Việc đăng ký thuế là cơ sở để cơ quan quản lý về thuế theo dõi và quản lý việc nộp thuế cũng như các vấn đề có liên quan đến thuế của người có nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước theo quy
Trang 1Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Ts Lê Thị Nguyệt Châu Đoàn Minh Dương
Bộ môn: Luật Thương mại Mssv: 5095599
Lớp: LK0964A2
Cần Thơ, 04/2013
Trang 2NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Kết cấu bài luận văn 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ 5
1.1 Khái niệm, mục tiêu, vai trò của quản lý thuế 5
1.1.1 Các khái niệm liên quan 5
1.1.1.1 Khái niệm về thuế 5
1.1.1.2 Khái niệm về quản lý thuế 6
1.1.1.3 Khái niệm về đăng ký thuế 7
1.1.1.4 Khái niệm về khai thuế, tính thuế, ấn định thuế 7
1.1.1.5 Khái niệm về nộp thuế 8
1.1.1.6 Khái niệm về hoàn thuế; miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt 8
1.1.3 Mục tiêu của việc quản lý thuế 9
1.1.2 Vai trò của việc quản lý thuế 9
1.2 Lược sử về quản lý thuế 10
1.2.1 Trước khi có Luật Quản lý thuế năm 2006 10
1.2.2 Từ khi có Luật Quản lý thuế năm 2006 đến nay 12
1.3 Giới thiệu chung về Luật Quản lý thuế năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế và các văn bản có liên quan 13
1.3.1 Luật Quản lý thuế năm 2006 13
1.3.1.1 Phạm vi điều chỉnh 14
1.3.1.2 Đối tượng áp dụng 14
1.3.1.3 Nguyên tắc quản lý thuế 14
1.3.1.4 Nội dung cơ bản của Luật Quản lý thuế năm 2006 15
1.3.2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế năm 2006 25
1.3.3 Quy định về quản lý thuế ở các văn bản khác 28
Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ 30
2.1 Đăng ký thuế 30
2.1.1 Đối tượng đăng ký thuế 30
2.1.2 Mã số thuế 31
2.1.2.1 Cấu trúc mã số thuế 32
2.1.2.2 Nguyên tắc cấp mã số thuế 32
2.1.2.3 Chấm dứt hiệu lực mã số thuế 34
2.1.3 Thủ tục đăng ký thuế 37
2.1.3.1 Thời hạn đăng ký thuế 37
2.1.3.2 Hồ sơ đăng ký thuế 37
2.1.3.3 Địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thuế 42
2.1.3.4 Tiếp nhận hồ sơ đăng ký 42
2.1.3.5 Cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế 43
Trang 52.1.4 Vấn đề thay đổi thông tin đăng ký thuế 45
2.1.4.1 Trách nhiệm và thời hạn thông báo thay đổi thông tin 45
2.1.4.2 Hồ sơ và thủ tục thay đổi thông tin 45
2.1.4.3 Trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ thay đổi thông tin 47
2.1.5 Đăng ký đối với trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp 47
2.1.5.1 Trường hợp chia doanh nghiệp 47
2.1.5.2 Trường hợp tách doanh nghiệp 48
2.1.5.3 Trường hợp sáp nhập doanh nghiệp 49
2.1.5.4 Trường hợp hợp nhất doanh nghiệp 50
2.1.5.5 Trường hợp bán doanh nghiệp 51
2.1.5.6 Trường hợp chuyển doanh nghiệp trực thuộc thành doanh nghiệp độc lập và ngược lại 51
2.1.5.7 Trường hợp doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động 52
2.2 Khai thuế, tính thuế; ấn định thuế 52
2.2.1 Khai thuế, tính thuế 52
2.2.1.1 Nguyên tắc khai thuế, tính thuế 52
2.2.1.2 Hồ sơ khai thuế 53
2.2.1.3 Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế 54
2.2.1.4 Gia hạn nộp hồ sơ khai thuế 55
2.2.1.5 Khai bổ sung hồ sơ khai thuế 56
2.2.1.6 Khai thuế đối với một số loại thuế cụ thể 56
2.2.1.6.1 Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp 56
2.2.1.6.2 Đối với thuế thu nhập cá nhân 63
2.2.1.6.3 Đối với thuế giá trị gia tăng 76
2.2.1.6.4 Đối với thuế tiêu thụ đăc biệt 82
2.2.2 Ấn định thuế 82
2.2.2.1 Nguyên tắc ấn định thuế 82
2.2.2.2 Hình thức ấn định thuế 83
2.3 Nộp thuế 84
2.3.1 Người nộp thuế 84
2.3.2 Thời hạn nộp thuế 85
2.3.3 Đồng tiền nộp thuế 85
2.3.4 Địa điểm và thủ tục nộp thuế 85
2.3.5 Gia hạn nộp thuế 87
2.3.6 Thứ tự thanh toán tiền nộp 90
2.3.7 Xác định ngày đã nộp thuế 90
2.3.8 Xử lý tiền thuế nộp thừa 91
2.4 Hoàn thuế; miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt 91
2.4.1 Hoàn thuế 91
2.4.1.1 Các trường hợp thuộc diện hoàn thuế 91
2.4.1.2 Hồ sơ hoàn thuế 92
2.4.1.3 Tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế 92
2.4.1.4 Giải quyết hồ sơ hoàn thuế 93
2.4.2 Miễn thuế, giảm thuế 94
2.4.2.1 Các trường hợp miễn thuế, giảm thuế 94
2.4.2.2 Hồ sơ miễn thuế, giảm thuế 94
2.4.2.3 Nộp và tiếp nhận hồ sơ miễn thuế, giảm thuế 95
2.4.3 Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt 96
2.4.3.1 Các trường hợp được xóa nợ tiền thuế, tiền phạt 96
2.4.3.2 Thẩm quyền xóa nợ tiền thuế, tiền phạt 96
Trang 62.4.3.3 Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ xóa nợ tiền thuế, tiền phạt 96
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 97
3.1 Tình hình quản lý thuế 97
3.1.1 Kết quả đạt được 97
3.1.2 Hạn chế 99
3.2 Nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện 103
3.2.1 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế 103
3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện vấn đến về quản lý thuế 105
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
- -
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của xã hội, Nhà nước ra đời khi có sự phân chia giai cấp,
và khi đó tất yếu sẽ có sự ra đời của Bộ máy Nhà nước để quản lý Khi Bộ máy Nhà nước được hình thành thì cần phải đảm bảo sự tồn tại, phát triển, đặc biệt là thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình trong việc quản lý Nhà nước Để làm được như vậy thì cần phải có nhân lực, vật lực để hình thành và duy trì sự tồn tại của Bộ máy Nhà nước: nhân lực ở đây là những con người cụ thể để hình thành nên tổ chức của Bộ máy Nhà nước, còn vật lực là khả năng tài chính để đảm bảo cho sự hoạt động của Bộ máy nhà Nước và nuôi sống Bộ máy Nhà nước đó Nếu thiếu một trong hai thì không
có sự hình thành và tồn tại của Bộ máy Nhà nước Vì vậy, trong bất kỳ chế độ xã hội nào thì để duy trì Bộ máy Nhà nước thì các nhà cầm quyền đã đưa ra các quy định mang tính bắt buộc bằng cách quy định các nghĩa vụ về thuế của công dân đối với Nhà nước Nhìn từ thực tế, để duy trì sự hoạt động của Bộ máy Nhà nước không có cách nào khác là phải dựa vào các nguồn thu có tính chất thuế Như vậy, thuế là công cụ thể hiện quyền lực của Nhà nước, là nguồn tài chính chủ yếu để phục vụ cho chi tiêu công cộng xã hội và duy trì sự hoạt động của Bộ máy Nhà nước
Tóm lại, thuế có vai trò vô cùng quan trọng, do đó làm thế nào để quản lý và thu thuế đạt hiệu quả cao thì các nước trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng luôn chú trọng vào cải cách chính sách về thuế để nó thực hiện được chức năng của mình Bên cạnh thay đổi các chính sách về thuế đối với các luật nội dung sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì cải cách các thủ tục về thuế cũng luôn được quan tâm Bởi vì cho dù các luật nội dung liên quan có đầy đủ, cụ thể,
rõ ràng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế như thế nào đi nữa mà các thủ tục về thuế vẫn còn lạc hậu, phức tạp thì không thể nào tạo nên một hệ thống thuế tiên tiến và phát triển được mà cần phải có các quy định về thủ tục thuế đơn giản, đầy đủ, minh bạch sao cho người nộp thuế có thể tiếp cận và thực hiện một cách thuận lợi nhất Trong đó, các thủ tục về đăng ký thuế, khai thuế; tính thuế; ấn định thuế và nộp thuế là những thủ tục được quan tâm hàng đầu Vì các thủ tục này có vai trò quan trọng giúp
cơ quan thuế quản lý thuế đạt hiệu quả và cũng là cơ sở để thực hiện các thủ tục khác
Trang 8như hoàn thuế; miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt Cho nên việc cải cách thủ tục về thuế không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế mà nó còn góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài mạnh dạng đầu tư vào nước ta để từ đó đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Hiểu rõ tầm quan trọng nếu có được một hệ thống thuế tiên tiến nên nhà nước ta không ngừng đưa ra các chính sách cụ thể để cải cách thủ tục về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và thu hút đầu tư nước ngoài Tuy đã có sự quan tâm và cải cách tuy nhiên các quy định hiện hành vẫn làm cho người nộp thuế gặp nhiều khó khăn, khó tiếp cận nhất là các quy định chưa thật sự tạo điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Từ thực tế của việc quy định và quản
lý đối với thuế như hiện nay của nước ta vẫn bị thế giới đánh giá thấp, chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường của nước ta Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Tại sao Nhà nước đã đưa ra các chính sách cụ thể để cải cách về thủ tục thuế mà vẫn chưa phát huy được hiệu quả? Nguyên nhân nào dẫn đến thực tế như hiện nay và cần có những giải pháp gì để các chính sách cải cách
về thủ tục thuế nói chung và việc quản lý thế nói riêng đạt được hiệu quả để từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và góp phần thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài? Đó là lý do em chọn đề tài "Nghiên cứu quy định về quản lý thuế lý luận và
thực tiễn" để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp nhằm tìm hiểu các quy
định về thủ tục quản lý thuế và tình hình áp dụng những quy định đó vào thực tiễn Đồng thời qua đó đưa ra các kiến nghị đối với các vấn đề còn vướng mắc hiện nay Để
từ đó góp phần đưa công cuộc cải cách thủ tục về thuế đạt được hiệu quả cao nhất trong tương lai
2 Kết cấu bài luận văn
Kết cấu của luận văn gồm 3 phần chính và nội dung chủ yếu của các phần như sau:
Chương 1: Lý luận chung về quản lý thuế Chương này sẽ trình bày các khái
niệm có liên quan đến đề tài, nêu lên vai trò của việc quản lý thuế trong hệ thống thuế hiện nay Trình bày lược sử về quản lý thuế, trong phần lược sử này được chia ra hai giai đoạn đó là trước khi có Luật Quản lý thuế năm 2006 và từ khi có Luật Quản lý thuế năm 2006 đến nay Giới thiệu chung về Luật Quản lý thuế năm 2006 bao gồm phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh, nguyên tắc, nôi dung cơ bản của Luật Quản
lý thuế, giới thiệu một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản
lý thuế năm 2006 và các văn bản khác có liên quan
Chương 2: Pháp luật về quản lý thuế Chương này sẽ trình bày các thủ tục về
Trang 9quản lý thuế bao gồm các thủ tục sau: đăng ký
thuế, khai thuế, tính thuế, ấn định thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt theo quy định của pháp luật
Cụ thể như sau:
- Đăng ký thuế bao gồm các nội dung: đối tượng đăng ký thuế, mã số thuế (cấu trúc mã số thuế, nguyên tắc cấp mã số thuế, chấm dứt hiệu lực mã số thuế), thủ tục đăng ký thuế (thời hạn, hồ sơ, địa điểm đăng ký thuế), vấn đề thay đổi thông tin đăng
ký thuế (trách nhiệm và thời hạn thông báo thay đổi thông tin, hồ sơ và thủ tục thay đổi thông tin, trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ thay đổi thông tin), đăng ký với các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp (bao gồm các trường hợp chia doanh nghiệp, tách doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, chuyển doanh nghiệp trực thuộc thành doanh nghiệp độc lập và ngược lại, doanh nghiệp tam dừng hoạt động)
- Khai thuế, tính thuế bao gồm các nội dung: nguyên tắc khai thuế và tính thuế,
hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, khai bổ sung hồ sơ khai thuế, khai thuế đối với một số loại thuế cụ thể (đối với Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân, Thuế giá trị gia tăng,Thuế tiêu thụ đặc biệt)
- Ấn định thuế bao gồm các nội dung: nguyên tắc ấn định thuế, hình thức ấn định thuế (ấn định theo phương pháp kê khai, ấn định theo phương thức khoán thuế và ấn định đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu)
- Nộp thuế bao gồm các nội dung: người nộp thuế, thời hạn nộp thuế, đồng tiền nộp thuế, địa điểm và thủ tục nộp thuế, gia hạn nộp thuế, thứ tự thanh toán tiền nộp, xác định ngày đã nộp thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa
- Hoàn thuế bao gồm các nội dung: các trường hợp thuộc diện hoàn thuế, tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế, giải quyết hồ sơ hoàn thuế
- Miễn thuế và giảm thuế bao gồm các nội dung: hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, hộp
và tiếp nhận hồ sơ miễn thuế, giảm thuế
- Xóa nợ tiền thuế và tiền phạt bao gồm các nội dung: các trường hợp được xóa
nợ tiền thuế, tiền phạt, thẩm quyền xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, tiếp nhận và giải quyết
hồ sơ xóa nợ tiền thuế, tiền phạt
Chương 3: Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện Chương này sẽ trình bày tình
hình của việc quản lý thuế bao gồm các kết quả đạt được và các hạn chế Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến những bất cập đang tồn tại để từ đó đưa ra một số giải pháp để giải quyết các bất cập đó
Trang 103 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài: Nhằm để hiểu biết thêm về hệ thống quản lý thuế và thủ tục quản lý thuế hiện nay Tìm hiểu và đánh giá hiệu quả của việc thực hiện thủ tục quản lý thuế Chỉ ra những tồn tại và những nguyên nhân dẫn đến các vấn
đề bất cập trong quá trình thực hiện việc quản lý thuế Đưa ra một số giải pháp để khắc phục các vấn đề bất cập trên thực tế hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài luận văn này sử dụng phương pháp phân tích, so sánh Thông qua việc tìm hiểu các Luật, Nghị định, Thông tư, tham khảo các tạp chí, sách, báo, thông tin trên internet liên quan đến đề tài Để từ đó đưa ra nhận xét đối với vấn đề được đề cập
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong bài luận văn này, chỉ tập chung nghiên cứu các quy định hiện hành và tình hình thực hiện thủ tục quản lý thuế bao gồm các thủ tục sau: đăng ký thuế, khai thuế, tính thuế, ấn định thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế tiền phạt (bao gồm các loại thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt) tính từ ngày 01/07/2007 đến cuối tháng 04/2013
Mặc dù đã cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, thời gian nghiên cứu hạn chế, nguồn thông tin khó tiếp cận cùng với khả năng bản thân có hạn cho nên bài viết không tránh khỏi sai sót Vì vậy kính mong quý thầy cô thông cảm và đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin cám ơn các thầy cô của Khoa và một số thầy cô của các Khoa khác đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho em suốt thời gian theo học tại trường, đặc biệt
em xin cám ơn cô Lê Thị Nguyệt Châu đã tận tình hướng dẫn để em có thể hoàn thành luận văn này
Em chân thành cám ơn
Trang 11Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ
1.1 Khái niệm, mục tiêu, vai trò của quản lý thuế
1.1.1 Các khái niệm liên quan
Để thuận lợi cho việc tìm hiểu nội dung được trình bày ở các phần tiếp theo, trước tiên ta làm rõ một số khái niệm có liên quan
1.1.1.1 Khái niệm về thuế
Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia giai cấp trong xã hội và sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật do giai cấp cầm quyền đặt ra
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật
Thuế là một thực thể pháp lý do con người định ra nhưng sự ra đời và tồn tại của
nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí của con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định
Khi Nhà nước xuất hiện đòi hỏi phải có của cải vật chất cần thiết để chi cho các hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Ban đầu, ở thời Cộng sản nguyên thủy thì người dân đóng góp theo chế độ tự nguyện nhưng sau này
đã không còn phù hợp nữa Cho nên để có được lượng của cải cần thiết thì Nhà nước
đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật và ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân có trách nhiệm phải nộp một phần của cải của mình làm ra Như vậy, ngay
từ đầu thuế đã có bản chất quyền lực của Nhà nước, do cơ quan quyền lực của Nhà nước quy định định và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực của Nhà nước
Trang 12thuế thì ngược lại Các khoản thuế sẽ được nhà nước sử dụng vào các mục đích công cộng xã hội và không phải hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và tính đối giá cũng không có
- Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành
- Thuế mang quyền lực Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước
1.1.1.2 Khái niệm về quản lý thuế
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý thuế, trước hết cần tiếp cận khái niệm quản lý
Theo Thuật ngữ pháp lý thì “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước”1
Theo Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước thì “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng với ý chí và phù hợp với quy luật khách quan”2
Theo Thuật ngữ hành chính thì “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra các quá trình
xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất”3 Nhìn chung, các khái niệm về quản lý đều thống nhất rằng , đã nói đến quản lý là nói đến hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu đã định thông qua các hoạt động lập kế hoạch , tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩy hoa ̣t
đô ̣ng của những con người trong tổ chức đó
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà nước Quản lý hành chính là sự tác đô ̣ng của cơ quan hành chính Nhà nước và con người hoă ̣c các mối quan hê ̣ xã hô ̣i để đa ̣t được các mu ̣c tiêu của Chính phủ Tiếp
câ ̣n dưới góc đô ̣ thực thi quyền lực Nhà nước thì quản lý hành chính là thực thi quyền hành phá p của Nhà nước Tiếp câ ̣n dưới góc đô ̣ công viê ̣c cu ̣ thể thì quản lý hành chính là điều chỉnh hành vi con người , hành vi xã hội và tổ chức thi hành pháp luật đã
1 “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam” Nxb TP Hồ Chí Minh,1999, tr 258
2 Học viện Hành chính Quốc gia, “Giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1998, tr 61
3
Học viện Hành chính Quốc gia, “Thuật ngữ hành chính”, Viện nghiên cứu hành chính, Nxb Chính trị Quốc gia,
Trang 13ban hành
Quản lý thuế là một hệ thống những quá trình có quan hê ̣ chă ̣t chẽ với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng , đủ và công bằng trên cơ sở quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t thuế, bao gồm các hoa ̣t đô ̣ng thu nhâ ̣n hồ sơ khai thuế , tính toán số thuế phải nộp , đôn đốc thu nô ̣p thuế và c ung cấp di ̣ch vu ̣ tư vấn cho ngư ời nộp thuế Nói cách khác, quản
lý thuế được hiểu là hoạt động tác động và điều hành họat động đóng thuế của người
- Thứ hai, đối tươ ̣ng của quản lý thuế là cá c tổ chức và cá nhân có nghĩa vu ̣ nô ̣p thuế vào Ngân sách Nhà nước
- Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là huy động nguồn lực tài chính từ các tổ chức và cá nhân trong xã hô ̣i cho Nhà nước thông qua viê ̣c ban hành và tổ chứ c thi hành pháp luật thuế
- Thứ tư, quản lý thuế là một hệ thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau và giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức thu thuế
- Thứ năm, quá trình tác động, điều hành thu thuế gắn với quá trình thực hiê ̣n các chức năng quản lý của Nhà nước và quá trình này phải tuân thủ các quy luâ ̣t khách quan
1.1.1.3 Khái niệm về đăng ký thuế
Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin có liên quan theo mẫu quy định sẵn và nộp tờ khai đó cho cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật Có nghĩa là các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế phải đăng ký thuế với cơ quản lý thuế theo đúng quy định Việc đăng ký thuế là
cơ sở để cơ quan quản lý về thuế theo dõi và quản lý việc nộp thuế cũng như các vấn
đề có liên quan đến thuế của người có nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật
1.1.1.4 Khái niệm về khai thuế, tính thuế, ấn định thuế
Trang 14
Khai thuế là việc người nộp thuế bắt buộc phải thực hiện trong kỳ tính thuế Khai thuế là việc người nộp thuế phải báo cáo tất cả các hoạt động chịu thuế phát sinh trong
kỳ tính thuế bao gồm doanh thu, chi phí, thu nhập Người khai thuế phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc khai thuế của mình
Tính thuế là việc tính toán số thuế phải nộp cho cơ quan thuế, việc tính toán dựa vào cơ sở số liệu và các căn cứ có liên quan theo quy định của pháp luật về thuế Việc tính thuế có thể do người nộp thuế tự tính hoặc do cơ quan thuế tính Tùy theo mỗi loại thuế mà có cách tính và phương pháp tính thuế khác nhau Kết quả tính toán là nghĩa
vụ mà người nộp thuế phải nộp cho cơ quan thuế Chủ thể tính thuế phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác đối với kết quả tính toán của mình Đây cũng
là cơ sở để cơ quan thuế dựa vào đây để thu thuế đối với người nộp thuế, vì vậy cần phải tính thuế và kiểm tra lại kết quả tính thuế thật cẩn thận, chính xác, minh bạch và đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế
Ấn định thuế là việc cơ quan thuế ấn định mức thuế đối với người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế Việc ấn định thuế chỉ áp dụng đối với những chủ thể thuộc quy định của pháp luật, không áp dụng cho các đối tượng không thuộc thuộc quy định của pháp luật Vì vậy, việc xác định đối tượng thuộc trường hợp bị cơ quan thuế
ấn định thuế là việc quan trọng nhằm áp dụng đúng đối tượng
1.1.1.5 Khái niệm về nộp thuế
Nộp thuế là nghĩa vụ chính của người nộp thuế Nộp thuế là một hành vi để người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước Việc nộp thuế phải đảm bảo nộp đầy đủ, đúng thời hạn, công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Số tiền thuế phải nộp dựa vào kết quả tính thuế và các căn cứ có liên quan đến pháp luật về thuế
1.1.1.6 Khái niệm về hoàn thuế; miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt
Hoàn thuế là việc cơ quan thuế hoàn lại số tiền thuế nộp thừa hoặc một số trường hợp mà người nộp thuế được hoàn thuế trong năm tính thuế Người nộp thuế muốn được hoàn lại số thuế nộp thừa hoặc xin chuyển số tiền thuế nộp thừa sang năm tiếp theo phải làm thủ tục theo quy định Cụ thể hơn như với việc hoàn thuế giá trị gia tăng
là việc Ngân sách Nhà nước trả lại cho cơ sở kinh doanh hoặc tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ số tiền thuế đầu vào đã trả khi mua hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh còn chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế hoặc hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp tiêu dùng của tổ chức, cá nhân đó không thuộc diện chịu thuế
Miễn thuế, giảm thuế là việc cơ quan quản lý thuế miễn thuế, giảm thuế cho người nộp thuế đối với các trường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế theo quy định
Trang 15của pháp luật về thuế
Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt là việc cơ quan quản lý thuế xóa nợ tiền nợ thuế, tiền phạt mà người nộp thuế đã nợ mà đúng ra là phải nộp cho Nhà nước nhưng thuộc các trường hợp theo quy định của pháp luật về thuế thì được xóa nợ
1.1.3 Mục tiêu của việc quản lý thuế
Quản lý thuế nhằm các mục tiêu cơ bản sau đây:
- Tập trung huy động đầy đủ và kịp thời các khoản thu cho Ngân sách Nhà nước dựa vào khai thác cơ sở thuế hiện tại và tìm kiếm, khuyến khích cơ sở thuế tiềm năng
- Tối thiểu hóa chi phí quản lý thuế của Nhà nước và chi phí tuân thủ của người nộp thuế
- Phát huy tốt nhất vai trò của công cụ thuế trong nền kinh tế thị trường như: Ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu của Nhà nước đã định trong từng thời kỳ
- Tăng cường sự tuân thủ thuế của người nộp thuế một cách đầy đủ, kịp thời và tự nguyện theo các quy định của luật thuế
- Góp phần bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể nộp thuế khác nhau trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển
- Quản lý thuế không chỉ có mục tiêu bảo đảm những quyền và lợi ích cho Nhà nước mà còn bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
Trong các mục tiêu nói trên, mục tiêu tăng cường sự tuân thủ thuế là mục tiêu cơ bản nhất để đạt được các mục tiêu còn lại trong quản lý thuế Bởi vì, khi sự tuân thủ thuế của người nộp thuế ở mức cao nhất (nộp đầy đủ, đúng hạn và tự nguyện) chính là
cơ sở để duy trì những nguồn thu hiện tại và mở rộng nguồn thu trong tương lai Khi
sự chấp hành luật thuế của người nộp thuế được thực hiện, giúp Nhà nước sử dụng tốt nhất công cụ thuế trong việc điều tiết quản lý nền kinh tế thị trường Sự tuân thủ thuế của đại bộ phận doanh nghiệp và người dân sẽ góp phần xây dựng một nền văn hóa tuân thủ thuế Khi sự tuân thủ thuế của người nộp được thực hiện một cách tự nguyện,
tự giác sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ quan quản lý thuế và chi phí tuân thủ của người nộp thuế
1.1.2 Vai trò của việc quản lý thuế
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Như vậy làm thế nào để nguồn thu từ thuế đạt hiệu quả cao để đóng góp vào Ngân sách Nhà nước Nhưng muốn các nguồn thu từ thuế đạt hiệu quả thì cần phải có công tác quản lý thuế phù hợp
Trang 16và đúng đắn Đây là vấn đề luôn được ngành thuế quan tâm Hiện nay, cơ chế thu và nộp thuế được thực hiện linh hoạt hơn, người nộp thuế có thể tự khai thuế, tính thuế và nộp thuế cho cơ quan thuế Tuy nhiên cho dù cơ chế quản lý về thuế có linh hoạt và chủ động đến đâu đi nữa thì không thể thiếu vai trò quản lý của ngành thuế
Quản lý thuế có vai trò quan trọng, giúp cơ quan thuế quản lý và đôn đốc người nộp thuế làm nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Thông qua công tác quản lý các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế thì cơ quan thuế có thể nắm bắt tình hình hoạt động và kê khai, đặc biệt là nộp thuế của người nộp thuế Để từ đó đảm bảo công tác quản lý được thực hiện một cách công bằng, trung thực, xác định đúng đối tượng để làm căn cứ thu thuế và thực hiện các công tác liên quan đến thuế Qua đó, tạo điệu kiện thuận lợi cho người nộp thuế và góp phần tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Nếu như công tác quản lý thuế được thực hiện tốt và có hiệu quả thì sẽ tạo được một môi trường thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ của mình Đặc biệt là công tác quản lý nếu được thực hiện một cách minh bạch và công bằng thì sẽ không có xảy ra các vấn đề tiêu cực liên quan đến thuế như trốn thuế, lách luật và cán bộ trong ngành thuế không
có cơ hội cũng như không thể tiêu cực trong công tác quản lý… qua đó sẽ tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Tóm lại, công tác quản lý thuế có vai trò quan trọng vì thông qua công tác quản
lý để xác định đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế để từ đó tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Nếu công tác quản lý thuế được thực hiện tốt thì nguồn thu từ thuế sẽ đạt hiệu quả cao và không có xảy ra các vấn đề tiêu cực trong công tác quản lý thuế
1.2 Lược sử về quản lý thuế
Ngành thuế nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng ở nước ta bắt đầu có khởi sắc từ giai đoạn những năm 1986, đây là giai đoạn thành lập ngành thuế Nhà nước thống nhất và đặc biệt là kể từ ngày 01/07/2007 là ngày Luật Quản lý thuế năm
2006 có hiệu luật thi hành Đánh dấu một bước phát triển mới của ngành thuế Việt Nam
1.2.1 Trước khi có Luật Quản lý thuế năm 2006
Do tình hình đất nước phải chống giặc ngoại xâm, và bị chia cắt thành hai miềm Nam-Bắc vì vậy không có một chính quyền thống nhất nên dẫn tới không có một chính sách thuế thống nhất Nhưng kể từ sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước đã được thống nhất, kể từ đây công cuộc khôi phục và phát triển đất nước được Đảng và Nhà nước triển khai mạnh mẽ, đặc biệt là công cuộc cải cách đất nước kể từ năm 1986 Đây cũng là giai đoạn thành lập ngành thuế Nhà nước thống nhất và cải cách chính sách thuế ở nước ta Đặc biệt là Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã có Quyết định số
Trang 1705-CT ngày 12/1/1989 thành lập “Tổ chỉ đạo soạn thảo dự án luật mới về các loại thuế” Sau đó luật thuế về một số loại thuế như Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế giá trị gia tăng; Thuế xuất khẩu, nhập khẩu đã được ban hành năm 1997 và áp dụng thống nhất trong cả nước Qua quá trình áp dụng thì bọc lộ nhiều bất cập nên đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế
Trải qua 20 năm cải cách, đổi mới chính sách kinh tế, mở cửa thị trường và hội nhập kinh tế thì bên cạnh đó hệ thống chính sách thuế cũng đã được cải cách và từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế của đất nước và thế giới Nhưng trong giai đoạn này nước ta vẫn chưa có luật chung về quản lý thuế, mà các vấn đề về quản lý thuế được quy định trong từng luật riêng lẻ Nhìn chung, các luật
về thuế được ban hành tương đối đồng bộ và đều chỉnh hầu hết các hoạt động của nền kinh tế của đất nước Các luật về thuế điều có các quy định nội dung về thủ tục quản
lý thuế, đây là cơ sở để cơ quan thuế thực hiện chức năng quản lý của mình đồng thời cũng tạo điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Thông qua việc áp dụng, Nhà nước đã không ngừng cải cách và sửa đổi các chính sách
về thuế nhằm ngày càng hoàn thiện hơn theo hướng minh bạch, đơn giản, rõ ràng Để
từ đó vai trò của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong công tác quản lý thuế từng bước được nâng lên, đảm bảo nguồn thu từ thuế cho Ngân sách nhà nước Nhờ đó, mà hơn
10 năm (1995-2006) tốc độ tăng trưởng thu thuế và phí mỗi năm tăng trên 10% Đặc biệt, trong 5 năm (2001-2006) đạt 780 ngàn tỷ đồng tăng đôi so với 5 năm (1996-2000) Tỷ lệ thuế phí và lệ phí trong tổng thu Ngân sách nhà nước từ 76.8% năm 1990 được nâng lên 95,7% năm 20054
Bên cạnh những thành quả đạt được thì công tác quản lý thuế vẫn còn nhiều hạn chế sau:
- Như đã trình bày trong giai đoạn này chưa có luật chung về quản lý thuế mà nội dung quản lý thuế được quy định trong các luật thuế đối với từng loại thuế Vì vậy, tính pháp lý của các quy định về quản lý thuế chưa cao Do các quy định về quản lý được quy định chung với nội dung của từng loại thuế cho nên các quy định về quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng các văn bản dưới luật, dẫn tới tính pháp lý chưa cao
Từ đó, làm cho cơ quan quản lý thuế, người nộp thuế, các tổ chức, cá nhân có liên quan gặp khó khăn khi thực hiện
- Việc chưa có luật chung về quản lý thuế cho nên các quy định về quản lý thuế được quy định phân tán, có nhiều nôi dung chồng chéo, không thống nhất với nhau từ
đó gặp khó khăn khi áp dụng Ví dụ như quy định về thời hạn quyết toán có luật quy
4 “Quản lý thuế trước giờ G”, tạp chí Thuế Nhà nước số 19 (137) kỳ 3/5/2007, tr 7-8, tr 7
Trang 18định chậm nhất là 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày kết thúc năm, có luật quy định chậm nhất là 90 (chín mươi) ngày kể từ ngày kết thúc năm
- Về công tác phòng chống, xử lý các hành vi vi phạm về thuế còn hạn chế Cho nên còn nhiều trường hợp vi phạm pháp luật về không nộp thuế, trốn thuế của người nộp thuế
Ngoài ra, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý thuế, người nộp thuế, các tổ chức và cá nhân có liên quan chưa được quy định rõ ràng, đầy đủ từ đó ảnh hưởng đến việc thực hiện
Vì vậy, đã đặt ra vấn đề là cần phải có luật chung về quản lý thuế
1.2.2 Từ khi có Luật Quản lý thuế năm 2006 đến nay
Từ những hạn chế và yêu cầu của thực tế cho nên Quốc hội đã thông qua Luật
Quản lý thuế năm 2006 ngày 29/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2007
Ngay sau khi Luật Quản lý thuế được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP Đồng thời, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP; Thông tư số 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế
về việc đăng ký thuế; Thông tư số 157/2009/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 60/2007/TT-BTC; Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/06/2008 hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày ngày 28/02/2011, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP; Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/05/2012 hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế (sau đây gọi là Thông tư 80/2012/TT-BTC)
Song song đó là sự sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các Luật thuế điều chỉnh một số loại thuế như: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, Luật thuế thu nhập
cá nhân năm 2007, Luật thuế giá trị gia tăng 2008, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này Nhằm điều chỉnh cho phù hợp với Luật Quản lý thuế năm 2006 để thống nhất trong quản lý và áp dụng
Kể từ thời điểm Luật Quản lý thuế năm 2006 có hiệu lực thì nhìn chung công tác quản lý thuế được cải thiện một cách đáng kể Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý thuế đã được ban hành tương đối đồng bộ, kịp thời, đầy đủ, đảm bảo đúng
Trang 19quy trình, khắc phục những tồn tại trong quản lý trước đây do phân tán ở nhiều luật thuế khác nhau và các văn bản khác Nhờ có sự ra đời của Luật Quản lý thuế năm
2006 và sự điều chỉnh các văn bản cũng như các luật thuế khác cho nên công tác quản
lý thuế đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiệu hạn chế cũng như bất cập trong công tác quản lý thuế Vì vậy, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII đã thông qua bản dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản
lý thuế năm 2006 nhằm khắc phục các hạn chế trong công tác quản lý thuế của nước ta hiện nay
1.3 Giới thiệu chung về Luật Quản lý thuế năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế và các văn bản có liên quan
1.3.1 Luật Quản lý thuế năm 2006
Trước yêu cầu hiện đại công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo hiệu quả công tác quản lý và thu thuế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần bình đẳng công bằng xã hội, phù hợp với nền kinh tế thị trường và chủ động hội nhập quốc tế, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa
XI Quốc hội đã thông qua Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006, theo đó Luật Quản lý thuế có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 Luật Quản lý thuế có 14 chương, 124 điều cụ thể như sau:
Chương I: Những quy định chung
Chương II: Đăng ký thuế
Chương III: Khai thuế, tính thuế
Chương IV: Ấn định thuế
Chương V: Nộp thuế
Chương VI: Trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế
Chương VII: Thủ tục hoàn thuế
Chương VIII: Thủ tục miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
Chương IX: Thông tin về người nộp thuế
Chương X: Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Chương XI: Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Chương XII: Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Chương XIII: Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện
Chương XIV: Điều khoản thi hành
Trang 20Để công tác quản lý thuế từng bước được hoàn thiện, thông qua đó tăng cường hiệu quả và năng lực quản lý của ngành thuế nước ta Vì vậy, việc ban hành Luật Quản
lý thuế là cần thiết xuất phát từ những yêu cầu sau:
- Xuất phát từ yêu cầu đề cao vai trò của tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý thuế và thống nhất các quy định về quản lý thuế
- Nâng cao tính pháp lý của các quy định quản lý thuế bảo đảm thực thi hiệu quả các luật thuế
- Khắc phục các hạn chế của công tác quản lý thuế và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.1.1 Phạm vi điều chỉnh
Luật Quản lý thuế năm 2006 quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật
1.3.1.2 Đối tượng áp dụng
- Người nộp thuế:
+ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế + Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc Ngân sách Nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật
+Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế
- Cơ quan quản lý thuế:
+ Cơ quan thuế gồm Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế
+ Cơ quan hải quan gồm Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hải quan
- Công chức quản lý thuế gồm công chức thuế, công chức hải quan
- Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế
1.3.1.3 Nguyên tắc quản lý thuế
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân
có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế và các
Trang 21quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
1.3.1.4 Nội dung cơ bản của Luật Quản lý thuế năm 2006
Sự ra đời của Luật Quản lý thuế năm 2006 là một bước tiến mới trong ngành thuế nói chung và trong công tác quản lý thuế nói riêng Nhìn chung, Luật Quản lý thuế quy định khá đầy đủ các nội dung của công tác quản lý thuế, có phạm vi điều chỉnh rất toàn diện, áp dụng đối với tất cả các khâu trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ quy định đối với các loại thuế và các khoản thu Ngân sách nhà nước do cơ quan thuế, cơ quan hải quan quản lý
Nội dung cơ bản của Luật Quản lý thuế năm 2006 như sau:
- Về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế
Luật Quản lý thuế quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế để giúp người nộp thuế hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế của mình
Với việc quy định các quyền của người nộp thuế sẽ tạo điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ của mình Theo đó, người nộp thuế có quyền được yêu cầu cơ quan quản lý thuế (bao gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan) hướng dẫn thực hiện các pháp luật thuế, cung cấp thông tin tài liệu về thuế, giải thích việc tính thuế, ấn định thuế; quyền được hưởng các ưu đãi về thuế; được hoàn thuế; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo các hành vi làm trái pháp luật của công chức thuế, công chức hải quan và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan
Tồn tại song song với các quyền đó là các nghĩa vụ của người nộp thuế Trong
đó, nghĩa vụ cơ bản và trước nhất của người nộp thuế là phải đăng ký thuế, khai thuế trung thực, chính xác và nộp thuế đầy đủ, đúng hạn Các nghĩa vụ khác liên quan đến việc chấp hành các quy định, chế độ để bảo đảm cho việc khai thuế theo quy định như: chấp hành chế độ kế toán, sử dụng hoá đơn theo quy định, ghi chép chính xác, đầy đủ trung thực những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan thuế theo quy định của pháp luật Đồng thời, Luật cũng có các quy định chế tài cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, chế tài xử phạt nhằm ngăn chặn, xử lý nghiêm minh những người có hành vi vi phạm pháp luật thuế, đảm bảo môi trường bình đẳng cho người chấp hành tốt nghĩa vụ thuế
- Về quyền và nghĩa vụ của cơ quan, công chức quản lý thuế
Luật Quản lý thuế quy định cơ quan thuế có các quyền hạn để thực thi nhiệm vụ
Trang 22quản lý thuế có hiệu lực, hiệu quả Theo đó, cơ quan quản lý thuế có các quyền: Yêu cầu người nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế,
số hiệu và nội dung giao dịch của các tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế; Yêu cầu tổ chức, cá nhân
có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thực hiện pháp luật thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Ấn định thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật thuế theo thẩm quyền; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật thuế; Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử
lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật; Ủy nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thu một số khoản thuế vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của Chính phủ
Bên cạnh việc trao cho cơ quan thuế một số quyền hạn để thực thi nhiệm vụ quản
lý thuế, Luật Quản lý thuế còn quy định các trách nhiệm ràng buộc để cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế làm tốt nhiệm vụ của mình Đó là: Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật; Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật thuế; công khai các thủ tục về thuế; Giải thích và cung cấp các thông tin liên quan đến việc
xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế; công khai mức thuế phải nộp của hộ kinh
doanh trong địa bàn xã, phường, thị trấn; Giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của Luật; Thực hiện miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; hoàn thuế cho người nộp thuế theo và theo quy định của pháp luật; Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp luật; Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến thực hiện pháp luật thuế theo thẩm quyền; Thông báo kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế của cơ quan quản lý thuế và giải thích khi có yêu cầu; Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của Luật; Giám định việc xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm trong công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật để người nộp thuế thực hiện tốt cơ chế tự khai, tự nộp
Song song với việc quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, luật quy định
rõ việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế đối với cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế để ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm: + Cơ quan thuế thực hiện không đúng quy định của Luật Quản lý thuế gây thiệt hại cho người nộp thuế thì phải bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật; trường hợp ấn định thuế, hoàn thuế sai do lỗi của cơ quan quản lý thuế
Trang 23thì cơ quan quản lý thuế phải bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật
+ Công chức quản lý thuế có hành vi gây phiền hà, khó khăn cho người nộp thuế làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc xử lý sai quy định của pháp luật về thuế thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại cho người nộp thuế thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
+ Công chức quản lý thuế lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thông đồng, bao che cho người nộp thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng trái phép, chiếm dụng, chiếm đoạt tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường cho Nhà nước toàn bộ số tiền thuế, tiền phạt đã sử dụng trái phép, chiếm dụng, chiếm đoạt theo quy định của pháp luật
- Về tổ chức kinh doanh làm thủ tục về thuế
Thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi người nộp thuế phải nắm vững các quy định pháp luật về quản lý thuế Bên cạnh việc cơ quan quản lý thuế phải tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, cần phải đẩy mạnh xã hội hoá trong việc trợ giúp người nộp thuế, nhất là đối với người nộp thuế là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ Để có cơ sở pháp lý cho hoạt động này, Luật Quản lý thuế quy định về tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế Theo đó, tổ chức kinh doanh làm thủ tục về thuế là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, thực hiện các thủ tục về thuế theo thoả thuận với người nộp thuế
Luật cũng quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế Trong đó, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế có các quyền như được thực hiện các thủ tục về thuế theo hợp đồng với người nộp thuế; được thực hiện các quyền của người nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và theo hợp đồng với người nộp thuế Bên cạnh đó, luật quy định cụ thể các nghĩa vụ của tổ chức này như: khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, được hoàn theo quy định của pháp luật, cung cấp cho cơ quan quản lý thuế các tài liệu, chứng từ để chứng minh tính chính xác của việc khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu trách nhiệm với người nộp thuế theo nội dung thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ làm thủ tục về
Trang 24thuế Luật cũng quy định rõ việc tổ chức này không được thông đồng, móc nối với công chức quản lý thuế, người nộp thuế để tránh việc trốn thuế, gian lận thuế
Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu thì đại lý hải quan thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế khi làm thủ tục về thuế
Về điều kiện hành nghề của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, luật quy định phải bảo đảm các điều kiện: có ngành, nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; có ít nhất hai nhân viên được cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế Người được cấp chứng chỉ hành nghề dịch
vụ làm thủ tục về thuế phải có bằng cao đẳng trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật và đã có kinh nghiệm làm việc 02 (hai) năm trở lên trong các lĩnh vực này, đồng thời phải đảm bảo các phẩm chất đạo đức tốt, trung thực
Các quy định về tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế để cung cấp dịch
vụ hỗ trợ người nộp thuế sẽ tạo tiền đề và cơ sở pháp lý cho tổ chức này hoạt động theo quy định của pháp luật, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế
- Về trách nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong công
tác quản lý thuế
Luật Quản lý thuế đề cao trách nhiệm pháp lý của các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý thuế Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước để phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Vì vậy, các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đều có trách nhiệm tham gia vào công tác quản lý thuế Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, nếu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan sẽ có trách nhiệm trong công tác quản lý thuế Cụ thể là:
+ Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định nhiệm vụ thu ngân sách hàng năm và giám sát việc thực hiện pháp luật về thuế;
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan có liên quan tại địa phương phối hợp với cơ quan quản lý thuế lập dự toán thu ngân sách nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về thuế, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm quyền
+ Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ tư vấn cho cơ quan thuế
về mức thuế của các hộ, gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn, bảo đảm đúng pháp luật, dân chủ, công khai, công bằng, hợp lý
Trang 25+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm động viên nhân dân, giáo dục hội viên nghiêm chỉnh thi hành pháp luật về thuế, phê phán các hành vi vi phạm pháp luật
về thuế, phối hợp với cơ quan thuế trong việc cung cấp thông tin liên quan đến việc quản lý thuế
+ Cơ quan thông tin, báo chí có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về thuế, nêu gương tổ chức cá nhân thực hiện tốt pháp luật về thuế, phản ánh
và phê phán các hành vi vi phạm pháp luật về thuế
+ Các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế; phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc quản lý thuế tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh tội phạm vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và thông báo tiến độ, kết quả xử lý vụ việc cho cơ quan quản lý thuế
+ Các tổ chức, cá nhân khác trong việc tham gia quản lý thuế có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, phối hợp thực hiện các quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế; tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Như vậy, việc tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào công tác quản lý thuế vừa mang tính giám sát người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế trong quá trình thực thi nghĩa vụ, quyền hạn của mình; đồng thời có tác dụng hỗ trợ cho hai nhóm chủ thể này hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với Nhà nước
-Về thủ tục hành chính thuế
Luật Quản lý thuế quy định thống nhất trình tự thủ tục hành chính thuế theo hướng minh bạch, tạo môi trường thông thoáng tiện lợi cho người nộp thuế Tại mỗi giai đoạn của quy trình thủ tục đều quy định rõ đối tượng, thời hạn, hồ sơ đăng ký, địa điểm thực hiện cũng như quy định rõ trách nhiệm của các đối tượng có liên quan
Về thời hạn thực hiện các thủ tục về thuế:
+ Thời hạn đăng ký thuế: đối tượng đăng ký phải đăng ký thuế trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày: được cấp đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư hoặc từ khi bắt đầu kinh doanh đối với
tổ chức, cá nhân không thuộc diện đăng ký kinh doanh, hoặc khi phát sinh nghĩa vụ thuế Theo đó, cơ quan thuế phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế trong thời hạn là 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký
Trang 26hợp lệ
+ Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế: được quy định rõ thời hạn có phân chia thành các loại: đối với thuế khai và nộp theo tháng, loại thuế có kỳ tính thuế theo năm, loại theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế; đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; đối với các trường hợp chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp hoặc tổ chức lại doanh nghiệp
+ Thời hạn nộp thuế: quy định rõ thời hạn nộp thuế trong các trường hợp người nộp thuế tính thuế (chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế); thời hạn trong trường hợp cơ quan thuế ấn định thuế (ghi trên thông báo thuế của cơ quan thuế); thời hạn nộp thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
+ Thời hạn giải quyết hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế đối với trường hợp
cơ quan quản lý thuế quyết định số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn cũng được quy định cụ thể (30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ) Thời hạn giải quyết xoá nợ tiền thuế, tiền phạt là 60 (sáu mươi) ngày, kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ xoá nợ tiền thuế, tiền phạt thì người có thẩm quyền phải ra quyết định xoá nợ hoặc thông báo trường hợp không thuộc diện được xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
Tại Luật Quản lý thuế còn có quy định trường hợp người nộp thuế gặp khó khăn khách quan không có khả năng thực hiện các thủ tục đúng hạn thì được gia hạn khai thuế, gia hạn nộp thuế
Hồ sơ thuế được quy định cụ thể và chỉ bao gồm những giấy tờ cần thiết, liên quan đến việc cung cấp đủ thông tin để xác định nghĩa vụ thuế hoặc quyền lợi về thuế của người nộp thuế: theo đó, luật quy định rõ các hồ sơ đối việc đăng ký thuế; hồ sơ khai thuế; hồ sơ gia hạn nộp thuế; hồ sơ hoàn thuế, hồ sơ miễn thuế, giảm thuế; hồ sơ xoá nợ tiền thuế, tiền phạt Luật cũng có các quy định trong trường hợp có sai sót trong hồ sơ đăng ký thuế, khai thuế, hoặc miễn, giảm, hoàn thuế thì người nộp thuế có quyền bổ sung hồ sơ thuế cho đầy đủ và chính xác hơn, đồng thời thực hiện nộp bổ sung cho đủ số thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước
Các hình thức khai thuế, nộp thuế được thực hiện đa dạng Ngoài việc khai thuế truyền thống theo cách nộp hồ sơ thuế bằng bản giấy tại trụ sở cơ quan thuế, gửi qua đường bưu chính, người nộp thuế có thể khai thuế điện tử thông qua giao dịch điện tử Theo đó, việc tiếp nhận kiểm tra, chấp nhận hồ sơ khai thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử Như vậy, người nộp thuế có thể hoàn thành công việc tại mọi lúc, mọi nơi, không bị gò bó bởi thời gian hành chính của
cơ quan quản lý thuế
Việc nộp thuế cũng được quy định theo hướng rộng hơn Người nộp thuế chỉ cần
Trang 27nắm rõ địa chỉ đến của tài khoản nộp thuế và có thể nộp thuế theo nhiều cách thức khác nhau như nộp Kho bạc nhà nước, cơ quan quản lý thuế nơi tiếp nhận hồ sơ khai thuế, nộp thông qua tổ chức được cơ quan quản lý thuế uỷ nhiệm thu thuế; nộp thông qua ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và tổ chức dịch vụ theo quy định của pháp luật
Để đảm bảo minh bạch trong việc thực hiện các chính sách thuế, Luật Quản lý thuế cũng có nội dung quy định rõ các trường hợp ấn định thuế Việc ấn định thuế phải đảm bảo khách quan, công bằng cũng như tuân thủ các quy định của pháp luật về thuế, đối với từng trường hợp luật cũng quy định các căn cứ ấn định cụ thể trên cơ sở dựa trên cơ sở dữ liệu quản lý của cơ quan quản lý thuế; các kết quả và tài liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn giá trị; so sánh số thuế phải nộp của cơ sở kinh doanh tương tự Đồng thời, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc hoàn trả
số tiền thuế nộp thừa, bồi thường thiệt hại đối với trường hợp ấn định của cơ quan thuế lớn hơn số thuế phải nộp, quyền khiếu nại, khởi kiện của người nộp thuế trong trường hợp không đồng ý với số thuế ấn định của cơ quan thuế
-Về thực hiện quản lý thuế hiện đại dựa trên hệ thống thông tin tổng hợp về
người nộp thuế
Hệ thống thông tin về người nộp thuế là cơ sở cho việc quản lý thuế hiện đại, dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro; đồng thời là cơ sở để ngành thuế phân tích, dự báo số thu phục vụ công tác điều hành thu của ngân sách nhà nước Tại chương IX luật quy định
về thông tin về người nộp thuế, theo đó thông tin về người nộp thuế bao gồm những thông tin liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Trên cơ sở phân tích thông tin về người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế tập trung vào quản lý các đối tượng có nhiều khả năng vi phạm pháp luật thuế, đồng thời giảm phiền hà cho đối tượng chấp hành tốt pháp luật thuế
Ngoài việc người nộp thuế có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan thuế thông qua các hồ sơ thuế, các cơ quan, tổ chức có liên quan cũng phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan thuế như: cơ quan cấp đăng ký kinh doanh, Kho bạc Nhà nước, ngân hàng, tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý nhà nước về nhà, đất, cơ quan công an; cơ quan chi trả thu nhập, cơ quan quản lý thương mại
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tổ chức, xây dựng, quản lý và phát triển cơ
sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin về người nộp thuế; tổ chức đơn vị chuyên trách thực hiện nhiệm vụ thu thập, xử lý thông tin; đơn vị chuyên trách quản lý
cơ sở dữ liệu và đảm bảo duy trì, vận hành hệ thống thông tin về người nộp thuế Luật cũng có quy định cơ quan quản lý thuế áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để
Trang 28thu thập, xử lý thông tin theo mục tiêu và yêu cầu của từng giai đoạn cũng như việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để trao đổi thông tin, kết nối mạng trực tuyến
Cơ quan thuế sử dụng thông tin về người nộp thuế cho mục đích quản lý thuế và phải có trách nhiệm bảo mật thông tin của người nộp thuế Trong các trường hợp người nộp thuế trốn thuế, gian lận thuế, chây ỳ nộp thuế không đúng thời hạn, vi phạm pháp luật về thuế làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức
cá nhân khác, không thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật thì cơ quan quản lý thuế có quyền công khai các thông tin vi phạm pháp luật
về thuế của người nộp thuế trên phương tiện thông tin đại chúng
-Về kiểm tra, thanh tra thuế
Việc kiểm tra, thanh tra thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Đồng thời việc kiểm tra, thanh tra phải đảm bảo nguyên tắc không làm cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế
Các quy định về kiểm tra, giám sát quá trình chấp hành pháp luật về thuế được quy định theo từng cấp độ tuân thủ của người nộp thuế Kiểm tra thuế có hai hình thức kiểm tra là kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế và kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế Đối với hình thức kiểm tra tại trụ sở của cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế Việc kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế được thực hiện trong trường hợp khi xử lý kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế, hết thời hạn thông báo của
cơ quan thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu hoặc không khai bổ sung hồ sơ hoặc bổ sung, giải trình không đúng, hoặc kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo kế hoạch, chọn mẫu Đây là biện pháp nghiệp vụ thường xuyên của cơ quan thuế để đánh giá chất lượng kê khai thuế của người nộp thuế và giám sát việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế
Việc thanh tra thuế được thực hiện trong các trường hợp: thanh tra định kỳ một năm không quá một lần đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng; thanh tra thuế khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế; thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính Luật quy định thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp có thẩm quyền ra quyết định thanh tra thuế Quyết định thanh tra
Trang 29thuế phải có các nội dung: căn cứ pháp lý để thanh tra thuế; thời hạn tiến hành thanh tra thuế; thành phần của đoàn thanh tra: trưởng đoàn và các thành viên khác Thời hạn gửi quyết định thanh tra thuế cho đối tượng được thanh tra chậm nhất là 3 (ba) ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định thanh tra Luật quy định rõ thời hạn thanh tra thuế, thời hạn gia hạn, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra, của trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra Đồng thời quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra và việc kết luận thanh tra thuế
Khi thanh tra thuế phát hiện người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến tổ chức, cá nhân khác hoặc khi dấu hiệu trốn thuế có tính chất phức tạp thì cơ quan quản lý thuế sẽ được áp dụng một số biện pháp mạnh như thu thập thông tin liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế, tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế, khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế Đây là những quy định mới của luật nhằm giúp cho cơ quan thuế phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi trốn thuế, gian lận thuế
- Về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Luật Quản lý thuế đã quy định các biện pháp nhằm ngăn chặn, xử lý nghiêm minh những người có hành vi vi phạm pháp luật về thuế Đây là một trong những biện pháp nghiệp vụ quan trọng của cơ quan quản lý thuế nhằm ngăn chặn tình trạng chây
ỳ, dây dưa trong việc nộp thuế, tăng cường tính tuân thủ trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, đảm bảo thu đủ tiền thuế kịp thời vào Ngân sách Nhà nước, góp phần đảm bảo đảm bảo môi trường bình đẳng cho người chấp hành tốt nghĩa vụ về thuế
Theo đó, các trường hợp người nộp thuế nợ tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế quá thời hạn nộp hoặc thời hạn gia hạn quy định của pháp luật thì sẽ bị cưỡng chế để thi hành quyết định hành chính thuế Luật quy định các biện pháp cưỡng chế như: trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng; Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu đủ tiền thuế; Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ; dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu; thu hồi mã số thuế, đình chỉ việc sử dụng hoá đơn; thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề
Trong đó, biện pháp thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (bên thứ ba) là biện pháp mới được quy định tại Luật, được áp dụng khi các biện pháp trên đã được áp dụng mà chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền phạt và cơ quan thuế có căn cứ xác định bên
Trang 30thứ ba đang có khoản nợ hoặc giữ tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế Đây cũng là biện pháp mạnh, hữu hiệu khi đối tượng vi phạm có hành vi tẩu tán tiền, tài sản để tránh nộp thuế
Đối với các biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu; thu hồi mã số thuế, đình chỉ việc sử dụng hoá đơn thì luật quy định là thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm thông báo cho đối tượng bị cưỡng chế biết trước khi áp dụng các biện pháp này để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể thực hiện nghĩa vụ thuế của mình trước khi cơ quan thuế áp dụng biện pháp cưỡng chế Đối với việc thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề thì cơ quan thuế gửi văn bản yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
-Về xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Luật đã phân nhóm các hành vi vi phạm và điều chỉnh mức phạt hợp lý đảm bảo tính răn đe, ngăn chặn, phân biệt được giữa hành vi sai sót và hành vi cố ý của người nộp thuế Theo đó, chia ra bốn nhóm hành vi lớn: vi phạm các thủ tục thuế; chậm nộp tiền thuế; khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế
+ Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, luật quy định bao gồm các hành vi liên quan đến việc các hành vi phát sinh trong giai đoạn đăng ký, nộp hồ sơ khai thuế, khai thuế, cung cấp thông tin, thi hành các quyết định kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế thuế + Đối với hành vi chậm nộp tiền thuế, để đảm bảo tính khả thi của pháp luật, phù hợp với hành vi vi phạm, luật quy định mức tiền phạt giảm so với quy định tại các luật thuế hiện hành Theo đó, thay vì người nộp thuế có hành vi chậm nộp tiền thuế trước đây bị xử phạt là 0,1% mỗi ngày tính trên số tiền chập nộp thì nay chỉ nộp 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp
+ Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn được tách thành 1 điều riêng để có mức phạt phân biệt với hành vi trốn thuế, gian lận thuế
+ Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế đã được quy định 1 điều riêng phù hợp với tính chất vi phạm cố ý của người nộp thuế, với 9 nhóm hành vi được xác định cụ thể Theo đó, người nộp thuế khi có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế thì ngoài việc phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định còn bị phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn
Như vậy Luật Quản lý thuế quy định khá đầy đủ các nội dung, phần nào đã khắc
Trang 31phục những hạn chế mà hệ thống thuế nước ta gặp phải
1.3.2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế năm 2006
Căn cứ vào tình hình thực tế của việc áp dụng các quy định của Luật Quản lý thuế năm 2006 và các hạn chế cũng như các vướng mắc từ thực tiễn áp dụng Luật Quản lý thuế như hiện nay thì tại kỳ hợp thứ 4 Quốc hội khóa XIII đã thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế năm 2006 vào ngày 20/11/2012 và luật này sẽ có hiệu lực vào ngày 01/07/2013 Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều Luật Quản lý thuế năm 2006 gồm có 2 điều: điều 1 quy định về nội dung sửa đổi, bổ dung một số điều của Luật Quản lý thuế năm 2006; điều 2 quy định về thời gian có hiệu lực thi hành và một số vấn đề khác Theo Luật sửa đổi, bổ sung thì Luật Quản lý thuế năm 2006 sẽ có 35 điều được sửa đổi, bổ sung và điểm đ khoản 3 điều 77
bị bãi bỏ Bổ sung cụm từ “tiền chậm nộp,” vào trước cụm từ “tiền phạt” tại các điều
3, 5, 8, 65, 66, 68, 90, 92, 93, 98, 99, 100, 113, 114 và 118; bổ sung cụm từ “và không phải nộp tiền” vào sau cụm từ “không bị phạt” tại khoản 4 điều 49; bỏ từ “phạt” trong cụm từ “tiền phạt chậm nộp” tại khoản 3 điều 56; bổ sung cụm từ “hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” vào sau cụm từ “giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” tại các điều 20, 72 và 94
Dưới đây là một số dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế năm 2006:
- Quy định việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro nhằm để phân loại người nộp thuế, tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế khi chấp hành tốt pháp luật về thuế Theo đó, đối tượng nào chấp hành tốt thì sẽ nhiều thuận lợi và được nhiều ưu tiên và giảm được chi phí khi thực hiện các thủ tục về thuế Ngược lại, đối tượng nào không chấp hành tốt sẽ gặp khó khăn, rủi ro và tốn kém nhiều hơn Đặc biệt là đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sẽ được áp dụng các biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế khi đáp ứng các điều kiện theo quy định Điển hình như bổ sung quy định một số trường hợp không áp dụng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan
- Người nộp thuế được thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế với cơ quan thuế bằng văn bản và thỏa thuận này phải được xác lập trước khi người nộp thuế nộp hồ sơ đăng ký thuế Việc thực hiện cơ chế này dựa trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và sự thống nhất giữa cơ quan thuế và người nộp thuế theo thỏa thuận đơn phương, song phương và đa phương giữa cơ quan thuế, người nộp thuế và cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ có liên quan
- Bổ sung quy định về cơ chế phân loại mã số, xác định trị giá, xác định xuất xứ hàng hóa trước khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu Theo đó, người nộp thuế được
Trang 32hỗ trợ và có quyền yêu cầu cơ quan hải quan xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ
- Bên cạnh bổ sung thêm quyền cho người nộp thuế thì còn bổ sung thêm nghĩa
vụ đối với người nộp thuế là trường hợp người nộp thuế là tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử Như vậy, đối với các đối tượng thuộc các trường hợp theo quy định thì bắt buộc phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch vớ cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử
- Bổ sung việc khai thuế và nộp thuế theo quý Qua đó, quy định hồ sơ khai thuế, thời hạn khai thuế theo quý Đây là quy định phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết 25/NQ-CP ngày 2/6/2010 về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừ và nhỏ khai thuế giá trị gia tăng 03 tháng/lần
- Thực hiê ̣n Nghị quyết số 68/NQ-CP về viê ̣c rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn nộp hồ sơ khai thuế từ 05 (năm) ngày làm việc xuống 03 (ba) ngày làm việc cho nên luật sửa đổi, bổ sung đã rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn nộp hồ sơ khai thuế từ 05 (năm) ngày làm việc như hiện hành xuống còn 03 (ba) ngày làm việc
- Về thời hạn nộp thuế theo luật hiện hành, người nộp thuế được ân hạn nộp thuế nhập khẩu trong vòng 275 (hai trăm bảy mươi lăm) ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan Trong luật sửa đổi, thời gian ân hạn 275 ngày tuy vẫn được giữ lại, nhưng người nộp thuế muốn được hưởng ân hạn phải đảm bảo bốn điều kiện: Có cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu trên lãnh thổ Việt Nam; Có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian ít nhất hai năm liên tục tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan mà không có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, nợ tiền thuế quá hạn, tiền chậm nộp, tiền phạt; Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê; Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật
- Theo quy định hiện hành thì chỉ có tiền thuế và tiền phạt được thanh toán còn Luật sửa đổi, bổ sung lần này đã bổ sung thêm tiền chậm nộp Ngoài ra, Luật sửa đổi,
bổ sung lần này cũng duy định riêng biệt thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt giữa cơ quan thuế với cơ quan hải quan
- Về việc xử lý số tiền thuế nộp thừa thì đã bổ sung thêm cụm từ “số tiền thuế”
và “tiền chậm nộp” trước cụm từ số tiền thuế nộp thừa Theo quy định hiện hành thì việc xử lý số tiền thuế nộp thừa là vô thời hạn nhưng Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định cụ thể thời hạn trong trường hợp này là 10 (mười) năm
Trang 33- Đối với hồ sơ hoàn thuế thì lần sửa đổi này đã bỏ chứng từ nộp thuế so với quy định hiện hành và quy định cụ thế số lượng hồ sơ hoàn thuế phải nộp là 01 (một) bộ duy nhất Về thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế thì theo quy định hiện hành: đối với
hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau thì chậm nhất là 15 (mười lăm) ngày còn đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì chậm nhất là 60 (sáu mươi) ngày Để phù hợp với Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 2/6/2010 về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế đã rút ngắn thời hạn này như sau: đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau thì chậm nhất là 06 (sáu) ngày làm việc, đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì chậm nhất là 40 (bốn mươi) ngày làm làm việc
- Về quy định xóa nợ tiền thuế, tiền phạt thì bổ sung thêm trường hợp được xóa
nợ tiền thuế, tiền phạt Đồng thời đối với hồ sơ xóa nợ tiền thuế, tiền phạt thì “Tờ khai quyết toán thuế đối với trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản” được thay bằng
“Quyết định tuyên bố phá sản đối với trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản”
- Về vấn đề xử lý đối với hành vi chậm nộp tiền thuế thì theo quy định hiện hành mức phạt là 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp Như vậy đã không giới hạn thời gian chậm nộp cũng như tăng mức phạt Nhưng Luật sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể mức phạt căn cứ vào thời gian chậm nộp tiền thuế, cụ thể như sau: áp dụng mức phạt luỹ tiến 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp không quá 90 (chín mươi) ngày; 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp vượt quá thời hạn 90 (chín mươi) ngày
- Về việc xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thì theo quy định hiện hành thì mức phạt đối với trường hợp này là 10% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được hoàn cao hơn và phạt tiền thuế chậm nộp trên số tiền thuế thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn cao hơn Còn đối với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung thì mức xử phạt trong trường hợp này tăng lên 20%, ngoài ra còn quy định cụ thể đối với hàng hóa xuất khẩu - nhập khẩu với hai mức xử phạt đó là 10% hoặc 20% đối với từng trường hợp cụ thể được quy định
Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế còn quy định cụ thể thẩm quyền của các cá nhân, tổ chức trong việc giải quyết các thủ tục về thuế Nhìn chung, các quy định của Luật sửa đổi bổ sung lần này tạo điều kiện cũng như khuyến khích người nộp thuế chấp hành tốt các quy định và khi chấp hành tốt các quy định về thuế thì sẽ được hưởng nhiều ưu đãi trong khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, đồng thời cũng khắc phục một số hạn chế gặp phải khi thực hiện các quy định hiện hành
Trang 341.3.3 Quy định về quản lý thuế ở các văn bản khác
Quản lý thuế không chỉ được quy định duy nhất ở Luật Quản lý thuế năm 2006
và các văn bản hướng dẫn thi hành mà nó còn được quy định ở nhiều văn bản khác Cụ thể như sau:
- Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 quy định về thuế thu nhập cá nhân với các nội dung như: đối tượng nộp thuế thu nhập các nhân, thu nhập nào chịu thuế, thu nhập nào không phải chịu thuế thu nhập cá nhân, căn cứ tính thuế đối với cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, quy định về giảm trừ gia cảnh… Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân như: Nghị định số 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết Luật thuế thu nhập cá nhân, Nghị định số 106/2010/NĐ- CP sửa đổi Nghị định100/2008/NĐ-CP, Thông tư số 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP, Thông tư 62/2009/TT-BTC hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật thuế thu nhập cá nhân …
- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 quy định về thuế thu nhập của các doanh nghiệp với các nội dung như: đối tượng nộp thuế, các thu nhập chịu thuế và không phải chị thuế, kỳ tính thuế, căn cứ tính thuế, các phương pháp tính thuế, các trường hợp ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với người nộp thuế Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp như: Nghị định số 124/2008/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Nghị định 122/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 124/2008/NĐ-CP; Thông tư số 123/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Nghị định số 124/2008/NĐ-CP, Nghị định số 122/2011/NĐ-CP; Thông tư số 199/2012/TT-BTC hướng dẫn Nghị định
số 122/2011/NĐ-CP về chuyển đổi ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu mà bị chấm dứt ưu đãi theo cam kết WTO…
- Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 quy định về thuế thu giá trị gia tăng với các nội dung như sau: quy định các đối tượng chịu thuế và không phải chịu thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế, các trường hợp được hoàn thuế và khấu trừ thuế… Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế giá trị gia tăng như: Nghị định số 123/2008/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 123/2008/NĐ-CP, Thông tư số 06/2012/TT-BCT hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 123/2008/NĐ-CP và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP
Trang 35Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt với các nội dung như sau: đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, các trường hợp được hoàn thuế, khấu trừ thuế và giảm thuế Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt như: Nghị định số 26/2009/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Thông tư số 64/2009/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 26/2009/NĐ-CP, Nghị định số 113/2011/NĐ-CP sủa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 26/2009/NĐ-CP, Thông tư số 05/2012/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 26/2009/NĐ-CP và Nghị định 113/2011/NĐ-CP
Đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế hiện hành hiện nay Cụ thể như: Nghị định 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Nghị định 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 85/2007/NĐ-
CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân; Thông tư 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài Chính hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế; Thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/2/2011 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ (Thông tư 28/2011/TT-BTC)…
Ngoài các văn bản trên thì việc quản lý thuế của cơ quan thuế còn được quy định
ở lĩnh vực, loại thuế cụ thể và chỉ áp dụng cho các vấn đề liên quan đến loại thuế đó Nhìn chung các văn bản về thuế của từng loại thuế được quy định phù hợp với các quy định của Luật Quản lý thuế năm 2006
Trang 36Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ
2.1 Đăng ký thuế
2.1.1 Đối tượng đăng ký thuế
Đối tượng đăng ký thuế gồm5
Cá nhân cư trú đáp ứng các điều kiện sau đây6:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 (một trăm tám mươi ba) ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 (mười hai) tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó, ngày đến và ngày đi được tính là 01 (một) ngày Ngày đến và ngày đi được xác định căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên
hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân đó khi đến và khi rời Việt Nam Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú
Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:
+ Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú:
▪ Đối với công dân Việt Nam: nơi ở đăng ký thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký cư trú theo quy định của Luật cư trú
5 Điều 2, Thông tư 80/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế
6 Điểm 1, Mục I, Phần A, Thông tư 84/2008/TT-BTC hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định 100/2008/NĐ-CP
Trang 37▪ Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên của người nước ngoài là nơi đăng ký và được ghi trong Thẻ thường trú hoặc Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp
+ Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 (chín mươi) ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:
▪ Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở được đăng ký thường trú, hoặc không được cấp Thẻ thường trú, Thẻ tạm trú theo hướng dẫn nêu trên, nhưng có tổng số ngày thuê nhà theo hợp đồng thuê từ 90 (chín mươi) ngày trở lên trong năm tính thuế cũng thuộc đối tượng là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê ở nhiều nơi
▪ Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan, không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động
Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện nêu trên
- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Tổ chức được ủy quyền thu phí, lệ phí
- Tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài hành nghề độc lập kinh doanh tại Việt Nam phù hợp với luật pháp Việt Nam có thu nhập phát sinh tại Việt Nam
- Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến các vấn đề về thuế như: các Ban quản
lý dự án, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức, cá nhân không phát sinh nghĩa vụ nộp thuế nhưng được hoàn thuế, hoặc được tiếp nhận hàng viện trợ từ nước ngoài
- Tổ chức, cá nhân khác có phát sinh khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước
2.1.2 Mã số thuế
Mã số thuế là một dãy các chữ số được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất
để cấp cho từng người nộp thuế theo quy định của các Luật Thuế, Pháp lệnh phí và lệ phí (gọi chung là “pháp luật về thuế”), bao gồm cả người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Mã số thuế để nhận biết, xác định từng người nộp thuế và được quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc7
Mã số thuế có vai trò quan trọng trong việc quản lý thuế nói chung và đối với người nộp thuế nói riêng Mã số thuế giúp nắm bắt thông tin của người nộp thuế để từ
7 Khoản 1, Điều 3, Thông tư 80/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế
Trang 382.1.2.2 Nguyên tắc cấp mã số thuế
- Tổ chức, cá nhân quy định theo quy định chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất
để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thuế cho đến khi chấm dứt hoạt động, trừ các trường hợp theo quy định Mã số thuế được dùng để khai thuế, nộp thuế cho tất cả các loại thuế mà người nộp thuế phải nộp, kể cả trường hợp người nộp thuế kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh tại các địa bàn khác nhau
Mã số thuế đã cấp không được sử dụng để cấp cho người nộp thuế khác Tổ chức kinh doanh khi chấm dứt hoạt động thì mã số thuế chấm dứt hiệu lực và không được
sử dụng lại
Mã số thuế đã cấp cho người nộp thuế là chủ hộ kinh doanh hoặc một cá nhân không thay đổi trong suốt cuộc đời của cá nhân đó, kể cả trường hợp đã ngừng hoạt động kinh doanh sau đó kinh doanh trở lại
Mã số thuế của doanh nghiệp sau khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được giữ nguyên
Đối với doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp, mã số thuế đồng thời là mã số doanh nghiệp
Trang 39dịch vụ, hàng hoá
+ Cá nhân có thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân
+ Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức được ủy quyền thu phí, lệ phí
+ Tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài hành nghề độc lập kinh doanh tại Việt Nam phù hợp với luật pháp Việt Nam có thu nhập phát sinh tại Việt Nam
+ Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến các vấn đề về thuế như: các Ban quản
lý dự án, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức, cá nhân không phát sinh nghĩa vụ nộp thuế nhưng được hoàn thuế, hoặc được tiếp nhận hàng viện trợ từ nước ngoài
+ Tổ chức, cá nhân khác có phát sinh khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước
+ Trừ các trường hợp được cấp mã số thuế 13 số
- Mã số thuế 13 số (N1N2N3N4N5N6N7N8N9N10 N11N12N13) được cấp cho: + Các chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp có phát sinh nghĩa vụ thuế kê khai nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế
+ Đơn vị sự nghiệp trực thuộc tổng công ty, trực thuộc doanh nghiệp có phát sinh nghĩa vụ thuế
Các tổ chức, cá nhân được quy định tại điểm này được gọi là “Đơn vị trực thuộc”, đơn vị có “đơn vị trực thuộc” được gọi là “đơn vị chủ quản” Đơn vị trực thuộc trước khi đăng ký thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp thì đơn vị chủ quản phải kê khai các đơn vị này vào “Bảng kê các đơn vị trực thuộc” để cơ quan thuế cấp mã số thuế 13 số
- Cấp mã số thuế cho người nộp thuế là nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hợp đồng dầu khí
Đối với hợp đồng tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí (sau đây gọi chung là
“hợp đồng dầu khí”), mã số thuế 10 số được cấp cho: Người điều hành (Công ty điều hành chung) theo từng hợp đồng dầu khí; Doanh nghiệp liên doanh đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng liên doanh
Trường hợp hợp đồng dầu khí quy định mỗi nhà thầu, nhà đầu tư phải thực hiện nghĩa vụ thuế riêng thì nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hợp đồng được cấp mã số thuế
13 số (kể cả nhà thầu, nhà đầu tư là Người điều hành và nhà thầu nhận phần lãi được chia) theo mã số thuế 10 số của Người điều hành để thực hiện kê khai, nộp thuế và
Trang 40quyết toán thuế đối với từng hợp đồng dầu khí
- Cấp mã số thuế cho nhà thầu nước ngoài đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế
Nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì được cấp mã số thuế 10 số theo từng hợp đồng thầu đã ký
- Cấp mã số thuế cho Bên Việt Nam nộp thuế thay cho nhà thầu nước ngoài Nhà thầu và nhà thầu phụ nước ngoài không đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì bên Việt Nam ký hợp đồng với nhà thầu có trách nhiệm khai và nộp thuế cho bên nước ngoài Bên Việt Nam được cấp mã số thuế 10 số để sử dụng cho việc khai, nộp thuế cho các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài9
2.1.2.3 Chấm dứt hiệu lực mã số thuế
Mã số thuế sễ chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau:
- Chấm dứt tồn tại: Tổ chức, cá nhân kinh doanh chấm dứt hoạt động, tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế Đối với cá nhân chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, cơ quan thuế trực tiếp quản lý thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định
- Chấm dứt hiệu lực mã số thuế: Chấm dứt hiệu lực mã số thuế là thủ tục cơ quan thuế xác định mã số thuế không còn giá trị sử dụng trong hệ thống dữ liệu đăng ký thuế của ngành Thuế Cơ quan thuế thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký thuế và thông báo công khai danh sách các mã số thuế chấm dứt hiệu lực sử dụng
Tổ chức sau khi đã làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, nếu hoạt động trở lại phải thực hiện đăng ký thuế để được cấp mã số thuế mới Cá nhân sau khi đã làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, nếu phát sinh nghĩa vụ thuế phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế với cơ quan thuế để được sử dụng lại mã số thuế đã được cấp trước đây
Ở đây, có sự phân biệt về chủ thể đối với việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế Đó
là tổ chức và cá nhân Cả tổ chức và cá nhân khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế nếu có hoạt động trở lại thì phải đăng ký thuế Nhưng đối với tổ chức thì khi đăng ký thuế để hoạt động trở lại thì sẽ được cấp mã số thuế mới Còn đối với cá nhân khi đăng ký thuế với cơ quan thuế thì sẽ được sử dụng lại mã số thuế được cấp trước đây Như vậy, đối với cá nhân thì mã số thuế cấp khi cá nhân phát sinh nghĩa vụ thuế và có đăng ký thuế
là mã số thuế sẽ gắn liền với cá nhân đó đến suốt đời Khi không hoạt động thì mã số
9 Khoản 3, Điều 3, Thông tư 80/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế