1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP NGHĨA vụ CHUNG THỦY của vợ CHỒNG TRONG LUẬT hôn NHÂN và GIA ĐÌNH VIỆT NAM

76 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 842,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu đề tài Trong phạm vi đề tài người viết tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: sơ lược về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và một số

Trang 1

KHOA LUẬT

BỘ MÔN TƯ PHÁP - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

LỚP: LUẬT TƯ PHÁP 1 KHÓA: 34

CẦN THƠ, 04/2012

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

- -

Cần Thơ, Ngày Tháng… Năm 2012

Trang 3

- -

Cần Thơ, Ngày… Tháng… Năm 2012

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3

5 Cơ cấu luận văn 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 1.1 Các khái niệm chung về hôn nhân và gia đình 4

1.1.1 Khái niệm về hôn nhân 4

1.1.2 Khái niệm về thời kì hôn nhân 7

1.1.3 Khái niệm về gia đình 7

1.1.4 Gia đình Việt Nam truyền thống 13

1.2 Khái niệm về nghĩa vụ chung thủy 13

1.2.1 Khái niệm về nghĩa vụ và nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 13

1.3 Lược sử các chế định nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 15

1.3.1 Trong bộ luật nhà Lê 16

1.3.2 Trong Luật Gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959, Sắc luật ngày 13/7/ 1964, Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 17

1.3.3 Trong luật hôn nhân và gia đình năm 1986 18

1.3.4 Trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản điều chỉnh vấn đề trên 20

1.4 Ý nghĩa của sự chung thủy của vợ chồng 21

1.4.1 Ý nghĩa của nghĩa vụ chung thủy đối với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 21

1.4.2 Ý nghĩa của sự chung thủy đối với đời sống vợ chồng 22

CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG 2.1 Điều kiện phát sinh nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 24

2.1.1 Kết hôn hợp pháp 24

2.1.2 Chung sống như vợ chồng được pháp luật công nhận 26

Trang 5

2.2 Thời điểm phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 28

2.3 Nội dung của nghĩa vụ chung thủy 30

2.4 Giới hạn của nghĩa vụ chung thủy và sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy 31

2.5 Mối quan hệ giữa nghĩa vụ chung thủy và nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 38

2.6 Chế tài khi vi phạm nghĩa vụ chung thủy 39

2.6.1 Chế tài hành chính 39

2.6.2 Chế tài hình sự 40

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 3.1 Thực trạng vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 45

3.1.1 Thực tiễn sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy từ góc độ xã hội trong thời hiện đại 45

3.1.1.1 Về mặt đạo đức 45

3.1.1.2 Hạnh phúc gia đình trong bối cảnh hiện nay 46

3.1.1.3 Định kiến về giới 50

3.2 Hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 51

3.2.1 Hậu quả đối với gia đình 51

Đối với những người kết hôn hợp pháp 51

3.2.2 Hậu quả đối với con cái 53

3.2.3 Hậu quả đối với sự ổn định xã hội 55

3 3 Nguyên nhân của sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 56

3.3.1 Từ phía xã hội 56

3.3.2 Bất cập từ những quy định của pháp luật 58

3.3.2.1 Bất cập trong chế tài về xử lý vi phạm hành chính 58

3.3.2.2 Bất cập trong chế tài hình sự 60

3.4 Giải pháp 61

3.4.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 61

3.4.1.1 Giải pháp cho chế tài vi phạm nghĩa vụ chung thủy 61

3.4.1.2 Tăng mức độ nghiêm khắc của chế tài hành chính khi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 62

3.4.1.3 Tăng chế tài hình sự quy định căn cứ xét mức xử lý 64

3.4.2 Về mặt xã hội 65

Trang 6

KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 MỤC LỤC 71

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là những hình ảnh thu nhỏ của xã hội một cách trực quan và sinh động nhất Gia đình cũng là nơi duy trì nòi giống, là nơi nuôi dưỡng ra những thế hệ tương lai Cũng là nơi hình thành nhân cách con người, nơi nuôi dạy, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại các tệ nạn xã hội Đồng thời tạo ra nguồn nhân lực nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Xuất phát từ những tầm quan trọng ấy, tại hội nghị cán bộ thảo luận

dự thảo Luật hôn nhân và gia đình (ngày 10/10/1959) chủ tịch Hồ chí Minh

đã khẳng định: “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại

mới thành xã hội Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình càng tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội chính là gia đình Chính vì vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chú ý đến hạt nhân đó cho tốt”

Ngày nay, hôn nhân và gia đình luôn là mối quan tâm lớn của toàn xã hội, vì đây vừa là nền tảng xây dựng một xã hội tốt đẹp văn minh vừa là mục tiêu chung trong các đường lối của Đảng và Nhà nước khi xây dựng pháp luật nói chung và Luật hôn nhân và gia đình nói riêng Tu y nhiên với tình hình tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hóa như hiện nay một số người chạy theo lối sống cho là hiện đại, và xem trọng quan niệm như “có tiền là

có tất cả” mà không quan tâm nhiều đến sự chung thủy trong cuộc sống giữa

vợ chồng, làm lưu mờ đi những giá trị truyền thống vốn có của gia đình Việt Nam

Các văn bản Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986 cho đến Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 điều có quy định về nguyên tắc hôn nhân “một vợ một chồng” Bên cạnh trong Luật hôn nhân và gia đình năm

1986 và Luật hôn nhân và gia đình hiện hành có quy định vợ chồng phải có nghĩa vụ chung thủy, nhằm ngăn ngừa vợ hoặc chồng có quan hệ bất chính với người khác ngoài hôn nhân Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không

quy định cụ thể như thế nào là “chung thủy” và như thế nào là “không chung

thủy” bên cạnh cũng không đặt ra các biện pháp chế tài khi vi phạm nghĩa vụ

chung thủy một cách độc lập, mà pháp luật chỉ quy định nguyên tắc dự phòng khi vợ chồng vi phạm nghĩa vụ chung thủy tới mức vi phạm nguyên tắc hôn nhân “một vợ một chồng” và khi đó thì sẽ bị chế tài theo nguyên tắc

Trang 8

hôn nhân một vợ một chồng Tuy nhiên có một số trường hợp pháp luật không xử lý được khi chưa thỏa điều kiện vi phạm nguyên tắc hôn nhân một

vợ một chồng Và nếu đã thỏa điều kiện vi phạm để xử lý thì gặp một vướng mắc đó là pháp luật được ban hành ra nhưng khó thực thì được vi gặp nhi ều quy định còn hạn chế Do vậy người viết chọn đề tài: “Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” là đề tài nghiên cứu cho luận văn

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu về tình hình thực tế của những quy định của pháp luật bên cạnh các yếu tố xã hội tác động, cũng như nêu lên một số hậu quả, nguyên nhân của sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy đó nhằm có những hướng đóng góp vào các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề trên Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn người viết cũng nhằm mục đích nhằm góp phần hoàn thiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đồng thời bổ sung thêm các yếu tố của nghĩa vụ chung thủy Và sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy khi

có đầy đủ các điều kiện về yếu tố vi phạm khi đó những đối tượng vi phạm

sẽ bị chế tài theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhằm góp phần

nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân “một vợ một chồng”

Bên cạnh nêu lên sự bình đẳng trong quy định vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy thể hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng Nhưng trên thực tế th ì

về định kiến xã hội (về giới) vẫn còn tồn tại không ít sự bất bình đẳng trong cách nhìn nhận vấn đề

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi đề tài người viết tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

sơ lược về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và một số quy định của pháp luật trong các gia i đoạn đó điều chỉnh

về nghĩa vụ chung thủy đó, bên cạnh tập trung nghiên cứu về những quy định của pháp luật trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các chế tài

về xử phạt hành chính, xử lý hình sự khi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một

vợ một chồng, nhằm một phần bổ sung vào những điều kiện cụ thể về vi phạm nghĩa vụ chung thủy khi bị chế tài do vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Bên cạnh người viết đề cập tới biểu hiện của sự không chung thủy gọi

là “ngoại tình” Hành vi ngoại tình được hiểu là người đã có vợ hoặc chồng

Trang 9

có quan hệ yêu đương bất chính với một người khác Có các dạng ngoại tình như ngoại tình trong tư tưởng, ngoại tình có mối quan hệ xác thịt với một người khác ngoài chồng hoặc vợ Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn người viết tập trung nghiên cứu về những trường hợp ngoại tình có mối quan

hệ xác thịt với một người khác ngoài chồng hoặc vợ của người đó Nhằm xem xét những trường hợp đó có thỏa những điều kiện quy định về các biện pháp chế tài khi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Cụm từ của hành vi “ngoại tình” được biểu hiện nhiều dạng khác nhau như ngoại tình trong tư tưởng hay có mối quan hệ xác thịt với một người khác ngoài

chồng (vợ) Và từ ngữ “ngoại tình” được trình bày trong luận văn là cụm từ

dùng được hiểu theo nghĩa có mối quan hệ xác thịt với một người khác ng oài chồng hoặc vợ của họ

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa vào phương pháp phân tích luật viết, các phương pháp quy nạp, diễn dịch phương pháp thu thập tài liệu, quá trình tìm hiểu thực tế

Sử dụng phương pháp khoa học lịch sử biện chứng, kết hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước nghi trong các văn bản pháp chế điều chỉnh

về hôn nhân và gia đình

5 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn nghiên cứu về “Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân

và gia đình Việt Nam” còn có phần nội dung được kết cấu thành ba chương

Chương 1: Lý luận chung về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Chương 2: Các quy định của pháp luật điều chỉnh về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

Chương 3: Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện việc thực hiện nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG

TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

1.1 Các khái niệm chung về hôn nhân và gia đình

1.1.1 Khái niệm về hôn nhân

Trong khoa học pháp lý nói chung và trong khoa học Luật hôn nhân và gia đình nói riêng, việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chế độ pháp lý về hôn nhân Tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của hôn nhân, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình

Thực tiễn khoa học Luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và ở nước ngoài, nhiều khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu luật đưa ra, chẳng hạn như: Theo hệ thống pháp luật Anh- Mỹ (Common law), phổ biến một khái niệm cổ điển mang quan niệm truyền thống về hôn

nhân của Cơ đốc giáo: “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một

người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác”1

Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở Châu Âu và Mỹ quan

niệm: “Hôn nhân là sự kết hợp pháp lý giữa một người nam và một người nữ

với tư cách là vợ chồng”2, hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung

sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng ”3

Ở Việt Nam, các giáo trình Dân luật dưới chế độ Sài Gòn cũ chưa đưa

ra khái niệm cụ thể về hôn nhân mà phần nhiều mới đưa ra khái niệm “giá

thú” “Giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định”4

Theo một số luật gia Sài Gòn, khái niệm “giá thú” bao gồm có hai

nghĩa: Theo nghĩa thứ nhất giá thú là hành vi phối hợp vợ chồng (kết hôn) Theo nghĩa thứ hai là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau làm vợ chồng và thời gian hai người ăn ở với nhau, Điều 3 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964, điều 99 Bộ dân luật 1972 ngày 20/12/1972 của chính quyền Sài

1 Xem: O M Promlemley, Family law, 5th edition, London Butterworth, 1976, tr 15

2 Xem: Leonard & Elias Berkeyly, Family law Dictionary, Cali Nolo 1990

3 Xem: Dictionary of law – Third edition, Petter collin publishing, 2000

4 Xem: Nguyễn Quang Quỳnh, Dân luật, Bộ văn hóa giáo dục, Viện Đại học Cần Thơ xuất bản 1968, tr 239

Trang 11

Gòn cũ quy định: “Không ai đươc phép tái hôn nếu giá thứ trước chưa đoạn

có hôn nhân tư bản, ở xã hội chủ nghĩa có hôn nhân xã hội chủ nghĩa

Trong pháp Luật hôn nhân và gia đình hiện hành, khái niệm hôn nhân

đã được các nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn Luật

hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và

chồng sau khi đã kết hôn”5 Còn theo tự điển giải thích luật học của trường

Đại học Luật Hà Nội hôn nhân được hiểu là: “sự liên kết giữa người nam và

người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình

tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận”6 Tóm lại, các khái niệm hôn nhân nói trên mặc dù còn chứa đựng những quan điểm khác nhau, song chúng có các đặc điểm sau:

Nhà làm luật khi đưa ra khái niệm hôn nhân đều xuất phát từ vị trí của

hôn nhân là một thiết chế xã hội: “Việc một người đàn ông và một người đàn

bà cam kết sống chung với nhau cũng như đối với con cái”7 Ngoài ra cũng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân đó là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà xác lập quan hệ tr ên cơ sở hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện theo các điều kiện do pháp luật quy định nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững

5 Xem: Khoản 6 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Chính trị quốc gia, 2008, tr 12

6 Xem: Ngọc Hòa Nguyễn, Tự điển giải thích luật học tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an

nhân dân, 1999, tr 148

Trang 12

Từ đó có thể hiểu rằng hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông

và một người đàn bà đó là hôn nhân một vợ một chồng trong chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa và là sự liên kết bình đẳng trên nguyên tắc hoàn toàn

tự nguyện, không ai được ép buộc hoặc cản trở, cơ sở của sự tự nguyện trong hôn nhân chính là tình yêu chân chính giữa nam và nữ, không bị những tính toán về kinh tế chi phối Cũng có thể nói hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng là điều kiện đảm bảo cho sự liên kết đó

hạnh phúc, bền vững Tính chất bền vững “suốt đời” là đặc trưng của hôn

nhân xã hội chủ nghĩa Khi yêu nhau, vợ chồng mong muốn được chung sống gắn bó bên nhau suốt đời hạnh phúc và hòa thuận Tuy nhiên cần phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật hôn nhân và gia đình quy định về điều kiện kết hôn, những trường hợp cấm kết hôn, đăng kí kết hôn và chương X quy định về ly hôn7, việc kết hôn và ly hôn được tiến hành theo trình tự pháp luật Các nghi lễ mang tính chất tôn giáo và phong tục tập quán không bị cấm đoán chỉ mang tính chất riêng tư Để được công nhận là hôn nhân hợp pháp, việc đăng kí kết hôn phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật

Như vậy, chính xuất phát từ hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là

sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết bền vững trên cơ sở tình yêu thương, quý trọng lẫn nhau Sự liên kết đó không phụ thuộc vào tính toán vật chất và hôn nhân không phải là một hợp đồng, mà đó là “sự liên kết đặc biệt giữa một người đàn ông và một người đàn bà bởi mục đích xây dựng mối quan hệ vợ chồng bền vững, bảo đảm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vật chất của đôi bên, sinh đẻ và giáo dục con cái8 Chính xuất phát từ việc hôn nhân

là sự liên kết như vậy nên pháp luật của Nhà nước ta quy định về hôn nhân, trên cơ sở hôn nhân mới phát sinh những quan hệ pháp luật về nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng Luật pháp và khoa học pháp lý quan tâm đến là khái niệm hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa nam và nữ với mục đích xây dựng thật sự một cuộc sống chung, mục đích của hôn nhân là để xây dựng gia đình và nó là cơ sở của gia đình Hôn nhân bảo đảm các điều kiện, tính chất tốt đẹp của nó là tiền đề cho một gia đình hạnh phúc, dân chủ hòa thuận bền vững

Trang 13

1.1.2 Khái niệm về thời kì hôn nhân

Thời kì hôn nhân được ghi nhận tại khoản 7 điều 8 Luật hôn nhân và

gia đình năm 2000 “thời kì hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ

chồng, tính từ ngày đăng kí kết hôn đến ngày chấm dứt kết hôn” Kết hôn

được xem là bước khởi đầu của cuộc sống vợ chồng, khoảng thời gian từ ngày đăng kí kết hôn đến ngày chấm dứt kết hôn được gọi là thời kì hôn nhân, trong thời kì này các quan hệ về nhân thân và các quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng phát sinh và được pháp luật bảo vệ

1.1.3 Khái niệm về gia đình

Gia đình là sự liên kết của nhiều người và dựa trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng có quyền và có nghĩa vụ tương trợ với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, về mặt vật chất và tinh thần để xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước

và xã hội

Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển xã hội, các điều kiện trong từng giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là nhân tố quyết định và kết cấu gia đình Vì vậy, có thể khẳng định gia đình là hình ảnh thu nhỏ là tế bào của xã hội

Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái xã hội khác nhau Gia đình xã hội chủ nghĩa là hình thái cao nhất Chế độ xã hội chủ nghĩa, quan

hệ bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái, quan hệ dân chủ giữa cha mẹ và con cái đã phản ánh rõ mối quan hệ bình đẳng và dân chủ trong xã hội, xã hội chủ nghĩa đồng thời cũng đề cao về những nghĩa vụ trong tình nghĩa giữa vợ và chồng đối với nhau sống trong một gia đình nhằm góp phần vào sự bền vững của gia đình Có nhiều ngành khoa học nghiên cứu về gia đình như luật học, triết học và xã hội học Do phạm vi nghiên cứu của mỗi ngành khoa học khác nhau nên các khái niệ m gia đình cũng có sự khác nhau

Nhìn từ góc độ xã hội học thì gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội.Vì vậy có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội

hóa con người “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội

nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan

hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt,

Trang 14

trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người”9

Triết học coi “Gia đình là một hình thức có tính chất lịch sử của tố

chức đời sống của loài người, giữa nam giới và nữ giới ”

Khoa học pháp lý coi “Gia đình là sự liên kết đặc biệt của nhiều

người dựa trên một số cơ sở nhất định như hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng” Với định nghĩa này thì, hẳn những người cùng sống trong một nhà

là các thành viên của một gia đình10 Những người không sống trong cùng một mái nhà chỉ được coi là thành viên của cùng một gia đình khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng (đúng ra là quan hệ cha mẹ nuôi - con nuôi)

- Có các nghĩa vụ và quyền theo quy định đối v ới nhau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Vậy vợ chồng đã ly hôn không còn được coi là các thành viên của cùng một gia đình (dù có thể vẫn còn ràng buộc lẫn nhau trong quan hệ cấp dưỡng); con riêng là thành viên của cùng một gia đình với bố dượng, mẹ kế trong trường hợp các đương sự cùng sống trong một nhà, nhưng không phải là thành viên của một gia đình trong trường hợp ngược lại Những người chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn hoặc không được pháp luật công nhận là vợ chồng thì không phải là thành viên của cùng một gia đình, do không có quan hệ hôn nhân

Xã hội coi “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng của

con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào xây dựng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”11

Gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời cũng là một thiết chế xã hội Gia đình vừa tạo dựng nên xã hội, lại vừa biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội

9 Xem: Trung tâm Thông tin (tổng hợp), “mẹ kể con nghe”, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 21/08/2006,

Truy cập 10 tháng 5 năm 2010, Bản chính được lưu trữ ngày 21/08/2006 (Viết bằng tiếng Việt.)

10 Thực ra con dâu (rể) không thể có quan hệ hôn nhân hay quan hệ thân thuộc với cha mẹ chồng (vợ) và trong khung cảnh của luật viết hiện hành, giưa những người này cũng không có các quyền và nghĩa vụ pháp

lý hỗ tương trực tiếp Tuy nhiên, nếu họ sống chung dưới một mái nhà, thì việc coi họ là thành viên của cùng một gia đình chắc chắn phù hợp với suy nghĩ của người làm luật Tục lệ về phần mình luôn coi những người này thuộc về cùng một gia đình dù họ sống hay không sống chung dưới một mái nhà

11 Xem: Trích trong lời nói đầu, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 , Chính trị quốc gia, 2008, tr

7

Trang 15

Gia đình với chức năng giáo dục gia đình là môi trường nguyên thủy

mỗi con người sinh ra và trưởng thành Là một nhóm xã hội đặc biệt, gia đình được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, hoặc quan hệ nuôi dưỡng Mọi thành viên gia đình cùng chung sống

và có chung ngân sách Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người không chỉ

về mặt thể chất mà cả về mặt đạo đức, nhân cách và phương diện tình cảm

Và khi đó giáo dục gia đình thực sự là một sự nghiệp diễn ra liên tục trong suốt cả cuộc đời mỗi con người Giáo dục gia đình đó là sự tác động một cách kiên trì, thường xuyên, tổng thể và sâu sắc của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người Quan niệm, thái độ, lối sống, cách ứng xử, hành vi đạo đức, tính cách, năng lực, công việc, sự nghiệp của cha mẹ để lại dấu ấn sâu nặng đối với con cái mỗi gia đình

Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm và đó là nền giáo dục vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao Toàn diện là bởi giáo dục gia đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất con người Cụ thể là vì giáo dục gia đình không mang tính chung chung, trừu tượng mà nhằm vào mỗi cá nhân cụ thể và nhằm xây dựng, phát triển những phẩm chất, năng lực cụ thể của từng người Giáo dục gia đình mang tính cá biệt là do đối tượng là những cá thể đặc thù, riêng biệt Đối với mỗi cá nhân

cụ thể đó thì phải có phương pháp, cách thức và nội dung giáo dục riêng, cụ thể, cá biệt mới phù hợp và chỉ có như thế mới mang lại hiệu quả của giáo dục gia đình Như thế, có thể nói giáo dục gia đình là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài người

Về cơ bản, nội dung giáo dục gia đình bao gồm: hành vi đạo đức; tri thức căn bản; thái độ, kỹ năng sống và lao động, thể chất và thẩm mỹ Kỹ năng sống là một nội dung mới và đặc biệt quan trọng của giáo dục gia đình trong xã hội hiện đại Mục tiêu của giáo dục gia đình muôn đời vẫn là tạo ra những con người hiếu thảo, có đạo đức trong sáng, có suy nghĩ lành mạnh,

có thể chất mạnh khỏe và có chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp cao đáp ứng được mọi yêu cầu của gia đình và xã hội Nói cách khác, giáo dục gia đình đó là nhằm tạo ra những con người chân chính, có đời sống ấm no, tự

do, hạnh phúc, có năng lực trí tuệ cao, có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, hết mình vì mọi người, vì quê hương, đất nước

Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi vô cùng to lớn của đời sống xã hội thời kỳ đổi mới, gia đình Việt Nam cũng diễn ra sự biến đổi một cá ch toàn

Trang 16

diện tạo nên một thách thức không nhỏ đối với chức năng giáo dục của gia đình Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống gia đình Bên cạnh những tác động tích cực, những cơ hội phát triển mới, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức mới Đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; ngoại tình; sống chung không kết hôn; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; tình trạng trẻ

em nghiện hút; trẻ em hư, phạm tội, lang thang có xu hướng tăng; bạo lực gia đình; buôn bán phụ nữ; bất bình đẳng giới; mua bán hôn nhân có yếu tố nước ngoài; xu hướng tôn sùng tiền bạc trong quan hệ giữa người với người; tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hối lộ, mua quan bán chức diễn ra phổ biến trong xã hội đang tác động đến từng cộng đồng, tập thể, cá nhân, từng gia đình ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, mọi phương diện

Những tác động này đang tạo ra một môi trường xã hội ô nhiễm nặng

nề, hết sức bất lợi đối với sự bền vững và phát triển của gia đình nói chun g

và giáo dục gia đình và sự trưởng thành của trẻ em nói riêng Cùng với những điều kiện khách quan đó, bản thân các gia đình hiện nay cũng đang gặp rất nhiều rắc rối, khó khăn Đó là giá cả thị trường tăng cao, đời sống kinh tế bấp bênh, các thành viên gia đình gặp nhiều rủi ro, bất thường trong cuộc sống, trình độ văn hóa, học vấn của cha, mẹ thấp hoặc do dồn hết sức lực vào việc kiếm sống nên nhiều bậc cha, mẹ không có thời gian gần gũi, chăm sóc, dạy dỗ con mặt khác, do tác động nhiều mặt của xã hội mở cửa, tốc độ phát triển tâm - sinh lý của trẻ hiện nay diễn ra nhanh, có khi đột biến, bất thường trong khi các bậc cha, mẹ vừa chưa đủ kiến thức, chưa kịp nhận thức, chưa đủ thời gian, chưa có phương pháp phù hợp để kịp thời quản

lý, điều chỉnh, giáo dục và định hướng phát triển đối với trẻ

Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, gia đình không còn là một

tổ chức bền vững mang tính khép kín Để có được các nguồn thu nhập mới nuôi sống gia đình, nhiều cha, mẹ phải rời xa tổ ấm tìm việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệp, họ không những không có điều kiện gần gũi chăm sóc, giáo dục con nhỏ mà bản thân cũng gặp rất nhiều nguy cơ và rủi ro khi sống xa gia đình Trong điều kiện đó cùng với sự phai nhạt tình cảm gia đình, sự cố kết giữa các thành viên gia đình trở nên thất thường, lỏng lẻo thì các thiết chế xã hội từng bước thay thế vai trò của gia đình trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em Đây là sự chuyển đổi vai trò vô cùng nguy hiểm trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em giai đoạn c huyển đổi

Trang 17

hiện nay Nó rất có thể sẽ để lại nhiều dấu ấn khuyết tật trong nhân cách gốc của thế hệ tương lai Hậu quả của nguy cơ này dường như được báo trước

Giải pháp cho vấn đề trên là nâng cao hiệu quả giáo dục gia đình Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cùng với sự chuyển đổi toàn diện về kinh tế - xã hội cũng đang diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh

mẽ về hệ thống giá trị, trong đó, có cả những giá trị gia đình Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đều thống nhất khẳng định trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay mặc dù đang có rất nhiều tác động xấu đến đời sống gia đình, nhưng về cơ bản, gia đình Việt Nam vẫn bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống quý báu của mình như: tình yêu trong sáng, hôn nhân lành mạnh; lòng thủy chung, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô hạn của cha, mẹ cho con cái; con, cháu hiếu thảo với cha, mẹ, kính yêu ông, bà, biết ơn tiên tổ; anh em, họ hàng đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; các thành viên đề cao lợi ích chung của gia đình; lòng tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ và quê hương Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng đã tiếp thu nhiều tinh hoa của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự

do cá nhân; tôn trọng sự lựa chọn cá nhân; dân chủ, bình đẳng trong quan hệ; bình đẳng về nghĩa vụ, trách nhiệm và thụ hưởng; không phân biệt đối x ử nam, nữ, trai, gái, dâu, rể

Với những yếu tố trên, rõ ràng gia đình Việt Nam vẫn đang và sẽ là một giá trị xã hội bền vững Đây chính là cơ sở hiện thực để gia đình Việt Nam tiếp tục tồn tại và phát triển vững chắc và cũng là cơ sở để gia đình ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng giáo dục của mình

“Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân,

quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa

vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này”.12 Các mối liên hệ

đó là các thành viên của gia đình có thể xếp thành hai nhóm, tùy theo tính chất của mối quan hệ giữa thành viên với nhân vật trung tâm của gia đình mà

cả trong ngôn ngữ thông dụng cũng như trong ngôn ngữ pháp lý, được gọi là chủ gia đình13: Thành viên do quan hệ thân thuộc và thành viên do quan hệ

12 Xem: Khoản 10 Điều 8, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Chính trị quốc gia, 2008, Tr 13

13 Ở Việt Nam hiện nay, chức vụ chủ gia đình nay chỉ còn được sử dụng trong ngôn ngữ thông dụng

Trang 18

hôn nhân Những người có quan hệ huyết thống cũng được xếp thành hai nhóm: trực hệ và bàng hệ

Gọi là có quan hệ thân thuộc trực hệ, những người có quan hệ sinh thành như ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra con, con sinh ra cháu… Luật hôn nhân và gia đình khi định nghĩa mối liên hệ thân thuộc về trực hệ chỉ nhắc đến cha mẹ và con, ông bà nội (ngoại) và cháu (điều 8 khoản 12) Định nghĩa đó chỉ được áp dụng trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật Trên thực tế, mối liên hệ thân thuộc được thiết lập mà không có giới hạn về khoản cách giữa các thế hệ và nếu không có từ ngữ riêng để xưng hô, thì người ta nhờ đến các con số để xác định cấp độ liên hệ chẳng hạn như: ông

tổ năm đời của cháu

Những người thân thuộc bàng hệ là những người có quan hệ huyết thống do xuất phát từ một tổ tiên chung như anh chị em ruột có cha mẹ chung; anh chị em cùng cha khác mẹ có cha chung; anh chị em cùng mẹ khác cha có mẹ chung; chú và cháu có tổ tên chung là ông nội của cháu đồng thời là cha của chú

Ở quan hệ nuôi dưỡng như do việc nhận con nuôi, người nuôi được gọi là cha (mẹ) nuôi và người được nuôi được gọi là con nuôi Người con nuôi là thành viên của gia đình người nuôi, bình đẳng với người con nuôi và người con ruột của người nuôi trong quan hệ với người sau này Tuy nhiên trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, tư cách thành viên gia đình

mà người con nuôi được trao cho chỉ được duy trì với hai điều kiện:

- Quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi được duy trì;

- Cha mẹ nuôi còn sống Thiếu một trong hai điều kiện đó, người con nuôi hoàn toàn là người ngoài đối với gia đình của người nuôi

Mối liên hệ hôn nhân như vợ chồng do việc kêt hôn, quan hệ vợ chồng được hình thành Gia đình hộ luôn được thành lập với hai thành viên đầu tiên là vợ và chồng Dần dần các con được sinh ra Cũng do hiệu lực của hôn nhân mà vợ chồng trở thành người có quan hệ với người thân thuộc của chồng (vợ) mình theo tục lệ: chẳng hạn như là cha mẹ chồng(vợ), dâu, rể Tính chất đặc biệt của sự liên kết này là mọi người cũng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau Sinh đẻ và nuôi dạy con cái và họ có những quyền và nghĩa vụ nhân thân và nghĩa vụ về tài sản đối với nhau

Trang 19

1.1.4 Gia đình Việt Nam truyền thống

Gia đình Việt Nam truyền thống là tập hợp những thói quen trong tư duy lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác – Markarjan E.S Khái niệm về gia đình Việt Nam truyền thống được

sử dụng ở đây tuân theo một ước lệ về mặt thời gian Thực tế cho thấy những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được lưu giữ trong nhiều gia đình hiện đại thông qua các giá trị như truyền thống yêu nước, cần cù lao động, truyền thống hiếu học, tôn trọng tình cảm

Gia đình Việt Nam truyền thống được gắn kết bền chặt là do tình nghĩa và trách nhiệm giữa các thành viên trong tình yêu xưa cũ ấy, có hai yếu tố cơ bản là niềm tin và lòng thương nhau của hai con người có cùng cảnh ngộ Hai yếu tố tin và thương ấy chính là cái nghĩa trong đạo vợ chồng14 Trong mô hình gia đình Việt Nam truyền thống, mọi thành viên trong gia đình đều đón nhận và thụ hưởng từ sự hi sinh của người phụ nữ Tính ưu việt của gia đình truyền thống đặc biệt trong mối quan hệ vợ chồng

là lòng chung thủy, sự hòa thuận của gia đình

1.2 Khái niệm về nghĩa vụ chung thủy

1.2.1 Khái niệm về nghĩa vụ và nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

Theo phạm trù đạo đức học, nghĩa vụ phản ánh trách nhiệm của một công dân, một nhóm, một tập đoàn, một giai cấp dân tộc đối với việc phải làm trong những điều kiện xã hội cụ thể, trong những tình hình xã hội nhất định Khi đã trở thành cái bên trong, nghĩa vụ trở nên trù tượng hơn so với chuẩn mực trên cơ sở lập trường chính trị, đạo đức hình thành ở mỗi cái nhân Nghĩa vụ gắn liền với tính tất yếu của đạo đức, với những yêu cầu đòi hỏi chung nhất, với những quy định chính thức và không chính thức, với trách nhiệm, khả năng và năng lực của cá nhân Hành vi của con người được quy định bởi nhiều yếu tố, một trong số đó là nghĩa vụ được xã hội xác lập, nghĩa vụ được quy định bằng pháp luật Thông thường, nghĩa vụ thường đi đôi với quyền, chẳng hạn công dân có quyền và nghĩa vụ cơ bản được quy định trong hiến pháp và pháp luật

14 Lê Minh - chủ biên, Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển xã hội , Hà Nội, Nhà xuất bản

lao độn, 1994, tr 88

Trang 20

Theo tự điển tiếng Việt thì nghĩa vụ được hiểu là: “Một việc mà pháp

luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác ”

Dưới góc độ pháp lý: nghĩa vụ là những hành vi mà một người phải thực hiện vì một lợi ích của người khác Có ba loại nghĩa vụ:

 Nghĩa vụ theo phong tục, tập quán của địa phương quy định

 Nghĩa vụ về đạo đức, nhân văn: nghĩa vụ đạo đức là ý thức trách nhiệm, là tình cảm tự giác của con người đối với người khác và đối với xã hội, được con người ý thức và tự nguyện tự giác hành động Nghĩa vụ là một trong những nét đặc trưng cơ bản của con người Chỉ có ở xã hội loài người mới có ý thức về nghĩa vụ Đối với loài vật, mọi hành động đều hoàn toàn theo bản năng Còn cuộc sống của con người ngoài bản năng có ý thức con người còn có một yếu tố tự nguyện tự giác mà biểu hiện cao nhất là có ý thức về nghĩa vụ được thông qua những hành vi đạo đức Ngoài ra nghĩa vụ đạo đức cũng là sự phù hợp giữa lý trí và tình cảm của cá nhân với những nhu cầu đạo đức của xã hội Cả hai mặt này đều có sự thốn g nhất với nhau

về ý thức và hành vi của con người Nó là một trong những tiêu chuẩn giá trị cao nhất được hình thành, tồn tại và phát triển như là một quy luật tất yếu có

ý nghĩa trong lịch sử xã hội

Đạo đức học Mác - Lênin quan niệm nghĩa vụ đạo đức là ý thức trách nhiệm của con người, là ý thức cần phải làm và mong muốn làm, hành động

tự giác vì lợi ích của người khác và lợi ích chung của xã hội Triết học Mác- Lênin đã giải thích, con người là một bộ phận của tự nhiên, nhưng cũng là chủ thể của xã hội Trong cái tự nhiên và cái xã hội có ở mỗi người, thì cái

xã hội là cái làm nên bản chất con người, nếu mất yếu tố xã hội, con người

sẽ trở thành vô thức và xã hội sẽ không tồn tại

Lý tưởng cao nhất của con người là sự thống nhất giữa hạnh phúc và nghĩa vụ Chỉ như thế con người mới đạt được đỉnh cao của hạnh phúc và khi nào tư tưởng đó được phổ biến bao trùm lên toàn xã hội, thì xã hội đó mới thật sự văn minh, tốt đẹp, mới ở trình độ cao của sự tiến hóa trong quan hệ người với người15

- Nghĩa vụ pháp lý là những nghĩa vụ đã được pháp luật quy định như nghĩa vụ công dân do hiến pháp và pháp luật quy định

15

Xem: Tập thể tác giả, Giáo trình đạo đức học – nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội – 1997, tr 105

Trang 21

- Theo quan niệm truyền thống , chung thuỷ có nghĩa là chỉ có một bạn tình duy nhất trên mọi phương diện tình cảm , tình dục và tâm lý

- Trong tiếng việt chung thủy là: vẫn một lòng trước sau như một, vẫn

có tình cảm gắn bó không thay đổi Như vậy, khái niệm chung thuỷ là khái niệm rộng Trong quan hệ vợ chồng thì chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà thôi Trong mỗi giai đoạn lịch sử, những quan niệm về sự chung thuỷ của vợ chồng cũng có sự khác nhau cơ bản

Từ những khái niệm chung về nghĩa vụ được đề cập người có thể hiểu

về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng như sau: nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng là loại nghĩa vụ về đạo đức và nhân văn mang giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và được nâng lên thành quy định của pháp luật (tuy nhiên pháp luật không quy định như thế nào là nghĩa vụ chung thủy của

vợ chồng) Tóm lại nghĩa vụ chung thủy được hiểu là: “Trong quan hệ giữa

vợ chồng thì nghĩa vụ chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương về mặt tinh thần và thể xác chỉ với nhau

mà thôi nhằm thực hiện trách nhiệm đối với gia đình, đồng thời góp phần vào sự bền vững của gia đình và sự ổn định của xã hội”

1.3 Lƣợc sử các chế định nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

Trong thời kỳ nguyên thuỷ của xã hội loài người khi con người vừa thoát thai từ loài vật, chưa có quan hệ hôn nhân và gia đình Quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà được gọi là quan hệ tính giao, mang tính chất bầy đàn và bừa bãi Có nghĩa mọi người đàn bà thuộc về mọi người đàn ông

và ngược lại, điều này được coi là phù hợp với tập quán lúc bấy giờ

Thực tế lúc bấy giờ, do điều kiện tự nhiên quyết định nên con người phải chấp nhận cuộc sống ăn ở chung, chung chạ vợ chồng và như Ph

Ăngghen đã viết “Đấy là hình thức quần hôn, một hình thức hôn nhân trong

đó cả từng nhóm đàn ông và cả từng nhóm đàn bà đều là sở hữu của nhau Trong đó ghen tuông khó lòng phát triển”.16

Dần dần do xã hội phát triển, các hình thái hôn nhân gia đình cũng xuất hiện như tồn tại chế độ quần hôn, hôn nhân đối ngẫu, hôn nhân một vợ một chồng

16 Xem : C Mác – Ph Ăngghen, tuyển tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội 1994, tr 62

Trang 22

Từ hôn nhân đối ngẫu đến gia đình một vợ một chồng cổ điển, khái niệm chung thuỷ đã bắt đầu được hình thành nhưng chỉ về phía người phụ

nữ: “Họ mong muốn ngày càng nồng nhiệt đạt được quyền giữ trinh tiết, kết

hôn nhất thời hay lâu dài chỉ với một người đàn ông và coi đó là sự giải phóng Bước tiến đó không thể nào lại do đàn ông mà có cả, chỉ vì đến tận ngày nay không bao giờ đàn ông có ý muốn từ bỏ cái thú vui của chế độ quần hôn thực sự cả… Trong giai đoạn này, một người đàn ông sống chung với một người đàn bà, song việc có nhiều vợ và việc không chung tình khi có dịp vẫn là quyền của người đàn ông… nhưng thông thường thì phụ nữ lại phải triệt để chung tình trong thời gian chung sống với chồng, và tội ngoại tình của họ sẽ bị trừng trị một cách tàn ác… Hôn nhân cặp đôi đã đưa vào gia đình một yếu tố mới, bên cạnh người mẹ đẻ, chế độ đó đã đặt người bố, người bố thật có lẽ còn thật hơn nhiều so với những người “bố” thời nay” 17

Sang gia đình một vợ một chồng cổ điển “để đảm bảo sự trung thành

của người vợ, do đó, bảo đảm việc con cái đích thật là do người cha đẻ ra người vợ phải phục tùng quyền lực tuyệt đối của người chồng, nếu người chồng có giết vợ đi chăng nữa thì cũng chỉ là thực hành quyền của mình mà thôi” 18

Như vậy, trong giai đoạn này, sự chung thuỷ chỉ được đặt ra đối với người vợ và quan niệm này được duy trì khá lâu trong lịch sử phát triển của thời đại

1.3.1 Trong bộ luật nhà Lê

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quan hệ hôn nhân và gia đình ảnh hưởng nặng nề tư tưởng Nho giáo Nho giáo trở thành tư tưởng thống trị trong xã hội Một trong những mối quan hệ cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội là quan hệ phu phụ (vợ chồng) Pháp luật nhà Lê đã quy định những quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng như: Nghĩa vụ đồng cư, nghĩa vụ phù trợ, nghĩa vụ trung thành và nghĩa vụ tòng phu

Nghĩa vụ chung thuỷ đặt ra đối với người vợ và người chồng thì mang tính chất tương đối vì trong thời kì này người chồng vẫn có quyền đa thê

Nhưng bên cạnh đó điều 401 của Bộ luật quy định: “Gian dâm với vợ kẻ

khác thì bị xử lưu hay chết, với vợ lẻ (thiếp) người khác thì giảm một bực

17 Xem: C Mác – Ph Ăngghen, tuyển tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội 1994, tr 89

18 Xem: C Mác – Ph Ăngghen, tuyển tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội 1994, tr 96

Trang 23

tội, với người có quyền quý thì xử riêng Kẻ phạm tội phải nộp tiền tạ lỗi như luật định Vợ lớn vợ bé phạm tội điều xử lưu, điền sản trả lại cho người chồng Nếu vợ chưa cưới thì cả hai điều được giảm một bực” Đồng thời tại

điều 405 quy định: “Ngoại tình với vợ người thì xử đánh 60 trượng, biếm hai

tư phải nộp tiền tạ tội theo bực sang hèn của người đàn bà Sang hèn cách

xa thì xử riêng” Người vợ có hành vi dâm đãng bị coi là phạm vào “thất xuất” để người chồng ly hôn Mặt khác, theo tập quán lúc bấy giờ thì những

người phụ nữ không đoan chính bị kỳ thị và trừng trị rất tàn ác

Trong giai đoạn này nghĩa vụ chung thủy của cả người vợ và chồng cũng được pháp luật quy định, nhưng chỉ mang tính chất tương đối với người chồng

1.3.2 Trong Luật Gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959, Sắc luật ngày 13/7/ 1964,

Bộ Dân luật ngày 20/12/1972

Trong thời kỳ Pháp thuộc, quan niệm chỉ người phụ nữ mới phải thực hiện nghĩa vụ chung thuỷ vẫn tồn tại và thể hiện rất rõ trong phong tục tập quán cũng như pháp luật Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa nam và

nữ, giữa vợ và chồng trong gia đình

Ở miền Nam, trong thời kỳ dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà thì quan niệm này đã được thay đổi Theo Luật gia đình ngày 02/01/1959, Sắc luật ngày 13/7/1964, Bộ Dân luật ngyaf 20/12/1972, nghĩa vụ chung thuỷ có tính

chất bắt buộc đối với cả hai vợ chồng: “Vợ chồng phải lấy tình nghĩa thủy

chung mà đối đãi với nhau”; “Vợ chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau”

Theo Luật Gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959, chế tài đặt ra đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ này là rất chặt chẽ nhằm ngăn ngừa và trừng phạt

các hành vi ngoại tình, trong đó có hành vi “giao du thân mật” cũng bị coi là tội phạm Tại điều 73 của Luật Gia đình số 1/59 có quy định:“Chồng hay vợ

có quyền cấm người hôn phối không được giao du một cách quá thân mật với người nào khác mà họ xét có hại cho sự chung thuỷ vợ chồng Nếu mặc

dù có sự cấm đoán đó, người chồng hay người vợ cùng người tòng phạm tiếp tục gặp gỡ nhau một mình một cách bất chính tại nơi công cộng hay không công cộng và nếu sự vi phạm đó bị thừa phát lại hay viên chức hình cảnh theo yêu cầu của người hôn phối kia lập vi bằng kiểm chứng hai lần trong thời hạn một năm, người vi phạm và người tòng phạm có thể bị phạt tiền từ

Trang 24

1000 đến 50000 đồng Nếu tái phạm thì có thể bị phạt giam từ một đến sáu tháng” 19

Bên cạnh Luật còn quy định về tội “phạm gian” tại điều 71 của Luật

Gia đình số 1/59 Tuy nhiên, sự phạm gian (thông gian) của người vợ hoặc người chồng chỉ bị truy tố khi có đơn kiện của người hôn phối kia, khi đó thì

có thể bị Tòa án phạt tiền và phạt giam từ ba tháng đến hai năm, tái phạm thì ngoài hình phạt tù giam còn có thể bị xử biệt xứ từ sáu tháng đến hai năm Người tòng phạm vẫn phải chịu chế tài Ngoài ra, lỗi phạm gian là căn cứ để người hôn phối kia yêu cầu ly thân

Sắc luật ngày 23/7/1964 thay thế cho Luật Gia đình số 1/59 Sau đó, sắc luật ngày 23/7/1964 được thay thế bởi Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 Lúc

này tuy quy định về tội “giao du thân mật” không còn nữa, song trong Bộ Hình luật năm 1972 thì ngoài tội “trong khi hôn thú chưa đoạn tiêu mà kết

hôn với người khác” (Điều 380) thì còn có tội “ phạm gian” mà người chồng

phạm gian hay người vợ phạm gian (thường gọi là ngoại tình) và người tòng phạm đều có thể bị phạt vạ bằng tiền và phạt tù giam đến hai năm

Qua đó có thể thấy rằng trong thời kỳ này, sự chung thuỷ của cả vợ chồng đã được chú trọng hơn thể hiện sự bình đẳng hơn trong quan hệ vợ chồng nhưng cũng còn có nhiều điểm chưa phù hợp trên thực tế

1.3.3 Trong luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (30/4/1975),

cả nước thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắt lên chủ nghĩa xã hội Tiếp đó trong phiên họp ngày 18/12/1980 của Quốc hội khóa VI, kì họp thứ 7 đã chính thức thông qua bản hiến pháp thứ 3 của nước ta, làm nền tảng cho bước phát triển mới của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hiếp pháp 1980 đạo luật

cơ bản của Nhà nước đã quy định các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa tại các điều 38, 47, 63, 64 của hiến pháp

Việc áp dụng luật hôn nhân và gia đình năm 1959, có một số điều không phù hợp chẳng hạn như chưa thể hiện được đầy đủ phong tục tập quán của miền Nam Quá trình thi hành ở cả hai miền đã cho thấy một số quan hệ mới cần phải được điều chỉnh, các nguyên tắc cơ bản cần được cụ thể hơn

19

Xem: Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược giảng, Sài Gòn 1973, tr 97

Trang 25

Việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình mới là một tất yếu khách quan để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước Ngày 25/12/1986, Hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) đã quyết định thành lập ban dự thảo Luật hôn nhân gia đình mới: Dự luật đã được Quốc hội khóa VII, kì họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 và được Hội đồng nhà nước công bố ngày 01/01/1987

Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là sự kế thừa và phát triển của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Nhiệm vụ của Luật được đặt ra là nhằm tiếp tục xây dựng và cũng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, chống lại sự ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản trong đó nhiệm vụ xây dựng và cũng cố chế độ hôn nhân và gia đình mới là nhiệm vụ hàng đầu Các nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 tiếp tục coi là những nguyên tắc được quán triệt trong toàn bộ nội dung của Luật hôn nhân

Tại điều 1 của luật quy định: “Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn

nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững”

Tại một quy định khác tại điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm

1986 nhằm quy định rõ hơn và bổ trợ cho nguyên quy định ở nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng: “Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau” cũng

như điều 4 của luật quy định: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn

hoặc chung sống như vợ chồng với người khác” Vì ta thấy rằng nếu như luật

quy định vợ chồng chỉ phải tuân thủ theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong suốt thời kì hôn nhân thì cũng chưa điều chỉnh được các hành vi

Trang 26

chưa đủ yếu tố vi phạm nguyên tắc đó vì vậy tạo kẻ hở của pháp luật, nhưng

ở đây luật có sự quy định chi tiết hơn là vợ, chồng có nghĩa vụ chung thủy với nhau, quy định này nhằm góp phần giữ gìn và phát huy những phong tục những tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Đồng thời có những chế tài cấm người đang có vợ có chồng mà kết hôn với người đang có vợ có chồng hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ có chồng, hay cấm người đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người chưa có vợ có chồng

1.3.4 Trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản điều chỉnh vấn đề trên

Tiếp tục kế thừa, phát triển hệ thống pháp Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cùng với hiến pháp 1992, trong điều kiện đổi mới, thủ tướng Chính phủ có chỉ thị về tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm

1986 và dự thảo các điều sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 được Quốc hội khóa X ngày 09/6/2000, gồm 13 chương, 110 điều đã kế thừa, cụ thể hóa nhiều quy định để điều chỉnh các quan hệ trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Nhằm phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của gia đình trong tình cảm vợ chồng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tại điều 18 quy định:

“Vợ chồng chung thủy, yêu thương, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau ”

Qua đây cho thấy, pháp luật về hôn nhân và gia đình đã từng bước được cụ thể hóa những quan hệ xã hội mới phát sinh trong cuộc sống gia đình, tuy không thể nào điều chỉnh hết tất cả các mối quan hệ đa dạng phát sinh trong đời sống gia đình nhưng đã phần nào cùng chung tay xây dựng gia đình ấm

no, bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc, bền vững như nhiệm vụ của Luật hôn nhân

và gia đình năm 2000 đã đặt ra

Tóm lại, trong quá trình phát triển lịch sử xã hội với sự điều chỉnh tương ứng của các quy định Luật hôn nhân và gia đình cho thấy Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, trên cơ sở

quán triệt nguyên tắc “nam nữ bình đẳng” Mặt khác kiên quyết xóa bỏ

những phong tục tập quán lạc hậu của chế độ hôn nhân đa thê phong kiến, xây dựng và cũng cố nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bên cạnh nghĩa

vụ chung thủy của vợ chồng đối với nhau theo chế định hôn nhân xã hội chủ nghã và trong nền kinh tế hội nhập, cấm những thủ đoạn, hành vi làm mờ giá trị truyền thống quý báo vốn có của gia đình

Trang 27

1.4 Ý nghĩa của sự chung thủy của vợ chồng

1.4.1 Ý nghĩa của nghĩa vụ chung thủy đối với nguyên tắc hôn nhân một

vợ một chồng

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Đó là phương tiện không thể thiếu để đảm bảo sự tồn tại, sự vận hành bình thường cho xã hội nói chung và nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là công

cụ pháp lý Nhà nước hữu hiệu mà còn tạo một môi trường thuận lợi cho sự phát triển ý thức đạo đức, lành mạnh hóa đời sống của con người trong đời sống xã hội, góp phần giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống tiến bộ đồng thời góp phần bồi đắp nên những giá trị văn hóa mới phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Cùng với tầm quan trọng đó thì pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng mang một giá trị pháp lý cao trong đời sống xã hội

Việc bổ trợ thêm cho nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhằm tạo sự ổn định xã hội, thì pháp luật còn quy định thêm là vợ chồng phải có nghĩa vụ chung thủy với nhau thì theo người viết nhận thấy rằng bên cạnh sự

ổn định của gia đình về mặt cấu trúc một vợ một chồng thì trong đời sống vợ chồng cần phải có sự chung thủy, yêu thương và tin tưởng lẫn nhau Nếu nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là quy định của pháp luật thì nghĩa

vụ chung thủy được luật quy định bên cạnh về mặt lập pháp thì đó cũng là về khía cạnh đạo đức cần phải có trong cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, và cũng là truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam ta đó là lòng chung thủy

Mà nó cần được giữ gìn và phát huy trong nền kinh tế hội nhập, và sự tràn lan một số lối sống thực dụng, ích kỉ làm lưu mờ đi giá trị đạo đức của văn hóa truyền thống vốn có

Theo quan niệm truyền thống , chung thuỷ có nghĩa là chỉ có m ột bạn tình duy nhất trên mọi phương diện tình cảm , tình dục và tâm lý Trong một giai đoạn lịch sử khá dài , khi hôn nhân được xây dựng trên những nền tảng hay mục đích khác ngoài tình yêu (như vì lý do môn đăng hộ đối , chuyển giao tài sản ) , thì chỉ có người phụ nữ là bị buộc phải nêu gương tiết hạnh

nếu không muốn bị trừng phạt , đày đi biệt xứ , bỏ tù hay thậm chí là tử hình

Đến nửa sau thế kỷ 20, việc ngoại tình , dù là từ phía ng ười chồng hay người vợ đều đã được xét xử bình đẳng trước pháp luật Trước đó , việc một người phụ nữ ngoại tình sẽ bị toà án coi là phạm tội trong khi với trường hợp

của nam giới , họ chỉ bị "khiển trách " từ phía gi a đình Còn thời nay , thay vì

Trang 28

là lý do "tiên quyết " thì việc ngoại tình cũng chỉ còn là một trong vô số

những khúc mắc dẫn vợ chồng tới quyết định ly hôn

Có thể thấy , quan niệm về sự chung thuỷ đang biến đổi đồng thời với tốc độ phát triển của xã hội Thông qua đấu tranh , qua khả năng tiếp cận với các biện pháp ngừa thai và hoà nhập vào môi trường nghề nghiệp , ngày nay phụ nữ đã có trong tay quyền tự do mới trong việc xây dựng mối quan hệ tình cảm và tình dục Hơn nữa , ngoại tình ở nữ giới giờ đây đã không còn là một chủ đề cấm kị Văn chương khiêu dâm cùng tạp chí và phim ảnh dành

cho phụ nữ đang ngày càng góp phần mở ra tự do tình dục cho phái nữ

Con người ngày càng xa rời các quy tắc đạo đức truyền thống nhiều

hơn Sự chung thuỷ không còn là sợi dây ràng buộc giữa hai vợ chồng nữa

nếu như một trong hai người đã nảy sinh tình cảm và ham muốn với người

thứ ba Ngà y nay khi cuộc sống lứa đôi được xây dựng trước hết dựa trên

nền tảng tình cảm và cảm xúc thì để duy trì gia đình , người ta buộc phải nhờ cậy nhiều hơn tới sự thuỷ chung Tuy vậy , số người có quan hệ tình c ảm ngoài hôn nhân vẫn không ngừng tăng cao do nhu cầu cần thay đổi "không khí" và dung hoà giữa một cuộc sống hôn nhân phẳng lặng với cảm giác kích

thích mà những cuộ c phiêu lưu tình ái mang đến

1.4.2 Ý nghĩa của sự chung thủy đối với đời sống vợ chồng

Trong xã hội hiện đại ngày nay thì tình yêu nam nữ là cơ sở để xây

dựng hôn nhân bởi như C Mác đã nói: “Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ

sở tình yêu mới là hợp đạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì mới là hợp đạo đức mà thôi” 20 Đó chính là cơ sở cơ bản để

đảm bảo xây dựng một gia đình dân chủ hoà thuận và hạnh phúc

Tuy vậy, trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, những quan niệm về tình yêu, hôn nhân, gia đình không còn mang nguyên ý nghĩa truyền thống Mỗi thế hệ, mỗi cá nhân quan niệm khác nhau về cái gọi là “chung thuỷ” Luật hôn nhân và gia đình quy định đó là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng

Và bên cạnh đó đã đưa ra những cơ chế nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ

đó Ở đây chúng ta thấy nảy sinh vấn đề: Một bên là tình cảm tự nhiên của con người và còn bên kia là những quy định luật pháp Một cái mang tính bản năng tự nhiên và một cái mang tính xã hội

20

Xem: Vũ Văn Mẫu, “Việt Nam dân luật lược giảng”, Sài Gòn 1973, tr 97

Trang 29

Bản chất của quan hệ vợ chồng bao gồm tình yêu và nghĩa vụ Như vậy, cái tự nhiên và cái xã hội luôn đan xen nhau, quan hệ biện chứng với nhau và không thể tách rời nhau Chính vì vậy, trong quan hệ vợ chồng cả hai bên đều mong muốn được thể hiện tình yêu và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhau, điều đó thể hiện sự chung thuỷ Nếu một trong hai bên vợ, chồng hoặc cả hai bên lại thể hiện tình yêu với người khác, thực hiện nghĩa vụ với người khác thì đó là biểu hiện của sự không chung thuỷ Mục đích của hôn nhân trong chế độ ngày nay là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc và bền vững Để hôn nhân đạt được mục đích đó thì

cơ bản hai người trong quan hệ hôn nhân phải yêu thương nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và nhất là phải chung thủy với nhau vì đây không chỉ là quy định về mặt pháp lý mà là đó còn là đòi hỏi về mặt đạo đức

Trong trường hợp những người không có mối quan hệ pháp lý như vợ

và chồng (tức không phải vợ chồng theo nghĩa của luật) thì những người này không có nghĩa vụ chung sống và các nghĩa vụ đặc trưng của quan hệ vợ chồng như nghĩa vụ yêu thương, đùm bọc, hỗ trợ, giúp đỡ nha u cùng tiến bộ

và nhất là nghĩa vụ chung thủy sẽ không được đặt ra đối với họ về mặt quy định của pháp luật được, mà ở đây có chăng chỉ là về mặt đạo đức xã hội và

dư luận xã hội và riêng trách nhiệm của bản thân họ tự ý thức

Trang 30

CHƯƠNG 2

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ NGHĨA VỤ

CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG 2.1 Điều kiện phát sinh nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

Tại khoản 1 điều 4 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“quan hệ hôn nhân và gia đình thực hiện theo quy định của Luật này được

tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” và như vậy thì các mối quan hệ hôn

nhân có giá trị pháp lý được pháp luật bảo vệ Đồng thời tại khoản 1 điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định trường hợp cấm kết

hôn với “người đang có vợ hoặc có chồng” - Người đang có vợ hoặc có

chồng được hiểu là:

- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật

về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn

- Người tuy chưa đăng kí kết hôn nhưng việc chu ng sống của họ được pháp luật công nhận là vợ chồng (hôn nhân thực tế) và cũng chưa ly hôn

Quy định này nhằm góp phần bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng về mặt pháp lý

2.1.1 Kết hôn hợp pháp

Để đảm bảo là một cuộc hôn nhân hợp pháp, thì khi đăng kí kết hôn nam nữ bắt buộc phải tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn được quy định tại điều 9, điều 10 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Khi đăng kí kết hôn thì hai bên nam nữ phải nộp tờ khai theo mẫu quy định và xuất trình giấy Chứng minh nhân dân Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi

cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại

về tình trạng hôn nhân của người đó Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Trang 31

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận21

Nếu quá thời hạn này mà các bên không thực hiện việc đăng kí kết hôn thì sau này nếu muốn thực hiện đăng kí kết hôn của mình thì các bên sẽ phải xác định lại tình trạng hôn nhân của mình

Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng kí kết hôn Cơ quan đại diện ngoại giao; cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng kí kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài

Ví dụ: Anh Nguyễn Văn Vương và chị Lâm Thị Ánh cùng cư trú ở

một xã thì khi đăng kí kết hôn chỉ cần nộp một tờ khai đăng kí kết hôn và giấy chứng minh nhân dân của hai người Còn trong trường hợp anh Vương

và chị Ánh cư trú ở hai xã khác nhau và có nguyện vọng đăng kí kết hôn tại

xã của anh Vương thì ngoài tờ khai của anh Vương còn phải nộp thêm tờ khai của chị Ánh có xác nhận của ủy ban nhân dân xã nơi chị cư trú và giấy chứng minh nhân dân của hai người tại ủy ban xã nơi anh Vương cư trú để

cơ quan có thẩm quyền xem xét hồ sơ và đăng kí kết hôn cho anh Minh và chị Ánh nếu thỏa điều kiện kết hôn do luật định

Ngoài ra, tại điểm II.2.d trong thông tư số 01/2008/TT_BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định của nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 17/12/2005 của chính phủ về đăng kí và quản lý hộ tịch hướng dẫn xác nhận

tình trạng hôn nhân như sau: “Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú

khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp

xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của

họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan”

Cùng với quy định trên, ngày 06/6/2006 bộ tư pháp đã có công văn số 2488/BTP-HCTP hướng dẫn về việc thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ -

CP nêu trên Theo đó, tại điểm 9 có quy định về việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong hồ sơ đăng kí kết hôn của những người đã cư trú tại nhiều địa

phương khác nhau (kể cả cư trú ở nước ngoài) như sau: “Trong trường hợp

một người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), thì khi đăng kí kết hôn, ngoài việc xác nhận tình trạng hôn nhân của

21

Xem: khoản 1, Điều 18, Nghị định số 158/2005/NĐ- CP ngày 17/12/2005

Trang 32

nơi cư trú hiện tại, đương sự phải viết tờ cam kết và chịu trách nhiệm về cam kết của mình về tình trạng hôn nhân trong thời gian trước đó”

Như vậy quy định của pháp luật đã thể hiện hết sức rõ ràng, khi xin xác nhận tình trạng hôn nhân, Ủy ban nhân dân xã, phường nới cư trú hiện tại chỉ cần xác nhận về tình trạng hôn nhân của người xin xác nhận từ khi

cư trú hiện tại Ủy ban nhân dân xã phường đó, còn vào giai đoạn tr ước khi

họ cư trú tại địa phương, họ cần phải cam kết về tình trạng hôn nhân và chịu trách nhiệm về cam kết của mình Ủy ban nhân dân xã phường không cần thiết yêu cầu người xin xác nhận phải cung cấp xác nhận về tình trạng hôn nhân của họ vào thời gian trước khi họ cư trú tại địa phương

Để việc kết hôn phù hợp với các quy định của pháp luật, cơ quan đăng

kí kết hôn sau khi nhận hồ sơ đăng kí kết hôn của hai bên kết hôn phải tiến hành điều tra, xác minh về những vấn đề mà các bên nam nữ đã khai Nếu như điều mà các bên nam nữ đã khai là đúng sự thực và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng kí kết hôn tiến hành đăng kí kết hôn và ghi vào sổ kết hôn cho họ theo đúng nghi thức do pháp luật quy định Khi việc đăng kí kết hôn đã được đăng kí tại cơ quan đăng kí kết hôn và ghi vào sổ kết hôn thì giữa các bên nam nữ phát sinh quan hệ hôn nhân

Như vậy, khi cơ quan đăng kí kết hôn tiến hành đăng kí việc kết hôn cho các bên nam nữ là sự liên kết pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân Điều đó cũng có nghĩa là giữa các bên nam nữ đã phát sinh các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo luật định trong đó có nghĩa vụ chung thủy giữa

vợ và chồng Như vậy việc xác nhận tình trạng hôn nhân đối với những người: độc thân, những người đã ly hôn, những trường hợp chấm dứt quan

hệ hôn nhân do cái chết sinh học và do tòa án tuyên bố đã chết trở về mà người vợ (chồng) của họ đã kết hôn với một người khác, với những trường hợp trên thì giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tạo cơ sở cho việc bảo vệ quyền lợi của người nam và nữ sau khi kết hôn Sự kết hôn hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn thì khi đó quyền của vợ và chồng được bảo vệ trên cơ bản về mặt pháp lý

2.1.2 Chung sống nhƣ vợ chồng đƣợc pháp luật công nhận

Đây là một trường hợp đặc biệt mà pháp luật thừa nhận nam nữ lấy nhau tuy không đăng kí kết hôn nhưng vẫn chung sống trong quan hệ vợ chồng Thông thường trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà

Trang 33

không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng Vấn đề nảy sinh là cách xác định tình trạng hôn nhân đối với những người không đăng kí kết hôn mà sống chung với nhau như vợ chồng, như vậy để giải quyết được vấn đề này thì phải xác định được thời điểm nam nữ chung sống

và việc chung sống này có phù hợp với pháp luật của việc chung sống được pháp luật công nhận hay không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ Và từ

đó cũng có thể xác định tình trạng hôn nhân của họ

Theo Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT–TANDTC–VKSNDTC– BTP ngày 03/01/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 thì trường hợp được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ

có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình

Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình

Trên tinh thần của thông tư liên tịch số VKSNDTC - BTP ngày 03/01/2001 định nghĩa chung sống như vợ chồng thì việc xác định thời điểm chung sống như vợ chồng như sau, theo nghị quyết

01/2001/TTLT-TANDTC-số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 thì:

Trường hợp thứ nhất: Nam nữ tuy có đủ các điều kiện kết hôn nhưng

không đăng kí kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 (ngày luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) thì pháp luật công nhận là vợ chồng (hay còn được gọi là hôn nhân thực tế) Những người này có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau

Trang 34

theo quy định của pháp luật giống như những người kết hôn hợp pháp Điều này đồng nghĩa với việc họ cũng không được kết hôn hoặc chung sống như

vợ chồng với người khác khi quan hệ hôn nhân đang tồn tại

Trường hợp thứ hai: Nam nữ tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng

không đăng kí kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000

mà chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm,

kể từ ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003 Trong thời hạn hai năm này nếu họ đi đăng kí kết hôn thì họ cũng sẽ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng đối với nhau

về mặt pháp lý tương tự như trường hợp thứ nhất vừa được đề cập Trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa

án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

để giải quyết Theo cách hiểu của người viết thì trường hợp trong thời hạn hai năm là từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 thì nếu họ không đi đăng kí kết hôn trong trường hợp hai năm đó thì trong thời hạn đó họ vẫn được pháp luật xem là vợ chồng, như vậy thì quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chỗng vẫn được đặt ra đối với họ, cũng như nghĩa vụ chung thủy cũng được đặt ra về mặt pháp lý Đồng thời trong thời hạn này người vợ hoặc người chồng cũng không được kết hôn hay chung sống như vợ chồng với người khác

2.2 Thời điểm phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ chung thủy theo tinh thần của luật là kể

từ khi có hôn nhân hợp pháp Đồng thời thời điểm chấm dứt nghĩa vụ chung thủy đó về mặt pháp lý đó là trong các trường hợp: Ly hôn, một người đã chết bằng cái chết sinh học hay cái chết về mặt pháp lý - chết do tòa án tuyên bố một người đã chết, quan hệ hôn nhân của họ bị hủy bằng một bản

án, quyết định có hiệu lực của tòa án

Trường hợp ly hôn là việc chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng khi hai người còn sống, có thể việc ly hôn này do một bên yêu cầu hoặc do cả hai bên thuận tình ly hôn, được tòa án nhân dân công nhận bằng một bản án hoặc quyết định thuận tình ly hôn hay nói một cách khác ly hôn là việc chấm dứt quan hệ giữa vợ chồng về nhân thân và tài sản về mặt pháp lý Chấm dứt hôn nhân do ly hôn là kết quả của hành vi có ý chí của vợ c hồng Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung

Trang 35

không thể kéo dài Mục đích hôn nhân không đạt được thì tòa án quyết định cho ly hôn và trong trường hợp vợ (chồng ) của một người bị tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án cũng giải quyết cho ly hôn

Như vậy quan hệ giữa vợ chồng chấm dứt bằng con đường ly hôn được tính từ ngày bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày vợ chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác

Theo đó hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, và tạo thành gia đình, cùng chung sống và chia sẻ Hôn nhân xác lập quan hệ nhân thân giữa hai cá nhân: vợ và chồng Nếu một trong hai cá nhân là vợ hoặc chồng đó chết điều đó có nghĩa là một trong hai chủ thể của quan hệ hôn nhân không còn tồn tại thì quan hệ hôn nhân tất yếu sẽ chấm dứt Bên cạnh một cái chết sinh học, pháp luật còn quy định cái chết mang tính suy đoán Tuyên bố một người đã chết là việc tòa án ra quyết định tuyên

bố một người là đã chết theo yêu cầu của những người có quyền và lợi ích liên quan khi có căn cứ mà pháp luật quy định Theo điều 81 của bộ luật dân

sự năm 2005, một người nếu sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực pháp luật, bị mất tích trong chiến tranh, bị tai nạn, thiên tai, thảm họa,…mà sau một thời hạn luật định vẫn không có tin tức gì để biết

là còn sống, thì tòa án quyết định tuyên bố một người là đã chết Sau khi tuyên bố của toàn án có hiệu lực pháp luật, hôn nhân của vợ (chồng) bị tuyên

bố chết đương nhiên chấm dứt

Như vậy, khi một trong hai bên vợ chồng chết hoặc bị tòa án tuyên bố

là đã chết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, thì một trong hai chủ thể của quan hệ hôn nhân không tồn tại Khi đó quan hệ hôn nhân sẽ chấm dứt và vợ (chồng) còn sống được phép kết hôn với người khác

Tuy nhiên cần xét đến trường hợp vợ (chồng) là người bị tuyên bố trở

về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người

đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, thì Tòa án ra quyết định hủy

bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết và khôi phục lại nhân thân cho người đó, khi đó nếu vợ (chồng) người bị tuyên bố chết chưa kết hôn với người khác thì hôn nhân của họ đương nhiên được khôi phục lại, nhưng nếu

vợ (chồng) của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân sau vẫn có hiệu lực pháp luật Như vậy người viết nhận thấy rằng trong trường hợp một người bị tuyên bố đã chết trở về thì quan hệ nhân thân của họ sẽ được khôi phục, tuy nhiên trong trường hợp người nếu người vợ (chồng) của

Trang 36

người đó đã xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp với một người khác thì quan

hệ hôn nhân giữa người bị tòa án tuyên bố chết trở về sẽ không được khôi phục Và trong trường hợp đó do quan hệ hôn nhân của họ không còn tồn tại nữa như vậy nghĩa vụ chung thủy của vợ (chồng) sẽ không được đặt ra trong trường hợp này Mà chỉ ràng buộc nghĩa vụ này về mặt pháp lý đối với quan

hệ hôn nhân xác lập sau nhằm xây dựng gia đình bền vững

Tóm lại, khi vợ (chồng) đã ly hôn hoặc một trong hai bên vợ (chồng)

đã chết đối với cái chết sinh học, trường hợp vợ (chồng) của người bị tuyên

bố đã chết trở về mà vợ (chồng) của người tuyên bố đã chết trở về đó đã kết hôn hợp pháp với người khác thì những trường hợp vừa nêu trên quan hệ vợ chồng của họ chấm dứt theo quy định của pháp luật, khi đó họ có quyền kết hôn với người khác Điều này được ghi nhận trong việc xác định tình trạng hôn nhân khi đăng kí kết hôn, theo quy định tại điều 67 Nghị định

158/2005/NĐ - CP: “Trong trường hợp người yêu cầu cấp giấy xác nhận

tình trạng hôn nhân đã có vợ, có chồng, nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết, thì phải xuất trình trích lục bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn hoặc bản sao giấy chứng tử”

2.3 Nội dung của nghĩa vụ chung thủy

Nghĩa vụ và quyền thể hiện mối quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng -

Điều 18 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng

chung thủy, yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vữn g”

Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thủy với nhau Tuy nhiên pháp luật không định nghĩa cụm từ: “chung thủy” là như thế nào? Nhưng quan điểm của người viết hiểu theo tinh thần của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định thì nghĩa vụ chung thủy này là những hành vi mà người chồng (vợ) phải thực hiện thể hiện trách nhiệm của mình nhằm thể hiện tình cảm trước sau như một cả về mặt tình cảm, tình dục và tâm lý chỉ với người vợ hoặc người chồng của mình mà thôi nhằm thực trách nhiệm đối với gia đình Để góp phần xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Bên cạnh mang lại sự tin tưởng của vợ và chồng đối với nhau tạo không khí gia đình hạnh phúc, ấm áp cho người vợ (chồng) mình, đồng thời xây dựng nên một bức tường vững chắt góp phần làm giảm sự vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng như phòng tránh căn

Trang 37

bệnh thế kỉ AIDS mà một trong số những nguyên nhân là do sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy

Với mục đích của hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững và để đạt được mục đích đó thì điều cơ bản là hai người trong quan hệ hôn nhân phải yêu thương nhau, chung thủy với nhau, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

Cơ sở xác lập quan hệ vợ chồng cũng có thể xuất phát từ tình yêu thương giữa nam và nữ, khi họ yêu thương nhau, hiểu nhau thông cảm cho nhau và khi họ quyết định xác lập quan hệ hôn nhân và trở thành vợ chồng của nhau khi đó tình cảm yêu thương đó vẫn được duy trì trong suốt thời kì hôn nhân Đó không chỉ đòi hỏi về pháp luật mà còn là yêu cầu của đạo đức

Sự xuất phát từ tình yêu thương ấy mà vợ chồng giữ lòng chung thủy với nhau, tình cảm của họ trước sau như một Yêu thương không phải là điều

kiện đủ của chung thủy bởi theo F Engesl: “bản chất của tình yêu là không

thể chia sẻ”, thế nhưng trong quan niệm về đạo đức Việt Nam thì yêu thương

không phải là điều kiện cần của chung thủy vì nếu như không còn yêu thương nhau thì vợ chồng vẫn có thể chung thủy đối với nhau Chính hai yếu

tố yêu thương và chung thủy đã giúp cho vợ chồng chung sống hạnh phúc và

là cơ sở duy trì quan hệ hôn nhân bền vững

Bên cạnh đó quy định về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng thể hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong mối quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, vì pháp luật quy định đây là nghĩa vụ của cả vợ và chồng mà không phải là nghĩa vụ riêng của vợ hoặc của chồng như quan niệm trong thời phong kiến nữa Nghĩa vụ này được pháp luật quy định và xem như là một trách nhiệm của vợ chồng đối với nhau theo quan niệm về mặt đạo đức Sự quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ, chồng trong các quan hệ nhân thân, đồng thời ngăn chặn tình trạng vợ - chồng có quan hệ nam nữ bất chính bảo vệ hạnh phúc gia đình

2.4 Giới hạn của nghĩa vụ chung thủy và sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy

Dẫu sao sự không chung thủy không nhất thiết phải gắn tới mối qua hệ xác thịt Nếu coi thái độ không chung thủy như là sự thách thức, sự coi thường đối với lòng tin, lòng tận tụy trong quan hệ hỗ tương, thì việc một người công nhiên yêu một người khác (dù không có quan hệ xác thịt) trong

Trang 38

khi vợ (chồng) mình vẫn hết lòng với mình, với gia đình, cũng có thể là biểu hiện của sự không chung thủy

Với quy định của luật xuất phát từ nguyên tắc mệnh lệnh bắt cuộc thì

vợ chồng không thể thoả thuận về việc giới hạn nghĩa vụ yêu thương và chung thủy (đúng hơn là giới hạn nghĩa vụ chung thủy), nói rõ hơn, vợ chồng không được phép giao kết rằng mỗi người đều có quyền tự do quan hệ xác thịt với người khác, tự do yêu thương người khác không phải là chồng hoặc vợ mình Luật hiện hành không có quy định cụ thể ở điểm này: nhưng chắc chắn, tất cả những thoả thuận cho phép vợ, chồng quan hệ xác thịt, yêu thương bừa bãi đều vô hiệu do trái với đạo đức xã hội

Tình yêu thương của vợ chồng không giống như tình yêu thương giữa cha mẹ và con, những người có quan hệ huyết thống nói chung, cũng như giữa những người bạn, những người đồng nghiệp Đó là tình cảm gắn bó giữa hai con người khác giới trong cuộc sống chung Yêu thương là điều

kiện đủ của chung thủy, bởi, theo F Engels, “Bản chất của tình yêu là không

thể chia sẻ” Thế nhưng trong quan niệm về đạo đức Việt Nam yêu thương

không phải là điều kiện cần của chung thủy vì cũng có thể nói: ngay nếu như không còn yêu thương nhau, vợ chồng vẫn có thể chung thủy đối với nhau Hơn nữa không thể áp đặt nghĩa vụ yêu thương đối với vợ chồng (nghĩa là không thể buộc người vợ phải yêu thương người chồng và ngược lại), nhưng hoàn toàn có cơ sở để áp đặt nghĩa vụ chung thủy (nghĩa là buộc người vợ không được phản bội lại người chồng và ngược lại), cho dù như ta sẽ thấy không thể có sự áp đặt nghĩa vụ chung thủy mang tính chất như một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong khung cảnh luật và đạo đức hiện nay

Luật không định nghĩa cụm từ chung thủy, vậy có nghĩa rằng cũng không có khái niệm pháp lý về sự không chung thủy Ở điểm này thì tục lệ phải can thiệp Có thể dễ dàng chấp nhận rằng hành vi ngoại tình là biểu hiện của sự không chung thủy

Theo Đại từ điển tiếng Việt, Ngoại tình có nghĩa là có quan hệ yêu đương bất chính khi đã có vợ hoặc chồng Có các dạng ngoại tình như ngoại tình trong tư tưởng, ngoại tình có mối quạn hệ xác thịt với một người khác ngoài chồng hoặc vợ Nhưng tùy vào trường hợp mà xét rằng những hành vi ngoại tình đó có vi phạm nghĩa vụ chung thủy hay không Vấn đề ngoại tình

và vi phạm nghĩa vụ chung thủy chỉ đặt ra khi 1 hoặc cả 2 bên đã có quan hệ

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w