Một khi đã tiếp thu về hệ thống bảo hộ NHHH trong sân chơi WTO, chúng ta có thể hoàn thiện và tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật quốc gia, đồng thời hạn chế được rủi ro, ch
Trang 1Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS Cao Nhất Linh Huỳnh Thanh Nguyệt
Bộ môn: Luật Thương mại MSSV: 5095633
Lớp: Luật Thương mại 3-K35
Cần Thơ, tháng 5/2013
Trang 2Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS Cao Nhất Linh Huỳnh Thanh Nguyệt
Bộ môn: Luật Thương mại MSSV: 5095633
Lớp: Luật Thương mại 3-K35
Cần Thơ, tháng 5/2013
Trang 3NHHH : Nhãn hiệu hàng hóa
TRIPS : The Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property
Rights) – Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền
sở hữu trí tuệWIPO : World Intellectual Property Organization – Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế
giới
Trang 4
Cần Thơ, ngày …tháng…năm…
Trang 5
Cần Thơ, ngày…tháng…năm…
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 9
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 9
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa 9
1.1.2 Phân loại nhãn hiệu hàng hóa 11
1.1.2.1 Nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ 11
1.1.2.2 Nhãn hiệu tập thể 12
1.1.2.3 Nhãn hiệu chứng nhận 13
1.1.2.4 Nhãn hiệu liên kết 14
1.1.2.5 Nhãn hiệu nổi tiếng 15
1.1.3 Vai trò của nhãn hiệu hàng hóa 17
1.1.4 Các điều kiện để một nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ 19
1.1.5 Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 21
1.2 BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 23
1.2.1 Tổng quan hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trên thế giới thông qua các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ 23
1.2.2 Khái quát về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại tổ chức WTO 26
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 27
1.2.3.1 Giai đoạn trước khi Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời 27
1.2.3.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời đến khi ban hành Bộ luật dân sự năm 2005 29
1.2.3.3 Giai đoạn sau khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ra đời 29
CHƯƠNG 2 WTO VÀ VIỆT NAM TRONG HỆ THỐNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 32
2.1 ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 32
2.1.1 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ 32
2.1.2 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu 33
Trang 72.1.3 Căn cứ phát sinh quyền đối với nhãn hiệu 35
2.1.4 Thời hạn bảo hộ 36
2.2 PHẠM VI ĐỘC QUYỀN BẢO HỘ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 37
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu 37
2.2.2 Quyền sử dụng và phạm vi bảo hộ 38
2.2.3 Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 39
2.2.3.1 Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 39
2.2.3.2 Chuyển giao quyền sử dụng (chuyển quyền sử dụng) nhãn hiệu 41
2.3 HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 43
2.3.1 Khái niệm hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 43
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ chứng minh 44
2.3.3 Quyền tự bảo vệ 45
2.3.4 Xử lý hành vi xâm phạm 46
2.3.4.1 Biện pháp dân sự 47
2.3.4.2 Biện pháp hành chính 48
2.3.4.3 Biện pháp hình sự 49
2.3.4.4 Biện pháp kiểm soát biên giới và biện pháp khẩn cấp tạm thời 50
2.4 QUY TRÌNH ĐĂNG KÝ BẢO HỘ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 51
2.4.1 Nộp đơn đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa 51
2.4.1.1 Quyền đăng ký nhãn hiệu 51
2.4.1.2 Cách thức nộp đơn đăng ký xác lập quyền SHCN đối với NHHH 52
2.4.2 Xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa 55
2.4.2.1 Thủ tục xử lý đơn đăng ký nhãn hiệu 55
2.4.2.2 Cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và lưu vào Sổ đăng ký quốc gia về SHCN 60
2.4.3 Chấm dứt quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa 63
2.4.3.1 Chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu 63
Trang 82.4.3.2 Hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu 64
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM TỪ KHI GIA NHẬP WTO – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM 65
3.1 HỆ THỐNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM 65
3.1.1 Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của Việt Nam trước khi gia nhập WTO 65
3.1.2 Những thay đổi trong bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO 68
3.2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA WTO TRONG VẤN ĐỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN, CỤ THỂ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM 70
3.2.1 Đánh giá mặt tích cực và tiêu cực của các chính sách của WTO trên lĩnh vực bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đối với Việt Nam 70
3.2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại các nước đang phát triển, cụ thể tại Việt Nam 75
3.2.2.1 Tình hình đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam 75
3.2.2.2 Thực trạng vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu tại Việt Nam 77
3.2.2.3 Nguyên nhân tồn tại và phát triển hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu được bảo hộ 83
3.3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM 87
3.3.1 Các đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam 87
3.3.1.1 Điều chỉnh một số quy định trong bảo hộ NHHH 87
3.3.1.2 Thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật và đơn giản hóa các thủ tục. .90
3.3.1.3 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan thực thi 91
3.3.1.4 Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm 91
3.3.1.5 Đào tạo nguồn nhân lực 91
3.3.2 Các giải pháp hỗ trợ bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam 92
Trang 93.3.2.1 Từ phía doanh nghiệp 92 3.3.2.2 Từ phía Nhà nước 96
KẾT LUẬN 98
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, là một nước đang phát triển và
có nền kinh tế trên đà vươn lên mạnh mẽ, Việt Nam không thể đứng ngoài các hoạt động thương mại toàn cầu Sau 11 năm gian nan đàm phán với rất nhiều nỗ lực, ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO – một tổ chức đang không ngừng lớn mạnh và có tác động rất lớn đến nền kinh tế thế giới Điều này mang lại cho giới doanh nghiệp Việt Nam vô vàn cơ hội cũng như thách thức khi mà sân chơi thương mại này không hề nhỏ và có rất nhiều quy tắc mới mẻ đòi hỏi doanh nghiệp phải năng động và linh hoạt để có thể thích ứng
và giành lợi thế trong cạnh tranh Trong sân chơi mới của WTO, sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, góp phần đẩy mạnh sự thịnh vượng của mỗi quốc gia Trong tính chất quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) được quan tâm nhiều hơn do gắn chặt với quá trình lưu thông hàng hóa và là tài sản quan trọng, có giá trị của các doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp đối thủ Đối diện với tình trạng hàng giả, hàng nhái cũng như hàng chiếm đoạt tràn lan như hiện nay, việc bảo hộ NHHH, vốn là công cụ quan trọng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ là việc làm
vô cùng cần thiết Một hệ thống pháp luật bảo hộ SHTT hoàn chỉnh sẽ giúp ích cho việc kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả vấn đề hàng giả, hàng nhái vốn đang gây nhiều bức xúc trong giới doanh nghiệp chân chính
Đối với một đất nước đang phát triển mang mục tiêu chủ động hội nhập sâu rộng trong quan hệ kinh tế quốc tế như Việt Nam thì vấn đề bảo hộ NHHH càng trở nên cấp thiết Việc bảo hộ NHHH của pháp luật Việt Nam thực tế vẫn còn rất mới cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng so với kinh nghiệm hàng trăm năm của các nước phát triển Trong điều kiện phát triển của khoa học, công nghệ và thương mại, vừa hòa nhập được vào dòng chảy chung của xu hướng hội nhập vừa giữ được vị thế riêng trên thương trường cho các doanh nghiệp Việt đòi hỏi một hệ thống hoàn chỉnh và cơ chế thực thi hiệu quả về bảo hộ SHTT nói chung và bảo hộ NHHH nói riêng Theo số liệu thống kê của Cục SHTT, trong số các đơn đăng ký xác lập quyền SHCN ở Việt Nam thì số đơn
về nhãn hiệu chiếm phần lớn (khoảng 70%) Con số này là minh chứng cho thấy ý nghĩa quan trọng của nhãn hiệu đối với các nhà sản xuất, kinh doanh Không chỉ là
Trang 11phương thức bảo vệ thành quả phát triển và xây dựng uy tín, lợi thế của doanh nghiệp, NHHH còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và trật tự xã hội nói chung Trước khi đương đầu với nhiều thử thách, những con sóng cảđến từ biển rộng WTO, việc tìm hiểu và nắm bắt được luật chơi luôn được các doanh nghiệp xem trọng hơn hết Một khi đã tiếp thu về hệ thống bảo hộ NHHH trong sân chơi WTO, chúng ta có thể hoàn thiện và tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật quốc gia, đồng thời hạn chế được rủi ro, chủ động hơn trong thị trường của nhiều quốc gia trên thế giới.
Vì lẽ đó, công tác đánh giá tương quan giữa pháp luật bảo hộ NHHH tại Việt Nam so với những quy định của WTO là một lĩnh vực rất cần thiết và mang nhiều lợi ích cho hoạt động kinh doanh thương mại, đặc biệt trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay nhằm có thể chuẩn bị tốt nhất cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới
2 Tình hình nghiên cứu
Tư duy pháp lý về NHHH thực sự được du nhập vào Việt Nam trong khoảng 15 năm trở lại đây nên thực tế công tác nghiên cứu về mảng này không nhiều Tuy vậy, các nhà nghiên cứu luật học, các nhà hoạt động thực tiễn đã làm nhiều việc có ý nghĩa trong vấn đề phát triển tri thức và xây dựng pháp luật bảo hộ quyền SHTT nói chung
và NHHH nói riêng Thời gian sau đó, số lượng các công trình khoa học, hội thảo, các bài viết, bình luận khoa học về quyền SHTT ngày càng nhiều và có chất lượng cao Mặc dù vậy, lĩnh vực NHHH vẫn chưa được nghiên cứu sâu sát, được đề cập trong số
ít các công trình khoa học, luận án, luận văn và chủ yếu ở các bài viết trên các tạp chí
Cụ thể, đã có một số bài viết như “Một số vấn đề về NHHH nổi tiếng” của tác giả Nguyễn Như Quỳnh (Tạp chí Luật học, số 2/2001), “Bảo hộ NHHH ở Việt Nam” của
Thạc sĩ Lê Hoài Dương (Tạp chí Toà án nhân dân, số 10/2003); đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Đại học Quốc gia năm 2002: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ NHHH, nhãn hiệu dịch vụ trên thế giới và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHHH, nhãn hiệu dịch vụ” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Quế Anh; các luận văn thạc sĩ: “So sánh pháp luật về bảo hộ NHHH của Việt Nam với các điều ước quốc
tế và pháp luật một số nước công nghiệp phát triển” của Vũ Thị Phương Lan, “Pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của Hồ Ngọc Hiển, “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Việt Nam” của
Trần Nguyệt Minh,… Như vậy, bảo hộ NHHH đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ
Trang 12khác nhau, nhưng vấn đề bảo hộ NHHH theo pháp luật Việt Nam và WTO là một đềtài độc lập và không trùng lặp với các đề tài trên Mặc dù vậy, việc thực hiện nghiên cứu đề tài này luôn có ý thức kế thừa, học hỏi những kết quả mà các công trình khoa học, luận án, luận văn, các bài viết đã đạt được cũng như các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài.
3 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu
- Về mặt lý luận:
+ Có được cái nhìn tổng quan nhất về những nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hộNHHH trước và sau khi gia nhập WTO, đánh giá được sự phù hợp của pháp luật bảo hộNHHH của Việt Nam với quy định của tổ chức này nhằm dễ dàng hội nhập kinh tếquốc tế trong xu thế hiện nay;
+ Làm sáng tỏ các quy định về bảo hộ NHHH trong pháp luật Việt Nam và khung pháp
lý của WTO;
+ Trên cơ sở phân tích, so sánh các quy định về bảo hộ NHHH của Việt Nam và WTO,
đề xuất một số quan điểm, phương hướng, biện pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHHH và tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi chúng
- Về mặt thực tiễn:
+ Trang bị kiến thức cơ bản về thủ tục đăng ký và bảo hộ NHHH tại Việt Nam và những quy tắc nền tảng trong lĩnh vực này của tổ chức WTO; đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH tại Việt Nam và công tác hỗ trợ bảo hộ NHHH từ WTO dành cho các nước đang phát triển;
+ Là nguồn tài liệu tham khảo giúp ích phần nào cho nền khoa học luật trong lĩnh vực nghiên cứu của đề tài này
4 Phạm vi nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, trước hết là việc tìm hiểu về các quy định nền tảng của WTO trong bảo hộ nhãn hiệu thông qua Công ước Paris về bảo hộ SHCN năm 1883, Hiệp định TRIPS cùng sự hợp tác với tổ chức chuyên môn là Tổ chức SHTT thế giới WIPO Từ đó, chúng ta mới có thể đánh giá lại hệ thống bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam cùng với thực trạng bảo hộ nhãn hiệu hiện nay tại Việt Nam và những
hỗ trợ tích cực từ WTO dành cho các nước đang phát triển trong lĩnh vực này Khi nhắc đến tổ chức WTO, một tổ chức thương mại mang quy mô toàn cầu nên đề tài liên quan đến bảo hộ NHHH tại WTO khá rộng và phức tạp, đặc biệt là vấn đề thực tiễn
Trang 13bảo hộ tại WTO Do đó, với vốn hiểu biết còn hạn hẹp cùng với sự hạn chế về thời gian, không gian nghiên cứu nên trong luận văn này, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về pháp luật thực định của WTO và Việt Nam về bảo hộ NHHH, đồng thời đề cập tới thực trạng bảo hộ NHHH tại Việt Nam hiện nay phù hợp với quy định của WTO như thế nào và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện khung pháp lý bảo hộ NHHH trong nước
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp quyền, các quan điểm về xây dựng và thực thi pháp luật, về đường lối đổi mới và chính sách mởcửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở; phân tích, tổng
hợp; so sánh, đối chiếu; phân tích luật viết và các phương pháp khác, kết hợp lý luận và thực tiễn để giải quyết các vấn đề đặt ra
6 Kết quả nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, trước hết với mong muốn trang bị thêm kiến thức chuyên sâu cho bản thân; đồng thời, góp một phần nhỏ bé của mình vào quá trình nghiên cứu của giới luật học nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền SHTT đối với NHHH của Việt Nam cùng cơ chế thực thi phù hợp và hiệu quả trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sau khi gia nhập WTO; giúp ích cho việc xây dựng hành trang kiến thức cho thương nhân Việt Nam nhằm hạn chế rủi ro, chủ động hơn trong hoạt động thương mại mở rộng tới các thị trường mới trên toàn thế giới
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về nhãn hiệu hàng hóa và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
- Chương 2: WTO & Việt Nam trong hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
- Chương 3: Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam từ khi gia nhập
WTO – Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA VÀ BẢO HỘ
NHÃN HIỆU HÀNG HÓA
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) đã hình thành từ khá lâu trong tiến trình lịch sử nhân loại Tuy nhiên, khi ấy, nhãn hiệu vẫn còn là khái niệm khá mơ hồ Ban đầu, nhãn hiệu tồn tại dưới dạng những dấu hiệu dùng để chỉ rõ quyền sở hữu đối với vật nuôi
Từ khoảng 5000 năm trước Công nguyên, loài người đã biết dùng một miếng kim loại nung đỏ để tạo ra dấu hiệu trên cổ những con bò, từ đó giúp chủ sở hữu dễ dàng phân biệt chúng với những con bò khác Sau đó, các dấu hiệu nhận biết được sử dụng để chỉ
rõ người sản xuất hàng hóa và nghĩa vụ của họ đối với chất lượng hàng hóa Vào khoảng 3500 năm trước Công nguyên tại khu vực Hy Lạp và Ai Cập, các nhà sản xuất
đã biết sử dụng những con dấu bằng đá để ghi các dấu hiệu lên hàng hóa của mình Từthế kỷ VI đến thế kỷ III trước Công nguyên, thay vì khắc các dấu hiệu như trên, những người thợ gốm ở Hy Lạp đã dán các dấu hiệu nhận biết lên sản phẩm Vào khoảng thời gian 500 năm trước Công nguyên đến 500 năm sau Công nguyên, các nhãn hiệu được
sử dụng rộng rãi ở La Mã Hàng ngàn viên gạch đã được gắn nhãn hiệu sau khi sản xuất Người ta tin rằng các thợ thủ công đã sử dụng nhãn hiệu cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm sử dụng để quảng cáo cho người sản xuất, làm bằng chứng để khẳng định các sản phẩm thuộc về một thương gia cụ thể nào đó khi có tranh chấp về sở hữu đồng thời chúng cũng được sử dụng như một sự bảo đảm về chất lượng Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù những dấu hiệu được sử dụng như trên không đồng nhất với khái niệm NHHH trong pháp luật hiện đại song ngay từ thời kỳ đó, chúng đã có những chứcnăng nhất định để phân biệt nguồn gốc của sản phẩm cũng như bảo chứng cho chất lượng sản phẩm Việc gắn chúng chỉ mang tính tình cờ, tự phát và không được điều chỉnh bởi bất cứ một quy phạm nào.1
1 World Intellectual Property Organization (WIPO): “Introduction to Intellectual Property – Theory and Practice”, Kluwer Academic Publishers, United Kingdom, 1997, trang 20-23 và Luận văn “Bảo
hộ NHHH theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ” mục 1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển
của NHHH và pháp luật bảo hộ NHHH, viet-nam-va-phap-luat-hoa-ky-78751, [truy cập ngày 12/01/2013]
Trang 15http://www.doko.vn/luan-van/bao-ho-nhhh-theo-phap-luat-Để có thể có một hệ thống bảo hộ toàn diện, khái niệm NHHH cần được hiểu một cách rõ ràng và chính xác Khái niệm NHHH đã được quy định một cách chính thức và hoàn chỉnh trong khuôn khổ WTO thông qua Hiệp định TRIPS2 Theo khoản 1 Điều 5
Hiệp định TRIPS quy định: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm NHHH Các dấu hiệu đó, đặc biệt
là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là NHHH.” Khái niệm trên được quy định một cách rất khái quát và mang tính quy chuẩn
cao để có thể phù hợp và thích ứng trong môi trường kinh tế ngày càng phát triển, đồng thời giúp NHHH được dễ dàng xây dựng và mở rộng tầm ảnh hưởng trong hoạt động thương mại sau này Các quốc gia với những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau cũng có những định nghĩa về NHHH khác nhau nhưng phần lớn đều tương tự khái niệm căn bản của Hiệp định TRIPS
Điều 785 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định: “NHHH là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc” Pháp luật về SHTT quy định “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” 3 Theo
đó, Luật SHTT năm 2005 của Việt Nam quy định khái niệm nhãn hiệu một cách khái quát hơn Bất kỳ dấu hiệu nào thỏa mãn điều kiện phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của một bên sản xuất với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác đều được xem là nhãn hiệu Với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ ngày càng phong phú Với một khái niệm
có tính chất mở, các dấu hiệu mới có thể được các nhà làm luật dự liệu để cấp bảo hộ Mặc dù trong pháp luật của mỗi quốc gia có cách thể hiện khác nhau nhưng khái niệm NHHH đều mang những đặc điểm cơ bản sau
Thứ nhất, NHHH được sử dụng nhằm phân biệt hàng hóa của nhà sản xuất kinh
doanh này với những hàng hóa cạnh tranh khác Chính mục đích sử dụng của nhãn hiệu
đã quy định điều kiện để một dấu hiệu muốn trở thành NHHH là phải có tính phân biệt
2 Hiệp định TRIPS (The Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights) – Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ký kết ngày 15/4/1994.
Trang 16Thứ hai, các loại dấu hiệu có khả năng là NHHH Pháp luật về NHHH các nước
cũng như các điều ước quốc tế đều không liệt kê một danh sách các dấu hiệu cố định
mà chỉ đưa ra các loại dấu hiệu phổ biến, cơ bản, chẳng hạn như từ ngữ, chữ cái, số, hình vẽ, hình tượng trưng, sự kết hợp của những yếu tố này bao gồm cả khối chữ in, dấu hiệu ba chiều, dấu hiệu nghe được, dấu hiệu mùi và các loại dấu hiệu hữu hình khác Ở một số nước, các khẩu hiệu quảng cáo cũng được coi là nhãn hiệu và có thể được đăng ký một cách bình thường tại các cơ quan nhãn hiệu quốc gia
Ngày càng có nhiều nước cho phép việc đăng ký các nhãn hiệu ít tính truyền thống hơn như dấu hiệu ba chiều (ví dụ như chai Coca-Cola hoặc thanh sô-cô-la Toblerone), dấu hiệu nghe thấy được (âm thanh, nổi tiếng là tiếng gầm của sư tử được
sử dụng trước các bộ phim do Tập đoàn Metro – Goldwyn – Mayer (MGM) sản xuất) hoặc dấu hiệu khứu giác (mùi, ví dụ như nước hoa)
Các nhãn hiệu ít tính truyền thống của Hoa Kỳ
Tuy nhiên, nhiều nước như Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam,… giới hạn về dấu hiệu có thể được đăng ký làm nhãn hiệu, nhìn chung, chỉ cho phép đăng ký các nhãn hiệu có thể nhìn thấy được hoặc có thể được thể hiện theo hình họa.4
1.1.2 Phân loại nhãn hiệu hàng hóa
1.1.2.1 Nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ
Nếu như thời gian trước đây, nhãn hiệu được sử dụng cho mặt hàng hữu hình là hàng hóa thì với khả năng phát triển và mở rộng sản phẩm phục vụ đời sống như hiện nay, dịch vụ cũng được gắn nhãn hiệu NHHH gắn vào sản phẩm hoặc bao bì sản phẩm
để phân biệt sản phẩm cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau Nhãn hiệu dịch vụ
về bản chất giống với NHHH Nhãn hiệu dịch vụ gắn vào các thể loại dịch vụ để phân biệt dịch vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh dịch vụ khác nhau Dịch vụ có thể là
4 Tham khảo hệ thống bảo hộ NHHH của các quốc gia Châu Á tại trang web http://luatminhkhue.vn/, [truy cập ngày 24/01/2013].
Trang 17tài chính, ngân hàng, du lịch, quảng cáo hay vận tải,… Nhãn hiệu dịch vụ có thể đăng
ký, gia hạn, đình chỉ, chuyển nhượng hoặc cấp phép sử dụng theo các điều kiện tương
tự NHHH NHHH hiện nay là khái niệm được sử dụng chung cho những nhãn hiệu của các loại mặt hàng sản phẩm dù là hàng hóa hay dịch vụ Các NHHH thân thuộc đối với người tiêu dùng Việt Nam hiện nay như: Sữa Vinamilk, Sữa đậu nành Vinasoy, nước khoáng La Vie, thép Hoa Sen,… và các nhãn hiệu dịch vụ như: VNPT, Saigon Tourist, Viettel,…
Nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam
1.1.2.2 Nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên trong tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không là thành viên của tổ chức đó5 Ở một cách tiếp cận dễ hiểu hơn, nhãn hiệu tập thể là các dấu hiệu phân biệt nguồn gốc địa lý, nguyên vật liệu, mô hình sản xuất hoặc các đặc tính chung khác của hàng hóa hoặc dịch vụ được một tổ chức như: hiệp hội, hợp tác xã, câu lạc bộ, tổng công ty, tập đoàn,… đứng ra đăng ký để các thành viên trong tổ chức cùng sử dụng Nhãn hiệu tập thể thành công điển hình là MELINDA được 5.200 nhà sản xuất táo ở vùng Valle di Non và Valle del Sole của Ý sử dụng Mọi nhà sản xuất có quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể MELINDA thuộc sở hữu của Công ty Melinda miễn là sản phẩm táo của họ đáp ứng các tiêu chuẩn do Công ty này quy định.6 Sau đây là một số hình ảnh về nhãn hiệu và sản phẩm của Melinda:
5 Theo khoản 17 Điều 4 Luật SHTT hiện hành
biết về SHTT – Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ, Geneva, 2004,
trang 38.
Trang 18Đối với tình hình phát triển nền kinh tế hàng hóa nghiêng về sản phẩm nông nghiệp như nước ta, việc chỉ cần xây dựng một nhãn hiệu tập thể nhưng rất nhiều thành phần được hưởng chung là một việc làm hiệu quả Việt Nam là một quốc gia có nhiều làng nghề truyền thống, nhiều sản vật địa phương, việc xây dựng nhãn hiệu tập thể cho các làng nghề sẽ giúp ích rất nhiều cho người dân của các vùng này phát triển sản xuất, cải thiện đời sống Việt Nam hiện nay đã bảo hộ cho rất nhiều đặc sản của địa phương thành nhãn hiệu tập thể, ví dụ như: vải thiều Thanh Hà, gốm sứ Bát Tràng, chuối Laba (Lâm Đồng), chè Thái Nguyên, rau an toàn An Hải, rượu đế Gò Đen, mật ong U Minh Hạ,…
Một số nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam
Tuy nhiên, đăng ký là một chuyện, sử dụng như thế nào lại là chuyện khác Thực
tế, tại một số tỉnh thành trên nước ta, một số loại trái cây có thời gian thu hoạch và bán
ra quá ngắn ngủi không được lưu tâm gắn nhãn hiệu, các loại sản phẩm mang cùng một nhãn hiệu tập thể nhưng chất lượng cách xa nhau và như giá cả chênh lệch lớn gây khó khăn cho người tiêu dùng cũng như người sản xuất và phân phối.7
1.1.2.3 Nhãn hiệu chứng nhận
Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức,
cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.8 Với nhãn hiệu chứng nhận, doanh nghiệp có thể tiếp thị
và nâng cao hình ảnh sản phẩm của mình vốn đã được kiểm nghiệm bởi một tổ chức có thẩm quyền và đáp ứng những yêu cầu cần thiết Ở nhiều quốc gia, khác biệt chính
http://phapluattp.vn/222902p1014c1068/nhan-hieu-tap-the-van-manh-ai-nay-lam.htm, [truy cập ngày 22/01/2013].
8 Theo khoản 18 Điều 4 Luật SHTT hiện hành.
Trang 19giữa nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu tập thể chỉ được sử dụng cho một nhóm doanh nghiệp cụ thể, ví dụ như thành viên của hiệp hội, trong khi nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng cho bất kỳ chủ thể nào đáp ứng các tiêu chuẩn xác định của chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận Một điều cần quan tâm nữa là nhãn hiệu chứng nhận cũng có thể được sử dụng cùng với các nhãn hiệu riêng của nhà sản xuất hàng hóa nhất định NHHH sử dụng như nhãn hiệu chứng nhận là bằng chứng chứng tỏ rằng sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể được đặt ra khi sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.9 ISO 9000 là một ví dụ về nhãn hiệu chứng nhận được công nhận rộng rãi trên thế giới Woolmark cũng là một nhãn hiệu chứng nhận điển hình, được sử dụng để chứng nhận các sản phẩm được sản xuất từ 100% chất liệu len Tại Việt Nam, có thể dễ dàng bắt gặp các nhãn hiệu loại này như: Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao do Người Tiêu Dùng Bình Chọn, Rau Da Lat Vegetable, Chè Ba Vì, Sữa Ba Vì, Dứa CAYENNE Đơn Dương,…
Nhãn hiệu chứng nhận
1.1.2.4 Nhãn hiệu liên kết
Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.10 Nhãn hiệu liên kết có những đặc điểm nổi bật như: cùng một chủ sở hữu (người đăng ký nhãn hiệu); tương tự nhau về nhãn hiệu và nhóm sản phẩm, dịch vụ; hoặc liên quan tới nhau về mẫu nhãn hiệu và nhóm ngành sản phẩm dịch vụ cung cấp Ví dụ: một doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu ANI cho sản phẩm khăn giấy thì các nhãn hiệu của chính doanh nghiệp này đăng ký như ANIE, ANNI, ANII,… cho cùng sản phẩm khăn giấy được coi là các nhãn hiệu liên kết Nhãn hiệu ACE, ACE-INA, ACE LIFE là những nhãn hiệu liên kết của cùng một công ty bảo hiểm ACE-INA
biết về SHTT – Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ, Geneva, 2004,
trang 39.
10 Theo khoản 19 Điều 4 Luật SHTT hiện hành.
Trang 20Nhãn hiệu liên kết còn có tên là nhãn hiệu bao vây, mục đích của việc đăng ký nhãn hiệu liên kết là nhằm ngăn chặn bên thứ ba đăng ký những nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu mà doanh nghiệp đã được cấp văn bằng bảo hộ.11
Một số hình ảnh nhãn hiệu liên kết
1.1.2.5 Nhãn hiệu nổi tiếng
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi.12 Mặc
dù đã được biết đến từ rất lâu, song cho đến hiện nay cách hiểu về nhãn hiệu nổi tiếng vẫn còn rất khác nhau trong các điều ước quốc tế cũng như trong pháp luật các nước Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (SHCN) năm 1883 không hề đưa ra một định nghĩa chính thức và rõ ràng về “nhãn hiệu nổi tiếng”.13 Chỉ có một căn cứ duy nhất để xác định một NHHH trở nên nổi tiếng, đó là sự chấp nhận hay thừa nhận của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia nơi nhãn hiệu được đăng ký hay quốc gia nơi sản phẩm được sử dụng Theo Hiệp định TRIPS, khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” không chỉ được sử dụng cho đối tượng là hàng hóa mà còn được sử dụng cho cả các đối tượng dịch vụ, và Hiệp định cũng ghi nhận một số căn cứ chung (danh tiếng của NHHH đó trong bộ phận công chúng có liên quan, kể cả danh tiếng tại nước Thành viên tương ứng đạt được nhờ hoạt động quảng cáo) để xác định một NHHH có phải là nổi tiếng hay không.14
Mặc dù có những sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, chúng ta vẫn có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về NHHH nổi tiếng Theo đó, nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được biết đến một cách rộng rãi bởi nhiều người trong những phạm vi lãnh thổ nhất định hoặc được xem xét, thừa nhận bởi các cơ quan có thẩm quyền của các
11 Trang S&B Law: Nhãn hiệu liên kết,
http://www.trademarks.vn/Nhan-hieu-Viet-Nam/Nhan-hieu-lien-ket.html, [truy cập ngày 22/01/2013].
12 Theo khoản 20 Điều 4 Luật SHTT hiện hành.
13 Điều 6bis quy định về Nhãn hiệu nổi tiếng của Công ước Paris không đề cập đến khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng”.
14 Xem khoản 2 Điều 16 Hiệp định TRIPS.
Trang 21quốc gia nơi nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ hay được sử dụng Nhãn hiệu được đánh giá là nổi tiếng khi có các đặc điểm sau15:
Thứ nhất, một nhãn hiệu nổi tiếng phải là nhãn hiệu có tính phân biệt Thông qua
một nhãn hiệu nổi tiếng, người tiêu dùng có thể nhận biết ngay loại hàng hóa hay dịch
vụ mà nhãn hiệu đó được sử dụng Ví dụ, khi nói đến nhãn hiệu Coca Cola, người tiêu dùng sẽ nghĩ ngay đến nước giải khát, hoặc khi nói đến Toyota, họ sẽ nghĩ ngay đến xe hơi,…
Thứ hai, nhãn hiệu nổi tiếng thường có tính phổ biến cao Một nhãn hiệu nổi tiếng
là nhãn hiệu được biết đến bởi nhiều người ở nhiều khu vực địa lý khác nhau Chẳng hạn, Ford là một nhãn hiệu xe hơi nổi tiếng của Hoa Kỳ nhưng nó lại được biết đến bởi người tiêu dùng trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Thứ ba, nhãn hiệu nổi tiếng thường có giá trị kinh tế rất lớn Nó cấu thành một bộ
phận tài sản quan trọng trong khối lượng tài sản của doanh nghiệp Trên thực tế, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng của mình như là một loại vốn để đưa vào các hoạt động đầu tư, kinh doanh,
Một nhãn hiệu chỉ có thể trở thành nhãn hiệu nổi tiếng nếu nó thỏa mãn những yêu cầu hay tiêu chí nhất định do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng minh hoặc theo quy định của pháp luật Bất kể sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật của các quốc gia trong lĩnh vực lập pháp cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật, chúng ta cũng có thể khái quát các trường hợp chung nhất mà theo đó một NHHH sẽ được công nhận là nổi tiếng Đó là sự lặp đi lặp lại của nhãn hiệu trong một bộ phận công chúng liên quan; mức độ được biết đến của nhãn hiệu trong công chúng; quy mô và khoảng thời gian sử dụng nhãn hiệu; thời gian, mức độ và phạm vi địa lý của bất kỳ sự quảng cáo hay thông tin cho nhãn hiệu; mức độ của tính phân biệt vốn có hay được yêu cầu của nhãn hiệu nổi tiếng; bản chất của những loại hàng hóa, dịch vụ và những kênh lưu thông chonhững hàng hóa, dịch vụ mà nhãn hiệu được sử dụng; bản chất và mức độ sử dụng của
15Th.S Phan Ngọc Tâm: Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Châu Âu và Hoa Kỳ, Tạp chí Khoa
học pháp lý số 4 (35)/2006,
http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=413:bhnhntt plcavhk&catid=106:ctc20064&Itemid=109, [truy cập ngày 18/02/2013].
Trang 22những nhãn hiệu giống hoặc tương tự bởi bên thứ ba; lịch sử của quá trình thực thi quyền trong việc bảo hộ nhãn hiệu; những quốc gia nơi nhãn hiệu đã được đăng ký.16Những yếu tố được đề cập trên đây chỉ là những căn cứ chung được thừa nhận một cách rộng rãi trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngoài ra, phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể cũng như quan điểm lập pháp riêng của mỗi quốc gia
mà họ có thể đưa ra các quy định cụ thể liên quan đến việc thừa nhận nhãn hiệu nổi tiếng
1.1.3 Vai trò của nhãn hiệu hàng hóa
Hiện nay, nhãn hiệu chiếm vai trò quan trọng trong thương mại Nhãn hiệu có thể được mua bán hoặc cho thuê quyền sử dụng, có thể được bảo hộ trong nước và trong phạm vi quốc tế Xét ở nền tảng pháp lý, hệ thống pháp luật các nước đã công nhận giá trị nhãn hiệu và bảo hộ như là một loại tài sản cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng Nhãn hiệu đang được sử dụng rộng khắp ở tất cả các quốc gia, quốc gia đang phát triển hay quốc gia công nghiệp, nền kinh tế thị trường hay nền kinh tế kế hoạch hóa, nó có vai trò về mặt kinh tế quan trọng trong tiếp thị và thương mại Nhãn hiệu phục vụ mục đích cho bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên thị trường như nhà sản xuất, nhà phân phối, các đơn vị bán sỉ và lẻ cũng như thị hiếu của bên tiêu thụ, bên chức trách, cơ quan có thẩm quyền và nền kinh tế nói chung.17
Từ cách nhìn của người quan tâm đến việc mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ, nhãn hiệu có mục đích hướng người đó trong việc quyết định có mua hay sử dụng loại hàng hóa, dịch vụ đó hay không Quyết định của người mua dựa trên các đặc điểm hay đặc tính của hàng hóa, dịch vụ như: kích cỡ, trọng lượng, màu sắc, hương vị, mùi vị,
độ bền,… Người tiêu dùng tìm kiếm ở các loại hàng hóa, dịch vụ những thông tin về chất lượng hoặc các đặc tính Một trong những vai trò của nhãn hiệu là truyền đạt được cho người tiêu dùng cảm giác về chất lượng và đặc tính của sản phẩm mang nhãn hiệu
16Th.S Phan Ngọc Tâm: Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Châu Âu và Hoa Kỳ, Tạp chí Khoa
học pháp lý số 4 (35)/2006,
http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=413:bhnhntt plcavhk&catid=106:ctc20064&Itemid=109, [truy cập ngày 18/02/2013].
17 World Intellectual Property Organization (WIPO): Introduction to Intellectual Property – Theory and Practice, Kluwer Academic Publishers, United Kingdom, 1997, trang 10 – 12.
Trang 23Nhãn hiệu còn giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại mang những nhãn hiệu khác nhau hay phân biệt các sản phẩm trong cùng một công ty sản xuất.18Không chỉ hữu ích cho bên tiêu thụ, nhãn hiệu còn giúp nhà sản xuất xác định được hàng hóa được cung cấp bởi họ một khi hàng hóa không còn thuộc sở hữu của họ nữa Nhãn hiệu giúp cho công ty thu hút sự chú ý của khách hàng tiềm năng đối với sự tồn tại của mặt hàng mang nhãn hiệu mà công ty cung cấp trên thị trường, giữ được sự lưu tâm của khách hàng và phân biệt hàng hóa cùng loại của công ty mình với các đối thủ cạnh tranh khác Bằng cách này, doanh nghiệp, công ty có thể có được danh tiếng đối với sản phẩm mang nhãn hiệu của mình Nhãn hiệu có một vai trò then chốt trong chiến lược quảng cáo và tiếp thị của doanh nghiệp nhằm xây dựng hình ảnh và uy tín
về sản phẩm của mình trong mắt người tiêu dùng Giá trị xuất phát từ mối liên hệ giữa nhãn hiệu và sản phẩm giúp nhu cầu hàng hóa mang nhãn hiệu được giữ vững và mở rộng để cạnh tranh với các doanh nghiệp, công ty cung cấp loại hàng tương tự Một khi nhãn hiệu đạt được tiếng tăm nhất định, việc thâm nhập những thị trường mới và kích thích hoạt động xuất khẩu cũng dễ dàng hơn Việc sử dụng nhãn hiệu xét về lâu dài thúc đẩy các nhà sản xuất hàng hóa hay nhà cung cấp dịch vụ đề cao chất lượng và cải thiện chất lượng tổng thể của hàng hóa, dịch vụ của mình.19
Đánh giá ngoài sự tương quan giữa bên mua và bên bán, nhãn hiệu giúp cho các
cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm kiểm soát chất lượng hay các đặc tính khác của hàng hóa mang nhãn hiệu thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Ngoài ra, chính quyền các quốc gia có thể xây dựng được khung pháp lý hoàn chỉnh để bảo hộ NHHH, bảo đảm được các quyền lợi chính đáng cho cả chủ sở hữu nhãn hiệu cũng như cho người tiêu dùng trong thị trường kinh tế ngày càng mở rộng và phát triển như hiện nay.20Theo đó, nền kinh tế được thúc đẩy phát triển trong môi trường cạnh tranh lành mạnh
và sự bảo hộ chặt chẽ của pháp luật
Trang 241.1.4 Các điều kiện để một nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ
Là công cụ quan trọng trong nền kinh tế hàng hóa hiện nay, nhãn hiệu được các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn, được tận dụng để củng cố và mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, không phải bất cứ dấu hiệu nào cũng được xem
là NHHH Yếu tố phân biệt rõ ràng là điều kiện tiên quyết đối với một dấu hiệu muốn trở thành NHHH Các dấu hiệu có khả năng là NHHH trên thực tế rất đa dạng Thực tiễn bảo hộ NHHH ghi nhận một số dấu hiệu sau đây.21
- Từ ngữ: là loại dấu hiệu phổ biến nhất và chiếm số lượng rất lớn trong thực tiễn bảo
hộ nhãn hiệu Loại dấu hiệu này bao gồm tên công ty, họ, tên, khẩu hiệu và bất kỳ từ ngữ nào được sáng tạo Từ ngữ này không nhất thiết phải có nghĩa, ví dụ như SONY, KODAK
- Chữ cái và con số: là loại dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu khá phổ biến trên thế
giới Tại Việt Nam, không phải mọi chữ cái và con số đều được thừa nhận là NHHH Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 74 Luật SHTT hiện hành, chữ số, chữ cái thuộc các ngôn ngữ không thông dụng không được xem là nhãn hiệu trừ khi đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu
- Hình vẽ: gồm các hình họa, các nét vẽ, biểu tượng hoặc hình họa hai chiều của hàng
hóa hoặc bao bì Pháp luật Việt Nam không chấp nhận cho đăng ký các hình và hình học đơn giản vì chúng được xem là không có khả năng phân biệt.22
- Sự kết hợp của các yếu tố kể trên: là những dấu hiệu được tạo ra từ sự kết hợp các
dấu hiệu từ ngữ, chữ cái, con số, hình vẽ với nhau Loại dấu hiệu này được sử dụng rất rộng rãi tại Việt Nam cũng như nhiều nước khác
- Màu sắc: bao gồm các từ ngữ, hình vẽ và bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng mà có
màu sắc hoặc sự tổ hợp của bản thân các màu sắc Hiệp định TRIPS quy định tổ hợp màu sắc là một loại dấu hiệu có thể đăng ký làm NHHH Tuy nhiên, Luật SHTT năm
2005 không thừa nhận dấu hiệu màu sắc có thể được đăng ký là NHHH mà chỉ xác định màu sắc là phương thức thể hiện của các loại dấu hiệu khác
và World Intellectual Property Organization (WIPO): Introduction to Intellectual Property – Theory and Practice, Kluwer Academic Publishers, United Kingdom, 1997, trang 186 – 187.
Trang 25- Dấu hiệu ba chiều: là dấu hiệu hình khối có khả năng được đăng ký là NHHH Dạng
điển hình nhất của dấu hiệu ba chiều là hình dáng hàng hóa hoặc bao bì Một số nhãn hiệu ba chiều tiêu biểu là ngôi sao ba cánh nổi nằm trong vòng tròn của xe Mercedes, con sư tử đứng hai chân nổi của xe Peugeot, hình con người bay đúc nguyên khối của
xe Rolls-Royce Đây là loại nhãn hiệu phức tạp, do đó pháp luật các nước khi thừa nhận dấu hiệu này thường yêu cầu thêm điều kiện phải có khả năng mô tả được theo hình họa hai chiều
- Dấu hiệu nghe được (âm thanh): hai thể loại điển hình của dấu hiệu này thường được
thể hiện bằng nốt nhạc hoặc cách biểu hiện khác như tiếng kêu của động vật
- Dấu hiệu khứu giác (mùi): ví dụ trường hợp một công ty sản xuất sản phẩm như giấy
viết mang một mùi hương nhất định và người tiêu dùng dần quen với việc nhận biết được hàng hóa đó thông qua mùi hương cụ thể
- Các dấu hiệu vô hình khác: ví dụ các dấu hiệu được nhận biết thông qua việc chạm
vào
Nhìn chung, các trường hợp loại trừ không đăng ký được trình bày như sau23:
Thứ nhất, dựa trên “cơ sở tuyệt đối”:
- Tên gọi chung (ví dụ, nhãn hiệu TABLE cho sản phẩm bàn);
- Từ ngữ có tính mô tả (ví dụ, SWEET cho sản phẩm kẹo);
- Nhãn hiệu có tính mô tả: là những nhãn hiệu có khả năng đánh lừa hoặc lừa dối người tiêu dùng về bản chất, chất lượng hoặc nguồn gốc địa lý của sản phẩm;
- Nhãn hiệu trái với đạo đức hoặc các chính sách công cộng;
- Dấu hiệu dành riêng cho Nhà nước, các viện công cộng, tổ chức quốc tế (ví dụ, quốc
kỳ, huy hiệu, dấu xác nhận chính thức và biểu tượng của quốc gia và các tổ chức quốc
tế đã được thông báo cho Văn phòng quốc tế của Tổ chức SHTT Thế giới WIPO)
Thứ hai, dựa trên “cơ sở tương đối”: đơn đăng ký bị từ chối nếu nhãn hiệu xung
đột với các quyền của nhãn hiệu có trước Hai nhãn hiệu trùng nhau (hoặc rất giống nhau) dùng cho cũng loại sản phẩm có thể gây nhầm lẫn cho người sử dụng Một số cơ quan nhãn hiệu kiểm tra sự xung đột với các nhãn hiệu đang được bảo hộ (kể cả các nhãn hiệu nổi tiếng không đăng ký) như là một phần của quy trình đăng ký, trong khi
biết về SHTT – Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ, Geneva, 2004,
trang 35.
Trang 26nhiều cơ quan nhãn hiệu khác chỉ thực hiện việc này khi nhãn hiệu bị bên thứ ba phản đối sau khi công bố nhãn hiệu.
1.1.5 Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Hầu hết các doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng nhãn hiệu để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, việc đầu tư xây dựng nhãn hiệu vẫn chưa đủ mà cần có sự bảo hộ về mặt pháp lý quyền SHTT đối với nhãn hiệu đó Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO kéo theo những tác động do hội nhập kinh tế thế giới hậu WTO là động lực lớn cho các quốc gia quốc tế hóa nhãn hiệu của sản phẩm nước mình khi nhiều doanh nghiệp đã ý thức và có kinh nghiệm trong đăng ký bảo hộ quốc tế Không đăng ký nhãn hiệu theo thông lệ quốc tế, doanh nghiệp cầm chắc nhiều thua thiệt như mất thương hiệu, bị kiện
vi phạm SHTT,… Việc bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH là căn cứ pháp lý tạo nên quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đó, là yếu tố cực kỳ quan trọng khi có tranh chấp xảy
ra với bên thứ ba Đơn đăng ký có thể được nộp trước khi sử dụng nhãn hiệu Do vậy, doanh nghiệp sẽ có độc quyền thậm chí trước khi bắt đầu thương mại hóa sản phẩm của mình Và việc đăng ký làm cho việc thực thi quyền của doanh nghiệp dễ dàng, đỡ tốn kém hơn Có thể dễ dàng nhận thấy rằng các lợi ích của việc bảo hộ NHHH là không hề nhỏ Trong một thị trường kinh tế đang ngày càng khuếch trương và người tiêu dùng ngày càng khắt khe và kỹ tính trong việc lựa chọn sản phẩm, việc đăng ký bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH bảo đảm rằng khách hàng có thể phân biệt sản phẩm cùng loại của các công ty khác nhau, cùng lúc giúp cho các công ty tạo ra sự khác biệt cho chính sản phẩm của mình Do đó, đăng ký nhãn hiệu giúp cho các doanh nghiệp có một công cụ tiếp thị và là cơ sở nền tảng để tạo dựng uy tín và hình ảnh thương hiệu riêng, khuyến khích việc đầu tư duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm.24
Ngoài ra, nhãn hiệu đã đăng ký còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp thực hiện hoạt động li-xăng25 và tạo nguồn thu nhập thông qua phí li-xăng Nhiều nhãn hiệu đã trở nên nổi tiếng thế giới trước hết không phải vì chất lượng có một không hai của mình
24 World Intellectual Property Organization (WIPO): Introduction to Intellectual Property – Theory and Practice, Kluwer Academic Publishers, United Kingdom, 1997, trang 11 – 12.
25 Li-xăng nhãn hiệu (chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu) là việc tổ chức, cá nhân nắm độc quyền sử dụng nhãn hiệu (bên chuyển quyền sử dụng – thường được gọi là bên giao) cho phép tổ chức, cá nhân khác (bên nhận quyền sử dụng – thường được gọi là bên nhận) sử dụng nhãn hiệu đó trong một thời gian nhất định.
Trang 27mà do họ đã biết sử dụng chính sách li-xăng thương hiệu một cách triệt để như Cola, Calvin Klein, Microsoft, Colgate – Palmolive,… Hơn thế nữa, nhãn hiệu đã đăng
Coca-ký có thể là một bộ phận quan trọng trong hợp đồng nhượng quyền thương mại26 Bảo
hộ được đề cập ở đây còn xét đến cả khía cạnh khả năng đòi lại các nhãn hiệu đã bị chiếm đoạt ở nước ngoài Đối với riêng Việt Nam, sau khi đã chính thức tham gia Nghị định thư Madrid liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế NHHH27 hồi đầu tháng 7 năm 2006, trong trường hợp hiệu lực bảo hộ bị hủy tại nước ngoài, Nghị định thư này sẽ ưu tiên cấp lại nhãn hiệu cho chủ nhân của nó Do đó, doanh nghiệp có thể đòi lại được nhãn hiệu cho mình nếu chứng minh được quá trình xây dựng, sử dụng nhãn hiệu đó Đối với một quốc gia với doanh số và thị phần thương hiệu trên các thị trường quốc tế còn ít ỏi, việc nỗ lực xác lập vị thế của một số thương hiệu, nhãn hiệu như Vinamit, Bia Saigon, Cà phê Trung Nguyên, Kymdan là hết sức đáng trân trọng.28Việc bảo hộ nhãn hiệu một cách đúng đắn giúp hàng hóa mang nhãn hiệu đó được định giá xứng đáng hơn và vượt khỏi ngưỡng giá thấp của từng ngành hàng, thậm chí đối với một số sản phẩm cao cấp chúng ta có thể định giá cao hướng tới nhóm thu nhập trung cao và sẽ thoát khỏi tình trạng phá giá Khi đầu tư thích đáng vào việc xây dựng một nhãn hiệu uy tín với trị giá sản phẩm ngày càng được nâng cao, hàng hóa của nước
ta sẽ mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn, sánh ngang với các chủng loại “hàng hiệu, hàng cao cấp” của các nước phát triển
Đối với một mặt hàng sản phẩm, đơn cử là giày da, sản phẩm Việt Nam và Châu
Âu thực sự cách biệt lớn Trong khi hàng nước ta thường là da bóng với kiểu dáng quê mùa, không chăm chút thì hàng nước ngoài với những nhãn hiệu nổi tiếng như Camel,
“Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau:
1 Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”
27 Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, có hiệu lực từ năm 1891 và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid, được thông qua năm 1989, có hiệu lực từ ngày 1/12/1995, và hoạt động từ 1/4/1996.
28 Tham khảo thêm tại Bảo Linh (tổng hợp): Những “ông lớn” Việt mất thương hiệu như thế nào?,
http://www.vtc.vn/1-347079/kinh-te/nhung-ong-lon-viet-mat-thuong-hieu-nhu-the-nao.htm, [truy cập
ngày 24/01/2013] và Bảo Giang – Đình Bắc: Vinamit thắng kiện ở nước ngoài,
http://dangkydoanhnghiep.info/a/news?t=4&id=1002611, [truy cập ngày 18/02/2013].
Trang 28Gucci, Timberland,… là da thuộc kỹ hay da vò mờ, đường nét sắc sảo, kiểu dáng sang trọng và mang phong cách Châu Âu cổ điển, đẹp nhưng không phô trương Vì lẽ đó, người tiêu dùng sẵn sàng bỏ thêm một khoản tiền để mua lấy sự nổi tiếng của thương hiệu cũng như sự ngưỡng mộ của người khác dành cho thương hiệu đó vốn đã được cộng thêm vào cho chính mỗi một mẫu mã giày Nguyên tắc tối thượng của WTO không phải là tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa mà dựa trên nguyên lý của “kinh
tế thị trường” và “cạnh tranh lành mạnh” Điều quan trọng cốt lõi mà những đối tác đại
tư bản ít khi thể hiện ra chính là nhãn hiệu, thương hiệu vốn thực sự là bí quyết của quyền lực trong công cuộc nắm giữ thị phần trên các thị trường quốc tế.29 Một khi đã gia nhập vào sân chơi lớn như WTO, Việt Nam cần nắm rõ luật chơi, hiểu rõ thực lực bản thân và chuẩn bị cho mình tất cả các những biện pháp hỗ trợ tốt nhất để có thể hòa nhập và phát triển
Việc đăng ký nhãn hiệu cũng là một nguồn thông tin thống kê kinh tế cho cơ quan quản lý của quốc gia Một hệ thống quản lý nhãn hiệu hiệu quả góp phần bảo vệ người tiêu dùng khỏi những hình thức thương mại không công bằng khác khi có sự nhầm lẫn hay bối rối trong khi nhìn nhận các nhãn hiệu tương tự nhau Nhiều quốc gia vẫn chưa
có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Vì thế, pháp luật bảo hộ NHHH có thể được xem là một trong những nguồn luật ít ỏi có thể bảo vệ người tiêu dùng
1.2 BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Tổng quan hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trên thế giới thông qua các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ
Năm 1266, văn bản pháp luật đầu tiên liên quan đến NHHH được thông qua bởi Nghị viện Anh với tên gọi: "Luật ghi nhãn hiệu của các nhà sản xuất bánh mì"30 Theo quy định của văn bản này, mỗi người thợ nướng bánh phải gắn dấu hiệu riêng của mình lên bánh mì nhằm mục đích "nếu như bánh được nướng không đủ trọng lượng thì sẽ biết được ai là người có lỗi" Năm 1365, những người sản xuất dao kéo ở Luân Đôn đã bảo vệ quyền đối với NHHH của mình bằng cách đăng ký chúng tại cơ quan chính
29 Võ Văn Quang: Thương hiệu Việt và vận hội WTO,
http://www.vnbrand.net/Phong-su-thuong-hieu/thuong-hieu-viet-va-van-hoi-wto.html, [truy cập ngày 24/01/2013]
30 Luật ghi nhãn hiệu của các nhà sản xuất bánh mì (Bakers Marking Law), trong đó có quy định những nhà sản xuất bánh mì đóng nhãn hiệu hoặc khắc dấu hiệu phân biệt lên bánh mì Tìm hiểu thêm tại http://www.lib.utexas.edu/engin/trademark/timeline/ren/ren.html, [truy cập ngày 23/01/2013]
Trang 29quyền của thành phố Năm 1373, một Sắc lệnh được thông qua, trong đó yêu cầu các nhà sản xuất rượu phải gắn nhãn hiệu lên các chai rượu hoặc các thùng chứa rượu bằng
da để tránh bị tráo hàng Và chỉ bằng cách đó sản phẩm của họ mới được công nhận Năm 1452 là năm ghi dấu ấn khá đặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của NHHH bởi đây là năm diễn ra vụ kiện đầu tiên liên quan đến NHHH Đó là trường hợp một quả phụ được cho phép sử dụng NHHH của người chồng quá cố.31
Cho đến khoảng cuối thế kỷ XV và thế kỷ XVI, việc sử dụng NHHH tăng lên nhanh chóng Vào thời kỳ này, việc gắn nhãn hiệu cơ bản được thực hiện tuân thủ theo những quy định mang tính chất điều lệ của các xưởng sản xuất Việc gắn nhãn hiệu có mục đích chủ yếu để chỉ ra rằng người sản xuất thuộc về một tổ chức nào đó - một xưởng thủ công hay một phường hội các nhà buôn - bằng cách đó gián tiếp công nhận rằng nhà sản xuất đó có quyền sản xuất hay buôn bán chủng loại hàng tương ứng Dấu hiệu được thể hiện trên hàng hóa còn đồng thời là minh chứng bảo đảm cho việc hàng hóa được thợ sản xuất tuân thủ theo đúng những chuẩn mực kỹ thuật, thẩm mỹ đã được đặt ra và đã trải qua sự kiểm tra, giám sát nhất định của hiệp hội Dấu hiệu được gắn trên hàng hóa còn có vai trò như là một dấu hiệu về chất lượng sản phẩm Thông thường, trong giai đoạn này, dấu hiệu không thuộc về cá nhân một người mà thuộc về một phường hội nào đó Những phường hội này theo dõi rất sát sao việc tuân thủ những quy định đã được đặt ra về gắn nhãn hiệu và áp dụng những chế tài mạnh đối với những ai vi phạm chúng Bên cạnh đó, vào thời kỳ này, ở một số ngành sản xuất có
ý nghĩa xã hội đặc biệt quan trọng (ví dụ như ngành sản xuất vũ khí, làm đồ vàng bạc) cũng tồn tại một số nhãn hiệu mang tính chất cá nhân mà việc sử dụng chúng có tính chất bắt buộc Những nhãn hiệu này được sử dụng nhằm mục đích chỉ rõ người sản xuất ra sản phẩm Năm 1618 là năm diễn ra vụ xâm phạm NHHH khá nổi tiếng: một người sản xuất vải đã gắn NHHH của một nhà sản xuất danh tiếng lên sản phẩm của mình Sự kiện này được coi như chiếc cầu nối giữa NHHH của các thương gia trong thời kỳ trung đại và nhãn hiệu thương mại hiện đại.32
Thời kỳ phục hưng của NHHH và tham khảo Trang Văn phòng đăng ký sáng chế và nhãn hiệu Hoa
Kỳ: Trademark History, McKinney Engineering Library, http://www.uspto.gov, [truy cập ngày
25/01/2013].
Thời kỳ phục hưng của NHHH.
Trang 30Xem xét các điều ước quốc tế có phạm vi rộng rãi cũng như tầm ảnh hưởng lớn đối với các quốc gia trên thế giới, hệ thống bảo hộ NHHH ngày càng được hoàn thiện
và dự liệu một cách hiệu quả Nhu cầu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực SHCN lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1873 tại hội chợ sáng chế quốc tế ở Vienne Thời gian sau, Công ước Paris về bảo hộ SHCN thông qua ngày 20/3/1883 với sự tham gia ký kết của
14 nước thành viên Đây là công ước quốc tế đa phương quan trọng đầu tiên về bảo hộ SHCN Từ khi được ký kết đến nay, Công ước đã qua 7 lần sửa đổi tại Brussels ngày 14/12/1900, tại Washington ngày 02/6/1911, tại Lahay ngày 06/11/1925, tại London ngày 02/6/1934, tại Lisbon ngày 31/10/1958 và tại Stockholm ngày 14/7/1967 và được tổng sửa đổi ngày 28/9/1979 Công ước này bảo đảm sự độc lập của việc bảo hộ một nhãn hiệu tại các nước khác nhau, công nhận bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, loại trừ quốc
kỳ, quốc huy hoặc các biểu tượng của các tổ chức liên Chính phủ làm nhãn hiệu hoặc thành phần của nhãn hiệu Sau 15 năm kể từ lần sửa đổi cuối cùng của Công ước Paris, vào ngày 15/4/1994, Hiệp định TRIPS được ký kết trong khuôn khổ Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới.33
Hiệp định TRIPS là một trong những hiệp định có tầm quan trọng với những lý
do được đề cập sau đây Nó kết hợp bằng cách đề cập đến tất cả các quy định quan trọng của các Hiệp ước đa phương về SHTT Những quy định này tự động ràng buộc tất cả các thành viên WTO bất kể họ có là thành viên của các Công ước đa phương đó hay không Hiệp định TRIPS cũng bổ sung một loạt các nghĩa vụ khác về các vấn đề ở những nơi các Công ước đang tồn tại là quá im ắng và chưa đầy đủ Những nghĩa vụ đó bao gồm: các nguyên tắc cơ bản về “đối xử quốc gia” và “đối xử tối huệ quốc”, những nguyên tắc quy định nền tảng cho hệ thống GATT/WTO; các quy định chi tiết và cụ thể về thực thi quyền SHTT ở cấp quốc gia; việc giải quyết các vấn đề quyền SHTT ở cấp quốc tế.34 Các nghĩa vụ theo Hiệp định TRIPS áp dụng cho tất cả các quốc gia thành viên của WTO, những quốc gia này phải thực thi các quy định chi tiết của Hiệp định thông qua luật pháp và thủ tục hành chính ở các quốc gia Hiệp định TRIPS đã tổng hợp và xây dựng trên cơ sở các hiệp định quan trọng về SHTT do Tổ chức SHTTThế giới (WIPO) thực thi với Công ước Paris về Bảo hộ quyền SHCN Các quy định của Công ước Paris là cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên đặt nền tảng cho việc bảo hộ
quyền SHCN”, http://www.luanvan.co/, [truy cập ngày 18/01/2013].
34 Tham khảo slide “Hiệp định TRIPS của WTO” tại trang http://toaan.gov.vn/, [truy cập ngày
24/01/2013].
Trang 31quốc tế quyền SHCN Từ đó, các nước thành viên WTO đã đi đến những thỏa thuận xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện việc bảo hộ quyền SHCN với mục đích các quyền này được thực thi phù hợp, hiệu quả trong thực tế hiện nay, đặc biệt là về khía cạnh thương mại Một trong những điều khoản để các nước chưa là thành viên của WTO gia nhập thành công tổ chức WIPO là đáp ứng đủ các yêu cầu của TRIPS Để có được khung pháp lý và thực thi bảo hộ NHHH một cách hiệu quả trên phạm vi rộng lớn thì mối quan hệ chặt chẽ giữa các điều ước quốc tế cũng như hoạt động đồng bộ, thống nhất của những tổ chức chuyên môn là điều không thể phủ nhận.
1.2.2 Khái quát về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại tổ chức WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới WTO là tổ chức nhằm mục đích mở rộng giao dịch thương mại, là diễn đàn cho chính quyền các quốc gia thương thảo các hiệp định thương mại đồng thời cũng là nơi để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực này Một cách thiết thực hơn, WTO là nơi lớn cho các thành viên làm rõ các vấn đề trong thương mại mà các quốc gia này đang cùng đối mặt WTO hình thành từ các vòng đàm phán
và hoạt động thông qua các hiệp định đã được đàm phán và ký kết bởi các quốc gia tham gia trong lĩnh vực thương mại Những tài liệu này cung cấp nền tảng pháp lý cho thương mại quốc tế.35
Hệ thống bảo hộ NHHH của WTO hoạt động linh hoạt và có hiệu quả như hiện nay nhờ sự hoàn chỉnh của văn kiện pháp lý chính yếu là Hiệp định TRIPS cùng với nền tảng từ Công ước Paris về bảo hộ SHCN năm 1883, vốn cũng là nguồn pháp lý quan trọng đối với công tác bảo hộ NHHH của WTO.36Các quy định về nhãn hiệu tại Công ước Paris là Điều 6, 6bis, 6ter, 6quarter, 6quinquies, 6sexies, 6septies, Điều 7, 7 bis đều được tuân thủ bởi các quốc gia thành viên WTO cho đến hiện nay Như vậy, có thể khẳng định rằng Hiệp định TRIPs có mối quan hệ không thể tách rời với Công ước Paris Các quy định của công ước Paris là cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên đặt nền tảng cho việc bảo hộ quốc tế quyền SHCN Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên
35 Việt Nam với WTO, Chuyên đề số 01/2007, NXB Tư pháp, trang 13 – 18 và Trang World Trade Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới): Understanding the WTO – Who we are,
http://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/who_we_are_e.htm, [truy cập ngày 25/01/2013]
36Theo quy định về các Công ước về SHTT tại Điều 2 Hiệp định TRIPS: “Đối với các phần II, III, và
IV của Hiệp định này, các Thành viên phải tuân theo các Điều từ Điều 1 đến Điều 12 và Điều 19 của Công ước Paris (1967) Không một quy định nào trong các phần từ phần I đến phần IV của Hiệp định này làm ảnh hưởng đến các nghĩa vụ đang tồn tại mà các Thành viên có thể có đối với nhau theo Công ước Paris, Công ước Berne, Công ước Rome và Hiệp ước về sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp.”
Trang 32quan tới thương mại của quyền SHTT của Tổ chức WTO, được đàm phán tại vòng đàm phán Uruguay 1986-1994, đã lần đầu tiên đưa những quy định về SHTT vào hệ thống thương mại đa phương Song song với thương mại hàng hóa và dịch vụ, nhiệm vụ của Hội đồng TRIPS là quản lý việc các quốc gia tuân thủ Hiệp định này và thảo luận các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này Trước khi Hiệp định TRIPS ra đời, hàng giả gây thiệt hại 450 tỷ USD/năm và sau khi có Hiệp định này, thiệt hại giảm xuống chỉ còn 60
tỷ USD/năm.37
Nhìn nhận một cách tổng quan, hệ thống pháp lý về bảo hộ NHHH của Tổ chức WTO được thể hiện tại Công ước Paris và Hiệp định TRIPS mang tính chất khái quát cao và đồng thời cũng có những hướng dẫn để các quốc gia thành viên có thể xây dựng cũng như hoàn thiện pháp luật quốc gia về lĩnh vực này một cách chặt chẽ hơn Hiệp định TRIPS có thể mang nguồn lợi cho những nước đang phát triển có trình độ công nghệ cao, nhưng lại tạo ra gánh nặng tài chính khổng lồ cho những nước đang phát triển nghèo có nền tài chính công yếu kém Gánh nặng này một phần do những chi phí một lần để xây dựng hệ thống luật cần thiết về quyền SHTT, và một phần là do chi phí thường xuyên cho việc đảm bảo tuân thủ pháp luật.38 Đánh giá trên nhiều mặt, việc gia nhập WTO và thi hành các chính sách của tổ chức này có trở thành ưu điểm hay hạn chế là tùy thuộc vào chính sách trong nước của mỗi quốc gia Tuy nhiên, lợi ích rõ ràng nhất từ WTO chính là cơ hội tiếp cận với một thị trường thế giới ít rào cản thương mại hơn và được đảm bảo bằng các luật lệ minh bạch, ổn định hơn Với năng lực và tinh thần kinh doanh còn hạn chế, các doanh nghiệp trong nước, cụ thể là ở Việt Nam nên
tự thân vận động và nỗ lực bằng cách nắm bắt những luật lệ của WTO nói chung và của từng nền kinh tế thành viên nói riêng, đồng thời nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp để có thể thích ứng và phát triển hoạt động thương mại của mình
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
1.2.3.1 Giai đoạn trước khi Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời
37Kamil Idris: SHTT Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, WIPO, trang 47 – 48.
38 Chương trình hợp tác giữa Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế và Ủy ban thương mại quốc
gia Thụy Điển với sự trợ giúp của Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (Sida): Tác động của các hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển (bản dịch của: Đặng Nguyên Anh – Trần Đình
Vượng),
http://khaiphong.vn/legal/Tac_dong_cua_cac_hiep_dinh_wto_toi_cac_nuoc_dang_phat_trien.PDF, trang 6 – 7, [truy cập ngày 26/01/2013].
Trang 33Việt Nam với xuất phát điểm là một nước nghèo và chậm phát triển do bị thực dân Pháp đô hộ nên luật về SHTT, cụ thể là lĩnh vực nhãn hiệu của chúng ta ra đời muộn hơn ở những nước khác Ngày 08/3/1949, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã gia nhập hai điều ước quốc tế quan trọng liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu là Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền SHCN và Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và được chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế thừa năm 1976 Cùng năm này, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO), đánh dấu một bước phát triển của pháp luật về SHTT ở nước
ta.39 Về pháp luật trong nước, năm 1957, Miền Nam ban hành Luật Thương hiệu và năm 1958, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ban hành "Thể lệ về thương phẩm và thương hiệu" Tuy nhiên, giá trị thực tiễn của các văn bản này chưa cao Ngày 14/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HDBT ban hành "Điều lệ vềNhãn hiệu hàng hoá" Đây là văn bản đầu tiên chính thức nhắc đến vấn đề bảo hộ độc quyền trong SHCN, tạo tiền đề phát triển cho công cuộc đổi mới.40 Ngoài ra, còn có Nghị định số 201/HĐBT ngày 28/12/1988 ban hành Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, NHHH và bí quyết kỹ thuật.41Tuy nhiên, do được ban hành từ trước Hiến pháp 1992, nên vẫn còn những bất cập giữa cơchế bảo hộ quyền SHTT trong thời kỳ bao cấp và cơ chế bảo hộ trong thời kỳ kinh tếthị trường Luật về SHTT chỉ thực sự phát huy tác dụng kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vào năm 1986 Phương hướng của Đại hội Đảng đề ra đã được thể chếhoá tại Điều 60 của Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992:
"Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền SHCN." Khi đời
sống xã hội ngày càng được nâng cao và hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển nhanh chóng thì một điều tất yếu là cần có một hệ thống pháp luật về SHCN hoàn thiện Ngày 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khoá IX đã thông qua Bộ Luật Dân
sự nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chính thức thiết lập chế độ pháp lý cao
39Trang S&B Law: Lịch sử pháp luật nhãn hiệu Việt Nam,
http://www.trademarks.vn/Nhan-hieu-Viet-Nam/Lich-su-phap-luat-nhan-hieu-Viet-Nam.html, [truy cập ngày 26/01/2013].
40 TS Lê Nết: Quyền sở hữu trí tuệ (tài liệu bài giảng), NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh, 2006, trang 38
41 TS Nguyễn Thanh Tâm: Pháp luật về SHCN trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế,
Tạp chí Luật học số 01/2007, trang 42.
Trang 34nhất cho việc xác lập, bảo hộ và thực thi quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng tại Việt Nam (Phần thứ sáu và bảy của Bộ Luật Dân sự).42
1.2.3.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời đến khi ban hành Bộ luật dân
sự năm 2005
Mặc dù ra đời sau các nước khác trong lĩnh vực quyền SHCN, pháp luật Việt Nam đã có những bước tiến nổi bật, ở đây đề cập tới mảng bảo hộ NHHH cụ thể ở Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 về SHCN (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 1/2/2001) và Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực SHCN Thời gian sau đó, rất nhiều NHHH đã được đăng ký Cục SHTT, thành lập từ tiền thân là Cục Sáng chế, đã đảm nhiệm được vai trò
là cơ quan đầu mối giải quyết các tranh chấp về SHCN, cũng như là cơ quan chuyên cung cấp ý kiến pháp lý cho các cơ quan thực thi như quản lý thị trường, cảnh sát kinh
tế.43
Tháng 5 năm 2005, Bộ luật dân sự năm 1995 được sửa đổi bổ sung cơ bản Bộ luật dân sự 2005 thay thế Bộ luật dân sự 1995 từ ngày 01/01/2006, vì thế các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự 1995 kể trên chỉ còn phát huy tác dụng tạm thời trước khi được các văn bản hướng dẫn Luật SHTT 2005 thay thế Trong Bộ luật dân sự năm 2005, các qui định về SHTT đã được đơn giản và thu hẹp nhiều Chúng chỉ còn đóng vai trò hướng dẫn chung, cho thấy quyền SHTT về bản chất là một quyền dân sự,
có những phương pháp điều chỉnh như phương pháp điều chỉnh của luật dân sự, song cũng có những tính chất riêng.44
1.2.3.3 Giai đoạn sau khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ra đời
Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định SHTT là một ngành luật riêng và họ
có luật riêng về SHTT, trong khi đó các quy định về SHTT ở Việt Nam lại được sáp nhập vào Bộ luật dân sự Quan hệ pháp luật về SHTT mang cả tính chất hành chính lẫn tính chất dân sự Cụ thể, việc đăng ký bảo hộ mang tính chất hành chính, trong khi các
Trang 35
quy định về quyền và nghĩa vụ mang tính chất dân sự Các quy định về SHTT tương đối phức tạp về khái niệm, cách phân biệt, lại tập trung giải quyết vấn đề tài sản vô hình, một vấn đề mà các phần khác của Bộ luật dân sự không đụng đến Như vậy cũng không có sự đan xen kết hợp giữa các phần khác của Bộ luật dân sự với phần thứ sáu (quyền SHTT và chuyển giao công nghệ) của Bộ luật dân sự Và việc ban hành các quy định về SHTT, một loại quy định phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, thay đổi theo thời gian, vào một Bộ Luật có tính ổn định cao như Bộ luật dân sự sẽ khiến việc sửa đổi những quy định bất hợp lý về SHTT gặp nhiều khó khăn.45
Các ý kiến yêu cầu ban hành một đạo luật riêng về SHTT đã được nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cũng như các doanh nghiệp ủng hộ Năm 2003, Luật SHTT đã được đưa vào chương trình làm luật của Quốc hội Mặc dù nhiều hội thảo đóng góp ý kiến xây dựng Luật SHTT đã được tổ chức, vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, dự thảo cuối cùng trình Quốc hội cũng chưa thể hoàn chỉnh Việc ban hành một đạo luật thống nhất về SHTT đã trở nên cấp thiết và lộ trình làm luật của Việt Nam phục vụ cho việc gia nhập WTO là không thể trì hoãn Tại kỳ họp Quốc hội Khoá X, Kỳ họp thứ
10, vào ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật SHTT (Luật Số 50/2005/QH10) đã được Quốc hội ban hành với số phiếu gần như tuyệt đối (368/370), có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 Luật SHTT đã tiếp thu được các giá trị của nhiều quy phạm pháp luật trong
hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền SHTT, đã được thẩm định trong thực tiễn Lợi ích của các chủ thể sáng tạo, khai thác sử dụng và công chúng hưởng thụ đã được điều chỉnh khá hài hoà Các quy phạm pháp luật đã tương thích với hầu hết các điều ước quốc tế có liên quan, các Hiệp định song phương đảm bảo thuận lợi cho việc hội nhập vào cộng đồng quốc tế Tính minh bạch, rõ ràng và khả thi cũng đã thể hiện khá rõ tại các điều luật Như vậy đây là lần đầu tiên, Việt Nam có một đạo luật riêng về SHTTđược ban hành ở cấp cao nhất Luật SHTT trở thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam.46
Đến khi Luật SHTT của Việt Nam ra đời năm 2005 thì đã có quy định giải thích
về quyền SHTT: “là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền SHCN và quyền đối với giống cây
45 TS Lê Nết: Quyền sở hữu trí tuệ (tài liệu bài giảng), NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh, 2006, trang 41 – 42.
46 TS Lê Nết: Quyền sở hữu trí tuệ (tài liệu bài giảng), NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh, 2006, trang 41 – 42.
Trang 36trồng” tại khoản 1 Điều 4 Theo khoản 4 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), quy định rằng: “Quyền SHCN là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.” Quyền sở hữu NHHH là một phần trong hệ thống bảo hộ SHCN Theo đó, quyền sở hữu NHHH là quyền của tổ chức, cá nhân đối
Trang 37CHƯƠNG 2 WTO VÀ VIỆT NAM TRONG HỆ THỐNG BẢO HỘ
NHÃN HIỆU HÀNG HÓA
2.1 ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
2.1.1 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ
Luật SHTT Việt Nam năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về khái niệm nhãn hiệu trong phần giải thích từ ngữ tại Điều 4 Luật này Căn cứ theo khoản 16
Điều 4, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức,
cá nhân khác nhau.” Tuy vậy, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt
cũng có thể trở thành nhãn hiệu vì điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại Điều 72 Luật SHTT hiện hành
Thứ nhất, là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp sáng tạo được nhãn hiệu đặc trưng cho mình và dễ dàng được chú ý và ghi nhớ bởi số đông người tiêu dùng Một số nhãn hiệu nổi tiếng của sản phẩm Việt Nam như Fami của Nhà máy sữa đậu nành Việt Nam, Vietcombank của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Neptune 1:1:1 của Công ty dầu thực vật Cái Lân, Việt Tiến của Công ty may Việt Tiến,… Có thể thấy được, các nhãn hiệu dễ nhận dạng được trong thị trường hàng hóa, dịch vụ Việt Nam hiện nay thường
là sự kết hợp giữa chữ cái, từ ngữ, hình vẽ cũng với màu sắc đặc trưng cho dòng sản phẩm đó
Trang 38Một số NHHH mang dấu hiệu từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh
Thứ hai, có khả năng phân biệt47hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác Đây là chức năng chính của nhãn hiệu và được rất nhiều hệ thống pháp luật bảo hộ trên thế giới (Việt Nam cũng không là ngoại lệ) sửdụng là điều kiện quan trọng của NHHH
Một nhãn hiệu có thể được bảo hộ tại Việt Nam nếu đáp ứng được hai điều kiện
đề cập trên Như vậy, so với quy định về điều kiện bảo hộ của NHHH tại Hiệp định TRIPS thì quy định của luật SHTT Việt Nam vẫn còn khá hạn hẹp và không đạt được
sự mềm dẻo cần thiết Theo TRIPS, một nhãn hiệu được bảo hộ với điều kiện là “dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và
tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là NHHH.” 48 Khả năng đăng ký NHHH còn được TRIPS mở rộng cho các quốc gia thành viên quy định thông qua việc sử dụng49, tức là nếu nhãn hiệu đó đơn thuần không thể hiện được tính phân biệt thông qua những dấu hiệu hình ảnh, từ ngữ, chữ cái,… nhưng sau quá trình sử dụng vẫn phân biệt nhãn hiệu đó với những nhãn hiệu khác thì đều được pháp luật bảo hộ Hiệp định TRIPS cho phép các thành viên quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được Việt Nam, Cam-pu-chia, Phi-lip-pin là những quốc gia quy định điều kiện của NHHH là dấu hiệu nhìn thấy được như TRIPS đã đề cập.50
2.1.2 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu
Hiệp định TRIPS không đề cập tới những dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu nhưng Công ước Paris trước đó đã quy định khá cụ thể tại Điều 6ter về những dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu Việc sử dụng quốc huy, quốc kỳ hoặc các biểu tượng quốc gia khác của các quốc gia thành viên Liên minh51, các dấu hiệu kiểm tra xác nhận hoặc bảo đảm chính thức được các nước đó và
47 Khả năng phân biệt của nhãn hiệu được quy định cụ thể hơn tại Điều 74 Luật SHTT hiện hành.
48 Xem khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS.
49 Xem khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS.
quốc gia Châu Á.
ước Paris về SHCN năm 1883.
Trang 39bất kỳ sự bắt chước nào mang đặc điểm huy hiệu để sử dụng làm nhãn hiệu hoặc thành phần nhãn hiệu mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền thì các nước thành viên Liên minh từ chối hoặc hủy bỏ việc đăng ký, ngăn cấm bằng các biện pháp thích hợp việc sử dụng này.52Các huy hiệu, cờ, các biểu tượng khác, tên viết tắt, tên đầy đủ của các tổ chức quốc tế liên Chính phủ mà có một hay nhiều nước thành viên Liên minh tham gia cũng được hưởng sự loại trừ sử dụng như trên (với điều kiện các tổ chức này đã thông báo cho các nước thành viên Liên minh thông qua Văn phòng quốc tế, trừ trường hợp các huy hiệu, cờ, các biểu tượng khác, tên viết tắt, tên đầy đủ này đã là đối tượng của các điều ước quốc tế đang có hiệu lực nhằm bảo đảm việc bảo hộ các đối tượng đó.53 Các dấu hiệu kiểm tra xác nhận và bảo đảm chính thức chỉ bị cấm sử dụng trong trường hợp nhãn hiệu chứa chúng được sử dụng trên hàng hóa cùng loại hoặc tương tự.54 Hệ thống quản lý trong vấn đề rà soát sự trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn của các dấu hiệu liên quan đến quốc gia, tổ chức liên Chính phủ trong việc sử dụng làm nhãn hiệu nêu trên được tổ chức khá chặt chẽ Căn cứ theo điểm a khoản 3
Điều 6ter Hiệp đinh TRIPS, “Để áp dụng các quy định này, các nước thành viên của Liên minh thoả thuận thông qua Văn phòng quốc tế thông báo cho nhau danh sách các biểu tượng quốc gia, các dấu hiệu kiểm tra xác nhận và bảo đảm chính thức mà họ muốn đưa vào bảo hộ hoặc sau này sẽ đưa vào bảo hộ toàn bộ hoặc có giới hạn nhất định theo quy định của Điều này, và tất cả những thay đổi tiếp theo của bản danh sách
đó Các nước thành viên của Liên minh có trách nhiệm kịp thời tạo điều kiện để công chúng được biết bản danh sách đã được thông báo Tuy vậy, việc thông báo này không
là bắt buộc đối với quốc kỳ của các quốc gia.” WTO đã kế thừa những quy định này
và tiếp tục cơ chế quản lý cho đến hiện nay
Pháp luật về bảo hộ NHHH của Việt Nam đã tuân thủ những quy định căn bản của Điều 6ter Công ước Paris về SHCN năm 1883, đồng thời cụ thể hóa các trường hợp không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu tại Điều 73 Luật SHTT hiện hành
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
52 Theo điểm a khoản 1 Điều 6ter Công ước Paris về SHCN năm 1883.
53 Xem khoản 1(b) và 3(b) Điều 6ter Công ước Paris
54 Xem khoản 2 Điều 6ter Công ước Paris.
Trang 40tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng vềnguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ
Có thể thấy được luật trong nước đã trình bày cụ thể và rõ ràng hơn về các trường hợp không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu Một mặt, luật trong nước tuân thủđược những quy định của Công ước Paris và mặt khác quy định cụ thể theo điều kiện, hoàn cảnh của nước mình
2.1.3 Căn cứ phát sinh quyền đối với nhãn hiệu
NHHH là đối tượng của quyền SHTT phải đăng ký thì mới được bảo hộ, trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng Điều kiện nộp đơn và việc đăng ký NHHH được quy định cụ thể theo pháp luật của từng quốc gia thành viên WTO Căn cứ phát sinh của quyền SHTT đối với nhãn hiệu được xác định cụ thể tại nơi mà nhãn hiệu được đăng
ký Công ước Paris quy định rằng các nước của Liên minh không được viện lý do việc nộp đơn, đăng ký hoặc gia hạn tại nước xuất xứ55không có hiệu lực để mà từ chối một đơn đăng ký nhãn hiệu (do công dân của một nước thành viên Liên minh nộp tại bất cứ nước nào trong Liên minh) cũng như hủy bỏ việc đăng ký nhãn hiệu này.56 Một nhãn hiệu đã được đăng ký hợp lệ tại một nước thành viên của Liên minh thì coi như độc lập
55 Căn cứ theo khoản A.2 Điều 6quinquies Công ước Paris: “Nước được coi là nước xuất xứ là nước thành viên của Liên minh mà người nộp đơn có cơ sở sản xuất hoặc thương mại thực sự và có hiệu quả, hoặc nếu không có cơ sở như vậy trong phạm vi Liên minh thì là nước thành viên của Liên minh
mà người nộp đơn có chỗ ở cố định, hoặc nếu không có chỗ ở cố định trong phạm vi Liên minh thì là nước thành viên của Liên minh mà người nộp đơn là công dân.”
56 Xem khoản 2 Điều 6 Công ước Paris.