trợ
bên ngoài cho các tổ chức phi chính phủ, hoặc đặt ra những quy định đăng ký
hoạt động phiền phức nhằm cản trở công việc của họ
Các quốc gia có chủ quyền có hầu hết những điểm mạnh và điểm yếu như
các tổ chức phi chính phủ Các quốc gia đều phải điều hòa nhiều lợi ích xây dựng
chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia của họ, và điều này có nghĩa là
việc ủng hộ nhân quyền có thể bị hạn chế để ưu tiên cho những mục tiêu khác
Tuy nhiên, khi các quốc gia quyết định theo đuổi các mục tiêu nhân quyền, họ sẽ
sở hữu nguồn lực, các kênh ảnh hưởng lớn và cả khả năng công khai mà các tổ
chức phi chính phủ không có