Xuất phát từ thực tế cấp thiết trên, người viết chọn đề tài: “Nghiên cứu về chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp” làm
Trang 1BỘ MÔN THƯƠNG MẠI
thu nhập doanh nghiệp
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 5075070 Lớp: Luật thương mại 1- K33
Cần Thơ, Tháng 5/2011
Trang 2BỘ MÔN THƯƠNG MẠI
thu nhập doanh nghiệp
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 5075070 Lớp: Luật thương mại 1- K33
Cần Thơ, Tháng 5/2011
Trang 3PHẦN NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Trang 4
PHẦN NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Trang 5
PHẦN NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Trang 6
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 4
1.1.1 Lược sử phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp 4
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp 8
1.1.3 Ý nghĩa của việc ra đời Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 17
1.2 Khái quát chung về chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 19
1.2.1 Khái niệm chi phí sản xuất kinh doanh 19
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh 20
1.2.3 Chi phí và vai trò của việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 23
1.3 Mối liên hệ giữa Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 25
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ ĐƯỢC TRỪ VÀ KHÔNG ĐƯỢC TRỪ KHI XÁC ĐỊNH THU NHẬP CHỊU THUỂ TRONG THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, Ý KIẾN 28
2.1 Khái niệm và các điều kiện của chi phí được trừ 28
2.1.1 Khái niệm chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 28
2.1.2 Các điều kiện của chi phí được trừ nhìn từ góc độ lý luận 29
2.2 Các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 31
2.2.1 Các khoản chi phí được trừ 31
2.2.2 Các khoản chi phí không được trừ 34
2.3 Cách thức thực hiện việc trừ chi phí 74
2.3.1 Xác định các khoản chi phí được trừ 74
2.3.2 Thực hiện việc trừ chi phí do bộ phận nào thực hiện? 76
2.3.3 Phương pháp trừ chi phí 78
2.4 Đề xuất – kiến nghị 79
2.4.1 Giải pháp về chính sách thuế 79
2.4.2 Giải pháp về quản lý thuế 80
Kết luận 85
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trên cơ sở pháp luật Doanh nghiệp nào
có lực lượng lao động với tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh, tổ chức sản xuất hợp
lý thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được lợi nhuận cao; ngược lại các doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế, không biết tổ chức, bố trí sản xuất hợp lý sẽ nhận được lợi nhuận thấp, thậm chí không có lời Một khi doanh nghiệp hoạt động sản xuất có lời thì nhà nước sẽ điều tiết một phần lợi nhuận đó vào ngân sách nhà nước Vì vậy, thu nhập thực nhận của doanh nghiệp là khoản tiền còn lại sau thuế Điều này dẫn đến một thực tế là doanh nghiệp luôn mong muốn số thuế phải nộp ít đi để lợi nhuận sau thuế của họ tăng lên Và để thực hiện mong muốn đó, một số doanh nghiệp tìm cách để tăng chi phí được trừ Trong một số trường hợp, đã làm phát sinh tiêu cực
Mặt khác, có thể do trình độ phát triển kinh tế - xã hội chưa cao, khả năng quản
lý của nhà nước còn yếu, sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật mà một số chi phí thực tế phát sinh nhưng chưa được phép trừ làm cho nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trở nên nặng nề
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (trước đây gọi là thuế lợi tức) được Quốc hội ban hành lần đầu tiên vào năm 1990 Năm 1997, Quốc hội ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 Đến năm
2003, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung luật thuế thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 nhưng những sửa đổi, bổ sung này vẫn chưa đáp ứng được tình hình kinh tế xã hội Vì
lẽ đó, năm 2008 Quốc hội lại tiếp tục thực hiện sửa đổi, ban hành một Luật thuế mới
có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2009 Sau đó, Chính phủ, Bộ tài chính cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành và chỉ đạo triển khai thực hiện Tuy nhiên, trong thực tiễn quá trình áp dụng, những quy định này vẫn còn tồn tại một số bất cập hay chưa được cụ thể, chi tiết về nội dung khiến việc thực hiện của các doanh nghiệp gặp phải không ít khó khăn, trở ngại
Xuất phát từ thực tế cấp thiết trên, người viết chọn đề tài: “Nghiên cứu về chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp” làm đề tài luận văn tốt nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu sâu hơn và phản ánh những vấn đề đang còn tồn tại cũng như đưa ra một số hướng giải quyết để hoàn thiện hơn những quy định về vấn đề này trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay
Trang 8Hơn nữa, vấn đề về chi phí được trừ và không được trừ có sự ảnh hưởng nhất định liên quan đến số thuế thu nhập doanh nghiệp (một loại chi phí không nhỏ cho doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cũng như của các cổ đông) mà các doanh nghiệp phải nộp vào cuối kỳ tính thuế Do đó, việc các doanh nghiệp tìm hiểu và nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật về vấn đề này là hết sức cần thiết nhằm tránh những vấn đề bất cập trong việc hiểu và áp dụng các quy định về chi phí trong Luật thuế trên thực tế cũng như các doanh nghiệp có thể vận dụng kiến thức của mình về vấn đề này để kiểm soát các chi phí hoạt động của mình một cách có hiệu quả để giảm bớt số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, góp phần vào việc tái sản xuất doanh nghiệp Vì vậy, đề tài này có thể là nguồn thông tin bổ ích cho các doanh nghiệp có quan tâm
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nội dung đề tài là nghiên cứu về chi phí được trừ và không được trừ trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Vì vậy, trong khuôn khổ một luận văn, người viết tập trung đi sâu tìm hiểu về mặt lý luận của chi phí nói chung và chi phí tính thuế nói riêng, quy định của từng loại chi phí cũng như những bất cập hiện tại, cách thức thực hiện việc trừ chi phí
Đề tài “Nghiên cứu về chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp” dựa trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp như: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12, Nghị định số 124/2008/NĐ-CP, Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008, Thông tư số 18 /2011/TT-BTC ngày 10/02/2011
và quá trình đi tham khảo trên thực tế tại Cục thuế tỉnh Sóc Trăng
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu mang tính thời sự, xã hội và pháp lý cần được các nhà chuyên môn, người có quan tâm, khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc để có giải pháp điều chỉnh vấn đề xã hội đang nảy sinh Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu sẽ làm nổi bật lên những điểm tiến bộ đồng thời cho thấy những hạn chế cần phải khắc phục trong quy định pháp luật hiện hành Từ đó, người viết mong muốn
có một hệ thống pháp luật hoàn thiện hơn, phù hợp với tình hình hiện tại, rõ ràng và dễ hiểu khi áp dụng trên thực tế nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hiểu rõ hơn, tiếp cận chính xác, đầy đủ những quy định để vừa giúp họ quản lý các loại chi phí có hiệu quả, thỏa mãn được điều kiện đặt ra nhằm giảm bớt số thuế phải nộp, giúp tái tích
Trang 9lũy đầu tư về sau; vừa đảm bảo được những nhu cầu của Nhà nước, hạn chế được tình trạng gian lận đáng tiếc có thể xảy ra
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở; phương pháp phân tích, tổng hợp, bình luận những quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; phương pháp sưu tầm một số số liệu thực tế; phương pháp phỏng vấn và xử lý các ý kiến phỏng vấn… để khái quát lên những vấn đề được đề cập đến
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn còn được chia thành hai chương riêng biệt:
- Chương 1:Những lý luận cơ bản về Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và chi phí
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chương 2: Tổng quan về chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu
nhập chịu thuế trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và một số đề xuất, kiến nghị
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
VÀ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Trang 101.1 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1 Lược sử phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp
Từ khi xã hội loài người phát triển và hình thành nên nhà nước, thuế đã được biết đến như một phạm trù kinh tế, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử Cũng như nhiều nước trên thế giới, thuế được xem là công cụ cơ bản và hữu hiệu được nhà nước
sử dụng để quản lý nền kinh tế bằng cách đóng góp nguồn thu từ thuế vào ngân sách quốc gia nhằm thực hiện những mục tiêu tốt đẹp, góp phần thực hiện công bằng xã hội, kích thích nền kinh tế phát triển…Trước đây, khi luật thuế còn khá đơn giản, việc thu thuế chủ yếu dựa vào hiện vật, tức là đánh thuế vào thu nhập vật chất của người dân Loại thuế này thể hiện ở chỗ người dân tạo ra sản phẩm nào thì nộp bằng vật đó Nhưng, việc thu thuế như vậy khiến cho nhà nước gặp vấn đề về quản lý con người và công việc, không linh hoạt trong bảo quản và sử dụng, chi tiêu khó khăn Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, mà đỉnh cao là sự xuất hiện của tiền đã giúp nhà nước giải quyết vấn đề trên thông qua việc thu thuế bằng tiền.Với hình thức thu thuế này đã làm bước đệm cho các quan hệ về thuế và các thứ thuế khác hình thành và phát triển, làm phong phú hơn lĩnh vực về thuế Tuy nhiên, qua những giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội và nền kinh tế thì các loại thuế đó đã có những thay đổi nhất định về tên gọi và cả bản chất, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong thời kỳ đổi mới trước năm 1990, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp dựa trên nền tảng của quan hệ sản xuát.Việc quản lý nền kinh tế chủ yếu là bằng mệnh lệnh hành chính, việc phân phối, trao đổi, tiêu dùng đều theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước, thậm chí giá cả hàng hóa, dịch vụ cũng đều
do Nhà nước quy định nên việc thu ngân sách nhà nước chỉ thực hiện chủ yếu từ thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận, do nhà nước quy định trên nguyên tắc “thu đủ, chi đủ” Trong thời kỳ này, có một loại thuế đánh vào thu nhập, lợi tức của các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thuộc các lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác, gọi là thuế lợi tức.Tuy nhiên, loại thuế này chỉ áp dụng cho kinh tế ngoài quốc doanh, còn các doanh nghiệp quốc doanh thì nhà nước thu một phần lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh bằng cách áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận theo kế hoạch Như vậy, vai trò của thuế được sử dụng rất hạn chế về cả số lượng và chất lượng
Sau năm 1990, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã được cải cách một cách căn bản theo tinh thần thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần của Đại hội Đảng lần thứ VI Trong xu thế đó, thuế lợi tức cũng đã được ban hành mới để áp dụng chung
Trang 11cho tất cả các tố chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có thu nhập từ kinh doanh trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Luật thuế lợi tức đã được Quốc hội nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30/06/1990 và được sửa đổi, bổ sung tại Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 06/07/1993 Đối tượng điều chỉnh của Luật thuế lợi tức là quan hệ thu, nộp thuế lợi tức phát sinh giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân kinh doanh có lợi tức từ các hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam Đồng thời, thuế lợi tức theo quy định của Luật thuế lợi tức là thuế trực thu
Qua một thời gian áp dụng, Luật thuế lợi tức đã thể hiện được mặt tích cực nhất định của nó so với loại thuế cũ trước đó, điển hình là việc áp dụng chung một chính sách thuế lợi tức đối với tất cả các thành phần kinh tế đã đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh, tạo điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển Đối với kinh tế quốc doanh, được áp dụng chính sách thuế lợi tức thay cho chế độ thu quốc doanh mang nặng tính bao cấp trước đây đã thật sự có tác động mạnh mẽ, thúc đẩy các
xí nghiệp tăng cường hạch toán kinh doanh, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường
để tồn tại và phát triển, hạn chế tình trạng “lãi giả, lỗ thật”, giảm bớt những doanh nghiệp kinh doanh bị thua lỗ Đối với kinh tế ngoài quốc doanh cũng được áp dụng một chính sách thuế như đối với kinh tế quốc doanh đã tạo ra sự phấn khởi, kích thích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, làm cho các ngành nghề ngày càng đa dạng, phong phú hơn Khu vực cá thể, tổ chức kinh tế của các đoàn thể cũng tham gia kinh doanh thương mại, dịch vụ ngày càng phát triển; hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng ngày càng hiệu quả, thu hút được vốn đầu
tư nước ngoài, phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế trong nước Bên cạnh đó, chính sách thuế còn quy định thêm nhiều ưu đãi đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng thu hút các
tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam làm tăng số lượng các dự
án đầu tư trong năm Ngoài ra, còn có các hình thức đầu tư gián tiếp trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp luật, giáo dục, y tế…
Song, với sự phát triển không ngừng của tình hình kinh tế xã hội, nền kinh tế thị trường đã và đang hình thành ở nước ta khiến cho Luật thuế lợi tức ngày càng bộc lộ
rõ nhiều hạn chế gây ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình phát triển của nền kinh tế nước ta, cụ thể là:
- Thứ nhất, tên gọi “thuế lợi tức” không phản ánh đầy đủ nội dung của thuế này Khái niệm “lợi tức” thường được hiểu là một phần giá trị thặng dư mà doanh nghiệp
có được trong kinh doanh Nhưng trong nền kinh tế thị trường, các khoản thu rất đa dạng, phong phú, có khoản thu từ kinh doanh, có khoản thu không phải là kinh doanh
Trang 12như: các khoản thu từ chuyển nhượng vốn, chuyển giao cộng nghệ, bản quyền…Do vậy, tên gọi “ thuế lợi tức” không bao quát được hết các khoản thu nhập phải đánh thuế
- Thứ hai, phạm vi điều chỉnh của Luật thuế lợi tức còn hạn hẹp, chưa bao quát hết được các loại hình kinh doanh khác đã và đang phát sinh có thể tạo ra thu nhập trong nền kinh tế thị trường Mặc dù, trong luật thuế lợi tức cũng có quy định lợi tức chịu thuế bao gồm: lợi tức kinh doanh và lợi tức khác, nhưng trong thực tế, việc giải thích các khoản lợi tức khác chưa có tính thuyết phục cao, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Thứ ba, mức động viên thu nhập của các cơ sở sản xuất kinh doanh vào ngân sách nhà nước còn bất hợp lý, mức thuế suất áp dụng quá cao, quá chênh lệch giữa các ngành nghề làm hạn chế việc tích lũy tái đầu tư của các doanh nghiệp, gây khó khăn cho công tác quản lý, thu nộp thuế, tạo kẽ hở cho tham nhũng, tiêu cực phát sinh Cụ thể, thuế suất áp dụng cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sự khác biệt rất lớn, tạo sự bất bình đẳng lớn trong kinh doanh, gây tâm
lý trốn thuế cho doanh nghiệp trong nước và sự hoài nghi về môi trường đầu tư ở Việt Nam của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi họ vừa được hưởng mức thuế thấp (chỉ 25%, trong khi doanh nghiệp trong nước là 25%, 35%, 45% tùy theo ngành nghề kinh doanh) mà còn được dành quá nhiều ưu đãi về thuế (tùy từng ngành nghề
mà có thể được hưởng mức thuế thấp hơn 25%, hoặc được miễn thuế lợi tức đến 8 năm và được giảm 50% số thuế lợi tức trong 4 năm liên tiếp, hoặc được hoàn trả số thuế lợi tức đã nộp trên phần lợi nhuận tái đầu tư)
- Thứ tư, một số quy định về chi phí hợp lý, miến giảm thuế và chế độ đa thuế suất với ba nhóm thuế suất áp dụng cho ba ngành nghề (25% đối với công nghiệp nặng, xây dựng và vận tải; 35% đối với công nghiệp nhẹ; công nghiệp thực phẩm và sản xuất khác; 45% đối với Thương nghiệp; ăn uống và dịch vụ các loại) dường như không còn phù hợp nữa Lí do là vì những doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp đa dạng, vừa sản xuất, vừa đưa hàng đi tiêu thụ và bảo hành trên địa bàn cả nước nên khó phân định số lợi tức đạt được trong từng khâu theo đúng quy định Hơn nữa, những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống thì thường được áp mức thuế thấp nhằm hạ giá thành, mang lại sự ưu đãi cho người tiêu dùng, nhưng giá cả hàng hóa trong nền kinh tế thị trường chủ yếu là do cung – cầu quyết định nên trong trường hợp cung nhỏ hơn cầu thì giá bán vẫn sẽ tăng dù đang áp mức thuế thấp
- Thứ năm, theo quy định của luật thuế lợi tức thì các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng hoạt động không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải chịu sự điều chỉnh của Luật thuế lợi tức Trong khi đó, theo
Trang 13Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới mọi hình thức phải nộp thuế lợi tức được quy định trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Từ những nội dung không nhất quán trên đã tạo nên sự chồng chéo, thiếu rõ ràng, ảnh hưởng đến tác dụng điều tiết nền kinh tế của luật thuế
Nhằm khắc phục những nhược điểm trên của Luật thuế lợi tức, nhằm đảm bảo
sự hài hòa của luật thuế mới với nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn mới, đảm bảo cho hệ thống thuế Việt Nam từng bước hòa nhập với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, vào ngày 10/05/1997 Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của hệ thống thuế, một luật thuế liên quan đến hoạt động kinh doanh thu lợi của doanh nghiệp được ban hành với tên gọi hoàn toàn khác, khá phù hợp với nội dung kinh tế của doanh nghiệp Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm
1997 đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, kích thích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thành lập doanh nghiệp mới, xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô; tăng thêm số thu cho ngân sách nhà nước, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số thu thuế và phí; thúc đẩy các cơ sở kinh doanh tăng cường hạch toán kinh doanh, củng cố công tác kế toán, hóa đơn, chứng từ; áp dụng một mức thuế chung cho tất cả các thành phần kinh doanh tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp kê khai và nộp thuế, tiết kiệm được thời gian, nhân lực và chi phí vật chất Tuy nhiên, do vẫn còn khá mới nên Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 1997 vẫn còn tồn tại một số hạn chế về đối tượng chịu thuế, mức thuế suất, sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước và việc miễn giảm, ưu đãi vẫn còn chưa rõ ràng, gây khó khăn, phức tạp
Đến ngày 17/06/2003, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi (gọi tắt là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003) để thay thế cho Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2004 nhằm khắc phục những vướng mắc, khiếm khuyết của luật thuế cũ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 đã sửa đổi một số điều với những nội dung cơ bản, cụ thể: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003
đã giảm bớt đi 03 điều luật trong Luật thuế năm 1997 như Điều 17 (cũ): Miễn thuế, giảm thuế cho cơ sở kinh doanh mới thành lập, Điều 19 (cũ): Hoàn thuế cho số thu nhập tái đầu tư đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh và Điều 20 (cũ): Miễn thuế cho cơ sở kinh doanh di chuyển đến vùng núi, hải đảo và những vùng khó khăn khác
Qua các lần sửa đổi, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng trở nên có hiệu quả và thu được nhiều thành tựu khả quan, tuy nhiên trong quá trình thực hiện
Trang 14cũng thể hiện một số nhược điểm còn tồn tại Để khắc phục những nhược điểm này, ngày 03/06/2008, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 của nước ta một lần nữa thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới ban hành năm 2008 có nhiều thay đổi, trong đó tiêu biểu là những thay đổi quan trọng về đối tượng nộp thuế, cụ thể là đảm bảo thống nhất việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với mọi thành phần kinh tế, không phân biệt các thành phần kinh tế với nhau; đối với các đối tượng là cá nhân và hộ gia đình sẽ chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01/01/2009 nên đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật mới chỉ còn bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh, có thu nhập Ngoài ra, trong luật thuế mới còn có thêm một số đổi mới khác như: quy định thêm về “thu nhập miễn thuế”, đưa ra một khái niệm hoàn toàn mới về “thu nhập tính thuế”; không quy định cụ thể các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế mà chỉ quy định điều kiên để xác định khoản chi được trừ
và liệt kê cụ thể các khoản chi không được trừ; áp dụng mức thuế suất chung là 25% ( Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũ năm 2003 là 28%), riêng đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác thuế suất tối thiểu 32% (từ 32% đến 50%) tùy từng dự án, từng cơ sở kinh doanh; quy định rõ ràng về ưu đãi, miễn giảm thuế và việc chuyển lỗ của các cơ sở kinh doanh; ban hành thêm quy định
về trích lập Quỹ phát triển và khoa học của công nghiệp… Đây là một chủ trương rất quan trọng của Nhà nước, phát huy hơn nữa vai trò to lớn của thuế thu nhập doanh nghiệp trong điều kiện nước ta hiện nay, đồng thời tạo ra bước tiến quan trọng trong lộ trình hướng tới xây dựng một Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thống nhất và hoàn chỉnh
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong hệ thống thuế của Việt Nam có rất nhiều loại thuế với những tên gọi khác nhau, nhưng về bản chất tất cả các loại thuế này đều nhắm vào thu nhập của dân cư Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng vậy Vì vậy, để hiểu rõ thuế thu nhập doanh nghiệp trước hết cần phải tìm hiểu về thu nhập và thuế thu nhập
Trong lĩnh vực kinh tế học vi mô, thu nhập được định nghĩa là phần chênh lệch giữa khoản thu về và khoản chi phí đã bỏ ra Loại thu nhập này lại gồm thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương bao gồm cả lương hưu, các khoản trợ cấp bao gồm cả học bổng) và thu nhập tài chính (lãi tiết kiệm, lãi mua bán chứng khoán, thu từ cho thuê
Trang 15bất động sản) và các thu nhập khác (tiền thưởng, )1 Còn trên góc độ phân phối thu nhập, người ta lại đưa ra khái niệm như sau: Thu nhập là tổng các giá trị mà một chủ thể nào đó nhận được trong nền kinh tế xã hội thông qua quá trình phân phối thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định, không phân biệt nguồn gốc hình thành
từ lao động, tài sản hay đầu tư…Thu nhập trong dân cư luôn luôn phải chịu sự chi phối
từ một số yếu tố nhất định trong xã hội như: mức độ xây dựng và phát triển của nền kinh tế quốc gia; cơ chế phân phối lại thu nhập trong xã hội; các yếu tố xã hội và các yếu tố khác…
Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu thuế thu nhập là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các cá nhân và pháp nhân Trong trường hợp đánh vào thu nhập của cá nhân, nó được gọi là thuế thu nhập cá nhân Còn trong trường hợp đánh vào thu nhập của pháp nhân, nó được gọi là thuế thu nhập doanh nghiệp Theo Giáo trình luật thuế Việt Nam của Đại học luật Hà Nội năm 2007 thì thuế thu nhập được định nghĩa “là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các tổ chức kinh doanh, các cá nhân có thu nhập phát sinh từng lần hoặc trong một khoảng thời gian nhất định từ một số nguồn nhất định” Ở hầu hết các nước, thuế thu nhập là nguồn thu chủ yếu của chính quyền trung ương Nhưng không phải toàn bộ thu nhập của các cá nhân và pháp nhân đều là đối tượng đánh thuế thu nhập, mà thuế thu nhập chỉ điều chỉnh hay thu trên phần thu nhập chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đã được miễn trừ chi phí hợp lý, hợp lệ Cơ sở tính thuế là thu nhập, song có nhiều cách xác định thu nhập chịu thuế.Có nơi, cơ sở tính thuế là những khoản thu nhập được cơ quan thu xác định là thu nhập để tiêu dùng Có nơi, cơ sở tính thuế là những khoản thu nhập thường xuyên; còn thu nhập nhất thời, thu nhập ngoài kế hoạch của người nộp thì không bị đánh thuế Lại có nơi, cơ sở tính thuế là mọi khoản thu nhập2
Thuế thu nhập đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân đảm bảo cho nhà nước có nguồn thu để trang trải các khoản chi mang tính chất phúc lợi công cộng Thông qua áp dụng thuế suất lũy tiến của thuế thu nhập, nhà nước buộc người có thu nhập cao hơn phải chịu gánh nặng thuế lớn hơn (đánh thuế theo khả năng) Cơ quan thu sẽ đặt ra các bậc thuế; mỗi bậc tương ứng với một phạm vi thu nhập Đối với mỗi bậc sẽ có một thuế suất riêng Bậc thuế cho phạm vi thu nhập cao hơn, sẽ có thuế suất cao hơn Bậc thuế tương ứng với phạm vi thu nhập thấp nhất có thể có thuế suất là 0%
Trang 16Nhà nước còn dùng thuế thu nhập để điều tiết thu nhập bằng cách khấu trừ (trừ vào tổng số thuế phải nộp thông thường) khi người đóng thuế là người tàn tật dẫn tới khả năng lao động kiếm thu nhập bị hạn chế, khi người đóng thuế có con nhỏ hơn một độ tuổi nhất định…
Căn cứ vào đối tượng nộp thuế thu nhập, hệ thống luật thực định về thuế ở các nước phân chia thuế thu nhập ra làm hai loại: thuế thu nhập công ty và thuế thu nhập
cá nhân Ở Việt Nam, thuế thu nhập cũng được phân thành hai loại là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Cách phân chia này dựa trên tiêu chí đối tượng nộp thuế thu nhập và nguồn gốc làm phát sinh thu nhập chịu thuế Theo đó, có thể hiểu thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu3, đánh trực tiếp vào thu nhập của các cơ sở kinh doanh trong kỳ tính thuế sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến thu nhập đó Tuy nhiên, trên phương diện luật pháp, loại thuế này cũng có thể được sử dụng để mở rộng diện điều chỉnh đối với thu nhập của những cá nhân hoặc nhóm cá nhân kinh doanh, hợp tác xã, các hình thức liên kết, các cơ sở kinh doanh không thành lập theo Luật doanh nghiệp 2005 tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của Nhà nước Được xem là loại thuế trực thu, thuế thu nhập doanh nghiệp điều chỉnh trực tiếp vào lợi nhuận của doanh nghiệp, giải quyết mối quan hệ về lợi ích của nhà nước và doanh nghiệp, động viên một phần thu nhập của họ vào ngân sách nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích
ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển4 Trên thế giới, loại thuế này có những định danh và tên gọi khác nhau, tuỳ theo quan niệm hoặc quy định pháp luật của mỗi nước, nhiều khi trong các tài liệu khác nhau cũng có tên gọi không giống nhau do việc sử dụng các thuật ngữ qua dịch thuật Theo đó, thuế thu nhập doanh nghiệp còn được gọi là thuế công ty (corporation tax); thuế thu nhập công ty (corporation income tax); thuế lợi tức (profit tax) hoặc thuế lợi tức công ty (corporation profit tax) Bên cạnh đó, luật của các nước cũng có sự không đồng nhất
về một số nội dung của luật thuế này như: xác định phạm vi đối tượng phải nộp thuế, phạm vi thu nhập chịu thuế và cách đánh thuế trên mỗi loại thu nhập…Nhiều ý kiến cho rằng “thu nhập doanh nghiệp” được sử dụng nhiều hơn, phổ biến hơn, thực dụng hơn và khi sử dụng nó sẽ dễ đánh thuế hơn so với sử dụng phạm trù “lợi tức”5 Nhưng
về bản chất thì tất cả đều tương đối giống nhau
3
Thuế trực thu là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người chịu thuế (người nộp thuế và người chịu thuế là một) và người nộp thuế không thể chuyển giao gánh nặng chịu thuế sang cho người khác được Đặc điểm của thuế trực thu là tính chất lũy tiến do việc đánh thuế có tính đến khả năng của người nộp Tuy nhiên, thuế thu nhập doanh nghiệp thường không sử dụng thuế suất lũy tiến mà sử dụng thuế suất đồng nhất (flat tax rate) Mức thuế suất khác nhau có thể được áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu nhập khác nhay vì mục tiêu chính sách
4
Ts Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật tài chính 2, Khoa luật – Trường Đại học Cần Thơ 2009, tr38
5
Thuế ( www.mof.gov.vn )
Trang 17Về kỹ thuật lập pháp, cũng có các cách ban hành không giống nhau giữa các quốc gia Có quốc gia quy định loại thuế này trong một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung trong một bộ luật với thuế thu nhập cá nhân,trong đó có các chương, mục quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp vì họ cho rằng hai loại thuế đánh trên thu nhập này có mối quan hệ mật thiết với nhau nên quy định trong cùng một văn bản sẽ
dễ tiếp cận hơn6 Riêng Việt Nam, do đối tượng đánh thuế của hai loại thuế này không giống nhau nên nhà nước tách biệt chúng thành hai loại luật khác nhau, điều chỉnh những vấn đề khác nhau trong lĩnh vực thu nhập
Trong hệ thống luật của Việt Nam, không phải ngay từ đầu đã xuất hiện phạm trù
“ thuế thu nhập doanh nghiệp” mà nó chỉ được biết đến kể từ khi triển khai công tác nghiên cứu và ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để thay thế cho Luật thuế lợi tức trước đây Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, nước ta đã có một luật thuế mới, phù hợp với tình hình phát triển của xã hội hiện nay Đó là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 có hiệu lực thi hành từ năm 2009 Theo quy định hiện hành, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được tính trên thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, kể cả các khoản thu nhập khác nhận được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tại nước ngoài mà Việt Nam chưa ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần Doanh nghiệp phải nộp thuế tại nơi có trụ sở chính Trường hợp có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc hoạt động tại địa bàn, thành phố khác thì nộp theo tỉ lệ chi phí giữa nơi có cơ sở sản xuất và nơi có trụ sở
1.1.2.2 Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
Được xem là một bộ phận trong hệ thống thuế của Việt Nam, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có những đặc điểm của một luật thuế nói chung là có tính cưỡng chế, có tính pháp lý cao, là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp và không có đối giá trực tiếp Ngoài ra, thuế thu nhập doanh nghiệp còn có một số đặc điểm nổi bậc khác, phân biệt với các luật thuế khác là:
- Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, thuế thu nhập doanh nghiệp được xem
là loại thuế dễ thu hơn so với thuế thu nhập cá nhân vì đa số việc quản lý thuế của doanh nghiệp là dựa trên hồ sơ đăng ký kinh doanh và số lượng doanh nghiệp đang hoạt động, mà số lượng ấy bao giờ cũng sẽ ít hơn số lượng cá nhân sinh sống trong một quốc gia cho nên sẽ dễ quản lý hơn Hơn nữa, thuế thu nhập doanh nghiệp không đòi hỏi phải bỏ ra nhiều chi phí trong quá trình thu hơn các luật thuế khác, điều đó giúp giảm bớt được một số chi phí không cần thiết nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả thu
6
Ts Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật tài chính 2, Khoa luật – Trường Đại học Cần Thơ 2009, tr38
Trang 18Còn đối với các nước đang phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp được xem là một loại thuế thu trước của thuế thu nhập cá nhân vì hầu hết doanh nghiệp hoạt động ở các nước này đều là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty cổ phần cho nên người chịu thuế thật sự là chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc cổ đông do những người này chỉ thật sự nhận được lợi tức từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp
đã nộp thế thu nhập doanh nghiệp cho nhà nước Sau đó, những khoản lợi tức nhận được từ thu nhập của doanh nghiệp sẽ tiếp tục được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân và tạo nên hiện tượng thuế chồng lên thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp Để giảm tình trạng thuế chồng thuế như vậy, các quốc gia
có thể cho phép khấu trừ phần thuế thu nhập doanh nghiệp đã đóng hoặc đánh thuế thu nhập cá nhân trên phần lợi tức này ở mức thuế suất thấp7
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu Tính trực thu đó thể hiện ở chỗ đối tượng nộp thuế cũng là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, đôi khi vẫn có thể xảy ra hiện tượng đối tượng nộp thuế chuyển giao gánh nặng về thuế cho các đối tượng khác khiến những người đó trở thành đối tượng phải chịu gánh nặng về thuế thật sự, ví dụ như các chủ doanh nghiệp có thể chuyển giao phần nghĩa
vụ về thuế của họ cho các cổ đông, hoặc cho những người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp của họ, hoặc thậm chí cho những người đang tiêu dùng sản phẩm của họ Do là thuế trực thu nên ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế thu nhập doanh nghiệp còn có mục tiêu điều tiết nền kinh tế, điều hòa thu nhập trong xã hội nên thường gắn liền với các chính sách ổn định và phát triển kinh tế xã hội của nhà nước Bởi vậy, pháp luật về thuế thường có những quy định về chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích của thuế thu nhập doanh nghiệp, thực hiện các mục tiêu điều tiết
- Mặc dù có tính chất của một loại thuế trực thu nhưng thuế thu nhập doanh nghiệp lại không sử dụng thuế suất luỹ tiến (đánh thuế có tính đến khả năng của người nộp)
mà sử dụng thuế suất đồng nhất (flat tax rate) Tuy nhiên, mức thuế suất áp dụng có thể sẽ khác nhau đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu nhập khác nhau vì mục tiêu chính sách nào đó của nhà nước Đây cũng là điểm khác biệt giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp do thuế thu nhập cá nhân được thu trên sở hữu của cá nhân (một người) và được áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần, còn thuế thu nhập doanh nghiệp thì lại được thu trên sở hữu của tập thể (nhiều người) nên thông thường sẽ áp dụng một thuế suất
- Là loại thuế đánh vào lợi nhuận của các cơ sở sản xuất kinh doanh nên việc động viên một phần thu nhập vào ngân sách nhà nước phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh
7
Ts Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật tài chính 2, Khoa luật – Trường Đại học Cần Thơ 2009, tr39
Trang 19doanh cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp Những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ có thu nhập chịu thuế cao nên phải đóng thuế nhiều; ngược lại, những doanh nghiệp bị thua lỗ hoặc gặp khó khăn sẽ được nộp thuế ít, được hưởng ưu đãi hoặc miễn thuế Do đó, để có thể ổn định và ngày càng tăng nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước, nhà nước đưa ra các biện pháp hỗ trợ và giúp đỡ cho các doanh nghiệp có đủ điều kiện để thực hiện hoạt động sản xuất kinh để doanh nghiệp có thể tự tin phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
- Các chính sách khuyến khích, ưu đãi thuế vì các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội thường được quy định, thiết kế trong quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Đặc biệt là các ưu đãi nhằm thu hút
sự đầu tư vào các vùng trọng điểm, vùng kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn, khuyến khích phát triển các ngành nghề, lĩnh vực theo định hướng của nhà nước cũng như cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài lại càng được thể hiện nhiều trong chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của nhiều nước hơn so với các luật thuế khác Lí do
là vì thuế thu nhập doanh nghiệp chính là cánh cửa gần nhất để thu hút vốn đầu tư vào mọi lĩnh vực của các thành phần kinh tế và nó cũng là công cụ hiệu quả nhất để điều chỉnh sự phát triển kinh tế - xã hội cân đối giữa các vùng miền với nhau
- Theo quy định thì luật thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ đánh thuế trên phần thu nhập thu được của doanh nghiệp, nhưng không phải tất cả các khoản thu nhập mà thực
tế chỉ thu trên phần thu nhập còn lại sau khi đã khấu trừ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (thu nhập tính thuế) Điều này giúp cho các doanh nghiệp có thể bảo tồn được vốn tư liệu sản xuất ban đầu của mình để thực hiện việc tái sản xuất kinh doanh, bảo đảm cho việc hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp Do đó, việc cần thiết ở đây là xác định khoản nào là khoản được tính và khoản nào không được tính vào thu nhập chịu thuế Có như vậy, pháp luật thuế mới đảm bảo tính khả thi, tính công bằng cho các đối tượng nôp thuế
- Hiện nay, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở trong nước
mà việc tự do hóa hoạt động làm cho các doanh nghiệp mở rộng phạm vi kinh doanh
ra thị trường thế giới, vượt khỏi biên giới của quốc gia dẫn đến việc các doanh nghiệp
có thể mở chi nhánh, công ty phụ thuộc kinh doanh ở địa điểm khác, bên ngoài nước hiện tại Do đó, hiện tượng nộp thuế hai lần: một ở nước tiến hành hoạt động kinh doanh (nước sở tại) và một nước có trụ sở chính có thể sẽ xảy ra Đó gọi là việc đánh thuế trùng đối với một khoản thu nhập của một đơn vị kinh doanh Để hạn chế tình trạng trên, nhiều nước đã ký với nhau Hiệp định tránh đánh thuế hai lần để phân chia quyền đánh thuế, tránh hiện tượng đánh thuế trùng, giảm hiện tượng trốn thuế và đảm
Trang 20bảo quyền lợi hợp pháp cho các nhà đầu tư Từ đó, có thể nói nguồn của luật thuế thu nhập doanh nghiệp có thể là luật quốc tế8
Những đặc điểm nêu trên đặt ra yêu cầu phải xem xét mối quan hệ giữa chính sách thuế với chính sách phát triển kinh tế cũng như các cam kết quốc tế về tự do hoá thương mại và bảo hộ đầu tư nhằm giúp nước ta phát triển tốt hơn, có thể sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới
1.1.2.3 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Thuế thu nhập doanh nghiệp khi được ban hành đã có ảnh hưởng đến các hành
vi của các doanh nghiệp bởi nó đã chuyển một chiều một phần thu nhập của những các doanh nghiệp này vào ngân sách nhà nước Xa hơn nữa, thuế có tác động trực tiếp đến các tổng sản lượng lớn của kinh tế vĩ mô như: tổng sản lượng kinh tế (GDP,GNP), giá
cả, lãi suất,…Thuế thu nhập doanh nghiệp còn giữ một vị trí quan trọng trong các chính sách lớn của chính phủ như: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tạo việc làm, chính sách phát triển ngoại thương…
Khi nói đến vai trò của thuế tức là đang nói đến sự biểu hiện một cách cụ thể các chức năng của thuế trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, mà ở đây chính là nền kinh tế thị trường Trong điều kiện đó, ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam thì sự tồn tại của thuế thu nhập doanh nghiệp lại là một điều tất yếu với những vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển của đất nước
đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trên cơ sở pháp luật Tuy nhiên lại có một
8
Ts Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật tài chính 2, Khoa luật – Trường Đại học Cần Thơ 2009, tr39
Trang 21thực trạng không hay xảy ra, không phải tất cả các doanh nghiệp đều có kết quả hoạt động tốt như nhau, có doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, doanh thu cao, có doanh nghiệp lại hoạt động kém, thường hay thua lỗ, tạo thành hai cực đối nhau trong xã hội, một số người sẽ giàu lên nhanh chóng và cuộc sống của những người nghèo sẽ không được cải thiện9 Để khắc phục những sự mất cân đối về thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo, thực hiện mục tiêu công bằng, nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách nhà nước được công bằng, hợp lý Sự điều tiết bày thể hiện thông qua các quy định của pháp luật về thuế, sự thay đổi về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất…đều có ảnh hưởng đến thu nhập và điều tiết thu nhập trong xã hội Bên cạnh đó, để từng bước thực hiện chính sách công bằng về thuế, nhà nước còn áp dụng một mức thuế suất thống nhất cho tất
cả các thành phần kinh tế để các doanh nghiệp cũ có điều kiện sắp xếp lại sản xuất, đổi mới trang thiết bị, nâng cao trình độ quản lý để thực hiện mức thuế đó Tuy nhiên, về mặt nào đó thì sự công bằng này chỉ mang tính tương đối và tùy thuộc vào quan niệm chủ quan trong việc phân phối phải công bằng diễn ra trên thị trường
1.1.2.3.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần kích thích tăng trưởng, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở rộng quy mô vốn của doanh nghiệp theo chiều hướng
kế hoạch, chiến lược và phát triển toàn diện
Đặt ra thuế thu nhập doanh nghiệp và thu thuế này thuộc một trong những quyền hợp pháp duy nhất của nhà nước Tuy nhiên, nếu nhà nước chỉ thuần túy sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp như một công cụ tạo nguồn thu ngân sách nhà nước thì giữa chính phủ và doanh nghiệp sẽ không tìm được tiếng nói chung bởi mỗi chủ thể nhắm vào mục tiêu khác nhau Nhưng nếu dùng thuế vừa để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước vừa kích thích kinh tế phát triển thì chắc chắn chính phủ sẽ có thể tìm tới sự cảm thông sâu sắc của các doanh nghiệp
Ngoài việc đảm bảo công bằng xã hội, thuế thu nhập doanh nghiệp còn có vai trò trong việc điều chỉnh nền kinh tế trong từng thời kỳ, đó là yêu cầu khách quan và thường xuyên của nhà nước Điều tiết vĩ mô nền kinh tế có nghĩa là nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế – xã hội bằng các mệnh lệnh hành chính mà nhà nước chỉ đưa ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế - xã hội đi theo nhằm đạt
9
PGS Quách Đức Pháp – “Thuế - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế” – NXB Xây dựng, Hà Nội 1999, tr47
Trang 22được mục tiêu kinh tế đề ra, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - xã hội thực hiện trong khuôn khổ pháp luật10
Thông qua các hệ thống thuế ưu đãi , các chế độ miễn giảm thuế nhằm tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư và định hướng cho các nhà đầu tư trong nhiều ngành, lĩnh vực mà nhà nước cần khuyến khích đầu tư hoặc có chiến lược ưu tiên phát triển nhằm khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ, đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý, thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các vùng, miền trong cả nước Nhờ vào các quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trong việc khuyến khích đầu tư, các cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được áp dụng thuế suất 20% trong thời gian mười năm hoặc các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y
tế, văn hóa, thể thao, môi trường thì được áp dụng thuế suất 10%11 Ngoài ra, còn khuyến khích miễn, giảm thuế đối với các trường hợp doanh nghiệp thành lập mới từ
dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn
1.1.2.3.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng cho Ngân sách nhà nước
Tại các nước đang phát triển, thuế nói chung và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng thường là một trong những nguồn thu lớn, chủ yếu và ổn định của ngân sách quốc gia do phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp rất rộng, gồm các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi
nhuận và có cả cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh, hộ cá thể không thành lập theo
Luật doanh nghiệp 2005 Ở Việt Nam, tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp trong tổng
số thu ngân sách nhà nước (trừ dầu thô) năm 2004 là 23,01%; năm 2005 là 24,21%; năm 2006 là 25,89%; năm 2007 là 24,44%12 Mức động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn gắn liền với tổng số chi tiêu của nhà nước vì các khoản này bù đắp chủ yếu cho các khoản chi ngân sách Nhà nước sử dụng nguồn thu ấy nhằm đảm bảo cho việc quản lý hành chính nhà nước và việc chi ngược lại cho người dân thông qua các hình thức khác nhau như: giáo dục – đào tạo, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng… Việc các chủ thể nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ về thuế theo quy định của pháp luật thuế
đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu của ngân sách nhà nước So với các loại thuế khác thì việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp
dễ hơn, ít tốn kém chi phí để thu thuế nên hiệu quả cũng cao hơn13 Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững
Trang 23ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng dồi dào Mặc dù có nhiều trường hợp được miễn giảm, ưu đãi nhưng không vì thế mà số thu giảm sút Điều đó cho thấy thuế thu nhập doanh nghiệp phần nào có tác dụng kích thích sản xuất, tăng sản lượng lao động và sản phẩm tạo ra có nhiều giá trị cho xã hội
1.1.2.3.4 Thuế thu nhập doanh nghiệp bình ổn thị trường giá cả và hoàn thiện chế độ hóa đơn chứng từ
Với cơ chế điều chỉnh của mình, thuế thu nhập doanh nghiệp không điều chỉnh qua giá mà điều chỉnh sau khi có thu nhập, vì vậy dù có nhiều quy định ưu đãi, miễn giảm thuế cũng không gây ảnh hưởng đến cơ chế giá của thị trường, đảm bảo không có
sự biến động hàng hóa thiết yếu trên thị trường, gia tăng lưu thông hàng hóa, hỗ trợ cho những địa bàn kinh tế khó khăn
Việc kê khai và tính đúng thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành được thực hiện trên nguyên tắc phải có hóa đơn chứng từ đầy đủ để xác định chi phí được khấu trừ Từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế chú trọng tốt hơn trong công tác mở sổ sách kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hóa đơn chứng từ góp phần giúp cho việc quản lý và thu thuế thu nhập doanh nghiệp được dễ dàng và hiệu quả hơn Trong năm 1999 số lượng doanh nghiệp sử dụng hóa đơn tăng gấp đôi so với năm 1998 Năm 2002 số lượng này tăng gấp rưỡi năm 1999 Con số này ngày càng tăng khi số đơn vị đăng ký sử dụng hóa đơn chứng từ ngày càng cao Việc sử dụng hóa đơn, chứng từ thể hiện một bước chuyển biến mới nổi bậc trong việc sử dụng hóa đơn
và quản lý doanh nghiệp
Tóm lại, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp được dàn trải hầu như khắp mọi mặt của nền kinh tế xã hội Những vai trò này không xuất hiện cùng lúc, vào ngay thời điểm đầu tiên ra đời luật thuế thu nhập doanh nghiệp, mà chúng lần lượt bộc lộ theo sự gia tăng vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước và những tiến bộ xã hội.Từ đây, ta
có thể hiểu vai trò của thuế gắn liền với vai trò của nhà nước và thuế thực sự có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn thể đời sống xã hội
1.1.3 Ý nghĩa của việc ra đời Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong xã hội hiện nay, thuế là một vấn đề khá nhạy cảm không chỉ với xã hội
mà còn với hầu hết tất cả mọi thành phần kinh tế đang thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra thu chịu thuế chính vì những ảnh hưởng sâu sắc đối với mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội của nó Do đó việc xây dựng các điều khoản trong các luật thuế nhất định phải đảm bảo việc rõ ràng, có cơ sở hợp lý và tuân thủ theo các nguyên
Trang 24tắc chung được đặt ra khi tiến hành xây dựng các luật thuế trong hệ thống thuế nhằm giúp cho việc quản lý và thực hiện các luật thuế được đơn giản, dễ dàng hơn Khi Nhà nước quyết định ban hành một sắc thuế để áp dụng trên thực tế thì sắc thuế ấy ngoài việc tạo nguồn thu cho nhà nước còn chứa đựng nhiều ý đồ, mục tiêu, ý nghĩa nhất định khác
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, một loại thuế xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế và có quan hệ khá mật thiết với nền kinh tế, thì sự tồn tại của nó lại mang ý nghĩa khá đặc biệt so với các luật thuế khác do sự vận động và phát triển không ngừng của nền kinh tế do việc ban hành sắc thuế này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ nước Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài có ý định đầu tư vào Việt Nam, cũng như sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Vì lẽ trên, sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp có ý nghĩa sau:
- Thứ nhất: Đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập của doanh nghiệp vào quỹ công.Việc đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư vào ngân sách nhà nước đã khuyến khích các doanh nghiệp ra sức thi đua lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng lợi nhuận, mở rộng quy mô sản xuất, làm giàu cho chính mình và cho đất nước Thuế thu nhập doanh nghiệp còn cho trừ một số loại chi phí hợp lý phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo việc thu thuế chỉ thực hiện trên một phần thu nhập, một phần lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra và giúp các doanh nghiệp
có thể giữ lại được một phần thu nhập nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất hoạt động trong tương lai, giúp doanh nghiệp tái phân phối thu nhập, tăng tích lũy, khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để giải phóng mọi nguồn lực của đất nước
Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế của mình
- Thứ hai: Việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp phù hợp với khả năng của từng doanh nghiệp còn góp phần giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo, hạn chế sự phân hóa giai cấp trong xã hội và đảm bảo cho sự công bằng xã hội, hạn chế bất bình đẳng trong
xã hội do sự chênh lệch thu nhập và tài sản giữa các thành viên xã hội Thuế thu nhập doanh nghiệp động viên hợp lý thu nhập của doanh nghiệp, phù hợp với khả năng sản xuất, hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp trong những điều kiện xã hội không giống nhau như: thu thuế cao đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận thu về đáng kể và thu thuế thấp, miễn giảm thuế hoặc thực hiện một số chính sách ưu đãi đối với những doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả …Nhờ đó, nhà nước có thể sử dụng thuế để điều tiết thu nhập giữa mọi thành viên, chuyển một phần thu nhập của những người giàu có sang người nghèo qua cầu
Trang 25ngân sách và tạo nên thế cân bằng giữa các doanh nghiệp, ổn định giữa các giai cấp trong xã hội
1.2 Khái quát chung về chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động sản xuất để tạo ra một sản phẩm, các doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều công đoạn khác nhau, từ khâu mua nguyên vật liệu để chế biến tạo ra sản phẩm đến khâu đóng gói và bảo quản rồi vận chuyển để đưa sản phẩm
ra tiêu thụ trên thị trường Để thực hiện được tất cả các khâu ấy, các doanh nghiệp đã phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ làm nguồn vốn ban đầu để thực hiện Do trong quá trình thực hiện trải qua nhiều khâu khác nhau nên các loại chi phí phát sinh cũng được phân thành nhiều loại và hoàn toàn không giống nhau về tính chất cũng như tên gọi Đặc điểm đó của chi phí tùy thuộc vào những hoạt động được diễn ra trong từng khâu của quá trình hoạt động sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, để dễ dàng trong việc theo dõi, quản lý và phân biệt với các loại chi phí phát sinh trong những hoạt động khác, các doanh nghiệp đã gom những loại chi phí này lại thành một loại chi phí
và gọi là chi phí sản xuất kinh doanh hay chi phí sản phẩm
Về mặt lý thuyết, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền (do ảnh hưởng của quan hệ hàng hóa – tiền tệ) của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã chi ra để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm, cung ứng lao vụ trong một thời kỳ nhất định
Cũng như những loại chi phí khác, chi phí sản xuất kinh doanh cũng có cấu thành chi phí của sản phẩm, được hình thành từ các khâu sản xuất Mỗi sản phẩm khác nhau sẽ có một cấu thành chi phí khác nhau Nhưng, vẫn có một mô hình chung được công nhận, bao gồm sáu thành phần chính cấu thành chi phí của mỗi sản phẩm, đó là:
- Chi phí nghiên cứu và phát triển
Dựa vào mô hình chung nhất trên, các nhà kinh tế học đã chia cấu thành chi phí
ra làm ba thành phần để giúp cho việc nghiên cứu được dễ dàng hơn Đó là:
Trang 26- Chi phí sản xuất (chi phí doanh nghiệp chi ra cấu thành nên giá trị sản phẩm) bao gồm tổng cộng các hao phí lao động vật hóa14, hao phí lao động sống15 và giá trị mới
do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động tạo ra giá trị sản phẩm, dịch vụ lao
vụ
- Chi phí tiêu thụ sản phẩm: là những khoản chi phí liên quan đến việc lưu thông sản phẩm như: chi phí bán hàng, chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí quảng cáo, bảo hành sản phẩm…
- Các khoản thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất – nhập khẩu
Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ tất cả các loại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Như đã trình bày ở phần trên, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng khác nhau Để kiểm soát và quản lý hiệu quả các loại chi phí ấy ta phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nhiều tiêu chí khác nhau
1.2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố chi phí
Theo cách phân loại này, người ta dựa vào công cụ kinh tế của chi phí phát sinh lần đầu (còn gọi là dựa vào hình thái nguyên thủy của chi phí phát sinh) và chỉ căn cứ vào tính chất kinh tế của các khoản chi phí Do đó, những chi phí giống nhau được xếp vào một yếu tố:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: là giá trị toàn bộ nguyên - vật liệu, nhiên liệu, động lực mà doanh nghiệp đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh vào một kỳ nhất định
- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương: là toàn bộ tiền lương, tiền công, chi phí có tính chất tiền lương trả cho người tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là số tiền khấu hao tài sản cố định được trích theo quy định với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
Trang 27- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là các chi phí đã trả cho các tổ chức, các nhân về các dịch vụ thực hiện theo yêu cầu của doanh nghiệp như: tiền điện, nước, điện thoại, tư vấn, kiểm toán…và các dịch vụ khác
- Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi phí bao gồm: thuế môn bài, thuế sử dụng đất, chi tiếp tân giao dịch… và các chi phí khác
- Các khoản chi khác doanh nghiệp được phép tính vào chi phí sản xuất kinh doanh gồm các khoản dự phòng giảm giá theo quy định
Việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố chi phí đã cho biết các loại chi phí mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm của mình Qua đó, giúp doanh nghiệp có thể biết được trọng tâm của việc quản lý chi phí và kiểm tra được tình hình dự toán chi phí để có thể hoạt động một cách tốt nhất và tiết kiệm nhất
1.2.2.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục giá thành
Cách phân loại này dựa vào địa điểm phát sinh chi phí và công dụng kinh tế của chi phí Tại mỗi địa điểm phát sinh chi phí lại căn cứ vào công dụng kinh tế của chi phí, những chi phí có nội dung giống nhau lại được sắp vào một nhóm hình thành khoản mục chi phí Dựa vào căn cứ trên, thông thường chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm các chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu trực tiếp dùng vào sản xuất sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm các khoản trả cho người lao động trực tiếp tham gia sản xuất ra sản phẩm như: tiền lương, tiền công và các khoản trích nộp của công nhân mà doanh nghiệp phải nộp theo quy định
- Chi phí sản xuất chung: là chi phí sử dụng cho hoạt động sản xuất, chế biến của phân xưởng, trực tiếp tạo ra sản phẩm và dịch vụ như: chi phí vật liệu, công cụ, dụng
cụ, khấu hao tài sản cố định, tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền ở phân xưởng
- Chi phí bán hàng: là chi phí liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như tiền lương, khoản phụ cấp trả cho nhân viên bán hàng, chi phí đóng gói, vận chuyển sản phẩm, và các chi phí khác
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là chi phí chi cho bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp như chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ, khấu hao tài sản cố định, các chi phí khác bằng tiền như chi phí tiếp tân giao dịch,…và các khoản chi phí khác
Với cách phân loại này, kế toán của doanh nghiệp sẽ dựa vào đó để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Đồng thời, đó cũng là căn cứ để kế toán phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và xây dựng định mức chi phí cho kỳ sau
Trang 281.2.2.3 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh thành chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp
Tiêu chí để phân loại theo cách này là dựa vào giữa chi phí phát sinh và khối lượng sản phẩm hoàn thành để chia chi phí sản xuất kinh doanh thành chi phí cố định ( chi phí bất biến) và chi phí biến đổi (chi phí khả biến)
- Chi phí cố định (định phí): là những khoản chi phí mà sự biến động của chúng không đồng thời với sự biến động khối lượng sản xuất, tức là những khoản chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi mức độ hoạt động, nhưng chi phí trung bình của một đơn vị hoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động Nó là những khoản tồn tại và phát sinh ngay cả khi không sản xuất ra sản phẩm, tiền khấu hao tài sản cố định, tiền thuê đất, chi phí quản lý doanh nghiệp… Chi phí cố định không thay đổi về tổng số trong phạm vi phù hợp với mức độ hoạt động (ví dụ như chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ không thay đổi trong phạm vi khối lượng sản xuất từ 0 đến 2.000 tấn) nhưng nếu mức độ hoạt động tăng vượt quá phạm
vi phù hợp đó thì chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ tăng vì phải đầu tư thêm máy móc thiết bị sản xuất
- Chi phí biến đổi (biến phí): là chi phí có mối tương quan tỉ lệ thuận với sản lượng sản xuất như chi phí nguyên vật liệu, tiền lương công nhân sản xuất… Có loại chi phí biến đổi tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của mức hoạt động tạo ra sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp…nhưng cũng có chi phí biến đổi chỉ thay đổi khi mức hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng như chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo dưỡng thiết bị…
- Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của chi phí cố định và chi phí biến đổi như chi phí điện thoại, Fax, chi phí thuê phương tiện vận chuyển vừa tính giá thuê cố định, vừa tính giá thuê theo quãng đường vận chuyển thực tế
Việc phân loại chi phí thành chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp tuỳ thuộc vào quan điểm nhìn nhận của từng nhà quản trị trong mục tiêu sử dụng cụ thể giúp nhà quản trị có cách nhìn nhận chi phí, sản lượng và lợi nhuận Từ đó thấy được mối quan hệ của từng loại chi phí trong tổng số chi ra để biết được hướng biến động của từng khoản mục chi phí và chi phí bình quân trên đơn vị sản phẩm giúp cho nhà quản lý có quyết định thích ứng với từng loại để hạ thấp giá thành sản phẩm và phù hợp về số lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, về giá bán sản phẩm trong từng giai đoạn cụ thể như về việc nhận đơn đặt hàng mới với giá thấp hơn giá đang bán nhằm đạt kết quả cao
Trang 291.2.3 Chi phí và vai trò của việc quản lý chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Từ khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường dưới sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp đã từng bước thích ứng với môi trường mới, hoàn cảnh mới và còn có những đóng góp đáng kể vào việc ổn định kinh tế - xã hội, đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng Bên cạnh những kết quả bước đầu, đứng trước tình thế mới, thời cơ và thách thức mới trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém nhất là trong giai đoạn nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển thì các loại hình doanh nghiệp lại càng cạnh tranh gay gắt để phát triển và mở rộng trên thị trường Do vậy, để đảm bảo cho doanh nghiệp mình tăng trưởng và phát triển bền vững, các doanh nghiệp không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc tìm cách tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, tăng chất lượng hàng hóa bán ra để tăng sức cạnh tranh, từng bước chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế Để đạt được điều đó, doanh nghiệp tất yếu phải đặt công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh vào vị trí trọng tâm, then chốt bởi vì quản lý chi phí sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp đi vào hoạt động kinh doanh có lãi, từng bước thực hiện những mục tiêu đề ra để có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế cơ chế thị trường hiện nay
Rất rõ ràng, yếu tố chi phí luôn đóng vai trò quan trọng trong bất cứ kế hoạch
mở rộng và tăng trưởng kinh doanh nào, nó đóng vai trò là một tiêu chí kinh tế quan trọng phản ánh tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí cũng như trình độ quản lý của doanh nghiệp Vì vậy, các công ty muốn tăng trưởng và đẩy mạnh lợi nhuận cần không ngừng tìm kiếm những phương thức quản lý và sử dụng hiệu quả nhất các nguồn vốn, chi phí kinh doanh, đồng thời phải tái đầu tư các khoản tiền đó cho những cơ hội tăng trưởng triển vọng nhất Một trong những ví dụ rõ rệt nhất cho lối suy nghĩ và cách thức tiếp cận này là hãng sản xuất kẹo cao su Wrigley Kể từ giữa thập niên 1990, Wrigley đã cải thiện đáng kể doanh thu và hiệu quả hoạt động tổng thể Hãng đã mạnh tay tiết kiệm những khoản chi phí hoạt động cơ bản nhưng vẫn dành ra một khoản tiền lớn để đầu tư cho tiếp thị, giao dịch với đối tác và đổi mới kinh doanh nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao Kết quả là, hoạt động đầu tư kinh doanh của Wriglet luôn vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh Trong vòng sáu năm (1998-2004), công ty trả
cổ tức cho các cổ đông ở mức 13,6% gần gấp 3 so với mức trung bình của ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống thế giới16
Về mặt lý thuyết, chi phí sản xuất kinh doanh là tổng số tiền tương đương với toàn bộ hao phí về các nguồn lực mà công ty đã bỏ ra trong một giai đoạn kinh doanh
16
“Nghệ thuật quản lý chi phí” – http://www.saga.vn/view.aspx?id=4099 [ truy cập ngày 25-05-2007]
Trang 30nhất định Việc quản lý chi phí kinh doanh không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu phản ánh tổng hợp chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt để phân tích toàn
bộ chi phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trình hay theo nơi phát sinh chi phí Dưới các góc độ xem xét khác nhau, theo những tiêu chí khác nhau thì chi phí kinh doanh cũng được phân loại theo các cách khác nhau để đáp ứng yêu cầu thực tế của quản lý và hạch toán
Trên thực tế, hoạt động quản lý chi phí được tách rời đối với công tác kế toán thống kê Quản lý chi phí là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về việc sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra các quyết định về các chi phí ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp Bộ phận quản lý chi phí trong các doanh nghiệp sẽ dựa vào các thống kê kế toán, báo cáo doanh thu, báo cáo nhân sự và tiền lương, do các
bộ phận kế toán, quản trị và thống kê cung cấp; đồng thời kết hợp với những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng hợp, phân tích và đánh giá các khoản chi phí của doanh nghiệp, so sánh kết quả phân loại của kỳ này với kỳ trước của công ty mình với các công ty cùng ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của ngành Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà bộ phận quản lý chi phí có thể chỉ ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của doanh nghiệp trong kỳ Ngoài ra, bộ phận quản lý chi phí còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược chi tiêu ngắn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các yếu tố chi phí có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn,thị trường chứng khoán; xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của công ty là mở rộng hay thu hẹp sản xuất17
Có thể nói, nhiệm vụ của bộ phận quản lý chi phí, bộ não của doanh nghiệp, rộng hơn và phức tạp hơn rất nhiều so với các bộ phận khác và nếu quản lý chi phí hiệu quả, thì doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được sự cần thiết phải liên tục đưa ra các kế hoạch cải thiện hoạt động kinh doanh trên quy mô lớn
17
“Nghệ thuật quản lý chi phí” – http://www.saga.vn/view.aspx?id=4099 [ truy cập ngày 25-05-2007]
Trang 311.3 Mối liên hệ giữa Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của hệ thống thuế và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách nhà nước và thực hiện phân phối thu nhập Vì đối tượng nộp thuế thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế thu nhập doanh nghiệp chủ yếu là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh thu nhập phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như: Các tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
Cá nhân trong nước sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; Công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam; Cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nên việc những đối tượng này tìm hiểu kỹ và rõ những quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp là hết sức quan trọng và cần thiết vì doanh nghiệp là người thực thi các luật thuế và mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh có thể liên quan đến sắc thuế này Có như vậy, các doanh nghiệp mới nắm rõ được đầy đủ các quy định và yêu cầu có liên quan, xem xét ảnh hưởng của Luật thuế tới nghiệp vụ phát sinh như chính sách, thủ tục thuế được áp dụng và bộ hóa đơn, chứng từ kèm theo… Từ đó các doanh nghiệp có thể thực hiện
kê khai đầy đủ, tính đúng, tính đủ các loại thuế, giảm thiểu rất nhiều rủi ro khi xác định nghĩa vụ thuế và tránh các khoản phạt không đáng có về vi phạm hành chính thuế hoặc có thể bị coi là có hành vi gian lận về thuế
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định khá nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến việc xác định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp trong một kỳ nhất định và
có liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như: thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế, thu nhập tính thuế, thuế suất, những ưu đãi về thuế… Trong đó, có một vấn đề khá nhạy cảm và là vấn đề sống còn của doanh nghiệp khi họ hoạt động trên thương trường trong thời kỳ hội nhập cũng được đề cập đến trong Luật thuế, đó là chi phí của doanh nghiệp Vì là vấn đề quyết định tương lai của doanh nghiệp mình nên các doanh nghiệp thường quan tâm khá kỹ đến các quy định luật về chi phí này Nhưng không phải chỉ có Luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới có những quy định về chi phí mà quy định trong các luật khác cũng có, và đối với mỗi luật khác nhau sẽ có những quy định khác nhau trong việc hiểu cũng như áp dụng trong thực tiễn Trên thực
tế, chi phí của doanh nghiệp thường được xác định theo hai chế độ khác nhau Thông thường, chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được dùng để kết toán chi phí vào cuối kỳ kế toán theo chế độ kế toán hiện hành Nhưng khi doanh nghiệp tiến hành việc kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước thì loại chi phí này lại được xem xét theo một chuẩn mực khác được quy định trong Luật thuế
Trang 32Vậy, liệu có khác biệt nào giữa chi phí theo chế độ kế toán của doanh nghiệp và chi phí được xem là chi phí được trừ trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp?
Hiện nay, trong công tác kiểm tra kế toán, thuế tại các doanh nghiệp nhìn dưới góc độ Luật Quán lý thuế thì kiểm tra chi phí sản xuất, kinh doanh là khó khăn nhất Các Giám đốc điều hành doanh nghiệp, các kế toán trưởng, kế toán viên đang cảm thấy đau đầu vì trong thực tế sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp chi ra rất nhiều khoản chi phí (thậm chí có đầy đủ hóa đơn, chứng từ) và được hạch toán kế toán đầy
đủ theo chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán nhưng trong kiểm tra quyết toán thuế vẫn
bị “xuất toán” ra khỏi chi phí hợp lý được chấp nhận theo Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp Thực tế, điều này đã xảy ra trong suốt thời gian qua gây ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Sở dĩ xảy ra trường hợp như vậy là vì chi phí thực tế doanh nghiệp chi ra chỉ được các nhà làm luật xem là chi phí kế toán, tức là loại chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến việc sản xuất mỗi đơn vị sản phẩm và dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp được doanh nghiệp dùng để thực hiện hoạt động kế toán chi phí vào cuối kỳ kế toán Về cơ bản, những loại chi phí này không khác biệt mấy với chi phí tính thuế vì những loại chi phí này được dùng để làm nền tảng giúp cho việc xác định các loại chi phí tính thuế một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, để trở thành chi phí tính thuế, những loại chi phí này phải thỏa mãn thêm một số điều kiện nhất định nào đó được quy định sẵn trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Cũng vì lý do trên mà các doanh nghiệp thường khó phân biệt được đâu là chi phí kế toán và đâu là chi phí tính thuế, dẫn đến việc lẫn lộn giữa hai loại chi phí này và xảy ra tình trạng một số chi phí kế toán bị “xuất toán” ra khỏi chi phí tính thuế khi doanh nghiệp kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp vào cuối kỳ
Trong quá trình thực hiện trên thực tế, một số chi phí thường có sự khác biệt khi hạch toán kế toán và tính thuế thu nhập doanh nghiệp, điển hình như: Quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp không chấp nhận tính hợp lý của các khoản tiền lương, tiền công, các khoản hạch toán khác để trả cho người lao động nhưng thực
tế không chi trả, trong khi trong chế độ kế toán thì chi phí này được tính vào chi phi của doanh nghiệp Hoặc đối với phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng mối giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh để được xem là chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp thì phải thỏa mãn việc không vượt quá hạn mức đã được đặt ra trong khi chế độ kế toán không quy định mức khống chế này
Sự khác biệt giữa chính sách thuế và chế độ kế toán, vì không phải tất cả các chi phí của doanh nghiệp đều được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo ra các
Trang 33khoản chênh lệch trong việc ghi nhận chi phí cho một kỳ kế toán nhất định, dẫn đến chênh lệch giữa số thuế thu nhập phải nộp trong kỳ với chi phí thuế thu nhập của doanh nghiệp theo chế độ kế toán áp dụng, tức là làm phát sinh chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn giữa chính sách thuế và chế độ kế toán
Như vậy, từ sự khác nhau nhất định giữa các loại chi phí theo chế độ kế toán (chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh) và chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp mà tạo nên sự không đồng nhất giữa số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp vào cuối kỳ với tổng chi phí của doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành như trên
đã cho ta thấy phần nào sự liên kết giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 34CHƯƠNG 2:
NGHIÊN CỨU VỀ CHI PHÍ ĐƯỢC TRỪ VÀ KHÔNG ĐƯỢC TRỪ KHI XÁC ĐỊNH THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
2.1 Khái niệm, các điều kiện của chi phí được trừ nhìn từ góc độ lý luận
2.1.1 Khái niệm chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối với nhà nước, doanh nghiệp được ví như tế bào của nền kinh tế thị trường,
tế bào khỏe thì cơ thể phát triển mạnh; ngược lại, tế bào kém phát triển thì cơ thể suy nhược, dễ phát bệnh Sự phát triển của các doanh nghiệp còn là sức mạnh vật chất khá
lý tưởng giúp nhà nước trong việc điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên nhà nước đã khuyến khích hỗ trợ cho các doanh nghiệp bằng những chủ trương, chính sách giúp cho các doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh, có lợi nhuận nhiều hơn sau khi đóng thuế và hoạt động tốt hơn Cụ thể, nhà nước quy định các khoản chi phí liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được xem là các khoản chi phí hợp lý trong quá trình sản xuất kinh doanh và sẽ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp theo qui định tại các văn bản về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Đó chính là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp
Theo ý nghĩa kinh tế, chi phí được trừ để tính thu nhập chịu thuế là những tiêu hao hợp lý mà đối tượng nộp thuế bỏ ra để tạo ra thu nhập và sẽ được trừ để tính thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ18 Còn theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế là những khoản chi phí đã phát sinh được cơ quan thuế chấp nhận để tính trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế19 Tuy nhiên, không phải bất kỳ loại chi phí nào cũng sẽ được phép trừ
ra khỏi thu nhập chịu thuế, mà chỉ những chi phí đáp ứng được các điều kiện cần và điều kiện đủ đã được đặt ra thì mới được phép trừ Các khoản chi phí được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế này phải là các khoản chi phí hợp pháp thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và phải có đầu đủ các loại hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật hiện hành Như vậy, hiểu theo nghĩa ngược lại, chi phí không được trừ sẽ là những khoản chi không đáp ứng được điều kiện đã quy định, là không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và không có hóa đơn
Trang 35chứng từ theo quy định của pháp luật, hoặc là những chi phí thuộc chi phí không được trừ được liệt kê cụ thể trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Khác với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 không liệt kê các loại chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, mà chỉ quy định điều kiện để xác định các khoản chi phí được trừ và liệt kê cụ thể các khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, tức là những khoản chi phí không được liệt kê không được trừ thì đương nhiên doanh nghiệp
sẽ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Sở dĩ quy định như vậy là vì cách quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 chỉ phù hợp ở thời điểm lúc mới ban hành Luật thuế chứ chưa bao quát được hết các khoản chi phí mới phát sinh do quá trình vận động và và phát triển của nền kinh tế thị trường dẫn đến việc gặp những vướng mắc, khó khăn làm hạn chế quyền chủ động của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường Đồng thời, các quy định
đó còn tạo nên sự khác biệt giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý (thuế, thanh tra, kiểm toán…) trong cách hiểu và vận dụng chúng, tạo cơ hội để sinh ra cơ chế “xin – cho” trong quá trình thực hiện Do đó, việc sửa đổi và ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 là thật sự cần thiết để khắc phục những nhược điểm của Luật thuế
cũ, bảo đảm cho việc rõ ràng trong các quy định của luật thuế, và tạo thuận lợi cho việc thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế theo quy định của Luật quản lý thuế một cách có hiệu quả20
2.1.2 Các điều kiện của chi phí được trừ, nhìn từ góc độ lý luận
Trong hoạt động xây dựng lập pháp, cơ sở để quy định chi phí được trừ để tính thu nhập chịu thuế là tính hợp lý của các khoản chi phí phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của đối tượng nộp thuế Nhìn từ góc độ lý luận, tính hợp lý
ấy của chi phí sẽ thỏa mãn những tiêu thức sau21:
- Các chi phí phải có liên quan đến các hoạt động tạo ra thu nhập của doanh nghiệp, tức là những tiêu hao thực tế các nguồn lực gắn liền với việc tạo ra thu nhập Tính liên quan của chi phí với thu nhập của doanh nghiệp đảm bảo những chi phí đó là
“cần thiết” đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, những khoản chi phí không góp phần tạo ra thu nhập của doanh nghiệp không được coi là chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
- Các chi phí này phải được thật sự chi ra và có thể thẩm định được Tiêu thức này khẳng định chi phí được trừ là những khoản chi phí thực tế có phát sinh chứ không
Trang 36phải là chi phí định mức Cho dù doanh nghiệp đã xây dựng được định mức chi phí hợp lý nhưng chi phí thực tế không phát sinh thì cũng sẽ không được trừ Căn cứ để xác định tính thực tế của chi phí là nó phải được chứng minh bằng những bằng chứng pháp lý như: hóa đơn, chứng từ, bảng kê…theo quy định của pháp luật có liên quan
Do vậy, cho dù có chi phí thực tế phát sinh nhưng nó không được chứng minh bằng những bằng chứng do pháp luật quy định thì những chi phí đó cũng không được chấp nhận Nói cách khác, chi phí được trừ phải là những chi phí thực tế phát sinh và có thể thẩm định được nhờ các bằng chứng pháp lý Đứng trên góc độ này có thể thấy, chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không hoàn toàn chỉ là chi phí hợp lý mà còn phải là chi phí hợp pháp
- Các khoản chi phí được trừ để tính thu nhập chịu thuế là những tiêu hao nguồn lực ở mức độ hợp lý (mức cần thiết trung bình của xã hội) Mức độ hợp lý của chi phí không được nhà nước quy định hạn mức cụ thể trong các văn bản mà chỉ đưa ra một giới hạn (một mức trần nhất định) để xác định tính hợp lý của một số loại chi phí nhất định Ví dụ như chi phí trong hoạt động quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh thì chỉ được phép trừ khi nó không vượt quá 10% tổng số chi được trừ (trong đó, tổng số chi được trừ không bao gồm khoản chi cho hoạt động thương mại và tổng số chi được trừ không bao gồm giá mua của hàng hóa bán ra), còn phần vượt quá thì doanh nghiệp sẽ phải tự gánh chịu mà không được phép trừ
- Chi phí phải có tính chất “tạo thu nhập” hơn là “tạo vốn” Các khoản chi có tính chất đầu tư dài hạn hình thành tài sản vốn của công ty như: chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định, chi đầu tư cơ sở hạ tầng… Đây là những khoản chi không nhằm mục tiêu tạo ra sản phẩm trong kỳ hiện tại Tuy nhiên, vì phải phân đoạn thời gian để tính thu nhập chịu thuế nên một trong những điều kiện không thể bỏ qua để xác định các khoản chi phí được trừ là nguyên lý dồn tích22 Theo nguyên lý này, có thể có những khoản chi phí chưa thật sự chi ra, song có thể dự đoán trước một cách tương đối chắc chắn và cần có sự trang trải trong nhiều kỳ thì có thể được xác định như các khoản chi phí được trừ một cách hợp lý Ví dụ về các khoản chi phí này có thể kể ra là các khoản chi phí trích trước, các khoản dự phòng nợ khó đòi, dự phòng giảm giá… Ngược lại, có những khoản đã thật sự chi ra song tác dụng của chúng có thể được phát huy trong nhiều kỳ thu nhập nên phải phân bổ cho một số kỳ tương ứng Thuộc loại chi phí này
22
Nguyên lý dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp Theo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền
Trang 37là những khoản chi như: mua sắm tài sản cố định, chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ… Suy cho cùng thì nguyên lý dồn tích trong kế toán cũng phù hợp với những tiêu chuẩn của chi phí hợp lý như đã đề cập Vì lí do này, đa số luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước đều cho phép trừ các khoản chi phí theo nguyên lý dồn tích
mà kế toán tài chính đã thực hiện, chỉ loại bỏ những khoản chi phí không liên quan đến việc tạo ra thu nhập như các khoản chi phúc lợi do các nguồn vốn khác đài thọ…, hay những khoản chi phí cá biệt không được coi là mức “cần thiết trung bình xã hội” như các khoản chi tiền phạt, các khoản chi quá định mức cần thiết không có nguyên do chính đáng… Không ai có thể khẳng định được rằng các chuẩn mực kế toán lái theo những quy định của luật thuế hay những quy định của luật thuế dựa trên các chuẩn mực kế toán Song, đa số các nước đều lấy số dư trên tài khoản thu nhập (tài khoản lợi nhuận) và điều chỉnh tăng hoặc giảm một số khoản mục để xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Nguyên lý dồn tích là một điểm tựa quan trọng để mềm hóa khái niệm “chi phí hợp lý” xét về mặt lý thuyết và làm cho các quy định được vận dụng trong việc xác định các chi phí được trừ và không được trừ khi tính thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trở thành thực tế và đơn giản hơn
2.2 Các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 đã được ban hành nhằm thay thế cho Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 đã lỗi thời và không còn phù hợp với
tình hình kinh tế hiện nay của đất nước Theo quy định của luật thuế mới, cụm từ "chi
phí hợp lý" trong xác định chi phí chịu thuế đã được bỏ đi mà thay vào đó là xác định
chi phí theo nguyên tắc "xác định các khoản chi được trừ khi tính thuế thu nhập doanh
nghiệp" Bên cạnh đó, việc phân loại chi phí thành hai loại chi phí được trừ và chi phí
không được trừ đã có một sự thay đổi về nội dung theo hướng tạo điều kiện, hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc mở rộng các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Cụ thể, luật thuế mới đã không quy định rõ các khoản chi phí được trừ
để tính thu nhập chịu thuế như trước nữa, mà thay vào đó chỉ quy định chi tiết và cụ thể các khoản chi phí không được tính vào chi phí được trừ
2.2.1 Các khoản chi phí được trừ
Theo quy định tại khoản 1 điều 9 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 thì doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi (trừ các khoản chi quy định tại khoản 2 điều này) nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Khoản chi thực tế phát sinh, liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
Trang 38- Khoản chi có đủ hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật
Riêng đối với tổ chức có thu nhập không chia, ngoài việc được trừ các khoản chi phí liên quan đến hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập, những tổ chức này còn được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế những khoản chi cho các hoạt động từ thiện, xã hội theo mục tiêu, tôn chỉ ghi trong điều lệ của tổ chức mà đã được pháp luật thừa nhận
Cách quy định như trên là phù hợp với thực tiễn Nó cho phép các doanh nghiệp được quyền tự chủ trong kinh doanh Doanh nghiệp tự đối chiếu để kê khai theo quy định của Luật quản lý thuế, pháp luật về kế toán, kiểm toán nhưng vẫn đảm bảo những nguyên tắc cơ bản và tính tuân thủ pháp luật Tuy nhiên, các điều kiện được đặt ra trong quy định này đã thể hiện một số điểm đáng chú ý nhất định như sau:
Thứ nhất, điều khoản trên phù hợp của với cơ chế tự khai, tự nộp theo quy định của Luật quản lý thuế do nhà nước ban hành ra, đồng thời, còn đảm bảo được nguyên tắc và xu hướng chung khi xây dựng văn bản pháp luật hiện nay là nhà nước chỉ cần quy định rõ những điều cấm, mọi chủ thể sẽ được thực hiện những điều mà pháp luật không cấm
Thứ hai, cụm từ “khoản chi” (tức là các khoản chi thực tế phát sinh và đã được doanh nghiệp sử dụng vào một công việc hoặc một khâu nhất định trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh) đã được các nhà làm luật sử dụng với mục đích phân biệt với cụm từ “khoản chi phí” (được hiểu là bao gồm tất cả các chi phí, trong đó có những khoản chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra hay còn gọi là khoản chi và những khoản chi phí đã được trích trước nhưng thực tế vẫn chưa sử dụng hay khoản chưa chi) nhằm nêu rõ quan điểm chỉ những khoản chi phí thực tế đã chi ra mới được chấp nhận
là chi phí và sẽ được trừ theo quy định của luật thuế, còn những khoản chi chưa thực tế chi ra thì không được trừ để bảo đảm sự chặt chẽ trong câu văn cũng như tránh sự nhầm lẫn cho doanh nghiệp và cơ quan thuế trong quá trình áp dụng luật sau này Ngoài ra, Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành chỉ nêu lên điều kiện của chi phí được trừ mà không giải thích thêm bất kỳ cụm từ nào Ví dụ như cụm từ “liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp” chưa được giải thích một cách
rõ ràng dẫn đến việc xác định các khoản chi có thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hay không là tùy thuộc vào sự đánh giá của kế toán; hay việc không giải thích rõ các cụm từ “khoản chi thực tế phát sinh”, “ khoản chi liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh” trong quy định của luật thuế
có thể sẽ làm nảy sinh một số vấn đề bất cập giữa các doanh nghiệp và cơ quan thuế trong việc hiểu và áp dụng luật thuế trên thực tế… Trong khi chúng ta chưa xây dựng một bộ tiêu chuẩn định mức hoàn chỉnh về chi phí cho các ngành kinh tế, các khu vực kinh tế, các vùng địa lý thì việc phân chia một chi phí có nằm trong chi phí hợp pháp
Trang 39hay không lại tùy thuộc vào sự thỏa hiệp giữa doanh nghiệp và các cán bộ quản lý của nhà nước Điều này, vô hình chung trở thành nguyên nhân gây nên sự nhũng nhiễu, thông đồng, tham nhũng23 Do đó, nên xem xét quy định thêm phần giải thích từ ngữ trong điều kiện của chi phí được trừ nhằm giúp doanh nghiệp hiểu rõ, hiểu đúng với tinh thần của các nhà làm luật
Thứ ba, qua quá trình áp dụng thực tế luật thuế cũ năm 2003 trong một thời gian
đã cho thấy luật thuế năm 2003 chỉ phù hợp với nền kinh tế trong giai đoạn đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường chứ về lâu dài thì nó thật sự không phù hợp với thực tiễn nền kinh tế của nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng (đa ngành nghề, đa lĩnh vực…), thì việc phát sinh ra nhiều loại chi phí mới không thuộc danh mục chi phí được trừ và cũng không thuộc chi phí không được trừ khiến luật thuế năm 2003 không thể bao quát hết là điều không tránh khỏi Việc luật thuế năm 2008 chỉ quy định cụ thể những khoản chi phí không được trừ và xác định những loại chi phí khác nếu đáp ứng được điều kiện đã đặt ra thì sẽ được trừ đã thể hiện được sự bao quát, bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng của Luật thuế mới đối với các chi phí phát sinh mà đặc biệt là những chi phí mới phát sinh trong nền kinh tế hiện nay Đồng thời, điều đó cũng tạo được sự thông thoáng và dễ dàng hơn cho doanh nghiệp khi họ tiến hành kê khai quyết toán thuế trong kỳ tính thuế, giúp họ đảm bảo thực hiện thống nhất và tránh được tình trạng tiêu cực khi xác định chi phí được trừ với cơ quan thuế
Thứ tư, khái niệm về chi phí được trừ và chi phí thực tế sẽ được kéo lại gần hơn khi doanh nghiệp sử dụng các loại hóa đơn chứng từ hợp lệ nhằm hợp pháp hóa chi phí thực tế thành chi phí được trừ để được phép trừ những chi phí đó khi quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp Hơn nữa, với việc sử dụng hóa đơn chứng từ mỗi khi mua bán, cung ứng dịch vụ, thu tiền…doanh nghiệp sẽ dần dần hoàn thiện sổ sách kế toán trong kinh doanh và dễ dàng hơn khi thực hiện kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp giúp việc quản lý và thu thuế trở nên hiệu quả hơn Bên cạnh đó, khi kết hợp điều kiện chi phí được trừ phải có đủ hóa đơn chứng từ theo quy định với những quy định về chế độ hóa đơn của các doanh nghiệp đã phần nào giúp hạn chế và giảm bớt được phần nào thiệt hại cho doanh nghiệp khi những khoản chi thực tế của doanh nghiệp trong việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận (đặc biệt là trong trường hợp thực tiễn phải có hàng hóa dịch
vụ thì mới có doanh thu kinh doanh) nhưng lại không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp nên không được chấp nhận là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Tuy nhiên, đâu đó vẫn còn tồn tại tình trạng doanh nghiệp kê khai rất nhiều chi phí được coi là có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, kể cả những chi phí không có
23
Góp ý của Ông Nguyễn Đức Nghĩa -
http://www.vibonline.com.vn/viVN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=3915 [truy cập ngày 14-03-2011]
Trang 40thật như những khoản chi khống hàng hóa mua được các doanh nghiệp mua hóa đơn chứng từ để hợp pháp hóa, đặc biệt trong các công trình xây dựng cơ bản, bù đắp các khoản chi phí như giao dịch, tiếp khách không có hoá đơn,…để có đủ hóa đơn chứng
từ đáp ứng yêu cầu pháp luật, doanh nghiệp tìm đủ mọi cách để sưu tầm hóa đơn Có thể xảy ra trường hợp doanh nghiệp khuyến khích nhân viên mua hàng cho gia đình lấy hóa đơn cho công ty, đi liên hoan xin hóa đơn về hợp pháp hóa khoản chi không có chứng từ, mua hóa đơn trả thêm 10% của doanh nghiệp khác Đây là một sự xuống cấp về đạo đức kinh doanh mà luật pháp có một phần trách nhiệm Trong khi đó, người nhận hỗ trợ cũng phải khấu trừ 10% thuế VAT để mua hóa đơn Một thực tế nữa
là, rất nhiều doanh nghiệp không xuất hóa đơn khi cung cấp hàng hóa dịch vụ Ví dụ, các nhà hàng thường hỏi khách có lấy hóa đơn hay không? Nếu lấy hóa đơn thì phải trả thêm 10% thuế Như vậy cho thấy các doanh nghiệp này thường xuyên che dấu doanh thu và trốn thuế
2.2.2 Các khoản chi phí không được trừ
2.2.2.1 Áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2010
Theo quy định của các văn bản thuế thu nhập doanh nghiệp từ trước đến nay, các loại chi phí không được trừ đều được quy định cụ thể trong một điều luật nhất định Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành cũng vậy Mặc dù đã thay đổi cách thức quy định đối với các khoản chi phí được trừ, nhưng các khoản chi phí không được trừ vẫn được liệt kê cụ thể tại khoản 2 điều 9 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Đồng thời, Luật thuế hiện hành còn mở rộng thêm một số khoản chi phí không được trừ so với các Luật thuế trước đó để đảm bảo sự phù hợp với cơ chế thị trường hiện tại Như vậy, các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế là các khoản chi không đáp ứng các điều kiện để được trừ và các khoản chi nêu tại Khoản 2 mục
IV Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC
Các khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong Luật thuế hiện hành đã được quy định cụ thể từng trường hợp trong Thông tư 130/2008/TT-BTC (Thông tư 130) hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Theo đó, Tổng cục thuế đã sử dụng những quy định trong Thông tư trên để ban hành các công văn hướng dẫn việc thực hiện quyết toán thuế năm 2010 Cụ thể các khoản chi không được trừ bao gồm các khoản sau: