1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại NGHIÊN cứu về đối TƯỢNG CHỊU THUẾ THU NHẬP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

58 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 743,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, đối tượng chịu thuế của luật thuế TNDN là thu nhập chịu thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được quy định cụ thể trong luật thuế TNDN 2003 và đối tượng chịu thu

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

PHAN ĐĂNG HỬU

MSSV: 5044173

LỚP: LK 0463A1

TS LÊ THỊ NGUYỆT CHÂU

Cần Thơ, 05/2008

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày……tháng……năm………

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày……tháng……năm………

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4 U

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Phạm vi nghiên cứu: 5

3 Mục tiêu nghiên cứu: 5

4 Phương pháp nghiên cứu: 5

5 Bố cục luận văn: 5

CHƯƠNG I 6

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT THUẾ THU NHẬP 6

I KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP: 6

1 Khái niệm về luật thuế thu nhập doanh nghiệp 6

2 Lược sử sự phát triển của luật thuế TNDN 7

3 Đối tượng nộp thuế TNDN 8

4 Đối tượng chịu thuế TNDN 9

II NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN: 10

1 Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân 12

2 Vì sao phải ban hành luật thuế thu nhập cá nhân 2007 ? 12

3 Nội dung cơ bản của luật thuế TNCN 2007 14

CHƯƠNG II 20

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ THU NHẬP 20

I ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ THEO LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 2003 .20

1 Thu nhập chịu thuế 20

2 Doanh thu tính thuế là gì? 20

3 Những mặt tích cực, hạn chế và hướng hoàn thiện về đối tượng chịu thuế TNDN theo Pháp luật Việt Nam: 35

II ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 2007: 39

1 Đối tượng chịu thuế là các khoản thu nhập từ kinh doanh: 39

2 Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công: 40

3 Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn: 41

4 Thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản: 43

5 Thu nhập chịu thuế từ tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ: 45

6 Thu nhập chịu thuế từ việc trúng thưởng xổ số, trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại, trò chơi có thưởng và nhận thừa kế, quà tặng: 46

7 Xu hướng phát triển luật thuế TNCN 2007 49

III KẾT LUẬN TỔNG QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ THU NHẬP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM: 52

1 Có thể diễn ra tình trạng thuế chồng thuế: 53

3 Những vấn đề cần làm để tăng cường công tác quản lý và thu thuế hiện nay: 53

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở bất kỳ quốc gia nào hệ thống pháp luật về thuế giúp cho Nhà nước thu được nhiều tiền cho ngân sách, điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân, mọi doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng chịu thuế, nộp thuế, đều có thể thực hiện được quyền của mình Tuy hệ thống pháp luật thuế của nước ta đang trong giai đoạn hoàn thiện, nhưng nhìn chung Nhà nước luôn cố gắng bắt kịp sự phát triển của thời đại để đưa ra những chính sách thuế mới và phù hợp hơn nhu cầu đòi hỏi của thời đại Bên cạnh những sắc thuế truyền thống như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thì thuế thu nhập cũng có ý nghĩa rất quan trọng cho nền kinh tế trong thời điểm này

Thuế thu nhập có thể được hiểu là: “loại thuế đánh vào tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh có thu nhập, nhằm phát huy khả năng quản lý của Nhà nước, để thực hiện công bằng xã hội và thu ngân sách cho Nhà nước” Thuế thu nhập được phân thành 2 loại là thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN), với những đối tượng chịu thuế đặc trưng cho mỗi loại thuế Việc phân định rõ ràng không chồng chéo giữa đối tượng chịu thuế theo các luật thuế, thể hiện được sự chuẩn bị chu đáo của nước ta khi bước vào thời kỳ hội nhập

Đối tượng chịu thuế thu nhập: là những khoản thu nhập mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho nhà nước khi thỏa những điều kiện theo luật định

Trong đó, đối tượng chịu thuế của luật thuế TNDN là thu nhập chịu thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được quy định cụ thể trong luật thuế TNDN 2003 và đối tượng chịu thuế của luật thuế TNCN là các thu nhập từ các hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh, mua bán chứng khoán, tiền lương, tiền công… của những cá nhân riêng lẻ và thu nhập của họ đạt mức phải chịu thuế Đây

là đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế TNCN 2007

Hiện nay nguồn thu từ thuế TNDN vào nguồn thu cho ngân sách Nhà nước chiếm tỉ lệ khá lớn Thuế thu nhập cá nhân tuy chiếm tỉ lệ thu không lớn, nhưng đây là loại thuế tiềm năng, vì hiện nay nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh, nguồn lao động chất lượng cao trong và ngoài nước đang chiếm tỉ trọng lớn trong các doanh nghiệp, ngoài ra, còn có các đối tượng chịu thuế tiềm năng như: thu nhập từ đầu tư mua bán chứng khoán, gởi tiền ngân hàng, tiền từ chuyển quyền sử

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

dụng đất….1 Về lâu dài thì nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân sẽ tăng lên đáng kể

và đây sẽ là nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước trong những năm tiếp theo

Đối tượng chịu thuế của luật thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân sẽ là đối tượng nghiên cứu của đề tài và sẽ được nói rõ hơn trong phần nội dung

2 Phạm vi nghiên cứu:

Tìm hiểu về đối tượng chịu thuế thu nhập là một vấn đề được nhiều người quan tâm trong thời gian gần đây, vì với những luật thuế thu nhập mới thì tất cả mọi người đều muốn biết xem những khoản thu nhập nào của mình phải chịu thuế thu nhập Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu về đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập trong luật thuế TNDN năm 2003 và luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Việc tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này nhằm đem đến một sự nhìn nhận toàn diện về đối tượng chịu thuế theo luật thuế thu nhập Qua đó, thấy được những những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế của hai luật thuế này Từ đây, người viết mong đóng góp những ý kiến nhỏ bé của mình để nhằm hoàn thiện về đối tượng chịu thuế theo các luật thuế thu nhập của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, phương pháp diễn dịch, phương pháp so sánh đối chiếu…

để tìm ra những điểm hợp lý và những điểm chưa phù hợp của từng quy định của Pháp luật, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện dần về đối tượng chịu

thuế thu nhập theo Pháp luật Việt Nam

5 Bố cục luận văn:

Ngoài phần mở đầu thì luận văn được chia thành 2 chương và phần kết luận với những nội dung sau:

™ Chương 1: Khái quát về chung về luật thuế thu nhập:

Trình bày khái quát về sự hình thành luật thuế thu nhập ở Việt Nam Sự hình thành và phát triển của luật thuế TNDN và luật thuế thu nhập cá nhân

™ Chương 2: Nội dung của đối tượng chịu thuế thu nhập theo Pháp luật Việt Nam, mặt tích cực và những hạn chế, biện pháp và hoàn thiện

™ Phần kết luận

1 Nguồn: Can Developing Countries impose an Individual Income Tax,j Alm and S.Wallace

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT THUẾ THU NHẬP

****

Thuế thu nhập là loại thuế dùng để điều tiết thu nhập của những chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư hay những chủ thể có thu nhập từ các hoạt động làm việc hưởng lương mà khoản thu nhập nhận được nằm trong khung phải chịu thuế theo quy định của luật Khi nói đến thuế thu nhập thì ta nghĩ đến hai sắc thuế, đó là thuế TNDN và thuế TNCN Tuy đây là hai loại thuế có đối tượng nộp thuế không giống nhau, nhưng nó lại có đối tượng chịu thuế là những khoản thu nhập tương đối giống nhau Cả thuế TNDN và TNCN đều quy định đối tượng chịu thuế là các khoản thu nhập từ các hoạt động như: sản xuất, kinh doanh, các khoản tiền đầu tư,

và các hoạt động thương mại khác (chuyển giao công nghệ, nhượng quyền thương mại) và một số hoạt động có phát sinh thu nhập chịu thuế khác Mỗi luật thuế có một

ưu thế riêng và đặc trưng riêng của mình, nhưng mục đích cuối cùng của nó là đem lại

sự hoàn thiện cho pháp luật thuế nước ta, đảm bảo cho sự công bằng và bình đẳng giữa các chủ thể trong xã hội

I KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP:

1 Khái niệm về luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào ngân sách nhà nước

Các loại hình Doanh nghiệp ở Việt Nam đang ngày càng đa dạng và phát triển

do chuyển hướng của nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường, bắt đầu từ thời kỳ Nhà nước xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp của những năm giữa thập kỷ 80 Đặc biệt các mô hình kinh doanh hiện đại và các loại hình công ty ngày càng phát triển mạnh mẽ từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và cam kết mở cửa thị trường Việc nộp

và hạch toán thuế TNDN là một vấn đề rất được quan tâm từ phía các Doanh nghiệp

và cả Chính phủ bởi vì nộp Thuế TNDN là một nghĩa vụ của hầu hết các loại hình doanh nghiệp cả trong và ngoài nước đang hoạt động tại Việt Nam, và thuế TNDN là một nguồn thu ngân sách chính của nhà nước

Theo những quy định chung của Luật TNDN 2003 thì mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập đều phải nộp thuế TNDN trừ một số đối tượng như hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản

Luật thuế TNDN do Quốc hội ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực ngày 1/1/2004 gồm 32 điều được chia thành 8 chương quy định cụ thể chi tiết

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

những đối tượng thuộc diện chịu thuế TNDN; căn cứ tính thuế và thuế suất; kê khai và nộp thuế; miễn, giảm, hoàn thuế; khen thưởng, xử lý vi phạm; khiếu nại và thời hiệu;

tổ chức thực hiện; và điều khoản thi hành

2 Lược sử sự phát triển của luật thuế TNDN

Luật thuế TNDN được Quốc Hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 từ ngày 02/04 đến ngày 10/5/1997 thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999 (sau đây gọi tắt là luật thuế TNDN 1997) Được ban hành để thay thế cho luật thuế lợi tức trước đó Luật thuế TNDN đã có những tiến bộ đáng ghi nhận Cụ thể:

- Bao quát được các khoản thu nhập phát sinh trong doanh nghiệp phù hợp với kinh tế thị trường;

- Thống nhất một mức thuế suất, bảo đảm sự công bằng trong chính sách thuế;

- Hình thành một cơ chế nhất quán trong việc ưu đãi qua luật thuế TNDN phục

vụ công cuộc đổi mới trong nền kinh tế quốc dân;

- Đảm bảo sự đồng bộ với việc áp dụng thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt

Luật thuế TNDN 1997 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999 đã góp phần đáng

kể vào việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tăng thu cho ngân sách Nhà nước

Nhưng do nhu cầu thực tế của của quá trình thay đổi của nền kinh tế và để phù hợp với xu hướng phát triển trong thời kỳ hội nhập, thì sự thay đổi của ngành thuế là đều bắt buộc Luật thuế thu nhập TNDN 1997 không còn phù hợp trong xu hướng phát triển mới nên nhu cầu đặt ra là cần có luật thuế mới để thay thế, xuất phát từ những lý

do sau:

- Nhằm để giảm mức điều tiết qua thuế trực thu bằng cách hạ thuế suất thuế TNDN để kích thích đầu tư, sản xuất, kinh doanh nhằm nuôi dưỡng nguồn thu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

- Từng bước thu hẹp để tiến tới xóa bỏ sự phân biệt trong chính sách thuế TNDN các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Tạo ra sự thống nhất, đồng bộ giữa luật thuế TNDN với Luật thuế khuyến khích đầu tư nước ngoài;

- Cải cách thủ tục hành chính trong thủ tục kê khai, nộp thuế tăng cường trách nhiệm của đối tượng nộp thuế

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày 17/6/2003, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XI đã thông qua luật thuế TNDN (sửa đổi) với những bổ sung, sửa đổi cơ bản (sau đây gọi tắt là Luật thuế TNDN 2003)

3 Đối tượng nộp thuế TNDN

Theo quy định tại Điều 1 Luật thuế TNDN 2003 thì: Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (dưới đây gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập đều phải nộp thuế TNDN Những cơ sở sản xuất, kinh doanh gồm có:

1 Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp danh; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; doanh nghiệp tư nhân; hợp tác xã; tổ hợp tác; tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ

2 Cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bao gồm: hộ cá thể và nhóm kinh doanh; hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp; cá nhân kinh doanh; cá nhân hành nghề độc lập; cá nhân có tài sản cho thuê; cá nhân nước ngoài kinh doanh có thu nhập phát sinh tại Việt Nam

3 Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài ở Việt Nam là cơ sở kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty nước ngoài tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:

a) Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu hoặc khí đốt hoặc bất cứ địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên nào ở Việt Nam;

b) Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;

c) Cơ sở cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công cho mình hay một đối tượng khác;

d) Đại lý cho công ty nước ngoài;

đ) Đại diện ở Việt Nam trong các trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trong trường hợp hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của hiệp định đó2

4 Đối tượng chịu thuế TNDN

Theo luật thuế TNDN 2003, quy định về đối tượng chịu thuế như sau:

“Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác, kể cả thu nhập thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ở nước ngoài.”

Thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp là các khoản thu nhập xuất phát từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ ngoài ra thì thu nhập còn xuất phát từ những thu nhập từ nhiều nguồn như: thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ các hoạt động đầu tư, hợp tác kinh doanh trong và ngoài nước, thu nhập từ: mua bán chênh lệch chứng khoán, buôn bán bất động sản, đầu tư vốn, các thu nhập liên quan đến tài sản của doanh nghiệp…Đây là những khoản thu nhập mà doanh nghiệp đạt được khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh và những khoản thu nhập này là những khoản thu lớn,

có tính ổn định

Nhìn qua đối tượng chịu thuế thu nhập theo Luật thuế TNDN 2003, ta thấy rằng Luật thuế đã bao quát được những đối tượng chịu thuế, trên nguyên tắc là những thu nhập hình thành trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà những thu nhập này phát sinh tại Việt Nam thì phải nộp thuế TNDN theo pháp luật Việt Nam, bất kể tổ chức, hay cá thể kinh doanh là trong nước hay ngoài nước Điều này thể hiện sự công bằng và bình đẳng giữa những đối tượng kinh doanh với nhau

Ngoài ra, những khoản thu nhập mới hình thành ở nước ta những năm gần đây như thu nhập trong kinh doanh chứng khoán Đây là loại hình kinh doanh khá mới mẽ

ở thị trường Việt Nam, nhưng chứa đựng rất nhiều tiềm năng và đang thu hút được sự quan tâm của rất nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước tìm kiếm cơ hội kinh doanh Vì vậy, nguồn thu từ hoạt động kinh doanh này là rất lớn, và sẽ còn phát triển mạnh trong thời gian tới Cho nên, Nhà nước ta phải hoàn thiện chính sách thuế đối với loại hình thu nhập này

Luật thuế TNDN đã đơn giản hơn, dễ thực hiện so với các luật thuế cùng loại trước đây Với mức thuế chung đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh biết rõ rằng những khoản thu nhập nào của đơn vị mình phải là đối tượng chịu thuế và phải chịu mức thuế suất là bao nhiêu

2 luật thuế TNDN 2003: Điều 1, điều 6

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thuế TNDN là loại thuế trực thu, ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hòa thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước Với một chính sách thuế bình đẳng với mọi đối tượng có thu nhập chịu thuế thì khuyến khích cho các đối tượng này tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của mình để thu được nhiều lợi nhuận và tạo ra nhiều thu nhập, từ đó Nhà nước có thể thu được nhiều thuế hơn

Theo Luật thuế TNDN 2003, thì bên cạnh những đối tượng phải chịu thuế là những đối tượng có thu nhập nằm trong định mức phải chịu thuế, thì vẫn có những đối tượng kinh doanh có thu nhập nhưng chưa phải là đối tượng nộp thuế Đó là những đối tượng đang có thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản không thuộc diện nộp thuế TNDN, trừ hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao theo quy định của Chính phủ Với chính sách này là hợp lý, vì những thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp không lớn, nếu bắt buộc các đối tượng này phải nộp thuế thì khoản thu cho ngân sách nhà nước không nhiều và chi phí bỏ ra cho hoạt động thu có thể nhiều hơn khoản thu vào Chính vì vậy, mà những hoạt động sản xuất xuất phát từ hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp chưa phải là đối tượng chịu thuế theo luật thuế TNDN 2003 Trước đây, nghị định số 30/1998/ND-CP ngày 13/5/1998 của Chính Phủ quy định chi tiết Luật thuế TNDN 1997 có quy định rõ về sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao: giá trị hàng hóa trên 90 triệu đồng/năm và có thu nhập trên 36 triệu đồng/năm thì nộp thuế TNDN cho phần thu nhập trên 36 triệu đồng3

Còn ở thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/ND-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNDN 2003 thì quy định : “Tạm thời chưa thu thuế TNDN đối với hộ gia đình và cá nhân nông dân sản suất hàng hóa lớn, có thu nhập cao từ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho đến khi có quy định của chính phủ”

NHÂN:

Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu (đánh lên thu nhập) bao giờ cũng công bằng hơn thuế gián thu (đánh lên tiêu dùng) Lý do đơn giản là với sắc thuế này, người có thu nhập cao phải đóng thuế với tỉ lệ cao hơn người có thu nhập thấp

3 Điểm e khoản 2 đièu 1 Nghị định 30/1998/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế TNDN

1997

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ở các nước tiên tiến, tỉ lệ thuế thu nhập cá nhân thường chiếm từ 30% đến 50% tổng thu ngân sách của chính phủ

Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam (hiện tại được điều chỉnh bởi là pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao) đã được áp dụng từ năm 1991 Tuy nhiên, trong suốt 16 năm, loại thuế này vẫn chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng thu của ngân sách của Nhà nước Ở nước ta, theo số liệu quyết toán ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2004, số thu từ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao chỉ chiếm khoảng 1,8% tổng thu NSNN4; năm 2005, nếu tính cả thuế TNDN của hộ cá thể và thuế chuyển quyền sử dụng đất thì chiếm 4,1% tổng thu NSNN từ thuế, phí và lệ phí, tương đương 1,1% GDP5

Mười năm gần đây, trong kinh tế thị trường, theo số liệu điều tra, khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp có xu hướng ngày càng tăng, từ 3,7 lần năm 1993 tăng lên 13,5 lần năm 2004 Trong 16 năm qua, ngưỡng bắt đầu chịu thuế áp dụng cho người Việt Nam đã được điều chỉnh 5 lần (chưa tính những lần Chính phủ đề xuất nhưng không được Quốc hội thông qua), ngưỡng này tăng dần từ 500 ngàn đồng/tháng (áp dụng từ năm 1991) đến 5 triệu đồng/tháng (áp dụng từ năm 2004)

Đồng thời, thuế suất tối đa áp dụng cho người Việt Nam cũng giảm dần từ mức 80% xuống 72%, rồi 65%, rồi 40%, để còn lại mức 35% như trong luật thuế TNCN

Để điều tiết hợp lý thu nhập, hạn chế sự chênh lệch quá lớn giữa các tầng lớp dân

cư, góp phần giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, tăng cường công tác kiểm soát thu nhập, hoàn thiện hệ thống chính sách thuế đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

và hội nhập kinh tế quốc tế, khắc phục những bất cập của chính sách thuế TNDN, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành; tạo điều kiện để mọi công dân thể hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, từng bước làm quen với cách thức quản lý kinh tế tiên tiến Nên việc ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 là điều cần thiết Tuy nhiên, đối với nước ta, đây là vấn đề mới, có phạm vi điều chỉnh rộng,

vì tuyệt đại bộ phận người dân có thu nhập thấp, sử dụng tiền mặt trong xã hội còn chiếm tỷ trọng lớn và còn những đặc điểm khác với nhiều nước; do vậy, việc xây dựng

và áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân lần này được xem là bước tập dượt, nên cần có bước đi phù hợp, tạo điều kiện cho mọi công dân có cơ hội làm quen dần với loại thuế này

4 NSNN: ngân sách nhà nước

5 GDP: thu nhập quốc dân

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thuế TNCN là loại thuế có tác động rộng lớn đến xã hội.Vì vậy khi nói đến thuế thu nhập cá nhân ta cần đề cập đến những vấn đề sau:

1 Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân, nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách Nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tư, tiền lương, tiền công, và các khoản thu nhập khác…

Từ khái niệm trên, ta thấy là thuế TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của từng cá nhân, đây là đặc điểm khác với thuế TNDN là loại thuế đánh vào thu nhập

từ các hoạt động sản xuất của cả doanh nghiệp và nó ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều người, còn thuế TNCN là loại thuế đánh vào từng cá nhân, vào đúng quyền lợi của một đối tượng cụ thể, vì vậy, tầm ảnh hưởng của loại thuế này là rất lớn và sự tác động của nó là rất cụ thể Trong một quốc gia, số lượng cá nhân bao giờ cũng lớn hơn

số lượng doanh nghiệp, do đó mà luật thuế TNCN được ban hành phải đáp ứng và bảo

vệ lợi ích chính đáng của những cá nhân có thu nhập phải chịu thuế

2 Vì sao phải ban hành luật thuế thu nhập cá nhân 2007 ?

Pháp lệnh Thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao số 14/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004 đã và đang đi vào cuộc sống và làm tăng nguồn thu cho NSNN trong việc điều tiết thu nhập của một bộ phận người có thu nhập cao Tuy nhiên, những phức tạp cũng như vướng mắc ban đầu khi thực hiện Pháp lệnh này đã nảy sinh

Tại điều 3, Nghị định 147/2004/NĐ-CP (nêu trên) qui định: Tạm thời chưa thu thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập về lãi suất tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi mua tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu; thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán, chênh lệch mua bán chứng khoán

Qui định trên có thể hiểu: đây là các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân nhưng hiện tại do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chưa quản lý thu Tuy nhiên, khoản thu nhập về cổ tức là khoản thu nhập đã chịu thuế TNDN bởi khoản thu nhập này được phân phối từ lợi nhuận của doanh nghiệp Sau thuế và vì vậy, về nguyên tắc

nó nên được xếp vào nhóm không chịu thuế thu nhập cá nhân thì mới đảm bảo tính công bằng Mặt khác, việc chưa đánh thuế cũng khuyến khích phát triển thị trường chứng khoán, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, và đảm bảo cho thị trường phát triển bền vững và ổn định lâu dài

™ Về việc trừ phần trăm thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp đặc thù:

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Tại điều 6, Nghị định 147 về thuế thu nhập cá nhân qui định: " Riêng đối với

ca sĩ, nghệ sĩ xiếc, múa, cầu thủ bóng đá, vận động viên chuyên nghiệp được trừ 25% thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế;" Có thể hiểu qui định này là: việc trừ 25% thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế nhằm tạo thuận lợi cho duy trì nghề nghiệp bình thường của họ (như để có một khoản bảo hiểm thân thể đối với các tài năng chẳng hạn.v.v Tuy nhiên trên thực tế, cũng có những vướng mắc khác nhau, cả trong thực hiện qui định này cũng như trong nghiên cứu chính sách thuế, nên nó không còn hợp lý bởi những lý do sau:

Thứ nhất, Những đối tượng thuộc diện được trừ 25% thu nhập chịu thuế nêu trên thực tế có thu nhập cao hơn hẳn so với mặt bằng mức sống bình thường trong xã hội (chẳng hạn, so với lương tối thiểu của công chức Nhà nước hiện tại), thuế thu nhập

cá nhân chỉ là một phần không lớn trong tổng số thu nhập đó Vì vậy, nếu không trừ 25% thu nhập thì số thuế thu nhập cá nhân phải nộp cũng không ảnh hưởng lớn đến thu nhập còn lại của các đối tượng này

Thứ hai, nếu xét về tính công bằng trong cách tính thuế thu nhập cá nhân thì việc cho áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần nói chung để tính thuế thu nhập cá nhân đã bao hàm yếu tố này Có thể thấy, biểu suất thuế thu nhập cá nhân tăng dần theo thu nhập chịu thuế và như vậy cũng có nghĩa là thu nhập càng cao thì phải điều tiết nộp thuế thu nhập càng nhiều

Thứ ba, việc phân định rạch ròi các đối tượng được trừ 25% thu nhập chịu thuế theo qui định nêu trên là rất khó Chẳng hạn, có những ca sĩ vừa tham gia biểu diễn, vừa sáng tác nhạc và ngược lại thì việc tính thuế thu nhập cá nhân với họ như thế nào cho chính xác Hoặc: xác định tiêu chuẩn như thế nào để được coi là vận động viên chuyên nghiệp? v.v Đó là chưa kể việc theo dõi, quản lý quá trình hoạt động của những đối tượng này để áp dụng tính thuế chính xác theo qui định là vô cùng khó, bởi

vì trong nền kinh tế thị trường, việc các cá nhân thay đổi việc làm là điều hết sức bình thường

Thứ tư, nếu bỏ qui định trừ 25% thu nhập cho một số đối tượng đặc thù nêu trên

sẽ tạo cho các qui định của Pháp luật thống nhất, đơn giản, dễ thực hiện hơn nhất là việc tiếp cận chính sách thuế đối với người nước ngoài, qui định như vậy cũng sẽ giảm bớt thủ tục về tính thuế thu nhập cá nhân, đồng thời phù hợp với hướng xây dựng chính sách thuế hiện đại, tách dần chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế

™ Về biện pháp thực hiện, gần đây, chúng ta nói rất nhiều về cách quản lý thu thuế, bằng nhiều cách như: kết hợp với các cơ quan chủ quản, tuyên truyền rộng rãi chính sách thuế đến đông đảo các tầng lớp trong xã hội cũng như đến các đối tượng

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thuộc diện nộp thuế, cố gắng đơn giản thủ tục kê khai v.v Tuy nhiên, với tính chất đặc thù cũng như đặc điểm vô cùng nhạy cảm của nó; nếu chỉ bằng các cách truyền thống và phạm vi chỉ ở phần cơ bản như vậy, khó mà chúng ta có thể quản lý triệt để khoản thuế mà càng ngày tăng cùng với sự phát triển chung của xã hội

Ở khía cạnh khác, nhiều ý kiến trên thực tế cho rằng việc khấu trừ 10% để nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập phát sinh từ 500.000 đồng/lần trở lên như qui định hiện hành chỉ là giải pháp tình thế, một cách quản lý tức thời, nhằm đảm bảo thu thuế thu nhập cá nhân kịp thời vào NSNN; còn nếu nhìn nhận ở giác độ toàn diện thì nó thiếu hẳn tính thống nhất, thậm chí thiếu khoa học Đấy là chưa kể vấn đề giải quyết sao cho hợp lý việc thoái trả thuế thu nhâp cá nhân mà nếu có một cách nắm bắt chính xác thu nhập (năm) thì rõ ràng phức tạp nêu trên đã được hạn chế

Chính vì vậy, về mặt lâu dài, ta cần phải có một luật thuế thu nhập cá nhân hoàn chỉnh hơn

3 Nội dung cơ bản của luật thuế TNCN 2007

Luật Thuế thu nhập cá nhân đã được QH khóa XII, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 21-11-2007 và Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 13/2007/L-CTN ngày 5-12-

2007 Luật Thuế thu nhập cá nhân gồm bốn chương, 35 điều quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân

Theo quy định của Luật, đối tượng nộp thuế là mọi cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam

Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định 10 loại thu nhập chịu thuế, trong đó đã loại trừ các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế chủ yếu là các khoản trợ cấp, các khoản phụ cấp mang tính chất ưu đãi, khuyến khích của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách xã hội; các khoản thu nhập mang tính chất bồi thường đền bù; các khoản thu nhập mang tính chất từ thiện nhân đạo

Theo đó, Luật quy định thu nhập chịu thuế gồm: Thu nhập từ kinh doanh; Thu nhập từ tiền lương, tiền công; Thu nhập từ đầu tư vốn; Thu nhập từ chuyển nhượng vốn; Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; Thu nhập từ trúng thưởng; Thu nhập

từ bản quyền; Thu nhập từ nhượng quyền thương mại; Thu nhập từ thừa kế; Thu nhập

từ quà tặng

Cơ sở tính thuế là thu nhập, song có nhiều cách xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế của hộ kinh doanh cá thể, thì được xác định theo khoản thu nhập mà họ đạt được từ các hoạt động kinh doanh phát sinh thu nhập trong tháng, và khoản thu

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nhập này nằm trong định mức phải chịu thuế TNCN Còn đối với các cá nhân có thu nhập phát sinh từ làm việc ăn lương thì cơ sở tính thuế là thu nhập mà doanh nghiệp trả lương cho người lao động và khoản thu nhập từ tiền luơng này nằm trong mức thu nhập phải chịu thuế Còn đối với các khoản thu nhập khác như thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ lợi tức cổ phiếu, trái phiếu thì cơ sở tính thuế là thu nhập thu được từ các hoạt động này

Khác với pháp lệnh về thuế thu nhập dành cho người có thu nhập cao 2004, theo

đó tạm thời chưa thu thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập về: thu nhập từ đầu tư vốn bao gồm lãi cho vay, lãi trái phiếu, lợi tức cổ phần, lợi tức từ các hình thức góp vốn khác, thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn Nhưng theo quy định của luật thuế TNCN 2007 thì những khoản thu nhập này đều phải nộp thuế

Bên cạnh quy định về đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế và không chịu thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân cũng quy định cụ thể về các khoản thu nhập miễn thuế và các trường hợp được giảm thuế thu nhập cá nhân Thu nhập được miễn thuế gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ

vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau

Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất

Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất

Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ,

mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau

Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường

Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất

Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Thu nhập từ kiều hối

Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của Pháp luật

Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thu nhập từ học bổng, bao gồm:

- Học bổng nhận được từ ngân sách Nhà nước;

- Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó

Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của Pháp luật

Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận

Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Ðối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp

Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh được giảm trừ vào thu nhập trước khi xác định thu nhập tính thuế các khoản sau đây: khoản giảm trừ gia cảnh; khoản giảm trừ cho việc đóng góp từ thiện, nhân đạo; Các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc

Khoản giảm trừ gia cảnh là một trong những nội dung quan trọng của Luật Thuế thu nhập cá nhân, quy định cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh sẽ được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế khoản giảm trừ gia cảnh cho bản thân và cho những người phụ thuộc phải nuôi dưỡng Cụ thể như sau: mức giảm trừ cho đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng; mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng

Cũng theo quy định về giảm trừ gia cảnh, người được xác định là người phụ thuộc của đối tượng nộp thuế là: Con chưa thành niên, con bị tàn tật hoặc không có khả năng lao động, con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa

mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2009 Khi Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực thì các văn bản sau đây sẽ bị bãi bỏ hoặc bị sữa đổi: Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao số 35/2001/PL-UBTVQH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11; Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất ban hành ngày 22-6-1994 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 17/1999/QH10; Quy định về thuế TNDN đối với cá nhân sản xuất, kinh doanh không bao gồm doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Thuế TNDN số 09/2003/QH11; Các quy định khác về thuế đối với thu nhập của cá nhân trái với quy định của Luật này

Ðối với những khoản thu nhập của cá nhân được ưu đãi về thuế quy định tại các văn bản quy phạm Pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được hưởng ưu đãi

Nhìn vào đối tượng chịu thuế của luật thuế TNCN 2007 ta thấy, nó đã có sự đổi khác so với các pháp lệnh về thu nhập cá nhân trước đó, đối tượng chịu thuế đã được

mở rộng và hoàn chỉnh hơn Những khoản thu nhập của người dân mà các pháp lệnh

về thuế thu nhập cá nhân trước kia chưa thể điều chỉnh được, hoặc do nhu cầu cần phát triển và khuyến khích những đối tượng đó nên Nhà nước chưa điều chỉnh, những thu nhập như: thu nhập của cá nhân từ giá chênh lệch cổ phiếu, tiền mua bán chứng khoán, thu nhập từ đầu tư vốn bao gồm lãi cho vay, lãi trái phiếu, lợi tức cổ phần Nhưng theo luật thuế TNCN 2007, thì những thu nhập từ các hoạt động này đều là đối tượng phải chịu thế theo luật thuế thu nhập cá nhân 2007 Nguyên nhân tất yếu của việc thay đổi này là do, sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong thời gian gần đây, thị trường chứng khoán sau một thời gian cần sự thích nghi, thì hiện nay đã phát triển khá ổn định đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư vào thị trường này

Mua bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường đem lại khoản thu nhập rất lớn cho nhà đầu tư họ đã không phải chịu thuế TNDN mà phải chịu thuế thu nhập cá nhân, vì lợi tức từ kinh doanh của hoạt động này là rất lớn, và kinh doanh, mua bán trên thị trường chứng khoán là nghành đang thu hút được một lượng rất lớn nhà đầu tư và hiện nay kinh doanh, mua bán chứng khoán đã trở thành một nghề thu được lợi nhuận Vì vậy, để quản lý được thị trường còn khá mới này và để bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu

tư, và góp phần thu được nguồn ngân sách từ hoạt động kinh doanh này, và sau những khoảng thời gian ưu đãi Tức là chưa đánh thuế từ mua bán chứng khoán của những nhà đầu tư, thì luật thuế TNCN 2007, đã đưa thu nhập từ hoạt động kinh doanh vào đối tượng phải chịu thuế Đây cũng là điều tất yếu, vì để điều tiết thị trường, đem lại sự

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

bình đẳng và công bằng cho mọi người thì việc đánh thuế trên loại hình kinh doanh này là đều phải làm

Bên cạnh những đối tượng chịu thuế mới, thì ta thấy rằng vẫn còn những đối tượng thu nhập vẫn chưa phải chịu thuế thu nhập cá nhân, điển hình là thu nhập từ tiền lãi gửi ngân hàng, tiền lãi gửi tiết kiệm Đây là 2 loại hình thu nhập tuy hiện nay đang phổ biến nhưng do số lượng tiền gửi chưa lớn nên thu nhập từ loại đối tượng này chưa cao nên thu thuế là đều chưa khả thi nên đối tượng thu nhập này vẫn là đối tượng bỏ ngỏ, nhưng trong thời gian sắp tới có thể nó sẽ là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân

Tóm lại: Luật thuế TNDN và thuế TNCN là hai luật thuế quan trọng trong

chính sách thuế của nước ta, cả hai luật thuế này đều hướng đến sự hoàn hiện của hệ thống Pháp luật về thuế Vì vậy, khi đưa ra thực hiện sẽ đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và đem lại sự công bằng, bình đẳng cho tất cả mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế

Thuế TNDN là loại thuế đánh vào các khoản thu nhập, thu được từ các hoạt động kinh doanh, sản xuất, dịch vụ của các đơn vị, tổ chức, công ty, xí nghiệp, những

tổ chức hoạt động kinh doanh theo luật đầu tư 2005, và các công ty cổ phần, thu hút được nhiều đối tượng tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh và lợi nhuận thu được từ các hoạt động này lớn và ổn định Thuế TNDN đánh trực tiếp vào các đối tượng chịu thuế là thu nhập từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, mà đối tượng nộp thuế của nó không phải là đánh vào một cá nhân cụ thể mà là đánh vào đối tượng đại diện cho một tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh

Luật thuế này đã khắc phục được những mặt còn thiếu sót và hạn chế của những văn bản Pháp luật về thuế TNDN trước kia, nó đang góp phần tạo ra những thuận lợi cho các nhà đầu tư như là: thuế suất giảm, đối tượng chịu thuế thì rõ ràng, minh bạch, các chế độ ưu đãi và khuyến khích không ngừng được nâng lên Với những đổi mới đó thì luật thuế TNDN 2003 đã phát huy hiệu quả và trở thành công cụ quan trọng trong chính sách kinh tế của nước ta Tuy nhiên bên cạnh đó thì luật thuế vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế, cần phải khắc phục, và theo xu hướng chung của nước

ta thì luật thuế TNDN 2003 sẽ được sữa đổi, bổ sung trong thời gian tới để phù hợp với thực tế của sự phát triển kinh

Thuế TNCN là loại thuế đánh vào khoản thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể, các khoản tiền công, tiền lương, tiền thưởng

mà các cá nhân này nhận được trong quá trình lao động, ngoài ra còn các khoản thu nhập từ các hoạt động khác như: trúng thưởng, xổ số, đầu tư vốn, chuyển nhượng bất

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

động sản,… các khoản thu nhập này nằm trong diện thu nhập phải chịu thuế thu nhập

cá nhân theo quy định của luật

Thuế TNCN là loại thuế đã có từ lâu ở nước ta nhưng chưa có một luật thuế cụ thể để quy định mà nó chỉ được điều chỉnh bằng các pháp lệnh đánh thuế ở những đối tượng có thu nhập cao, vì vậy, mà các pháp lệnh này đã không thể đáp ứng được hết những đòi hỏi của thực tế, nên luật thuế TNCN 2007 ra đời để khắc phục những nhược điểm đó

Luật thuế TNCN 2007 tuy chưa chính thức có hiệu lực nhưng nhìn vào những quy định của nó thì ta thấy nó đã thể hiện được những điểm mới phù hợp với những yêu cầu của xã hội Vì mọi cá nhân, hộ kinh doanh, tổ chức, doanh nghiệp muốn biết được rằng phần thu nhập và khoản thu nhập nào phải chịu thuế TNDN, và những khoản thu nhập nào phải là đối tượng chịu thuế của luật thuế TNCN Xuất phát từ thực tiễn đó mà chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn về đối tượng phải chịu thuế thu nhập theo 2 luật thuế thu nhập này Và điều này sẽ được làm rõ hơn trong chương 2 của đề tài này

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG II NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỐI

TƯỢNG CHỊU THUẾ THU NHẬP

****

Việc nghiên cứu về đối tượng chịu thuế theo Pháp luật về thuế thu nhập là nhu cầu cần thiết trong quá trình phát triển của loại thuế này Thuế TNDN và thuế TNCN

là hai loại thuế chiếm vị trị rất quan trọng trong hệ thống Pháp luật thuế của nước ta

Để tìm hiểu rõ về luật thuế này ta cần nghiên cứu rõ về đối tượng chịu thuế của từng loại thuế:

DOANH NGHIỆP 2003

1 Thu nhập chịu thuế

Theo quy định của Pháp luật thuế hiện hành, thu nhập chịu thuế được xác định trong từng kỳ tính thuế Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính kỳ tính thuế đầu tiên đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập và kỳ tính thuế cuối cùng đối với cơ sở kinh doanh chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản, được xác định phù hợp với kỳ

kế toán theo quy định của Pháp luật về kế toán

Thu nhập chịu thuế được xác định bao gồm: khoản thu nhập từ hoạt động sản, xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác trong kỳ tính thuế, kể cả thu nhập

từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài

Thu nhập chịu thuế là một căn cứ quan trọng để tính thuế TNDN, được xác định trên cơ sở các khoản TNDN nhận được sau khi trừ đi các khoản chi phí để tạo ra thu nhập đó Thu nhập chịu thuế được xác định bằng công thức sau: Thu nhập chịu thuế = Doanh thu - Chi phí hợp lý + Thu nhập khác Vì vậy, để biết được thu nhập chịu thuế chúng ta phải biết được về doanh thu chịu thuế, các chi phí hợp lý là gì và các khoản thu nhập khác là những khoản thu nhập nào:

2 Doanh thu tính thuế là gì?

Doanh thu được hiểu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà cơ sở kinh doanh thu được trong kỳ tính thuế, phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu

Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và thu nhập chịu thuế khác, kể cả thu nhập chịu thuế từ

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài Ngoài đối tượng chịu thuế theo luật thuế TNDN 2003, còn có thu nhập chịu thuế của các hộ kinh doanh cá thể, nhưng đến 1-1-2009, thời điểm Luật thuế TNCN 2007 có hiệu lực, thì các hộ kinh doanh cá thể này sẽ chuyển sang đóng thuế TNCN mà không phải đóng thuế TNDN nữa

Thu nhập chịu thuế của đối tượng kinh doanh cá thể chủ yếu xuất phát từ hoạt động kinh doanh nhỏ, lẻ Nguồn thu xuất hiện từ các hoạt động kinh doanh tại nhà, những cơ sở sản xuất qui mô nhỏ, các nguồn thu nhập từ các hoạt động như mở văn phòng luật sư, phòng khám chữa bệnh của bác sỹ, những văn phòng của họa sỹ, kiến trúc sư, nhạc sỹ, và ngoài ra thì còn có nguồn thu từ các hoạt động như: cá nhân cho thuê tài sản, đất, các phương tiện vận tải, máy móc thì tất cả các nguồn thu từ các loại hình hoạt động kinh doanh này đều là đối tượng chịu thuế theo luật thuế TNDN 2003 Nhưng những nguồn thu nhập này là thu nhập từ hoạt động của một đối tượng kinh doanh cụ thể có quy mô là không lớn, nên việc phải chịu thuế theo loại hình TNDN là chưa hợp lý, nó phù hợp hơn với lọai hình đánh thuế TNCN Chính những nguyên nhân đó, và cũng để phù hợp hơn với xu hướng kinh tế mới mà luật thuế TNCN 2007,

đã quy định ngoài các đối tượng chịu thuế cũ theo pháp lệnh 2004, thì còn có đối tượng chịu thể mới là các nguồn thu nhập từ các hoạt động kinh doanh, sản xuất của các cá nhân kinh doanh và nguồn thu nhập chịu thuế từ các cá nhân hành nghề độc lập

và các hoạt động có thu nhập khác

2.1 Cách xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền

Thí dụ: có những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực da giày, quần áo, nhựa, … Thì thu nhập chịu thuế tức là đối tượng chịu thuế của các doanh nghiệp này

là bao gồm lợi nhuận bán hàng từ các sản phẩm khi các sản phẩm này được đem ra bán Nguồn lợi nhuận thu được sau khi trừ đi các chi phí hợp lý và các khoản thu nhập khác tạo thành thu nhập phải chịu thuế của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế

Theo quy định thì trường hợp cơ sở kinh doanh phản ánh doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ không đúng với giá thực tế bán ra thì cơ quan thuế có quyền xác định giá bán hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở tham khảo giá trị tại thời điểm của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường hoặc giá bán hàng, dịch vụ cho bên thứ ba

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế là doanh thu không có thuế giá trị gia tăng

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng

2.2 Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế

Đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc thời điểm lập hóa đơn bán hàng Đối với hoạt động cung ứng dịch vụ là khi hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ Theo quy định của pháp luật thì thời điểm phát sinh doanh thu tính thuế là khi dịch vụ hoàn thành và cung cấp cho khách hàng, thời điểm xuất hóa đơn bán hàng Điều này có nghĩa rằng, cơ sở kinh doanh sẽ bắt đầu phải chịu thuế thu nhập khi sản phẩm của họ đã được giao dịch trên thị trường

Ví dụ: Công ty sản xuất giày da, tháng 8- 2008 họ bán được 1800 đôi giày và có giá theo hợp đồng là 1tỷ đồng, thì thu nhập từ khoản thu này sẽ là đối tượng phải chịu thuế trong kỳ tính thuế, bất kể khi tới kỳ tính thuế doanh nghiệp đã thu được khoản tiền này hay chưa

2.3 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp:

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp được xác định theo giá bán hàng hóa trả tiền một lần, không bao gồm tiền lãi trả chậm Theo quy định thì: trường hợp việc thanh toán theo hợp đồng mua bán trả góp, trả chậm kéo dài nhiều kỳ tính thuế thì doanh thu là tiền phải mua của người mua trong kỳ tính thuế không bao gồm lãi trả góp, trả chậm theo thời hạn quy định trong hợp đồng Việc xác định chi phí khi xác định thuế TNDN đối với hàng hóa bán trả góp, trả chậm theo nguyên tắc chi phí phải phù hợp với doanh thu

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng, tiêu dùng nội bộ được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm trao đổi, biếu, tặng, tiêu dùng nội bộ

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động gia công hàng hóa là tiền thu được từ hoạt động gia công, bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hóa

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế từ hoạt động cho thuê tài sản là số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê Trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho số năm trả tiền trước hoặc xác định theo doanh thu trả cho một lần

Theo quy định thì trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định phù hợp với việc xác định chi phí của cơ

sở kinh doanh

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Tùy theo điều kiện về việc xác định chi phí hợp lý, cơ sở kinh doanh có thể lựa chọn một trong hai phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế như sau:

- Số tiền cho thuê tài sản của từng năm được xác định bằng (= ) số tiền trả trước chia (:) cho số năm trả tiền trước

- Là toàn bộ số tiền cho thuê tài sản trả trước của số năm trả tiền trước

Trường hợp cơ sở kinh doanh đang trong thời gian ưu đãi thuế lựa chọn phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền thuê mà bên thuê trả trước cho nhiều năm thì số thuế TNDN được miễn thuế, giảm thuế bằng (=) tổng số thuế TNDN chia (:) cho số năm bên thuê trả tiền trước nhân (x) với số năm được miễn thuế, giảm thuế

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động tín dụng là tiền lãi cho vay phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế Theo quy định thì: đối với hoạt động tín dụng là số lãi phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế đối với các khoản nợ xác định là có khả năng thu hồi cả gốc

Ngoài ra, doanh thu của các hoạt động như : họat động tín dụng là tiền lãi cho vay phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế Đối với số lãi phải thu của các khoản vay trong hạn đã hạch toán vào thu nhập nhưng đến kỳ hạn trả nợ gốc khách hàng không trả được đúng hạn tổ chức tín dụng hạch toán vào chi phí hoạt động kinh doanh Khi thu được thì hạch toán vào thu nhập hoạt động kinh doanh Đối với số lãi phải thu phát sinh trong kỳ của các khoản nợ khách hàng không trả được đúng hạn còn lại không phải hoạch toán thu nhập, khi thu được hạch toán vào thu nhập hoạt động kinh doanh

Như vậy, để biết được thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế

là bao nhiêu và những nguồn thu nhập nào của doanh nghiệp có nguồn thu lớn thì ta phải căn cứ vào doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế

2.4 Chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế

Các chi phí hợp lý sau đây được trừ khi tính thu nhập chịu thuế:

™ Chi phí khấu hao của tài sản cố định sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Mức trích khấu hao tài sản cố định được xác định căn

cứ vào giá trị tài sản cố định và thời gian trích khấu hao Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng không quá được 2 lần mức khấu hao theo chế độ để nhanh chống đổi mới công nghệ

Theo quy định thì tài sản cố định được trích khấu hao vào chi phí hợp lý phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

+ Tài sản cố định sử dụng vào sản xuất, kinh doanh

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

+ Tài sản cố định phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và các giâý tờ hợp pháp khác chứng minh tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh

+ Tài sản cố định phải được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của

cơ sở kinh doanh theo chế độ quản lý và hạch toán kế toán hiện hành

Tài sản cố định phục vụ cho người lao động như: nhà nghỉ giữa ca, nhà thay quần

áo, nhà vệ sinh, bể chứa nước sạch , nhà để xe, xe đưa đón công nhân, nhà ở tập thể cho công nhân do cơ sở kinh doanh đầu tư xây dựng được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý

Cơ sở kinh doanh có xây dựng các công trình trên đất, có thuê đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (không trực tiếp thuê đất của Nhà nước hoặc thuê đất trong khu công nghiệp) để xây dựng công trình trên đất thuê mà các công trình này phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định thì được trích khấu hao vào chi phí hợp lý Các công trình trên đất này phải có đủ những điều kiện sau:

- Hóa đơn, chứng từ mua vật liệu xây dựng, thuê nhân công hoặc thanh toán khối lượng xây lấp bàn giao kèm theo hợp đồng xây dựng công trình, thanh lý hợp đồng, quyết toán giá trị công trình xây dựng cơ bản mang tên, địa chỉ và mã số thuế của cơ

- Tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn tiếp tục được sản xuất kinh doanh thì được khấu hao

- Đối với những tài sản cố định chưa khấu hao hết đã hỏng, doanh nghiệp phải xác định nguyên nhân quy trách nhiệm đền bù, đòi bồi thường thiệt hại và tính vào chi phí khác

™ Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu năng lượng, hàng hóa thực tế thực hiện vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ liên quan đến doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ được tính theo mức tiêu hao hợp lý, giá thực tế xuất kho do cơ

sở kinh doanh tự xác định và chịu trách nhiệm trước Pháp luật

Cơ sở kinh doanh mua sản phẩm làm bằng mây, tre, cói, dừa, cọ của người nông dân trực tiếp làm ra, hàng thủ công mỹ nghệ của các nghệ nhân không kinh doanh, đất, đá, cát, sỏi của người dân tự khai thác, phế liệu của người trực tiếp thu nhặt

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

và một số dịch vụ của cá nhân không kinh doanh, không có hóa đơn, chứng từ lập bảng kê theo quy định của bộ tài chính trên cơ sở chứng từ đề nghị thanh toán của người bán hàng, cung ứng dịch vụ Giám đốc cơ sở kinh doanh duyệt chi theo bảng kê phải chịu trách nhiệm trước Pháp luật về tính chính xác, trung thực của bảng kê

™ Tiền lương, tiền công, tiền phụ cấp phải trả cho người lao động theo quy định của Bộ luật lao động, tiền ăn giữa ca, tiền ăn định lượng, trừ tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể kinh doanh và thu nhập của sáng lập viên công ty không trực tiếp tham gia vào hoạt động điều hành sản xuất, kinh doanh

- Chi phí tiền lương, tiền công, phụ cấp phải trả cho người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước được tính vào chi phí hợp lý theo quy định hiện hành

- Tiền lương, tiền công, tiền phụ cấp phải trả cho người lao động trong các cơ

sở kinh doanh khác được tính vào chi phí hợp lý theo hợp đồng lao động

Việc quy định trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường lao động nước ta ngày thêm phát triển mạnh và buộc các cơ sở kinh doanh khi thuê lao động thì phải ký hợp đồng với người lao động

- Chi phí tiền ăn giữa ca cho người lao động được tính vào chi phí hợp lý tối đa không quá mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức Nhà nước Hiện nay, tiền lương cơ bản là 540 000 đ/ tháng, thì khoản tiền ăn giữa ca sẽ được tăng lên theo mức lương cơ bản, nghĩa là không quá 540 000 đ/tháng

™ Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ (trừ phần kinh phí do Nhà nước hoặc cơ quản lý cấp trên hỗ trợ), chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà sáng kiến này mang lại hiệu quả kinh doanh; chi phí cho việc đào tạo lao động theo chế độ quy định, chi cho y tế trong nội bộ cơ sở kinh doanh, chi hỗ trợ cho Nhà nước cho phép thành lập và khi chi phải có hóa đơn, chứng từ theo chế độ quy định

™ Chi phí dịch vụ mua ngoài:

- Điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, tiền thuê kiểm toán, tiền thuê dịch vụ pháp lý, tiền mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tai nạn con người, tiền thuê thiết kế, xác lập và bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa

- Chi phí sữa chữa tài sản cố định

Đối với những tài sản cố định đặc thù, việc sữa chữa có tính chu kỳ thì cơ sở kinh doanh được trích trước chi phí sữa chữa theo dự toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh Nếu số thực chi sửa chữa lớn hơn số trích theo dự toán thì cơ sở kinh doanh được hạch toán thêm số chênh lệch vào chi phí, nếu số thực chi nhỏ hơn số trrích theo

dự toán thì hạch toán giảm chi phí trong năm

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Các khoản chi phí để có tài sản không thuộc tài sản cố định như chi về mua và

sử dụng các tài sản các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh

- Tiền thuê tài sản cố định hoạt động theo tài sản thuê Trước hợp trả tiền thuê tài sản cố định một lần cho nhiều năm thì tiền thuê được phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh theo số năm sử dụng tài sản cố định

- Chi phí dịch vụ mua ngoài của thầu chính, bao gồm cả chi phí trả cho nhà thầu phụ (nếu có)

- Công tác phí bao gồm: chi phí đi lại, tiền thuê chỗ ở, tiền lưu trú

- Phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép theo quy định của Bộ luật lao động

- Chi phí dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chứng từ, hóa đơn theo chế độ quy định

™ Các khoản chi:

- Các khoản chi cho lao động nữ, bao gồm:

+ Chi cho đào tạo lại nghề cho lao động nữ trong trường hợp nghề cũ không còn phù hợp phải chuyển đổi sang nghề khác theo quy hoạch phát triển của cơ

+ Chi phí tổ chức khám sức khỏe thêm 1 lần trong năm như khám bệnh nghề nghiệp, mãn tính hoặc phụ khoa cho nữ công nhân viên

+ Chi bồi dưỡng cho nữ sau khi sinh con lần thứ nhất hoặc lần thứ hai: Mức chi không quá 300 000 đ đối với cơ sở kinh doanh đóng trên địa bàn thành phố, thị trấn, thị xã và không quá 500 000 đ đối với cơ sở kinh doanh đóng trên địa bàn có hoàn cảnh kinh tế- xã hội khó khăn và đối với địa bàn kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn

+ Phụ cấp làm thêm giờ cho lao động nữ vì lý do khách quan người lao động không nghĩ cho con bú theo chế độ quy định mà ở lại làm việc cho cơ sở kinh doanh được trả theo chế độ hiện hành Đối với cơ sở kinh doanh hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng nhiều lao động nữ, nếu hạch toán theo dõi riêng được các khoản thực chi cho lao động nữ nêu trên được giảm thuế thu nhập theo quy định

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Chi bảo hộ lao hoặc chi trang phục Chi bảo hộ lao động theo số thực chi Chi mua sắm trang phục thay cho quần áo bảo hộ lao động theo số thực chi nhưng không quá 500 000 đ/người/năm

- Chi bảo vệ cơ sở kinh doanh

- Trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chi phí công đoàn, chi phí hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của đảng, đoàn thể tại cơ sở kinh doanh, chi phí đóng góp hình thành nguồn chi phí quản lý cho cấp trên và đóng góp vào các quỹ hiệp hội theo quy định

™ Chi trả lãi tiền tiền vốn vay sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế theo lãi suất thực tế căn cứ vào hợp đồng vay Chi trả lãi tiền vay cho các đối tượng khác theo lãi suất thực tế khi ký hợp đồng vay, nhưng tối đa không quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay cùng thời điểm ngân hàng thương mại có quan hệ giao dịch với cơ sở kinh Trích các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng công nợ khó đòi, dự phòng giảm giá chứng khoán, trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm theo hướng dẫn của Bộ tài chính

™ Trợ cấp thôi việc cho người lao động theo chế độ hiện hành

™ Chi về chi phí tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ bao gồm: chi phí bảo quản, đóng gói, bốc xếp, thuê kho bãi, bảo hành sản phẩm hàng hóa

™ Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, tiếp tân, khánh tiết, chi phí giao dịch, đối ngoại, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị và các loại chi phí khác theo số thực chi nhưng không tối đa không quá 10% tổng số các khoản chi phí hợp lý Đối với hoạt động kinh doanh thương nghiệp chi phí hợp lý để xác định mức khống chế không bao gồm giá vốn của hàng hóa bán ra

™ Các khoản thuế, phí, tiền thuê đất phải nộp có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (trừ thuế TNDN) bao gồm:

- Thuế xuất khẩu, thuế môn bài, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu không đủ điều kiện để khấu trừ và hoàn thuế theo quy định Thuế giá trị gia tăng đầu vào quá thời hạn được kê khai, khấu trừ thuế theo quy định Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ trong nước thuộc diện chịu thuế tiêu thu đặc biệt Các khoản phí, lệ phí mà cơ

sở kinh doanh thực nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của Pháp luật về phí, lệ phí

™ Chi phí quản lý kinh doanh do công ty nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú tại Việt Nam theo tỷ lệ giữa doanh thu của cơ sở thường trú tại Việt Nam và tổng

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

doanh thu trung của công ty ở nước ngoài bao gồm cả doanh thu của cơ sở thường trú

ở các nước khác Công thức phân bổ như sau:

Tổng doanh thu của cơ

sở thờng trú tại Việt Nam trong kỳ tính thuế

Tổng số chi phí quản lý kinh doanh của công

ty ở nước ngoài trong kỳ tính thuế

• Bên cạnh những chi phí hợp lý được tính khi xác định thu nhập chịu thuế thì tại Thông tư số 134/2007/TT-BTC quy định 31 khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế trong đó có 3 khoản chi phí quy định về nguyên

tắc không tính vào chi phí hợp lý bao gồm:

- Các khoản chi không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định hoặc chứng từ không hợp pháp;

- Các khoản chi không liên quan đến việc tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế;

- Các khoản chi do nguồn kinh phí khác đài thọ;

Theo thông tư 134/2007/TT – BTC, các khoản chi sau đây không được phép khấu trừ:

1 Chi phí khấu hao tài sản cố định thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ

b) Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh (trừ tài sản cố định thuê mua tài chính)

c) Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của cơ sở kinh doanh theo chế độ quản lý tài sản cố định và hạch toán kế toán hiện hành

d) Phần trích khấu hao vượt mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế

độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Trường hợp cơ sở kinh doanh có lãi áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng, khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ là phần trích khấu hao vượt quá 02 lần mức khấu hao theo quy định

Trường hợp đặc biệt khác được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý theo Quyết định của Bộ Tài chính

e) Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w