Một hành động đầu cơ có thể thực hiện trong thời gian cực ngắn, tùy cơ lại là người tạo ra sự biến động giá cả trên thị trường chứng khoán để phục vụ cho mục đích đầu cơ đã định trước bằ
Trang 1NGHIÊN CỨU QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ CHỐNG ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
T.s Lê Thị Nguyệt Châu Lê Thị Yến Nhi
Bộ môn: Kinh doanh-Thương mại MSSV: 5086060
Khoa Luật- ĐHCT Lớp: Thương Mại 1- K34
Cần Thơ, 4/2012
Trang 2
Trang 3
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp là bước cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của một sinh viên ở giảng đường Đại học Để trở thành một cử nhân hay một kỹ sư đóng góp những gì mình đã học được cho sự phát triển đất nước Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, người viết đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ và động viên từ gia đình, từ quý thầy cô cùng các bạn Nhờ đó mà người viết đã hoàn thành được luận văn như mong muốn, nay xin cho phép người viết được gửi lời cám ơn sâu sắc và chân thành đến:
Cô Lê Thị Nguyệt Châu, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cho người viết
và đã hết lòng giúp đỡ, động viên để người viết có thể hoàn thành tốt luận văn cử nhân của mình;
Quý thầy cô trong khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, những người đã tận tình truyền đạt cho người viết trên con đường góp nhặt những kiến thức quý báu tại giảng đường Đại học cho đến ngày hôm nay Đồng gửi lời cảm ơn đến các bạn, những người đã đồng hành, giúp đỡ người viết trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường cũng như trong quá trình làm luận văn Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để người viết bước vào đời một cách vững chắc và tự tin; Đồng thời người viết cũng xin cảm ơn đến cha, mẹ và những người thân đã giúp
đỡ cho người viết rất nhiều từ khi mới bước chân đến giảng đường Đại học cho đến ngày hôm nay
Cuối cùng, người viết xin chân thành gửi lời chúc sức khỏe và một lần nữa gửi lời cám ơn đến mọi người
Trân trọng kính chào!
SVTH: Lê Thị Yến Nhi
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 9
Chương 1 ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC CHỐNG ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 12
1.1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 12
1.1.1 Khái niệm về đầu cơ trên thị trường chứng khoán 12
1.1.2 Bản chất của hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán 13
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG HÀNH VI ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 15
1.2.1 Sự xuất hiện của hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán là một nhu cầu khách quan 15
1.2.2 Hành vi đầu cơ thường được thực hiện bởi các đối tượng chuyên nghiệp và có tiềm lực tài chính mạnh 16
1.2.3 Đầu cơ chứng khoán đem lại lợi nhuận lớn nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro cao 18
1.2.4 Các loại chứng khoán mà nhà đầu cơ hướng đến để thực hiện đầu cơ trên thị trường chứng khoán Việt Nam 19
1.3 PHÂN LOẠI CÁC HÀNH VI ĐẦU CƠ 22
1.3.1 Bán giả 22
1.3.2 Thu hút 23
1.3.3 Hùn vốn 23
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH VI ĐẦU CƠ LÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 24
1.4.1 Tác động tiêu cực 24
1.4.2 Những tác động tích cực 26
1.5 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC CHỐNG CÁC HÀNH VI ĐẦU CƠ BỊ CẤM TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 27
Trang 61.6 CÁC HÀNH VI ĐƯỢC XEM LÀ HÀNH VI ĐẦU CƠ BỊ PHÁP LUẬT
CẤM Ở VIỆT NAM 29
Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 33
2.1 KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 33
2.1.1 Tổ chức phát hành chứng khoán 34
2.1.1.1 Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng 35
2.1.1.2 Trình tự thủ tục chào bán các loại chứng khoán 36
2.1.2 Công ty chứng khoán 39
2.1.2.1 Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán 40
2.1.2.2 Nhân viên của công ty chứng khoán 44
2.1.3 Nhà đầu tư 46
2.2 KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH ĐẶC BIỆT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 48
2.2.1 Bán khống 48
2.2.2 Giao dịch nội gián và giao dịch thao túng giá 51
2.2.2.1 Giao dịch nội gián 51
2.2.2.2 Giao dịch thao túng giá 53
2.3 MINH BẠCH TRONG VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 55
2.3.1 Đối tượng và thông tin công bố trên thị trường chứng khoán 56
2.3.1.1 Công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức niêm yết 56
2.3.1.2 Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ 58
2.3.1.3 Công ty đầu tư chứng khoán 59
2.3.1.4 Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán 59
2.3.2 Yêu cầu và phương thức công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 60
Trang 72.3.2.1 Yêu cầu của việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 60
2.3.2.2 Phương thức thực hiện việc công bố thông tin 60
2.4 HỆ THỐNG CHẾ TÀI CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI ĐẦU CƠ BỊ CẤM TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 61
2.4.1 Chế tài dân sự 62
2.4.2 Chế tài hành chính 62
2.4.2.1 Đối với các hành vi gian lận trong giao dịch chứng khoán 63
2.4.2.2 Đối với vi phạm quy định về giao dịch nội bộ trong giao dịch chứng khoán 63
2.4.2.3 Đối với các hành vi thao túng giá chứng khoán 64
2.4.3 Chế tài hình sự 65
2.4.3.1 Tội công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán 65
2.4.3.2 Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán 66
2.4.3.3 Tội thao túng giá chứng khoán 67
Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU CƠ VÀ CHỐNG ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN – MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CHỐNG ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 69
3.1 THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU CƠ VÀ TÌNH HÌNH CHỐNG ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 69
3.1.1.Thực trạng chung về đầu cơ trên thị trường chứng khoán Việt Nam 69
3.1.1.1 Thực trạng về đầu cơ dựa vào giao dịch thao túng giá và mua bán nội bộ 69
3.1.1.2 Thực trạng bán khống trên thị trường chứng khoán 73
3.1.1.3 Thực trạng về công bố thông tin của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam 76
3.1.2 Tình hình chống đầu cơ trên thị trường chứng khoán nước ta 79
3.2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ CHỐNG ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 85
Trang 83.2.1 Nhóm giải pháp xây dựng hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị
trường chứng khoán trong việc chống các hành vi đầu cơ 85
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với thị trường chứng khoán 87
3.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý thị trường, tuyên truyền nâng cao ý thức pháp luật về chứng khoán cho doanh nghiệp và nhà đầu tư chứng khoán 88
3.2.4 Nhóm giải pháp hạn chế tình hình vi phạm về việc công bố thông tin nhằm thu lợi bất chính thông qua giao dịch nội bộ 89
3.2.5 Nhóm giải pháp tác động tới điều tiết quan hệ cung-cầu của thị trường chứng khoán Việt Nam 90
3.2.5.1 Tăng cung chứng khoán cho thị trường cả về số lượng, chất lượng 90
3.2.5.2 Kích cầu trên thị trường chứng khoán 90
KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển đòi hỏi trong nước phải có một nguồn vốn lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Vì vậy, Việt Nam cần phải có chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu tư và thị trường chứng khoán tất yếu sẽ ra đời vì nó giữ vai trò quan trọng đối với việc huy động vốn trung
và dài hạn cho nền kinh tế Chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000 cho đến nay, mặc dù còn khá non trẻ nhưng thị trường chứng khoán nước ta đã thực hiện được chức năng quan trọng trong việc huy động vốn cho nền kinh tế, tạo môi trường đầu
tư cho công chúng và giúp nhà nước thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Tất nhiên thị trường này sẽ không thể vận hành một cách bình thường, không thể thực hiện các chức năng quan trọng nói trên nếu không có sự can thiệp của chủ thể quản
lý Nhà nước ở một mức độ nhất định Để điều hành thị trường vốn dĩ phức tạp này Nhà nước cần có các biện pháp quản lý, kiểm soát một cách sâu sát và toàn diện trên toàn bộ thị trường Pháp luật là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình đối với thị trường chứng khoán Pháp luật về chứng khoán phải được xây dựng ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất, không chỉ quy định các nguyên tắc điều hành thị trường mà còn phải có khả năng dự báo, phát hiện và xử lý các hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán nhất là các hành
vi đầu cơ
Là một thị trường sôi nổi, đa dạng và phức tạp với các loại hàng hóa đặc biệt
do nhiều đối tượng tham gia giao dịch với nhau và hầu hết đều có giá trị rất lớn thì
sẽ không tránh khỏi các hành vi tiêu cực có thể xảy ra nhằm trục lợi Các hành vi tiêu cực tùy vào mức độ, tính chất khác nhau mà có những tác động lớn nhỏ khác nhau lên thị trường Lịch sử các cuộc khủng hoảng chứng khoán trên thế giới đã cho thấy sự sụp đổ của thị trường chứng khoán ít nhiều là do các quốc gia không có các biện pháp ngăn chặn kịp thời hoặc có nhưng không đủ mạnh để triệt tiêu các hành
vi đầu cơ tiêu cực Đầu cơ là một trong những hành vi có thể gây ra những biến động lớn đến nền kinh tế thậm chí làm sụp đổ trên thị trường kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Tuy nhiên không phải hành vi đầu cơ nào cũng là hành vi xấu, hành vi đầu cơ luôn có mặt trên thị trường chứng khoán và thị trường chứng khoán chấp nhận đầu cơ vì đầu cơ phần nào mang tính điều hòa thị trường làm cho cơn sốt chứng khoán giảm xuống Tuy nhiên, không phải bất kỳ hành vi
Trang 10đầu cơ nào cũng được chấp nhận vì pháp luật của hầu hết các quốc gia đều nghiêm cấm các hành vi đầu cơ trục lợi, lũng đoạn thị trường
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động như hiện nay thì thị trường chứng khoán của nước ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức
Để giữ vững sự ổn định của thị trường chứng khoán thì Nhà nước cần phải tăng cường hơn nữa các biện pháp kiểm soát thị trường không để cho các hành vi tiêu cực phát sinh Nhất là đối với hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán phải bị ngăn chặn và xử lý kịp thời bởi những quy định nghiêm khắc nhất của pháp luật, góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư chứng khoán ở nước ta Đồng thời có thể thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trường tạo điều kiện thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, việc nghiên cứu để tìm ra những luận cứ khoa học cũng như những giải pháp nhằm chống lại các hành vi đầu cơ tiêu cực trên thị
trường chứng khoán là hết sức cần thiết Vì vậy, người viết đã chọn đề tài “Nghiên
cứu quy định của pháp luật về chống đầu cơ trên thị trường chứng khoán” để
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán và tìm hiểu những quy định cụ thể của pháp luật hiện hành trong việc chống đầu cơ, từ
đó liên hệ với thực trạng hiện nay nhằm đưa ra những ý kiến đánh giá và đề xuất góp phần nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật trong việc điều chỉnh những vấn đề trên Mặc khác, luận văn không chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu học tập mà còn thể hiện sự quan tâm của người viết trong việc đóng góp xây dựng pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn xứng đáng là công cụ để Nhà nước quản lý và điều hành
xã hội tạo điều kiện cho sự pháp triển ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời buổi hội nhập kinh tế thế giới ngày nay
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn nghiên cứu được giới hạn trong các phạm vi sau:
Về không gian: Thị trường chứng khoán Việt Nam
Về thời gian: Luận văn được thực hiện từ tháng 1/2012 đến cuối tháng 4/2012
Về đối tượng nghiên cứu: Do thị trường chứng khoán là một phạm trù kinh tế rất rộng vì vậy khi nghiên cứu thị trường chứng khoán đòi hỏi phải có một lượng kiến thức khá lớn về kinh tế học, liên quan đến phạm trù kinh tế Nhưng với đề tài
Trang 11“Nghiên cứu quy định của pháp luật về chống đầu cơ trên thị trường chứng
khoán” người viết giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong phạm trù mang
tính pháp lý là chỉ tập trung nghiên cứu những hành vi đầu cơ bị pháp luật cấm và quy định của pháp luật hiện hành trong việc điều chỉnh chúng, chứ không đi sâu phân tích về những hành vi đầu cơ mang tính khoa học kinh tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Người viết đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích luật viết … để hoàn thành luận văn của mình Thông qua các hình thức như: thu thập thông tin, tài liệu của các văn bản quy phạm pháp luật, các giáo trình của các trường đại học, giáo trình của các chuyên gia kinh tế và các luật gia Ngoài ra, người viết còn tham khảo trên Internet, các báo và tạp chí kinh tế, tạp chí chuyên ngành tạo cơ sở cho việc nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này
Chương 2: Các biện pháp chống đầu cơ trên thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Người viết tập trung phân tích cơ sở pháp lý của pháp luật hiện hành trong việc chống các hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán
Chương 3: Thực trạng đầu cơ và chống đầu cơ trên thị trường chứng khoán – Một số đề xuất đối với vấn đề chống đầu cơ trên thị trường chứng khoán
Trong phạm vi chương này người viết chỉ ra những tồn tại, hạn chế của pháp luật trong việc chống đầu cơ hiện nay, từ đó đề xuất những ý kiến góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nâng cao tính pháp chế xã hội chủ nghĩa của hệ thống pháp luật Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1
ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC CHỐNG ĐẦU CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái niệm và bản chất của đầu cơ trên thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái niệm đầu cơ trên thị trường chứng khoán
Trên thị trường mua bán hàng hóa, khi nhắc đến đầu cơ người ta thường nghĩ ngay đến hành động của một người nào đó cố tình giữ lại một số lượng lớn hàng hóa để tạo ra sự khan hiếm hàng hóa trên thị trường, tác động lên quan hệ cung cầu trên thị trường tạo ra mức cầu lớn hơn cung rồi đẩy giá lên cao để bán Từ điển Tiếng Việt có đưa ra khái niệm đầu cơ, theo đó “đầu cơ là lợi dụng cơ chế tự phát
cơ thường nhắm đến là những mặt hàng thiết yếu của đời sống như: lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nhiên liệu, vé tàu xe vào dịp lễ, Tết….vì quá cần thiết nên người tiêu dùng buộc phải mua với bất kỳ giá nào mà không hề so đo tính toán giá trị thực của loại hàng hóa đó trên thực tế Nhà đầu cơ - người thực hiện hành vi đầu
cơ trong trường hợp này thường thu được lợi nhuận rất lớn vì họ nắm được hàng hóa trong tay với giá thấp, để rồi khi khan hiếm thì đem hàng hóa ra bán với giá cao hơn
Khác với thị trường thông thường, hàng hóa lưu thông trên thị trường chứng khoán là hàng hóa đặc biệt vì đó là hàng hóa vốn như: cổ phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác Hàng hóa vốn này là hàng hóa của hoạt động sản xuất, nó không có giá trị sử dụng giống với các loại hàng hóa thông thường như gạo, xăng dầu, sắt thép hay các hàng hóa vật chất tiêu dùng khác mà giá trị của nó sẽ mang lại trong tương lai có khả năng đem về thu nhập cao hơn số tiền người mua đã bỏ ra
để mua nó ở thời điểm trước đó Mặc dù, các loại chứng khoán không phải là mặt hàng thiết yếu, nhưng vì lợi nhuận quá hấp dẫn của nó mà nhiều người đã tham gia vào thị trường để mua bán các loại hàng hóa đặc biệt này Giá của các loại chứng khoán cũng biến động theo từng thời điểm và theo quy luật cung cầu nên càng tạo điều kiện cho hoạt động đầu cơ nảy nở Sở dĩ như vậy vì thị trường chứng khoán có tính thanh khoản cao và rất dễ di chuyển nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư thông qua việc mua đi bán lại các loại chứng khoán trên
Trang 13thị trường Người ta có thể mua nhanh chóng một loại chứng khoán khi dự báo nó
sẽ lên giá, và có thể bán chớp nhoáng một loại chứng khoán khác khi dự báo nó sẽ xuống giá Một hành động đầu cơ có thể thực hiện trong thời gian cực ngắn, tùy
cơ lại là người tạo ra sự biến động giá cả trên thị trường chứng khoán để phục vụ cho mục đích đầu cơ đã định trước bằng việc họ sẽ mua vào số lượng lớn chứng khoán nhằm tạo ra sự khan hiếm và đợi đến lúc giá của các loại chứng khoán tăng vọt lên họ sẽ bán ra để thu lợi nhuận từ sự chêch lệch giá cả Pháp luật hiện hành không xây dựng khái niệm đầu cơ hay đầu cơ chứng khoán nhưng từ những phân
tích trên có thể đưa ra khái niệm: Đầu cơ trên thị trường chứng khoán là hành vi
nắm giữ, mua bán các loại chứng khoán nhằm thu lợi nhuận từ sự biến động giá mạnh của chúng
Tuy nhiên, khái niệm trên chưa thể nói lên hết bản chất vốn có của đầu cơ, vẫn còn sự nhầm lẫn giữa các khái niệm đầu cơ và đầu tư, hay nhà đầu cơ và nhà đầu tư Bởi suy cho cùng đầu cơ hay đầu tư cũng là việc mua bán các loại chứng khoán để tìm kiếm lợi ích từ loại hàng hóa này Muốn phân biệt được mạch lạc giữa đầu tư và đầu cơ cũng không đơn giản Một cuộc đầu tư thành công thường bao gồm những tính toán cân nhắc kỹ lưỡng mang màu sắc đầu cơ Và vụ đầu cơ nào cũng nhất thiết
hơn sự khác nhau cơ bản giữa các khái niệm trên cần phải đi sâu vào phân tích bản chất của hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán
1.1.2 Bản chất của hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã làm nảy sinh nhu cầu về vốn ngày càng lớn, nhất là đối với nhu cầu vốn dài hạn Đáp ứng nhu cầu về vốn đó Nhà nước
và các doanh nghiệp đã phát hành ra các loại chứng khoán như: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… nhằm huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân và tạo nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Đặc điểm nổi bật của chứng khoán là tính sinh lời thể hiện ở việc người sở hữu chứng khoán sẽ nhận được một khoản lợi nhuận trong tương lai từ người phát hành chứng khoán Nó chính là động lực thúc đẩy nhà đầu tư mua chứng khoán và cũng là tiền đề để tạo nên chứng khoán Chẳng hạn như khi một công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng, người mua những cổ phiếu này sẽ có các lợi ích sau: Thứ nhất, họ sẽ được hưởng cổ tức của công ty theo
3PGS.Ts Lê Văn Tề, Ths Huỳnh Thị Phương Thảo, Thị trường tài chính và các định chế tài chính
trung gian, NXB Phương Đông năm 2006, Tr.339
4Nguyễn Văn Tiến Ích, Hỏi và đáp: “Những khái niệm mới mẻ, những thủ thuật tinh vi.Thấy gì
trên sân chơi Âu Mĩ khi tôi dự cuộc.”, NXB Thống Kê Hà Nội 2004, Tr.132
Trang 14năm hoặc quý Thứ hai, nếu công ty làm ăn tốt, hiệu quả và có tích lũy nội bộ, đến một lúc nào đó công ty sẽ nhập quỹ tích lũy vào vốn điều lệ thì họ sẽ được hưởng giá trị cổ phần tăng lên Thứ ba là được hưởng lợi nhuận chênh lệch từ giá mua bán những loại cổ phiếu đó
Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư quan tâm đến cả ba mặt lợi ích trên Khi quyết định mua cổ phần của một công ty, nhà đầu tư đã có chiến lược đầu tư rõ ràng họ đặc biệt chú ý đến giá trị thực của cổ phiếu Giá trị này được xác định theo những phương pháp xác định và căn cứ vào nhiều yếu tố như danh tiếng của công ty trên thị trường, tình hình hoạt động sản xuất của công ty… Nhà đầu tư chỉ mua cổ phiếu của công ty khi giá cổ phiếu trên thị trường không chênh lệch quá đáng kể so với “giá trị thực” của nó tức là chỉ mua vào khi thị giá cổ phiếu ở mức bằng hoặc thấp hơn một khoảng nào đó so với “giá trị thực” mà họ tính toán được Nếu giá cổ phiếu chênh lệch quá lớn so với giá trị thực thì họ sẽ rất cân nhắc khi mua vào Ngoài yếu tố lợi nhuận, nhà đầu tư còn có những kỳ vọng riêng vào những mục đích khác chẳng hạn như mong muốn tham gia vào quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mà họ có cổ phần thông qua việc họ muốn tham gia vào Hội đồng quản trị của công ty Do vậy, họ rất ít bán cổ phiếu của mình trong những điều kiện thường Nhà đầu tư thông thường chỉ bán cổ phiếu trong hai trường hợp: khi hết thời hạn đầu tư như dự định ban đầu, chuyển hướng đầu tư sang công ty khác, một lĩnh vực khác hoặc khi thị trường có những biến động khiến thị giá cổ phiếu đã vượt qua “giá trị thực” một khoảng nào đó mà bắt buộc họ phải bán
cổ phần của mình Và đặc biệt hơn nữa, hoạt động đầu tư là hoạt động tạo vốn cho nền kinh tế nên thường chỉ xuất hiện ở thị trường sơ cấp là chủ yếu
Còn với hoạt động đầu cơ, nhà đầu cơ luôn là người kinh doanh dựa theo các tín hiệu ngắn hạn của thị trường hoặc cố tình tạo ra biến động trên thị trường để trục lợi ngắn hạn Nên hoạt động đầu cơ thường xuất hiện trên thị trường thứ cấp, nhà đầu cơ cũng không quan tâm nhiều đến các chỉ tiêu cơ bản của nền kinh tế vĩ mô và hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn mà chỉ chú tâm vào việc dự đoán xu hướng ngắn hạn của thị trường Do đó, họ rất quan tâm đến mặt lợi ích thứ ba chính
là sự chênh lệch giá mua bán của các loại cổ phiếu Hành vi đầu cơ luôn gắn với việc mua bán liên tục cổ phiếu trên thị trường Nhà đầu cơ khi mua cổ phiếu rất ít quan tâm đến thị giá cổ phiếu cao hay thấp, đã vượt qua “giá trị thực” của nó hay chưa mà họ chỉ quan tâm làm thế nào mua cổ phiếu vào với giá thấp và bán ra với giá thật cao hay vay mượn chứng khoán của người khác để bán tìm kiếm lợi nhuận chênh lệch Để làm được điều đó nhà đầu cơ phải luôn theo dõi các biến động giá
Trang 15trên thị trường và khi cần thiết họ sẽ tạo ra các biến động giá như mua bán với khối lượng lớn cổ phiếu tạo ra nhu cầu giả tạo hay đưa nhiều thông tin khác nhau làm giá
cổ phiếu tăng hoặc giảm theo chiều hướng có lợi cho họ
Ví dụ: Tại thời điểm hiện tại, giá cổ phiếu của công ty X là 20.000đồng/1 cổ phiếu, nhà đầu cơ dự đoán rằng giá cổ phiếu sẽ giảm trong tương lai Nên muốn bán khống cổ phiếu của công ty X bằng việc đi vay cổ phiếu của một cổ đông nào đó của công ty rồi bán lại Giả sử lượng cổ phiếu vay được là 100 cổ phiếu thì khi bán
số cổ phiếu ra thị trường tiền thu được là 2.000.000đồng Nếu giá cổ phiếu giảm xuống còn 18.000đồng/1 cổ phiếu, nhà đầu cơ chỉ việc dùng 1.800.000đồng để mua lại 100 cổ phiếu trả cho cổ đông kia và giữ lại 200.000đồng tiền lợi nhuận
Từ những phân tích trên cho thấy nếu một thị trường đột nhiên có sự chênh lệch giá chứng khoán tăng lên hoặc giảm xuống liên tục mà không phải do những biến động lớn của nền kinh tế gây ra thì trước hết phải xem xét đến yếu tố đầu cơ đã xâm nhập vào thị trường chứng khoán hay chưa Vì sự can thiệp của hành vi đầu cơ
có thể mang đến những đợt sóng giá cả tăng giảm liên tục trên thị trường chứng khoán theo hướng có lợi cho nhà đầu cơ mà không phản ánh đúng với bản chất thực của nền kinh tế thị trường Khi hành vi đầu cơ xuất hiện thị trường hoạt động không còn minh bạch nữa, không đánh giá được tình hình hoạt động sản xuất của từng doanh nghiệp thực sự có hiệu quả hay không, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của các doanh nghiệp, tạo tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư khi muốn tham gia vào thị trường chứng khoán
Tóm lại, bản chất của hành vi đầu cơ chính là lợi nhuận thu được từ sự chênh lệch giá chứng khoán thông qua việc mua bán chứng khoán liên tục trên thị trường của nhà đầu cơ Và họ cũng không hề có bất cứ kỳ vọng nào vào tình hình hoạt động của công ty mà họ nắm giữ cổ phần có triển vọng phát triển tốt trong tương lai hay không Hay nói cách khác, cái mà họ mong đợi nhất chính là mặt lợi ích thứ ba
mà người viết đã trình bày ở trên
1.2 Đặc điểm của những hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán
1.2.1 Sự xuất hiện của hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán là một nhu cầu khách quan
Như đã biết căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn thì có thể chia thị trường chứng khoán làm hai loại: thị trường sơ cấp (thị trường cấp một) và thị trường thứ cấp (hay còn gọi là thị trường cấp hai) Thị trường sơ cấp là nơi mua bán các chứng khoán mới phát hành nhằm huy động vốn cho đơn vị phát hành chứng
Trang 16khoán, còn thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các giao dịch mua bán các loại chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp để đảm bảo tính thanh khoản cho của các loại chứng khoán đã được phát hành Hãy hình dung nếu trên thị trường chứng khoán không có các nhà đầu cơ, mà chỉ có các nhà phát hành cần bán chứng khoán để huy động vốn và những nhà đầu tư dài hạn mua chứng khoán nhằm hưởng
cổ tức mà không muốn bán lại thì thị trường chỉ dừng lại ở bước sơ khai, các hoạt động mua bán sẽ trở nên rời rạc, tẻ nhạt Và ngược lại, khi có các nhà đầu cơ sẽ tạo nên tính thanh khoản cao cho thị trường chứng khoán bằng cách họ muốn bán hoặc giữ số lượng chứng khoán họ có trong tay ra thị trường chứng khoán lúc nào cũng được
Đồng thời, không phải nhà đầu tư nào tham gia thị trường chứng khoán cũng với mục đích dài hạn Có lúc họ phải rút vốn để chuyển hướng đầu tư sang một lĩnh vực nào đó hoặc cần tiền để trang trải cho các nhu cầu cần thiết khác nhau, từ đó mới nảy sinh nhu cầu mua bán lại cổ phần Nhưng công ty chỉ mua lại cổ phiếu của
cổ đông trong những trường hợp nhất định Như vậy, có thể thấy nhà đầu tư không thể trông đợi vào việc công ty đã phát hành cổ phiếu mua lại cổ phiếu cho mình hay trông chờ vào các nhà đầu tư khác mua vào Lúc này, các nhà đầu cơ xuất hiện để mua bán các loại chứng khoán trên thị trường Sự xuất hiện của một vài nhà đầu cơ kéo theo sự xuất hiện của nhiều nhà đầu cơ Cứ như thế việc mua bán diễn ra một cách liên tục, tính thanh khoản của các loại chứng khoán sẽ được bảo đảm
Vì vậy, hành vi đầu cơ ra đời là do yêu cầu khách quan của thị trường Sự xuất hiện của các nhà đầu cơ làm thị trường chứng khoán có thể hoạt động liên tục Các nhà đầu tư theo đó có thể điều động linh hoạt nguồn vốn hơn, bỏ vốn ra mua chứng khoán cũng dễ mà rút vốn bằng cách bán lại chứng khoán cũng dễ dàng Cứ như thế
sự lưu chuyển vốn đầu tư trong xã hội trở nên linh hoạt, tạo thuận lợi cho quá trình cải tổ cơ cấu đầu tư, từ đó cải tổ kinh tế, nền kinh tế có điều kiện tăng trưởng năng
1.2.2 Hành vi đầu cơ thường được thực hiện bởi các đối tượng chuyên nghiệp
và có tiềm lực tài chính mạnh
Trên thị trường chứng khoán người ta thường chia các nhà đầu cơ thành 2 loại:
Trang 17trào là những người thực hiện hành vi đầu cơ theo những biến động giá cả ngắn hạn của thị trường và họ thường chiếm số đông Còn nhà đầu cơ chuyên nghiệp họ cũng
là những nhà đầu cơ theo những biến động ngắn hạn của thị trường, nhưng không dừng lại ở đó lúc cần thiết chính họ sẽ là những người tạo ra các biến động để trục lợi Để làm được điều này họ phải là những người có tiềm lực tài chính mạnh và có rất nhiều kinh nghiệm trong việc theo dõi những diễn biến trên thị trường chứng khoán
Trước hết, nhà đầu cơ là người có tiềm lực tài chính mạnh Để thao túng giá trên thị trường chứng khoán nhà đầu cơ sẽ tạo ra một sức ép lớn lên quan hệ cung cầu đối với một loại chứng khoán Đó là việc họ đưa ra những lệnh mua bán một số lượng lớn chứng khoán để đẩy giá lên cao hoặc thấp xuống theo chiều hướng có lợi cho họ Việc mua bán này buộc nhà đầu cơ phải huy động một số tiền rất lớn mới có thể thực hiện được mục đích lũng đoạn thị trường của mình Và lợi nhuận thu được
từ một vụ đầu cơ thành công thường là rất lớn chính vì thế càng củng cố thêm tiềm lực tài chính của các nhà đầu cơ
Tiềm lực tài chính mạnh vẫn chưa đủ, nhà đầu cơ còn phải là người có khả năng nhận diện xu thế của thị trường chứng khoán, nắm bắt thông tin và tâm lý của các nhà đầu tư cũng như các nhà đầu cơ theo phong trào Họ thường xuyên phải theo dõi những biến chuyển trên thị trường để có thể đưa ra các chiến lược phù hợp cho kế hoạch đầu cơ của mình Thông qua các xu thế có lợi và nguồn thông tin về thị trường chứng khoán nhà đầu cơ sẽ lựa chọn thời điểm thích hợp để thực hiện hành vi đầu cơ nhằm tác động đúng lúc đến tâm lý của những người tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán để lôi kéo các đối tượng này vào kế hoạch mua bán như
dự định đã tính toán từ trước của họ
Thị trường chứng khoán nước ta đang trên đà phát triển rất dễ tạo điều kiện cho các hành vi đầu cơ phát sinh Đồng thời, các đối tượng đầu cơ ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn, hành vi đầu cơ cũng được thực hiện tinh vi và nguy hiểm hơn gây ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường Nhà nước ta đã xây dựng rất nhiều chế định pháp lý liên quan điều chỉnh vấn đề trên nhằm bảo vệ thị trường chứng khoán ổn định và lành mạnh nhưng do lợi ích quá hấp dẫn từ hoạt động đầu cơ nhà đầu cơ vẫn cố tình thực hiện hành vi đầu cơ bất chấp các quy định của pháp luật Bên cạnh siêu lợi nhuận thu được thì khả năng nhận lấy rủi ro cao của nhà đầu cơ là
vô cùng to lớn
Trang 181.2.3 Đầu cơ chứng khoán đem lại lợi nhuận lớn nhƣng cũng tiềm ẩn rủi ro cao
Thị trường chứng khoán luôn là một thị trường phức tạp chứa đựng nhiều rủi
ro Những người tham gia vào thị trường chứng khoán có rất nhiều đối tượng, bất kể
là nhà đầu tư hay nhà đầu cơ không phải lúc nào cũng có thể tránh khỏi những rủi ro
đó Nhà đầu cơ thường thu được lợi nhuận lớn từ những vụ đầu cơ thành công Tuy nhiên, với lợi nhuận thu được càng lớn đồng nghĩa với rủi ro mà họ có thể gánh chịu là rất cao
Từ những lợi thế về thông tin, tài chính, kinh nghiệm…bao giờ nhà đầu cơ cũng nghĩ mình là người làm chủ trên thị trường Nhưng thị trường chứng khoán không phải chỉ dành riêng cho những nhà đầu cơ mà còn là thị trường của những nhà đầu tư chuyên nghiệp, thận trọng và có sự giám sát từ phía các cơ quan quản lý thị trường Nhà đầu cơ có thể tạo sức ép để lôi kéo những đối tượng khác vào việc mua bán do mình lập ra thì họ cũng có thể không thực hiện được mục đích của mình khi thị trường đã trở nên chuyên nghiệp, tâm lý của các nhà đầu tư ổn định và vững vàng không bị ảnh hưởng tác động mà nhà đầu cơ đã gây ra trên thị trường hoặc do hành động đầu cơ của các nhà đầu cơ bị ngăn chặn bởi cơ quan quản lý thị trường chứng khoán
Hành vi đầu cơ gắn liền với việc mua bán một khối lượng lớn chứng khoán
Kế hoạch của nhà đầu cơ là nắm một khối lượng lớn chứng khoán nào đó trên thị trường, đồng thời tạo ra sự khan hiếm giả tạo nhằm đẩy giá chứng khoán lên cao, sau đó bán lại để thu lợi nhuận từ sự chênh lệch giá đó Ở một thị trường chuyên nghiệp, những người tham gia thị trường có thể dễ dàng nhận ra những biến động trên thị trường là do có sự can thiệp của các nhà đầu cơ nếu họ có sự theo dõi, quan sát thị trường từ nhiều khía cạnh ở nhiều mặt khác nhau Khi nhận ra có yếu tố đầu
cơ, động thái tiếp theo của những người tham gia thị trường sẽ không tiếp tục theo đuổi loại chứng khoán đó nữa hoặc chuyển sang loại chứng khoán khác Lúc đó kế hoạch đầu tư của nhà đầu cơ sẽ bị thất bại không thể thực hiện được và họ cũng không thể nắm giữ một khối lượng lớn chứng khoán trong thời gian quá lâu Bởi vì, trong khoảng thời gian ấy giá chứng khoán mà nhà đầu cơ đang nắm giữ có thể sẽ tiếp tục giảm xuống liên tục trong khi nhà đầu cơ cần phải xoay vòng nguồn vốn để thực hiện các vụ mua bán khác hoặc trả nợ vay do đã vay tiền để mua các loại chứng khoán Lúc này thiệt hại mà nhà đầu cơ phải gánh chịu là vô cùng to lớn Một kế hoạch mua bán khác mà nhà đầu cơ thường hướng tới cũng có khả năng dẫn đến rủi ro cao chính là hành vi bán khống trên thị trường chứng khoán
Trang 19Khi nhận diện giá chứng khoán trên thị trường có thể giảm xuống nhà đầu cơ sẽ vay một lượng lớn chứng khoán của công ty chứng khoán để bán ra thu tiền về Sau đó,
họ tiếp tục đợi đến khi giá chứng khoán tiếp tục hạ xuống thấp hơn mức giá mà họ
đã bán ra thì lúc này nhà đầu cơ sẽ mua vào loại chứng khoán đó để trả cho công ty chứng khoán Giả sử đến thời điểm nhà đầu cơ phải trả số chứng khoán đã vay cho công ty chứng khoán mà giá của loại chứng khoán này vẫn ở mức cao hoặc bằng với giá mà họ đã bán ra thì rõ ràng thiệt hại mà nhà đầu cơ phải gánh chịu là rất lớn
vì nhà đầu cơ đã phải bỏ tiền ra để mua một khối lượng lớn chứng khoán với mức giá bằng hoặc cao hơn lúc họ vay loại chứng khoán đó của công ty chứng khoán để bán ra, bên cạnh đó nhà đầu cơ còn phải chịu thêm một khoản lãi suất cho công ty chứng khoán khi vay chứng khoán của công ty này
Rõ ràng, qua việc phân tích trên có thể thấy việc thực hiện hành vi đầu cơ trên thị trường chứng khoán của các nhà đầu cơ có thể mang đến nguồn lợi nhuận vô cùng hấp dẫn Tuy nhiên, ở đó vẫn còn tiềm ẩn hàng loạt các rủi ro, những khoản thiệt hại không nhỏ cho thị trường chứng khoán nói chung và cho chính bản thân nhà đầu cơ nói riêng
1.2.4 Các loại chứng khoán mà nhà đầu cơ hướng đến để thực hiện đầu cơ trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Ở mỗi thị trường khác nhau đều có loại hàng hóa giao dịch khác nhau Thị trường chứng khoán cũng không ngoại lệ, nó chứa đựng một loại hàng hóa đặc biệt
mà chỉ nó mới có đó là chứng khoán Đây là loại hàng hóa có khả năng đem lại lợi nhuận cao trong tương lai Ngoài ra, chúng còn có những ưu điểm vượt trội hơn hẳn các hàng hóa thông thường khác như:
- Có khả năng huy động vốn cho nền kinh tế giúp người thiếu vốn tìm được nguồn vốn để phát triển kinh doanh, còn người có vốn nhàn rỗi sẽ có được hưởng lợi nhuận và lợi nhuận đó có thể cao hơn lãi suất của ngân hàng Đó là ưu điểm của tính sinh lời của chứng khoán
- Có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng, giúp những người đầu
tư có thể dễ dàng luân chuyển vốn để chuyển hướng đầu tư sang nhiều lĩnh vực khác nhau theo kế hoạch của họ Đây là ưu điểm của tính thanh khoản của chứng khoán Nếu thiếu nó thì chứng khoán sẽ mất đi sự hấp dẫn, sự thu hút đối với nhà đầu tư, đặc biệt là đối với giới đầu cơ
Nhìn chung, người ta chia chứng khoán ra thành 4 nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh Mỗi nhóm đều có nhiều đặc
Trang 20điểm và ưu thế riêng biệt nên tùy vào mục đích đầu tư mà những người tham gia lựa chọn nhóm chứng khoán riêng cho mình Tuy nhiên, xét về khía cạnh đầu cơ chứng khoán thì thông thường nhóm chứng khoán mà giới đầu cơ chọn là cổ phiếu và chứng khoán phái sinh, vì chúng mang nhiều ưu điểm nổi bật hơn so với các nhóm chứng khoán khác và phù hợp với mục đích của họ
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền lợi của người sở hữu đối với một phần vốn góp của tổ chức phát hành Sở dĩ, nhà đầu cơ thường chọn cổ phiếu là đối tượng mua bán vì loại chứng khoán này có những điểm ưu điểm hơn hẳn so với các loại chứng khoán khác, đó là tính thanh khoản và sự biến động giá liên tục của chúng
Cổ phiếu là loại chứng khoán có tính thanh khoản cao Người sở hữu cổ phiếu khi cần tiền có thể bán ra một cách dễ dàng vì những người tham gia vào thị trường chứng khoán rất sẵn sàng mua chúng Vì những người này luôn nghĩ rằng giá của cổ phiếu sẽ tiếp tục tăng lên và họ sẽ lại bán ra để thu lợi nhuận từ sự chêch lệch giá Thật vậy, giá của các loại cổ phiếu biến động liên tục theo từng thời điểm tùy thuộc vào lượng cung cầu của thị trường và tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Khi chọn cổ phiếu làm đối tượng đầu cơ, nhà đầu cơ luôn nắm bắt rõ tâm lý của công chúng đầu tư đang chú ý đối với một loại cổ phiếu nào, thời điểm như thế nào, trên cơ sở đó họ tác động lên quan hệ cung cầu đối với loại cổ phiếu đó và lôi kéo công chúng vào kế hoạch mua bán mà nhà đầu cơ đã hoạch định từ trước Và kết quả là nhà đầu cơ thu được lợi nhuận rất lớn từ loại chứng khoán dễ mua dễ bán này
Thị trường chứng khoán là thị trường có nhiều biến động mạnh mẽ và liên tục, các nhà đầu tư trên thị trường này phải luôn đối mặt với nhiều rủi ro và tổn thất là điều không thể tránh khỏi Trong bối cảnh đó, thị trường rất cần có những công cụ hữu hiệu để giúp nhà đầu tư quản lý rủi ro và bảo toàn giá trị các danh mục đầu tư Chứng khoán phái sinh là một trong số đó vì những đặc điểm nổi bật của nó có thể phần nào làm giảm bớt gánh nặng cho nhà đầu tư như góp phần phân tán rủi ro, bảo
vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận trong việc đầu tư các loại chứng khoán Chứng khoán phái sinh được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu…, chúng rất đa dạng và phong phú nhưng nhìn chung có bốn dạng chính là: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn (mua hoặc bán) và hợp đồng hoán đổi
Trang 21Ví dụ: Với hợp đồng quyền chọn mua người mua sẽ trả cho người bán quyền chọn một khoản phí và người mua quyền chọn sẽ có quyền được mua (không bắt buộc phải thực hiện) một số lượng chứng khoán nhất định theo một mức giá đã được thỏa thuận từ trước tại thời điểm đã xác định trong tương lai Người bán quyền chọn có trách nhiệm phải bán một lượng chứng khoán theo giá đã được thỏa thuận trước vào một ngày trong tương lai (nhưng ngày đó phải trong thời hạn hợp đồng) khi người mua quyền chọn muốn thực hiện quyền được mua Chẳng hạn, cổ phiếu
X có giá là 50.000 đồng, một nhà đầu tư kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ tăng gấp đôi trong
ba tháng nhưng người này vẫn sợ rủi ro cổ phiếu sẽ giảm giá nên đã mua hợp đồng quyền chọn mua 1.000 cổ phiếu trong ba tháng với giá 50.000 đồng/cổ phiếu và phí
là 2.000 đồng/cổ phiếu Như vậy giá trị hợp đồng quyền chọn mua là 52 triệu đồng (2 triệu tiền phí) Trong vòng ba tháng kể từ ngày ký hợp đồng nếu cổ phiếu này tăng giá lên 100.000 đồng, nhà đầu tư thực hiện quyền mua 50.000 đồng/cổ phiếu của mình và bán trên thị trường 100.000 đồng/cổ phiếu Như vậy sau khi trừ phí và tiền vốn phải bỏ ra nhà đầu tư này có lợi nhuận 48 triệu đồng Ngược lại nếu cổ phiếu giảm giá 50% còn 25.000 đồng thì nhà đầu tư lẽ ra sẽ mất 25 triệu đồng tiền vốn nhưng nhờ có hợp đồng quyền chọn mua nên nhà đầu tư này không thực hiện quyền mua và chịu mất 2 triệu đồng tiền phí
Qua phân tích ví dụ, chúng ta thấy rằng người mua quyền chọn mua chỉ chịu thua lỗ có giới hạn, trong khi lợi nhuận lại rất lớn Người bán quyền chọn cũng có lợi nhuận thu được từ phí mua quyền chọn Chính vì những ưu điểm của chứng khoán phái sinh mà giới đầu cơ sẽ lựa chọn một loại hợp đồng phái sinh để đầu cơ Chẳng hạn, các nhà đầu cơ mua một loại chứng khoán tại mức giá thấp và chọn hợp đồng phái sinh là hợp đồng quyền chọn mua, sau đó thông đồng với nhau giao dịch mua bán chứng khoán đó với giá cao mà không thật sự chuyển nhượng quyền sở hữu nhằm thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khác vào loại chứng khoán đó Đến khi các nhà đầu tư khác bắt đầu tìm mua loại chứng khoán đã bị thao túng thì lúc này các nhà đầu cơ bắt đầu thực hiện quyền mua chứng khoán của mình với mức giá cao và thu về khoản lợi nhuận khá lớn Ngược lại, nếu như việc thao túng giá của nhà đầu cơ không thu hút được các nhà đầu tư khác thì họ sẽ từ bỏ quyền chọn mua và chỉ mất một khoản phí nhỏ mà thôi vì so với nếu không có hợp đồng quyền chọn mua thì thiệt hại của nhà đầu cơ phải gánh chịu là vô cùng to lớn có thể dẫn đến phá sản
Trên thế giới, một vụ mua bán đầu cơ chứng khoán phái sinh đã để lại tai tiếng vào năm 1995 khi Nick Leeson, một nhà đầu cơ tại Ngân hàng Barings, thực hiện
Trang 22các đầu tư thiếu vốn và không được phép vào các hợp đồng tương lai Do thiếu phân tích, thiếu sự giám sát của ngân hàng và cơ quan quản lý, Leeson đã gây lỗ 1,3
triển như Anh, Mỹ, Nhật, thị trường chứng khoán phát triển với sự tham gia đông đảo của một lượng lớn nhà đầu tư tương đương vài chục phần trăm dân số, các nhà đầu tư chia làm hai loại đầu tư giá lên khi thị trường lên và đầu tư giá xuống khi thị trường xuống, ví dụ nhà đầu tư nhận thấy CP Lehman Brother có khả năng xuống
do làm ăn thua lỗ, họ vay CP Lehman từ các nhà môi giới chứng khoán và bán khống, khi giá xuống họ sẽ mua lại để trả lại các công ty môi giới, phần chênh lệch
Như vậy, bên cạnh cổ phiếu thì nhóm chứng khoán phái sinh cũng là đối tượng dễ bị giới đầu cơ nhắm bởi thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường rất
dễ bị thao túng Một số nhà đầu tư có thể thông qua thị trường này để thao túng giá chứng khoán trên thị trường cơ sở (tức là thị trường cổ phiếu, trái phiếu…) hoặc ngược lại vì giữa chúng có mối tương quan với nhau sự biến động trên thị trường này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thị trường kia Do đó, phải có một cơ chế kiểm soát tốt
để ngăn chặn việc thao túng giữa các thị trường với nhau nếu không sẽ dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống kinh tế
1.3 Phân loại các hành vi đầu cơ
Hành vi đầu cơ có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, nhưng dựa
đã khái quát các hành vi đầu cơ thành
ba dạng: Bán giả, thu hút và hùn vốn
1.3.1 Bán giả
Đây là hành vi mua bán giả tạo giữa những người đầu cơ có giao dịch mua bán chứng khoán nhưng lại không có sự chuyển giao quyền sở hữu đối với các loại chứng khoán đó Hai nhà đầu cơ cùng nhau thỏa thuận một giao dịch mua bán theo
đó họ sẽ đưa ra một giá khác biệt so với giá đang diễn biến trên thị trường và cả hai đều đồng thuận Nhưng việc thanh toán và chuyển giao quyền sở hữu đối với loại chứng khoán đó không hề được thực hiện Hoặc, một nhà đầu cơ đưa ra những lệnh phối hợp cho hai người môi giới khác nhau, đầu tiên nhà đầu cơ bán cổ phiếu cho
http://phochungkhoan.vn/home/index.php/kien-thuc/kien-thuc-co-ban/1020-cong-c-phai-sinh-va-9
Lê Văn Tề, Nguyễn Văn Hà, Đầu tư và đầu cơ chứng khoán, NXB Lao động – Xã hội, Năm
2007, Tr.136
Trang 23một người môi giới này, rồi sau đó lại mua chính loại cổ phiếu đó thông qua một người môi giới khác với giá không phù hợp giá thị trường Hay một hành động cũng không kém phần tinh vi đó là nhà đầu cơ bày ra một vụ mua bán giữa họ với những người mà họ tin tưởng trong gia đình như: người thân, bạn bè… Những người này
sẽ thỏa thuận với nhau để mua một số lượng lớn chứng khoán với giá khác biệt so với giá trên thị trường Mục đích của hành động này là kéo giá chứng khoán trên thị trường tăng hoặc giảm một cách đột ngột theo hướng giả tạo, không phù hợp với chiều hướng và quan hệ cung cầu bình thường trên thị trường nhằm kiếm lợi ích hay tránh một thiệt hại nào đó từ sự chênh lệch giá chứng khoán
1.3.2 Thu hút
Là một hành động tạo ra sự khan hiếm để đẩy giá của một loại chứng khoán lên cao bằng việc đưa hầu hết số cổ phiếu đang lưu thông trên thị trường tập trung vào tay một hoặc vài người Với hành động nắm số lượng lớn cổ phiếu nhà đầu cơ đợi giá cổ phiếu tăng đến mức tối đa theo dự đoán và bán ra thị trường Tham vọng của các nhà đầu cơ chưa dừng ở đó, họ còn vay chứng khoán của người khác để bán (bán khống) Hành động này vô cùng nguy hiểm cho những người bán khống trước
đó bởi những người này đã vay chứng khoán để bán với mục đích kiếm lời, sau đó đợi giá chứng khoán đó giảm xuống thì họ sẽ mua chứng khoán với giá rẻ để trả lại Nhưng hành vi đầu cơ thu hút của nhà đầu cơ vô hình chung đã đẩy giá chứng khoán lên quá cao trong khi thời hạn trả lại chứng khoán đã tới bắt buộc những người bán khống trước này phải mua vào chứng khoán giá cao để trả lại cho người
họ đi vay Thậm chí, chưa kể khoản lãi suất mà họ phải trả khi vay chứng khoán của người khác
1.3.3 Hùn vốn
Đây là hành vi liên kết tạm thời giữa hai hay nhiều người trong một vụ mua bán chứng khoán để cùng mua cho giá tăng lên, cùng bán cho giá giảm xuống Khi giá đã tăng hoặc hạ xuống đến một điểm tối ưu, một người trong số đó mua vào hoặc bán hết ra Hùn vốn nếu có “tay trong” nắm rõ những thông tin nội bộ nhanh
và chính xác nhất để xác nhận và sử dụng thông tin đó cho nhóm hùn vốn thực hiện mua, bán chứng khoán thu được lợi nhuận thì sự hùn vốn này trở thành hành vi đầu
cơ tinh vi nhất
Trang 241.4 Tác động của các hành vi đầu cơ lên thị trường chứng khoán
1.4.1 Tác động tiêu cực
Thị trường chứng khoán luôn tồn tại hai mặt Nếu quản lý và điều hành không tốt những tác động tiêu cực mà nhất là hành vi đầu cơ sẽ phát sinh gây ra những thiệt hại rất lớn đối với nền kinh tế
- Hành vi đầu cơ làm cho thị trường chứng khoán mất bình ổn và dẫn đến nguy cơ dễ đổ vỡ
Một thị trường chứng khoán được xem là hoạt động tốt khi nó hội đủ ba yếu tố: các công ty cổ phần nói riêng hay nền kinh tế chung vững mạnh, kỹ thuật thị trường chứng khoán ổn định, tâm lý các nhà đầu tư vững vàng trước những biến động của thị trường Biểu hiện ra ngoài của sự bình ổn của một thị trường chính là giá cả của các loại chứng khoán không tăng hoặc giảm một cách đột ngột mà phải
có một thời gian điều chỉnh thích hợp Khi hành vi đầu cơ xuất hiện đã phá vỡ sự ổn định của thị trường bằng cách tác động lên tâm lý của đại đa số công chúng tham gia thị trường chứng khoán Do yếu tố tâm lý quá nặng nên tác động lên phản ứng
tín hiệu nào đó phát ra trên thị trường thì công chúng sẽ phản ứng một cách bầy đàn
là cùng mua hoặc là cùng bán một loại chứng khoán Hành động trên sẽ đem đến hậu quả là giá của một số loại chứng khoán nào đó sẽ cùng tăng lên cao hoặc giảm xuống thấp một cách đột ngột và không thể kiểm soát được làm cho thị trường chứng khoán mất ổn định và ngày càng tạo điều kiện cho các hành vi đầu cơ, lũng đoạn phát sinh trên thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ nên khó tránh khỏi những biến động lớn xảy ra trên thị trường Một số biến động lớn có thể gây ra sự sụp đổ cho thị trường như:
Việc công chúng bị cuốn vào vòng mua bán của giới đầu cơ, họ cùng đổ xô mua một loại chứng khoán vô hình chung đã đẩy giá chứng khoán lên quá cao vượt
khoán tăng lên đến đỉnh điểm, nhà đầu cơ sẽ bán ra một khối lượng lớn chứng
Theo Nguyễn Đình Tài, Để thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh và bền vững cần có
những điều chỉnh phù hợp, Tạp chí Tài chính số 2/2009, Tr.29
Trang 25khoán khiến cho giá chứng khoán giảm xuống một cách đột ngột Vào thời điểm đó hầu hết công chúng vẫn còn niềm tin đối với loại chứng khoán ấy nhưng sau đó do giá chứng khoán ngày càng giảm xuống họ sẽ có những phản ứng bầy đàn là đồng loạt bán ra để mong bảo toàn nguồn vốn làm cho giá chứng khoán càng hạ xuống thấp hơn Ở một thị trường giá của một loại chứng khoán có thứ hạng cao đột nhiên giảm xuống sẽ kéo theo sự sụt giảm của các loại chứng khoán có thứ hạng thấp hơn Nếu thị trường được quốc tế hóa thì tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng hơn, bởi sự rớt giá chứng khoán trên thị trường này sẽ lan truyền sang thị trường khác Và các nhà đầu tư nước ngoài cũng đồng loạt rút vốn ra khỏi thị trường tính trầm trọng càng lên đến đỉnh điểm Hậu quả tiếp theo là giá của các loại chứng khoán sẽ hạ xuống mức thấp nhất thậm chí không còn giá trị, các giao dịch không còn, thị trường bị tê liệt, đổ vỡ Sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Bởi thị trường chứng khoán vốn là một bộ phận của thị trường tài chính và có mối liên hệ mật thiết với các thị trường khác như: vàng, bất động sản… cho nên sự sụp đổ của nó sẽ kéo theo hệ lụy là các thị trường liên quan đó cũng chao đảo, gặp nhiều biến động theo
- Hành vi đầu cơ gây ra những thiệt hại lớn cho công chúng tham gia vào thị trường chứng khoán
Công chúng tham gia vào thị trường chứng khoán bao gồm nhiều thành phần,
họ có thể là nhà đầu tư lớn nhỏ, ngắn hạn và dài hạn Họ cũng có thể là những nhà đầu cơ theo phong trào, họ có thể là cá nhân hoặc tổ chức lớn nhỏ khác nhau… Những bất lợi về thông tin, nguồn lực tài chính, kinh nghiệm bao giờ cũng đặt họ ở một vị thế thấp hơn so với nhà đầu cơ trên thị trường Đặc biệt sự thành công của những nhà đầu cơ lại chính là thiệt hại của các đối tượng nói trên phải nhận lấy Khi rơi vào bẫy tâm lý của các nhà đầu cơ những người tham gia vào thị trường chứng khoán đã bán các loại chứng khoán rất có giá trị của mình hay phải bỏ ra một số tiền lớn mua loại chứng khoán không mấy có giá trị để rồi gánh chịu thiệt hại vô cùng lớn Trong số đó, có một số người đã huy động vốn mua chứng khoán bằng cách vay, mượn, cầm cố, thế chấp tài sản… nên khi thị trường xảy ra biến động do hành
vi đầu cơ gây ra thì họ lập tức rơi vào tình trạng trắng tay, thậm chí còn mang một
số nợ khổng lồ
- Hành vi đầu cơ gây ra tâm lý e ngại cho những người muốn tham gia vào thị trường chứng khoán Không ai dám đưa nguồn vốn của mình vào đầu tư trên một thị trường có quá nhiều bất ổn, không an toàn và đầy mạo hiểm như thế Chính vì vậy mà các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ không muốn tham gia vào thị trường
Trang 26nữa Từ đó, nguồn vốn nhàn rỗi của công chúng không thể huy động có hiệu quả,, thị trường chứng khoán cũng không thực hiện được chức năng của mình là huy động vốn cho nền kinh tế và tạo môi trường đầu tư cho công chúng một cách rộng rãi
- Hành vi đầu cơ còn gây thiệt hại cho các doanh nghiệp có chứng khoán niêm yết
Thị trường chứng khoán là một trong những kênh đánh giá và phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Những tín hiệu phát ra từ quá trình hoạt động của doanh nghiệp sẽ được thị trường xử lý và cung cấp thông tin để các nhà đầu tư lựa chọn hướng đầu tư Để làm được điều đó thì thông tin trên thị trường phải được phản ánh một cách trung thực Nhà đầu cơ luôn lợi dụng triệt để các sơ
hở nhằm xuyên tạc, biến dạng thông tin làm cho nó không phản ánh một cách đúng đắn về doanh nghiệp Đây chính là những nguyên nhân khiến một số doanh nghiệp
có hoạt động kinh doanh tốt nhưng chứng khoán của họ trên thị trường lại bị rớt giá
và ngược lại Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến doanh nghiệp, nhất là uy tín của họ trên thương trường ví dụ như việc doanh nghiệp này muốn phát hành thêm chứng khoán ra công chúng để huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì chắc chắn rằng sẽ gặp không ít khó khăn
1.4.2 Những tác động tích cực
Mặc dù hành vi đầu cơ có chứa đựng những tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán tuy nhiên khi xét hành vi đầu cơ ở một góc độ nào đó thì nó vẫn có những tác động tích cực nhất định
- Hành vi đầu cơ có tác dụng điều hòa những biến động trên thị trường ở một thời điểm nào đó Giả sử, một thị trường chứng khoán do những nguyên nhân nào
đó mà giá các loại chứng khoán tăng hoặc giảm khá mạnh Khi giá chứng khoán của một công ty tăng quá mức nhà đầu cơ bán ra một khối lượng lớn chứng khoán làm cho giá chứng khoán của công ty đó không tăng nữa hoặc giá cổ phiếu của công ty giảm mạnh nhà đầu cơ mua vào với mục đích kiếm lời làm cho giá cổ phiếu tăng lên Hành động này khiến cho giá chứng khoán không vượt quá xa so với giá trị thực của nó, đồng thời tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán trên thị trường
- Hành vi đầu cơ giúp cho những người tham gia vào thị trường chứng khoán
có được những bài học quý báu về sự cẩn trọng và cân nhắc khi đưa ra các quyết định đầu tư, từ đó làm cho thị trường chứng khoán trở nên năng động và chuyên
Trang 27nghiệp hơn Thị trường chứng khoán ngày càng chuyên nghiệp thì càng ít có điều kiện để đầu cơ phát sinh, góp phần xây dựng nền kinh tế đất nước ngày càng bền vững và phát triển mạnh mẽ
Những tác động tích cực của hành vi đầu cơ phần nào chỉ mang tính chất tương đối nhưng hậu quả tiêu cực của nó có thể dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống kinh tế Vì vậy việc chống hành vi đầu cơ vẫn là yêu cầu hết sức cần thiết trên thị trường chứng khoán hiện nay góp phần lành mạnh và minh bạch hóa thị trường
có nhiều tiềm năng này Thị trường càng phát triển thì hành vi đầu cơ ngày càng trở nên tinh vi và khó phát hiện hơn Do đó, việc tăng cường quản lý điều hành thị trường chứng khoán phải luôn được quan tâm đúng mực nếu quản lý không tốt sẽ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng
1.5 Sự cần thiết của việc chống các hành vi đầu cơ bị cấm trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và sơ khai, xuất
Phương Tây ở thời Trung cổ bằng việc các thương gia tập hợp lại mua bán các loại sản phẩm hàng hóa mà không cần mẫu mã hàng hóa, hoặc thỏa thuận với nhau những hợp đồng mà việc thực hiện sẽ diễn ra vào 3 tháng, 6 tháng, 1 năm … sau
của các nhà đầu cơ Dần dần về sau mới có sự tham gia của công chúng đầu tư Khi phát triển đến một mức độ nhất định, thị trường xuất hiện những tiêu cực dẫn đến
Riêng ở Việt Nam, sự ra đời của thị trường chứng khoán được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Dù được khai sinh khá muộn so với các thị trường trên thế giới nhưng thị trường nước ta đã
có bước tiến đáng kể đáp ứng cơ bản những đòi hỏi của nền kinh tế như nhiệm vụ huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế đồng thời tạo môi trường đầu tư cho công chúng tham gia vào thị trường chứng khoán Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay thị trường chứng khoán nước ta đang gặp rất
Trang 28nhiều khó khăn và thách thức Vì thế đòi hỏi phải có thị trường chứng khoán phải luôn ổn định, không để cho các hành vi đầu cơ trái luật cũng như các hành vi tiêu cực khác có cơ hội phát sinh trên thị trường Điều này cũng là yêu cầu đặt ra cho thị trường chứng khoán của các quốc gia trên thế giới nói chung và của thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng Hơn thế nữa đó còn là yêu cầu hết sức cần thiết trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay bởi vì những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, thị trường chứng khoán nước ta là một thị trường còn khá non trẻ Trong khi lịch sử của các thị trường chứng khoán trên thế giới được hình thành cách đây hàng chục, hàng trăm năm đã trải qua nhiều biến động lớn để tiến đến sự chuyên nghiệp thì thị trường nước ta mới bước sang tuổi thứ mười hai và đang tập bước những bước đi đầu tiên nên khó tránh khỏi gặp nhiều khó khăn, thử thách Để thị trường hoạt động đạt được hiệu quả theo đúng nghĩa của nó thì một trong những
cơ sở vững chắc cho việc thực hiện đó chính là pháp luật Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh về chứng khoán ở nước ta vẫn đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện nên chưa có thể điều chỉnh hết những vấn đề phát sinh trên thị trường phức tạp này Đặt trong bối cảnh bất bình thường của nền kinh tế thế giới, những biến động đối với thị trường là điều không thể tránh khỏi Do đó, việc chống đầu cơ sẽ góp phần hạn chế những biến động xấu có thể xảy ra trên thị trường chứng khoán
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu bảo vệ công chúng tham gia trên thị trường chứng khoán Ở Việt Nam người tham gia trên thị trường chứng khoán đa số là cá nhân nhỏ lẻ Hạn chế của những người này là chưa có kiến thức và kinh nghiệm trên thị trường vì thế mà họ hay mắc phải sai lầm khi tham gia đầu tư trên thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro này Những sai lầm của công chúng thường bị giới đầu cơ lợi dụng triệt để nhằm trục lợi Và hậu quả là thiệt hại mà những người này phải gánh chịu là không nhỏ Trước tình hình trên đòi hỏi nhà nước cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và đồng bộ để có những biện pháp thật sự nghiêm khắc trừng trị các hành vi đầu cơ trục lợi gây thiệt hại cho các nhà đầu tư chân chính Đặc biệt là bảo vệ họ không phải rơi vào thế bị động trên thị trường nhiều biến động này
Thứ ba, thị trường chứng khoán nước ta là công cụ hỗ trợ cho quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Thị trường chứng khoán ra đời là một tất yếu khách quan phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế Tuy nhiên, nó cũng cần có sự hỗ
Trang 29trợ rất lớn từ phía Nhà nước để “khai sinh” ra nó15 Một trong những sự hỗ trợ đó là thông qua việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Và khi thị trường chứng khoán nước ta phát triển ổn định thì nó sẽ quay lại hỗ trợ để cho quá trình cổ phần hóa diễn ra nhanh hơn Từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa thị trường chứng khoán và
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có thể nói giữa chúng có mối quan hệ mật thiết,
hỗ trợ cho nhau Cổ phần hóa phải cung cấp cho thị trường những chứng khoán thật
sự chất lượng thì việc mua bán trên thị trường mới có thể diễn ra tốt đẹp và suôn sẻ Nếu thị trường chứng khoán hoạt động không tốt thì quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp sẽ diễn ra chậm chạp, chứng khoán của doanh nghiệp khó có thể niêm yết trên thị trường, mục đích huy động vốn ngoài quốc doanh khó mà thực hiện được
Do đó, để thị trường chứng khoán hoạt động tốt hỗ trợ đắc lực cho quá trình cổ phần hóa, Nhà nước phải có các chính sách quản lý điều hành thị trường hợp lý Và việc chống đầu cơ trên thị trường là một vấn đề bức thiết nằm trong khuôn khổ các chính sách đó
Sự cần thiết của việc chống đầu cơ trên thị trường chứng khoán cũng là nhiệm
vụ cấp thiết của việc xây dựng tính hiệu quả cho các quy định pháp luật có liên quan đến vấn đề này Và yêu cầu đặt ra khi xây dựng những quy định của pháp luật
về chứng khoán là phải tìm ra được các biện pháp toàn diện, đồng bộ, có tính khả thi cao có như vậy thì các hành vi đầu cơ nguy hiểm mới không có điều kiện phát sinh trên thị trường
1.6 Các hành vi đƣợc xem là hành vi đầu cơ bị pháp luật cấm ở Việt Nam
Trên thị trường chứng khoán muốn loại bỏ hành vi đầu cơ một cách triệt để là hoàn toàn không thể vì xét cho cùng thì đầu cơ cũng chỉ là sự mua đi bán lại một loại chứng khoán nào đó mà thôi Mặc khác, hành vi đầu cơ cũng góp phần làm cho thị trường chứng khoán trở nên náo nhiệt hơn và tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán nên thị trường buộc phải chấp nhận đầu cơ ở một mức độ nào đó Nói như vậy, không có nghĩa là bất kì hành vi đầu cơ nào cũng được chấp nhận trên thị trường chứng khoán, có những hành vi đầu cơ trái luật là hành vi bị cấm trên thị trường Đặc biệt là ở thị trường chứng khoán khá non trẻ như Việt Nam nếu không quy định cụ thể những hành vi đầu cơ nào bị cấm thì rất dễ bị giới đầu cơ lợi dụng khe hở của pháp luật nhằm lũng đoạn thị trường
15
Trịnh Văn Quyết, Đào Mạnh Kháng, Triển vọng thị trường chứng khoán Việt Nam nhìn từ góc
độ pháp lý, NXB Tư pháp Năm 2007, Tr.24
Trang 30Những hành vi đầu cơ bị cấm này thường được thực hiện bởi sự “tiếp tay” của nhiều hành vi trái luật khác như: mua bán nội gián, thao túng giá chứng khoán và đưa thông tin sai sự thật, chúng rất tinh vi và diễn biến vô cùng phức tạp Nhà đầu
cơ cấu kết với những người nắm giữ thông tin nội bộ của một công ty phát hành chứng khoán để mua bán chứng khoán Chẳng hạn một thông tin tốt về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty khi công bố sẽ làm cho giá cổ phiếu của công ty đó tăng lên Thông qua những người trong công ty thông tin này đến được với nhà đầu
cơ, lập tức nhà đầu cơ sẽ bỏ tiền ra mua một lượng lớn cổ phiếu của công ty đó để khi thông tin được công bố ra công chúng giá cổ phiếu tăng lên họ sẽ bán ra và thu lợi nhuận lớn về Cũng với những thông tin nội bộ, nhà đầu cơ công bố ra bên ngoài làm cho giá cổ phiếu của một công ty có thể tăng hoặc giảm theo ý muốn của họ, từ
đó nhà đầu cơ có thể tha hồ thu lợi về tay mình Hoặc dựa vào tiềm lực tài chính nhà đầu cơ sẽ thao túng giá bằng cách mua bán đồng loạt một loại chứng khoán để tạo ra sự biến động giá theo kế hoạch mà họ đặt ra Trong phạm vi đề tài, người viết tập trung nghiên cứu những hành vi đầu cơ bị pháp luật cấm, đó là những hành vi:
- Về tính chất: Là hành động nhằm tạo ra sức ép lớn lên quan hệ cung cầu đối với một loại chứng khoán dẫn đến giá chứng khoán tăng hoặc giảm đột ngột không đúng với giá trị thực của nó trên thị trường nhằm đem lại lợi ích cho nhà đầu cơ
- Về mục tiêu: Tạo ra một giá chứng khoán giả tạo nhằm nâng giá lên rồi bán tháo số chứng khoán cho người mua; hoặc giữ giá ổn định ở một mức cao hơn giá thực tế của nó để bán kiếm lời; hay tìm cách giảm giá xuống rồi mua chứng khoán
về càng nhiều càng tốt
Theo quy định của pháp luật về chứng khoán ở nước ta thì các hành vi đầu cơ
bị cấm trên thị trường được quy định cụ thể tại Điều 9 Luật chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung 2010 cụ thể là những hành vi sau:
- Trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc bỏ soát thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán
- Công bố thông tin sai lệch nhằm lôi kéo, xúi giục mua, bán chứng khoán hoặc công bố thông tin không kịp thời, đầy đủ về các sự việc xảy ra có ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán trên thị trường
Trang 31- Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán cho chính mình hoặc cho người khác; tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho người khác mua, bán chứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ
- Thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục mua, bán để thao túng giá chứng khoán; kết hợp hoặc sử dụng các phương pháp giao dịch khác để thao túng giá chứng khoán
- Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khi chưa được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép hoặc chấp thuận
Bên cạnh những hành vi bị cấm trên, Luật chứng khoán lại có quy định rằng công ty chứng khoán có nghĩa vụ phải: “Thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng
thể thế nào là bán khống và bán khống chứng khoán là như thế nào, nhưng về mặt ngữ nghĩa của quy định này có thể nói đây là trường hợp gián tiếp thừa nhận việc thực hiện nghiệp vụ bán khống chứng khoán của công ty chứng khoán Với nghiệp
vụ này, nhà đầu tư có thể kinh doanh chứng khoán thông qua hình thức vay mượn vốn của công ty chứng khoán hay ngân hàng chuyên về lĩnh vực đầu tư chứng khoán để mua bán chứng khoán Đặc biệt, nhà đầu tư ngoài việc được vay tiền mua chứng khoán mà còn có thể vay chứng khoán để bán ra thị trường Theo quy định của luật thì không cấm hành vi nói trên nhưng thực tế chưa được thực hiện vì phải chờ văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính Và mới đây Bộ Tài chính vừa ban hành Công văn số 2816/UBCK-QLKD ngày 5/9/2011 do Phó chủ tịch Nguyễn Đoan Hùng đã ký nhằm để đảm bảo cho việc tuân thủ quy định pháp luật về chứng khoán
và thị trường chứng khoán trong hoạt động giao dịch chứng khoán với nội dung như sau: “ Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ không được thực hiện hoặc đứng
ra làm trung gian cho việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bán khi chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn Như vậy, tính tới thời điểm hiện nay thì Việt Nam cũng chưa cho phép thực hiện việc bán khống chứng khoán Thông qua quy định trong Luật chứng khoán cũng như nội dung của công văn 2816/ UBCK-QLKD cho thấy rõ ràng có sự mâu thuẫn trong việc quy định về nghiệp vụ bán khống chứng khoán ở thị trường chứng khoán nước ta Tuy nghiệp vụ bán khống trong lĩnh vực chứng
16
Khoản 9 Điều 71 Luật chứng khoán
Trang 32khoán là xu thế tất yếu để đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư, các tổ chức môi giới chứng khoán chuyên nghiệp nhưng cũng không thể phủ nhận hoạt động bán khống chứng khoán có thể mang đến những rủi ro nhất định cho nhà đầu tư, các công ty chứng khoán, hoặc có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến thị trường chứng khoán Việt Nam
Vì vậy, xét thấy tính quan trọng trong việc phòng ngừa các hành vi tiêu cực, đặc biệt là hành vi đầu cơ gây nguy hại cho thị trường chứng khoán, pháp luật Việt Nam đã có những quy định khá cụ thể nhằm chống lại các hành vi đầu cơ tiêu cực trên thị trường chứng khoán góp phần mang lại sự phát triển ổn định cho thị trường
Và phần này sẽ được người viết tiếp tục phân tích ở Chương 2 : Các biện pháp
chống đầu cơ trên thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 33về chứng khoán cần phải được xây dựng một cách chặt chẽ và ngày càng hoàn thiện mang tính khả thi cao, như vậy mới có khả năng phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi đầu cơ tiêu cực trên thị trường, góp phần làm cho thị trở nên lành mạnh và phát triển hơn… Luật chứng khoán 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2010
và hàng loạt văn bản hướng dẫn thi hành khác đã chứa đựng nhiều quy định có ý nghĩa trong việc chống hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán nói chung và hành vi đầu cơ nói riêng Chống đầu cơ trên thị trường chứng khoán là gắn liền việc kiểm soát nhiều mặt đối với thị trường và xây dựng một hệ thống chế tài thật nghiêm khắc dành cho các hành vi đầu cơ nguy hiểm nói trên là điều hết sức cấp thiết và vô cùng quan trọng trong giai đoạn hiện nay
2.1 Kiểm soát đối với các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán có ba chủ thể cơ bản cần phải xem xét đó là: tổ chức phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán và nhà đầu tư chứng khoán Để các loại chứng khoán được đưa vào giao dịch trên thị trường đòi hỏi phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều quá trình phức tạp khác nhau chứ không giống với hoạt động mua bán hàng hóa thông thường chỉ cần người mua và người bán thỏa thuận giá cả, các điều kiện có liên quan tới việc mua bán là có thể giao nhận hàng hóa một cách
Trang 34dễ dàng Ở thị trường chứng khoán sẽ rất khác với thị trường mua bán hàng hóa thông thường ở chỗ: tổ chức phát hành sẽ đóng vai trò cung cấp hàng hóa - các loại chứng khoán cho thị trường Còn nhà đầu tư là người quyết định sức mua đối với loại chứng khoán đó và công ty chứng khoán sẽ là trung gian cho hoạt động mua bán chứng khoán giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư Vì thế mà quá trình từ phát hành chứng khoán đến khi đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ rất dễ phát sinh hành vi đầu cơ gây nguy hại cho thị trường Do vậy, việc kiểm soát đối với các chủ thể cơ bản này trên thị trường là hết sức cần thiết cho sự phát triển của một thị trường chứng khoán lành mạnh, ổn định và đạt hiệu quả cao vì khi kiểm soát tốt được các quá trình từ phát hành đến khi đưa chứng khoán ra thị trường giao dịch, các thông tin công bố luôn rành mạch
rõ ràng, không bị khuất lấp thì sẽ góp phần hạn chế được các tình trạng đầu cơ chứng khoán gây nguy hại cho thị trường
2.1.1 Tổ chức phát hành chứng khoán
Tổ chức phát hành chứng khoán là tổ chức thực hiện chào bán chứng khoán, đóng vai trò cung cấp hàng hóa cho thị trường Thông thường, khi một loại hàng hóa có chất lượng cao và thương hiệu uy tín trên thị trường thì hàng hóa đó nhất định sẽ được khách hàng lựa chọn và sử dụng nhiều vì nó có độ an toàn và chất lượng cao so với các mặt hàng khác Đối với hàng hóa là chứng khoán cũng vậy thị trường cũng luôn đòi hỏi phải có chất lượng cao vì chất lượng của chứng khoán tác động rất lớn đối với sức mua của nhà đầu tư, từ đó quyết định tính thanh khoản của chứng khoán trên thị trường Chứng khoán có độ an toàn càng cao thì các nhà đầu
cơ càng khó nhằm vào nó để đầu cơ thao túng giá chứng khoán, lũng đoạn thị trường Vì thế, để đưa vào thị trường các loại chứng khoán có độ an toàn cao, bảo đảm chất lượng thì tổ chức phát hành phải tuân thủ theo những nguyên tắc, phương thức và trình tự nhất định của pháp luật Việc kiểm soát đối với các tổ chức phát hành sẽ được tập trung chủ yếu vào việc hoạt động chào bán chứng khoán của họ Nếu hoạt động kiểm soát được thực hiện tốt, các tổ chức phát hành tuân thủ đúng quy định của pháp luật thì sẽ góp phần rất quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch, ổn định và công bằng cho thị trường chứng khoán nhằm hạn chế các hành vi tiêu cực phát sinh đặc biệt là hành vi đầu cơ gây nguy hại cho thị trường Ở nước ta hoạt động chào bán chứng khoán phải thực hiện theo một quy trình với những điều kiện nhất định được quy định cụ thể trong Luật chứng khoán 2006 như sau:
Trang 352.1.1.1 Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng
Điều kiện chào bán các loại chứng khoán ra công chúng của tổ chức phát hành được quy định khác nhau, dựa vào đặc điểm riêng biệt của từng loại chứng khoán mà tổ chức phát hành phải tuân thủ những quy định riêng khác nhau mới có thể chào bán chứng khoán ra thị trường được quy định cụ thể tại Điều 12 Luật chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2010
- Theo quy định điều kiện chào bán đối với cổ phiếu là: doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên, hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi đặc biệt không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán Ngoài ra, phải có phương
án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua Đồng thời, công ty đại chúng đăng ký chào bán chứng khoán phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua
- Đối với hoạt động chào bán trái phiếu doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau: mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán trái phiếu của doanh nghiệp phát hành là mười tỷ đồng Việt Nam trở lên không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm,
có phương án phát hành, phương án sử dụng vốn và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua Bên cạnh đó, tổ chức phát hành phải cam kết thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác có liên quan
- Đối với với việc phát hành chứng chỉ quỹ thì tổ chức phát hành cần phải có tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu là năm mươi tỷ đồng Việt Nam, có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào bán chứng chỉ quỹ phù hợp quy định của pháp luật
- Còn trường hợp chào bán chứng khoán của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần, doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao, chào bán chứng khoán ra nước ngoài là do Chính phủ quy định
Ngoài ra, chào bán chứng khoán ra công chúng còn có được quy định thêm trường hợp chào bán chứng khoán riêng lẻ dành cho các công ty đại chúng chưa đủ
Trang 36điều kiện lên sàn giao dịch để niêm yết chứng khoán Đây là trường hợp tổ chức phát hành chào bán chứng khoán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu
tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet Quy định này nhằm tạo điều kiện cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ có điều kiện huy động vốn thông qua hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ khi chưa đáp ứng đủ điều kiện để niêm yết chứng khoán Đồng thời, các cơ quan quản lý cũng dễ dàng giám sát và kiểm soát số lượng chứng khoán sẽ lưu thông trên thị trường và có các biện pháp điều chỉnh thị trường hoạt động theo đúng các nguyên tắc của thị trường chứng khoán nhằm hạn chế tình trạng tràn lan Đối với việc chào bán chứng khoán riêng lẻ của tổ chức phát hành không phải là công ty đại chúng được quy định theo Luật doanh nghiệp 2005 và các quy định có liên quan khác Còn nếu là việc chào bán riêng lẻ của công ty đại chúng thì phải tuân thủ như sau:
- Phải có quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thông qua phương án chào bán và sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán; xác định rõ đối tượng, số lượng nhà đầu tư
- Việc chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu một năm, kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, trừ trường hợp chào bán theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty, chuyển nhượng chứng khoán đã chào bán của cá nhân cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật
- Các đợt chào bán cổ phần hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau
ít nhất sáu tháng
Thị trường chứng khoán là một thị trường đặc biệt là thị trường của hàng hóa vốn cho nên những yêu cầu đặt ra của việc chào bán chứng khoán của tổ chức phát hành đòi hỏi phải tuân thủ một cách nghiêm túc và đúng quy định của pháp luật Nếu được như thế thì các loại chứng khoán khi được phát hành sẽ có chất lượng cao, ổn định và giới đầu cơ sẽ khó nhắm vào để thực hiện mục tiêu đầu cơ nguy hại cho thị trường
2.1.1.2 Trình tự thủ tục chào bán các loại chứng khoán
- Đăng ký chào bán
Trước tiên, tổ chức phát hành muốn thực hiện chào bán chứng khoán ra thị trường thì phải làm hồ sơ đăng ký chào bán với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chào bán Hồ sơ đăng ký phải đầy đủ các loại
Trang 37giấy tờ theo quy định của Luật chứng khoán 2006 và phụ thuộc vào từng loại chứng
giấy tờ, mỗi loại có nội dung quan trọng khác nhau Và tùy thuộc vào từng loại chứng khoán của tổ chức phát hành muốn đăng ký chào bán mà có hồ sơ khác nhau, tuy nhiên xét thấy trong các loại giấy tờ thì Bản cáo bạch là tài liệu quan trọng nhất
Do chứng khoán phát hành có nhiều loại nên nội dung trong Bản cáo bạch sẽ khác nhau đối với từng loại Thông tin trong Bản cáo bạch là những thông tin vô cùng quan trọng về tổ chức, bộ máy, báo cáo tài chính, phương án phát hành… của tổ chức phát hành mà nhà đầu tư cần phải quan tâm khi đưa ra quyết định có nên đầu
tư vào loại chứng khoán của tổ chức đó phát hành ra hay không Thông tin trong Bản cáo bạch là rất cần thiết, thông tin càng rõ ràng, minh bạch càng đáng tin cậy bấy nhiêu thì khả năng xuyên tạc, bóp méo thông tin của nhà đầu nhằm mục đích thực hiện hành vi đầu cơ càng giảm xuống bấy nhiêu Từ đó, các điều kiện phát sinh đầu cơ bị tiêu diệt góp phần làm cho thị trường trở nên chuyên nghiệp và phát triển mạnh mẽ hơn
- Thẩm định và cấp giấy chứng nhận đăng ký chào bán
Sau khi nhận được hồ sơ của tổ chức phát hành Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phải xem xét thẩm định hồ sơ để xác minh tính trung thực và đầy đủ về những thông tin mà doanh nghiệp đã kê khai có trung thực và đáng tin cậy không Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phải hoàn tất việc thẩm định và ra quyết định có cấp hay không cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức phát hành Nếu không chấp nhận thì Ủy ban phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do không cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức phát hành theo quy định của Luật chứng khoán
- Tổ chức phát hành chứng khoán công bố thông tin về đợt phát hành
Trong thời gian Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thẩm định hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành và tổ chức, cá nhân có liên quan chỉ được sử dụng trung thực và chính xác các thông tin trong Bản cáo bạch đã gửi cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để thăm dò thị trường, trong đó phải nêu rõ các thông tin về ngày phát hành chứng khoán ra thị trường và giá bán chứng khoán chỉ là thông tin dự kiến Việc thăm dò thị trường không được thực hiện trên phương tiện thông tin đại chúng Sau khi tổ chức phát
17
Hồ sơ đăng ký chào bán đối với các loại chứng khoán được quy định cụ thể tại Điều 14, 15, 16 Luật chứng khoán 2006 và được hướng dẫn ở Thông tư số 17/2007/TT-BTC và Thông tư 112/2008/TT-BTC sửa đổi một số điều của Thông tư 17/2007
Trang 38hành được Ủy ban Chứng khoán cấp Giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán, tổ chức phát hành phải công bố Bảng thông báo phát hành trên một tờ báo điện tử hoặc báo viết trong ba số liên tiếp, trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày Giấy chứng nhận có hiệu lực
- Phân phối chứng khoán và báo cáo kết quả
Việc phân phối chứng khoán được tổ chức phát hành tiến hành sau khi đã thực hiện xong việc công bố thông tin và bảo đảm là các nhà đầu tư có khả năng tiếp cận đầy đủ thông tin mà tổ chức phát hành này đã công bố Thời hạn để khách hàng đăng ký mua chứng khoán tối thiểu là hai mươi ngày và thời hạn phân phối chứng khoán là chín mươi ngày kể từ ngày giấy chứng nhận chào bán có hiệu lực Sau khi hoàn tất việc chào bán chứng khoán tổ chức phát hành phải báo cáo kết quả đợt chào bán cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn mười ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán, kèm theo xác nhận của ngân hàng nơi mở tài khoản phong tỏa về số tiền thu được trong đợt chào bán
Có thể thấy rằng quy trình chào bán chứng khoán ra công chúng là một quy trình khá chặt chẽ Với các quy định trên, một loại chứng khoán muốn lưu hành trên thị trường phải qua sự kiểm soát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cơ quan này
sẽ kiểm tra doanh nghiệp có thật sự đủ điều kiện để chào bán chứng khoán hay không Thông qua việc thẩm định hồ sơ, Ủy ban chứng khoán sẽ từ chối cấp Giấy chứng nhận nếu không đủ điều kiện và ngược lại Như vậy, chất lượng của các loại chứng khoán sẽ được thẩm định và sàng lọc một lần bởi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trước khi đến với nhà đầu tư Không dừng ở đó, các loại chứng khoán còn phải qua sự lựa chọn thận trọng của các nhà đầu tư trước khi họ đưa ra quyết định đầu tư Việc tổ chức chào bán chứng khoán chỉ được thực hiện sau khi được cấp Giấy chứng nhận chào bán và công bố thông tin rộng rãi đến nhà đầu tư có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, nhà đầu tư qua những thông tin đó sẽ đánh giá khả năng sinh lợi của chứng khoán và triển vọng phát triển của doanh nghiệp để làm cơ sở đưa ra quyết định đầu tư của mình Như vậy, nếu quy trình chào bán chứng khoán thật sự được tuân thủ và thực hiện theo những trình tự thủ tục nghiêm ngặt của luật, các thông tin được công bố rõ ràng và đáng tin cậy thì các nhà đầu cơ sẽ rất khó lợi dụng những kẽ hở đó để tiến hành mục đích đầu cơ gây nguy hại cho thị trường chứng khoán Từ đó, góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ cũng như làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên chuyên nghiệp hơn, tình trạng tiêu cực sẽ không còn điều kiện phát sinh Cho nên, việc kiểm soát quy trình chào bán chứng
Trang 39khoán là yêu cầu hết sức cần thiết và quan trọng được đặt ra trong giai đoạn hiện nay
2.1.2 Công ty chứng khoán
Một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng của thị trường chứng khoán
là nguyên tắc mua bán trung gian Điều này có nghĩa là các loại chứng khoán được phát hành không được bán một cách trực tiếp cho các nhà đầu tư mà phải qua trung gian đó chính là các công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một loại hình định chế trung gian đặc biệt trên thị trường chứng khoán, thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán như là ngành nghề kinh doanh chính Khi doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán, doanh nghiệp không thể tự mình bán đi số chứng khoán mà doanh nghiệp phát hành vì doanh nghiệp không có
bộ phận chuyên môn để làm việc đó Vì vậy, doanh nghiệp cần có những người chuyên nghiệp hơn để phát hành chứng khoán ra thị trường cho họ, khi đó doanh nghiệp sẽ tìm tới công ty chứng khoán Tương tự, các nhà đầu tư cũng không thể tự mình tìm đến Sở giao dịch để mua bán chứng khoán vì họ không có chuyên môn, không nắm rõ các quy tắc nghề nghiệp và số lượng nhà đầu tư là khá lớn nên việc mua bán sẽ trở nên phức tạp khó kiểm soát hơn Nhờ có công ty chứng khoán mà các cổ phiếu, trái phiếu, chứng chĩ quỹ… luôn được lưu thông và mua bán tấp nập trên thị trường Từ đó, việc huy động vốn của các doanh nghiệp trở nên hiệu quả và
dễ dàng hơn
Công ty chứng khoán đóng vai trò vừa là người tạo lập thị trường (làm trung gian cho hoạt động mua bán chứng khoán giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư chứng khoán), vừa có thể trở thành nhà đầu tư nếu có tham gia hoạt động tự doanh chứng khoán Ngoài ra, công ty chứng khoán còn cung cấp các dịch vụ cho thị trường chứng khoán như tư vấn đầu tư, môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán Do lĩnh vực hoạt động của công ty chứng khoán khá rộng nên họ rất
dễ cấu kết với giới đầu cơ hoặc bản thân của chính công ty chứng khoán là một đối tượng đầu cơ thì hành vi đầu cơ sẽ rất nguy hiểm cho thị trường và rất khó có thể phát hiện Vì thế, công ty chứng khoán cũng là đối tượng cần được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế những hành vi đầu cơ nguy hiểm cho thị trường
Theo pháp luật Việt Nam để trở thành một công ty chứng khoán đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện theo quy định như sau:
- Về hình thức pháp lý công ty chứng khoán phải được tổ chức dưới hình thức
là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 40- Về vốn pháp định công ty chứng khoán phải có đủ vốn theo quy định của Chính phủ
- Điều kiện về nhân sự, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán Điều kiện về cơ sở vật chất phải có trụ sở, trang thiết bị để phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty
Với những quy định trên, nếu công ty chứng khoán đáp ứng đầy đủ những điều kiện đó sẽ có thể hoạt động tốt hơn góp phần vào sự phát triển của thị trường chứng khoán Bên cạnh đó, vấn đề về các nghiệp vụ kinh doanh và nhân viên của công ty chứng khoán cũng không kém phần quan trọng cần phải được pháp luật kiểm soát chặt chẽ vì khi kiểm soát tốt sẽ hạn chế được các hành vi tiêu cực có thể xảy ra, đặc biệt là các hành vi đầu cơ chứng khoán Chính vì thế, trong phần này người viết sẽ phân tích các nghiệp vụ kinh doanh và vấn đề nhân viên của công ty chứng khoán theo quy định của pháp luật hiện hành
2.1.2.1 Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán
Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung 2010, công ty chứng khoán được tiến hành một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán như: môi giới chứng khoán; tự doanh chứng khoán; bảo lãnh phát hành chứng khoán; tư vấn chứng khoán Mỗi một nghiệp vụ của công ty chứng khoán lại phải thỏa mãn điều kiện khác nhau, chẳng hạn như vốn
- Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng
- Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng
- Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng
Để công ty chứng khoán có thể hoạt động tốt, thực hiện có hiệu quả các nghiệp vụ của họ nên ngoài quy định của Luật chứng khoán 2006 Bộ Tài chính đã ban hành thêm Quyết định 27/2007 về quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán để phân định sự khác nhau giữa các nghiệp vụ nói trên
18
Khoản 1 Điều 18 Nghị định 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán 2006