1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại NGHIÊN cứu về ĐƯỜNG cơ sở THEO QUY ĐỊNH của CÔNG ước LIÊN hợp QUỐC về LUẬT BIỂN 1982 và PHÁP LUẬT VIỆT NAM

80 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát chung về các vùng biển theo quy định của công ước về luật biển 1982 Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982, là văn kiện tổng hợp toàn diện, đề cập tới tất cả các vấn đ

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S Kim Oanh Na Nguyễn Trọng Toàn

Bộ Môn Luật Thương Mại MSSV: 5086005

Lớp: KL0864A2

Cần Thơ 4/ 2012

Trang 2

Lời nói đầu: 01

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂN, LUẬT BIỂN VÀ ĐƯỜNG CƠ SỞ ĐỂ TÍNH CHIỀU RỘNG LÃNH HẢI 04

1.1 Khái quát chung về biển 04

1.1.1 Khái quát về biển quốc tế 04

1.1.2 Khái quát về biển Việt Nam 05

1.1.3 Biển Đông và tầm quan trọng của biển Đông 07

1.2 Khái quát chung về Luật biển 09

1.2.1 Khái quát về Luật biển quốc tế 09

1.2.2 Khái quát về luật biển Việt Nam 14

1.3 Khái quát chung về các vùng biển theo quy định của công ước về luật biển 1982 16

1.3.1 Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia 17

1.3.2 Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia 22

1.3.3 Các vùng biển nằm ngoài pham vi chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển 27

1.4 Khái quát chung về đường cơ sở trên biển theo quy định của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 30

1.4.1 Khái niệm và các phương pháp xác định đường cơ sở trên biển theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 30

1.4.2 Mục đích và ý nghĩa của việc xác định đường cơ sở trên biển 32

CHƯƠNG II: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐƯỜNG CƠ SỞ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG KHU VỰC BIỂN ĐÔNG 35

2.1 Đường cơ sở theo quy định của công ước Luật biển 1982 và pháp luật quốc tế 35

2.1.1 Đường cơ sở thẳng 35

2.1.2 Đường cơ sở thông thường 40

2.1.3 Đường cơ sở quần đảo 41

2.1.4 Khuyến nghị 1994 của Liên hợp quốc về đường cơ sở trên biển 43

2.2 Đường cơ sở theo quy định của pháp luật Việt Nam 44

2.2.1 Theo Tuyên bố 1977 và Tuyên bố 1982 ……… 44

2.2.2 Quyết nghị 1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982……… 47

2.2.3 Theo Luật biên giới quốc gia 2003 và quy định liên quan 50

Trang 3

khăn……… 61

2.3.3 Những vấn đề tồn tại 69

2.3.4 Một số giải pháp đề xuất 71

KẾT LUẬN: 74 Danh mục tài liệu tham khảo:

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biển có vai trò quan trọng trong đời sống của con người, biển có tác động trực

tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống con người Là cơ sở quan trọng cho sự phát triển các quan hệ hàng hải, thương mại quốc tế, là nguồn tài nguyên thiên nhiên đáp ứng không ngừng cho những nhu cầu vật chất, xã hội của con người Nhưng tài nguyên biển không phải là vô tận, vì vậy việc sử dụng, khai thác và bảo vệ tài nguyên biển một cách hợp lý là vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, các tranh chấp liên quan đến biển ngày càng trở nên gay gắt và có diễn biến phức tạp Các nước đều muốn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trên biển, vì vậy việc xác định quyền, chủ quyền trên biển là hết sức quan trọng Việc xác định quyền, chủ quyền trên biển là cơ sở để các nước khẳng định chủ quyền ven biển của mình, đặt các thẩm quyền tài phán của mình lên các vùng biển đó Tuy nhiên việc xác định chủ quyền trên biển của một quốc gia là một vấn đề khó khăn và gây nhiều tranh cãi Để giải quyết vấn đề này pháp luật quốc tế đã có nhiều văn bản điều chỉnh về việc xác định quyền và chủ quyền ven biển, đặc biệt trong số đó là Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc 1982

Đường cơ sở trên biển là một quy định quan trọng trong Công ước về Luật biển

1982 Trong điều kiện tranh chấp biển đang diễn ra gay gắt và ngày càng quyết liệt thì việc xác định đường cơ sở là một vấn đề quan trọng của các quốc gia ven biển Đường

cơ sở trên biển để xác định lãnh hải của một nước, ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền của một quốc gia và hiện nay đang được các nước trên thế giới quan tâm Việt Nam là một nước ven biển, có vùng biển rộng lớn và giàu tài nguyên Chủ quyền trên biển của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng, các tranh chấp về biển liên tục diễn ra Trong bối cảnh đó Việc ban hành quy phạm pháp luật văn bản về biển và tuyên truyền các quy định về biển cho người dân là yêu cầu hết sức cấp thiết Việt Nam đã công bố đường cơ sở của mình trong tuyên bố của Chính phủ về đường cơ sở ngày 12/11/1982, nhưng trong hoàn cảnh mới, đường cơ sở theo Tuyên bố 1982 của Việt Nam đã có một

số điểm không còn phù hợp và cần được thay đổi thì việc xác định đường cơ sở trên biển càng có ý nghĩa quan trọng hơn

Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 là một đóng góp quý báu, là tiền

đề cho chúng ta phát triển tinh thần yêu nước và trí tuệ của mình để bảo vệ chủ quyền quốc gia Cụ thể, là giúp cho chúng ta hiểu hơn về biển và tầm quan trọng của biển,

Trang 5

qua đó chúng ta cần đấu tranh đòi lại quyền công bằng cho chủ quyền của đất nước trên tinh thần quy định của quốc tế về biển Đây là lý do mà người viết lựa chọn đề tài làm luận văn tốt nghiệp để tìm hiểu và “Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 và pháp luật Việt Nam ”

2 Mục tiêu nghiên cứu, và nhiệm vụ của đề tài

Xuất phát từ bối cảnh đường cơ sở trên biển của Việt Nam, các quy phạm pháp luật văn bản về biển và quan điểm của Đảng và nhà Nước về biển đang ngày càng phát triển và hoàn thiện thì mục đích chính của đề tài là nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận về đường cơ sở trên biển, thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về đường cơ sở trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đường cơ sở Từ những mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về đường cơ sở như: đặc điểm của đường cơ sở, các quy định của pháp luật về đường cơ sở trên biển theo quy định của Công ước Luật biển 1982 và pháp luật Việt Nam Từ đó cho thấy những yêu cầu của việc điều chỉnh pháp luật đối với đường cơ sở

- Nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện thực trạng các quy định và thực tiễn

áp dụng pháp luật về đường cơ sở Thông qua đó nêu lên những tồn tại, hạn chế, bất cập của các quy phạm pháp luật văn bản về đường cơ sở hiện hành

- Đề ra các định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy phạm pháp luật văn bản về đường cơ sở trên biển

3 Phạm vi nghiên cứu

Việc xác định đường cơ sở là một vấn đề nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn đến việc xác định quyền, chủ quyền trên biển của một quốc gia Vì vậy có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về việc xác định đường cơ sở Trong đề tài người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về đường cơ sở Quy định về đường cơ sở theo Công ước về Luật biển 1982 và pháp luật Việt Nam, thực tiễn đường cơ sở của Việt Nam Qua đó nêu lên một số tồn tại, hạn chế của pháp luật về đường cơ sở và những giải pháp để hoàn chỉnh đường cơ sở của nước ta

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, hệ thống quy phạm pháp luật

về biển của Việt Nam và Công ước Luật biển 1982, đặc biệt pháp luật về đường cơ sở trên biển Người viết chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, thu thập tài liệu trên cơ

Trang 6

sở đó rút ra các vấn đề cần nghiên cứu Ngoài ra các phương pháp liệt kê, so sánh, các tài liệu hội thảo khoa học, thực tiễn và các tài liệu pháp lý có liên quan được sử dụng

để làm sáng tỏ một số vấn đề cần giải quyết

5 Bố cục của đề tài

Ngoài bìa chính, bìa phụ và lời mở đầu nội dung của đề tài gồm 2 chương:

- Chương 1: Khái quát chung về biển, luật biển và đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải;

- Chương 2: Những quy định của pháp luật về đường cơ sở và thực tiễn áp dụng trong khu vực biển Đông;

Trong quá trình làm đề tài, người viết xin chân thành cảm ơn thầy Kim Oanh

Na đã tận tình hướng dẫn để người viết có thể hoàn thành nội dung này Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa đã tạo điều kiện giúp đỡ về kiến thức, và tài liệu trong quá trình học cũng như trong quá trình làm đề tài Cảm ơn các bạn trong lớp và trong khoa đã có nhiều đóng góp và giúp đỡ người viết trong quá trình thực hiện đề tài

Tuy người viết đã có nhiều cố gắng nhưng đề tài không khỏi còn có nhiều thiếu

sót, người viết mong nhận được những đóng góp từ thầy cô và các bạn Xin cảm ơn

Trang 7

CHƯƠNG 1 :

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂN, LUẬT BIỂN VÀ ĐƯỜNG

CƠ SỞ ĐỂ TÍNH CHIỀU RỘNG LÃNH HẢI

1.1 Khái quát chung về biển

1.1.1 Khái quát về biển quốc tế

Biển và đại dương chiếm 71% diện tích Trái đất Biển và đại dương có những nguồn tài nguyên sinh vật, năng lượng, khoáng sản đa dạng và to lớn Nói đến biển là nói đến cái nôi của sự đa dạng sinh học với 15 vạn loài động vật và 2 vạn loài thực vật

đã được phát hiện, trong đó có 400 loài cá và hơn 100 loài hải sản có giá trị kinh tế cao Biển không chỉ có tài nguyên sinh vật mà còn rất giàu khoáng sản

Biển và Đại dương được cấu tạo từ các thành phần được quan tâm nhiều:

- Khối lượng nước có nhiều tài nguyên sinh vật quý giá cũng như các tài nguyên không sinh vật hòa tan trong nước biển (trên 40 thành phần hóa chất trong nước biển )

- Thềm lục địa chứa 90% trữ lược dầu khí ngoài khơi; đáy đại dương và các dải núi đại dương nơi chứa đựng các quặng đa kim

Sản lượng đánh bắt cá biển của thế giới từ những năm 1990 là vào khoảng 90 triệu tấn/ năm

Sản lượng sản xuất thực vật biển vào khoảng 300 tỷ tấn/ năm (chủ yếu là thực vật nổi ), trong đó có các động vật ăn cỏ tiêu thụ 70 tỷ tấn, con người tiêu thụ trực tiếp 250-

300 triệu tấn

Tài nguyên không sinh vật của biển có thể chia làm ba loại:

- Các tài nguyên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển: cát, sỏi, san hô, trai ngọc, than, dầu khí;

- Các tài nguyên do các dòng sông và hiện tượng xói lở của bờ biển đưa ra biển như các hạt khoáng sản hoặc các bụi kim loại có nguồn gốc từ đất liền;

- Các hóa chất kết tủa của biển như muối, các á kim và các quặng đa kim nodules Các quặng đa kim này lần đầu tiên được tàu nghiên cứu Challenger phát hiện tại độ sâu 3.000 mét vào năm 1872-1876 Đánh giá trữ lượng hiện nay khoảng 60.000

Trang 8

tấn-ki-lô-mét vuông trong một số vùng của Thái Bình Dương Các quặng này chứa đồng, coban, ti tan, nhưng phần lớn là sắt và mangan Vì vậy là đối tượng tranh giành vào những nắm 1970, ngày nay chúng đã ít được quan tâm hơn về phương diện kinh

đã tác động đến toàn bộ đời sống con người một cách trực tiếp hay gián tiếp1

1.1.2.Khái quát về biển Việt Nam

Vùng biển Việt Nam thuộc vùng biển Đông, vị trí biển Đông với diện tích toàn

bộ là 3.447.000 ki-lô-mét vuông, (khoảng 648.000 hải lý vuông) Là một trong sáu biển lớn nhất thế giới, nối với hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương

Việt Nam có 2779 hòn đảo lớn nhỏ hợp thành một hệ thống với tổng diện tích 1.636 ki-lô-mét vuông Do đặc điểm kiến tạo các đảo này phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở 2 khu vực biển vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ

Trong 2779 hòn đảo ven bờ Việt Nam có 82 đảo có diện tích lớn hơn 1 ki-lô-mét vuông chiếm 92% tổng diện tích, trong đó có 23 đảo có diện tích lớn hớn 10 ki-lô-mét vuông và 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 ki-lô-mét vuông và 1295 đảo nhỏ chưa có tên Tuy phân bố không đều nhưng trên tất cả các vùng biển ven bờ Việt Nam đều có các đảo che chắn ở mức độ khác nhau2

Việt Nam có 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa Quần đảo Hoàng Sa chiếm khoảng trên 15.000 ki-lô-mét vuôn, có hơn 30 đảo, bãi đá, bãi cạn Quần đảo Trường Sa có trên 1360 đảo lớn, nhỏ (đảo san hô, mỏm đá nổi và chìm) chiếm khoảng

Trang 9

rộng trên 160.000 ki-lô-mét vuông, gấp 10 lần Quần đảo Hoàng Sa, Diện tích các đảo

và bãi đá nhô lên mặt nước khoảng 10 ki-lô-mét vuông

Biển Việt Nam có tiềm năng phát triển kinh tế lớn và có tầm quan trọng về an ninh quốc phòng Nếu chúng ta khai thác và phát triển kinh tế biển một cách hợp lý thì biển sẽ mang lại một nguồn lợi rất lớn Tầm quan trọng của biển Việt Nam được thể hiện như sau:

Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn 1 triệu km2 trong đócó 500.000km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trữ lượng dầu khí dưới đáy biển Đông Có thể khai thác từ 30 – 40 nghàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/ năm Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn Ngoài dầu Việt Nam còn

có khí đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m3/năm

Thủy hải sản: Ở vùng biển nước ta cho đến nay chúng ta đã phát hiện khoảng 2.040 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó những loài có giá trị kinh tế cao chiếm khoảng 110 loài Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta đánh bắt được khoảng 3 triệu tấn/năm Ở Việt Nam có khoảng trên 1.500 loài nhiễm thể, riêng tôm có trên 100 loài Ngoài tôm cá, chúng ta còn có nguồn lợi về rong biển Biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có nguồn dinh dưỡng cao và là nguồn dược liệu phong phú3

Chim biển: Các loài chim biển ở nước ta cũng phong phú, trong đó có hải âu,

Bồ nông, chim sẻ, hải yến là những loài có giá trị kinh tế cao Theo tính toán thì phân chim tích tụ từ lâu đời trên các đảo cho trữ lượng phân bón tới chục triệu tấn

Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều loại khoáng sản quý như thiếc, tan, đi-ri-côn, thạch anh, nhôm, sắt, mang-gan, đồng, kiềm và các loại đất hiếm muối

ti-ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gam/m2

Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất nước,

có nhiều cảng, vịnh, vụng… rất thuận lợi cho giao thông biển, đánh bắt cá và nuôi trồng thủy, hải sản Nước ta nằm trên trục giao thông đường biển quốc tế từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương trong tương lai sẽ có tiềm năng phát triển các dịch vụ trên biển

3

Báo cáo của Bộ Thủy sản tháng 9 năm 1996

Trang 10

Du lịch: Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vụng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, hải đảo có nhiều loài động vật quý hiếm là tiềm năng du lịch lớn

Về an ninh quốc phòng: Biển nước ta nằm trên đường giao thông biển quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, vì vậy có vị trí quân sự hết sức quan trọng đây được coi là đường giao thông biển nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới Đặc biệt ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có ý nghĩa phòng thủ chiến lước quan trọng đối với nhiều nước Nằm ở trung tâm biển Đông quần đảo Trường Sa và Hoàng sa là một trong những những khu vực có nhiều tuyến đường biển đi qua nhất thế giới Vì vậy, bảo vệ chủ quyền trên 2 quần đảo là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và luôn đặt lên hàng đầu với nhà nước ta4

1.1.3 Biển Đông và tầm quan trọng của biển Đông

Biển Đông là một biển rìa lục địa, một phần của Thái Bình Dương bao phủ một diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích toàn bộ vào khoảng 3.447.000 km2 Độ sâu trung bình của biển Đông là 1.140m và nơi sâu nhất là 5.420m

Ở phía Bắc tại vịnh Bắc Bộ Việt Nam và phía Nam tại vịnh Thái Lan, thềm lục địa lan

ra rất rộng, không chỗ nào sâu quá 100m Thềm lục địa rộng và nông là nơi tập trung của nhiều mỏ, chủ yếu là mỏ trầm tích và mỏ nguồn gốc hữu cơ Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của 300 triệu người dân của các nước này Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả khu vực châu Á- Thái Bình Dương và Mỹ5

Tiềm năng của biển Đông: Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), du lịch và là khu vực đang chịu sức ép lớn về bảo vệ môi trường sinh thái biển Biển Đông được coi

là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới Các khu vực thềm lục địa

có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa sông Châu Giang Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan … trong đó Indonesia

là thành viên của OPEC

Trang 11

Theo đánh giá của Bộ năng lượng Mỹ, lượng trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỷ thùng vớ khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ ngày Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 313 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15- 20 năm tới Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung khu vực thềm lục địa Tư Chính6 Tầm quan trọng của Biển Đông: Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Công7

Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai - Wetar) Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz)

Khu vực biển Đông chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái (Theo những nghiên cứu do Sở môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippines) Ngoài ra biển Đông còn có tiềm năng phát triển kinh tế biển phong phú như các nghành thủy hải sản, khoáng dầu, dầu mỏ, giao thông và du lịch

* Tầm quan trọng của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Các đảo và quần

đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất thế giới

Trang 12

Theo ước lượng của các nhà phân tích, gần 50% hàng hóa và 30% dầu hỏa được tàu bè vận chuyển qua khu vực biển Đông nhất là khu vực gần đảo Trường Sa Vì vậy,

về mặt chính tri, kinh tế, quân sự quốc gia nào làm chủ được Trường Sa hay nói cách khác là kiểm soát trục qua lại trên đường biển vùng Thái Bình Dương, quốc gia đó sẽ giữ vị trí quan trọng, có thể ảnh hưởng đến vận mạng kinh tế không chỉ trong khu vực

mà cả thế giới

Ngoài ra với vị trí ở giữa biển Đông Trường Sa có thế mạnh về dịch vụ hàng hải, nghề cá và hậu cần nghề cá đối với tàu thuyền qua lại và đánh bắt hải sản trong khu vực đồng thời là địa điểm du lịch hấp dẫn trong nước và nước ngoài, Các tài nguyên sinh vật, khoáng sản đặc biệt là dầu mỏ ở khu vực này có tiềm năng phát triển

Vì thế nên việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và Hoàng sa là hết sức quan trọng Việt Nam và quần đảo Trường Sa sẽ trở thành chiếc cầu nối cực kì quan trọng để phát triển thương mại quốc tế và mở rộng giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới

1.2 Khái quát chung về Luật biển

1.2.1.Khái quát về Luật biển quốc tế

* Khái niệm: Luật biển là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế, bao gồm tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm được hình thành bằng sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế (trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia) nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động khai thác, sử dụng, quản lý

và bảo vệ môi trường biển vì mục đích hòa bình

Về cấu trúc và vị trí pháp luật thì luật biển quốc tế là ngành luật độc lập thuộc hệ thống Luật quốc tế, bao gồm tổng thể các nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh quan hệ quốc tế phát sinh trong lĩnh vực sử dụng và khai thác biển vì mục đích hòa bình và lợi ích thiết thực của các chủ thể khác nhau Luật biển quốc tế mang đầy đủ đặc điểm của luật quốc tế Bên cạnh đó, luật biển quốc tế còn có những đặc điểm riêng của một nghành luật độc lập

Ở góc độ khoa học luật quốc tế, luật biển quốc tế là môn khoa học pháp lý chuyên ngành, nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quan hệ quốc

tế giữa các quốc gia và thực thể khác, liên quan đến việc thiết lập, thực thi chủ quyền, các chủ quyền và hợp tác quốc tế của quốc gia đối với sử dụng và khai thác biển Tiếp cận hệ thống quy phạm pháp lý quốc tế áp dụng trên biển từ hai phương diện khoa học

Trang 13

cho thấy, sự hình thành và phát triển của hệ thống này chịu sự tác động của nhiều yếu

tố tự nhiên và xã hội

* Đặc điểm của luật biển quốc tế:

a/ Về chủ thể: Xuất phát từ việc sử dụng và khai thác biển, có thể xác định chủ thể tham gia quan hệ Luật Biển quốc tế trước hết là các quốc gia Đây là chủ thể phổ biến của Luật Biển quốc tế, bởi vì biển vốn liên quan đến mọi mặt của đời sống một quốc gia Không những thế, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và kinh tế toàn cầu, biển không chỉ có giá trị về kinh tế, mà còn đặc biệt quan trọng đối với an ninh và môi trường Tất cả các lĩnh vực này đều quan hệ mật thiết đến lợi ích thiết thực và sống còn của mỗi quốc gia Trong Luật Biển quốc tế, các quốc gia có vị trí địa lý khác nhau được hưởng lợi ích trong khai thác và sử dụng biển khác nhau

b/ Về quan hệ thuộc pham vi điều chỉnh của luật biển quốc tế:

- Hoạt động trên biển là hoạt động đa danh, phức tạp nhằm phục vụ cho những nhóm lợi ích khác nhau Nên có sự phân biệt giữa các quan hệ chịu sự điều chỉnh của các quy pham luật biển quốc tế với quan hệ thuộc sự điều chỉnh của các quy phạm Luật Hàng hải hoặc luật trong nước của quốc gia

- Đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Biển quốc tế có sự phân biệt với đối tượng thuộc pham vi điều chỉnh của Luật Hàng hải, là quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng và khai thác và sử dụng tàu thuyền, khi các phương tiện giao thông này hoạt động trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền tài phán của một quốc gia hay trên vùng biển quốc tế

c/ Về việc hình thành và thực thi luật biển quốc tế:

- Đối với việc hình thành một trật tự pháp lý trên biển là yêu cầu của mọi thời đại Qúa trình hình thành và phát triển của luật biển đánh dấu những bước thay đổi cơ bản về tư duy nhận thức của con người về môi trường biển Luật biển quốc tế ngày càng phát triển theo hướng dân chủ, tiến bộ và thích ứng với nhu cầu của thời đại

- Việc thực thi luật biển quốc tế là quá trình các chủ thể luật biển áp dụng cơ chế hợp pháp, phù hợp để đảm bảo các quy định của luật biển quốc tế được thi hành và được tôn trọng đầy đủ trong đời sống quốc tế

* Nguồn của luật biển:

- Nguồn lịch sử:

Trang 14

Luật biển đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử, vào thời cổ đại, ở Hy Lạp,

Ai Cập và La Mã đã xuất hiện các tập quán về biển

Văn kiện phân chia biển đầu tiên đó là Sắc chỉ ''Inter Coetera'' của Giáo hoàng Alexandre VI ngày 04/5/1493 Đường chia của Giáo hoàng cách phía Tây của đảo Vert 100 liên (một liên tương đương 182m), phân đại dương thành hai khu vực ảnh hưởng cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Thực chất đó là đường phân chia khu vực truyền đạo của hai quốc gia này đã nhanh chóng chuyển thành khu vực ảnh hưởng của họ8

Năm 1609, Hugo Grotius viết cuốn ''Mare Liberum'' để biện minh cho các quyền tự do trên biển Tư tưởng này được các quốc gia tư bản mới hoan nghênh vì nó tạo sức cạnh tranh với sự phân chia trên, tạo điều kiện cho các quốc gia hàng hải khác như Hà Lan, Anh phát triển Năm 1635, luật gia người Anh - John Selden đáp lại bằng cuốn sách ''Mare Clausum'', khẳng định quyền của vua Anh thực hiện chủ quyền trên các vùng biển bao quanh nước Anh Tuy nhiên, nguyên tắc tự do trên biển đã thắng thế9

- Nguồn hiện đại:

a/Các tuyên bố đơn phương và thực tiễn quốc gia:

Ngày 26/12/1942, hiệp định Anh-Venezuela phân chia Vịnh Paria, hiệp định đầu tiên phân chia “đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài lãnh hải”

Ngày 28/9/1945, Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman mở rộng quyền tài phán của Hoa Kỳ trên các nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản trên thềm lục địa tiếp giáp với bờ biển

Năm 1947, Chi Lê, Peru và Equateur yêu sách lãnh hải mở rộng 200 hải lý Các tuyên bố Santiago ngày 18/812952, Lima ngày 8/8/1970 và Saint-Domingue ngày 7/6/1972: Các quốc gia Mỹ La tinh yêu sách vùng biển rộng 200 hải lý Equeteur, Peru, Panama, Brazil yêu sách “biển di sản” rộng 200 hải lý

Tại phiên họp thứ 22 Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 17/8/1967, Arvid Pardo, Đại sứ Malte đã đưa ra tư tưởng coi vùng đáy biển nằm ngoài vùng tài phán của quốc gia là di sản chung của nhân loại

Trang 15

Năm 1970, tại Comlombo, trước Ủy ban tư vấn pháp lý Á-Phi và 6/1972, tại hội nghị khu vực các quốc gia châu Phi tổ chức tại Yaoundé, Kenya đưa ra sáng kiến thành lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý Năm 1973, sáng kiến này được sửa đổi dưới dạng “dự thảo các điều khoản về vùng đặc quyền kinh tế do các nước Á-Phi trình bày cho Ủy ban đáy biển”10

b/ Các Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên hợp quốc

Nghị quyết 1803 (XVII) 18/12/1962 “Tuyên bố về chủ quyền vĩnh cửu trên các tài nguyên thiên nhiên”; 3016 (XXVII) năm 1972 về chủ quyền vĩnh cửu của các quốc gia trên các tài nguyên các vùng biển nằm trong ranh giới tài phán quốc gia và 3171 (XXVIII) 17/12/1973 “chủ quyền trên các tài nguyên thiên nhiên” nhắc lại các nguyên tắc của hai Nghị quyết trên

Nghị quyết 2749 (XXV) 17/12/1970 “Tuyên bố về các nguyên tắc quản lý đáy biển và đại dương cũng như các lòng đất của chúng nằm ngoài ranh giới quyền tài phán quốc gia”

c/ Các phán quyết của Tòa án pháp lý quốc tế:

Vụ eo biển Corfou ngày 9/4/1949

Vụ ngư trường Anh - Na UY ngày 18/12/1951 về đường cơ sở thẳng

Vụ thềm lục điạ Biển Bắc ngày 20/2/1969

Các vụ án khác như vụ tàu Lotus ngày 7/9/1927 giữa Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ Thềm lục địa Anh- Pháp ngày 30/6/1977 đã đóng góp trong việc điển chế hóa Luật biển

d/ Các hội nghị pháp điển hóa

Mãi cho tới năm 1930, Hội nghị quốc tế đầu tiên về luật biển, mới được triệu tập tại Lahay nhằm giải quyết các vấn đề về quy chế lãnh hải, chống cướp biển, các nguyên tắc sử dụng tài nguyên thiên nhiên biển Do có nhiều mâu thuẫn nên hội nghị Lahay chỉ đạt được về vấn đề công nhận các quốc gia có một lãnh hải rộng ít nhất ba hải lý và một vùng tiếp giáp lãnh hải

Ngày 24/02/1958, Liên Hợp Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ nhất về luật biển tại Geneva, thông qua được bốn Công ước quốc tế đầu tiên về luật biển:

10

Ts Nguyễn Hồng Thao: những điều cần biết về luật biển, Nxb Công an nhân dân 1997,Tr,16

Trang 16

1 Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964, 46 quốc gia là thành viên);

2 Công ước về biển cả (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962, 57 quốc gia là thành viên);

3 Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả (có hiệu lực từ ngày 20/3/1966, 36 quốc gia là thành viên);

4 Công ước về thềm lục địa (có hiệu lực từ ngày 10/6/1964, 54 quốc gia là thành viên)

Các công ước này đã pháp điển hoá rất nhiều các nguyên tắc tập quán và đã đưa

ra nhiều khái niệm mới (như thềm lục địa) Nhưng công ước này thất bại trong việc thống nhất bề rộng lãnh hải (các quốc gia yêu sách tới năm loại bề rộng lãnh hải khác nhau) và trong việc xác định ranh giới của thềm lục địa

Hội nghị lần thứ hai của Liên Hợp quốc về luật biển được tổ chức vào ngày 17/3/1960 tại Giơnevơ về bề rộng lãnh hải Hội nghị này không đưa ra được một kết quả khả quan nào

Hội nghị lần Thứ ba của Liên Hiệp Quốc về luật biển sau năm năm trù bị (1967-1972) Và chín lần đàm phán thương lượng (1972-1982) với 144 quốc gia và 08

cơ quan đại diện đặc biệt, tham gia đã thông qua được Công ước mới về luật biển Văn kiện cuối cùng được thông qua vào ngày 10/12/1982 tại Mongtego-Bay, Giamaica

Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 thực sự là một bản hiến pháp mới về biển của cộng đồng quốc tế Là văn kiện tổng hợp toàn diện, đề cập tới tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kĩ thuật, môi trường…nó phản ánh một sự nhất trí rộng rãi về hầu hết các vấn đề liên quan đến biển, nhằm mục đích xác lập một trật tự pháp lý để điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ biển và Đại dương

* Các nguyên tắc của luật biển quốc tế:

Có 6 nguyên tắc cơ bản trong luật biển quốc tế hiện đại:

1/ Nguyên tắc tự do biển cả;

2/ Nguyên tắc đất thống trị biển;

Trang 17

3/ Nguyên tắc sử dụng biển cả vì mục đích hòa bình;

4/ Nguyên tắc Vùng và tài nguyên trên Vùng là di sản chung của nhân loại;

5/ Nguyên tắc sử dụng hợp lý và bảo vệ sinh vật sống trên biển;

6/ Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển

1.2.2 Khái quát về Luật biển Việt Nam

* Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài, các vùng biển rộng, các dân tộc Việt Nam có truyền thống gắn bó với biển từ lâu đời, và chính quyền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã có mối quan tâm rất lớn đến Luật biển

a/ Lược sử hình thành:

Luật Biển Việt Nam được hình thành theo 4 giai đoạn:

- Luật biển trước khi các nước phương Tây tới (trước 1874)

Trong giai đoạn này chiều rộng và quy chế pháp lý của các vùng biển còn chưa

rõ ràng

- Luật biển dưới thời thực dân (1874-1954)

Trong giai đoạn này có một số nghị định điều chỉnh về Luật biển về việc đánh cá

và có quy định vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 20km tính từ ngấn nước triều thấp nhất

- Luật biển trong giai đoạn Việt Nam bị phân chia (1954-1976)

Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954 về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam Việt Nam

bị phân chia thành hai miền theo vĩ tuyến 17 Trong giai đoạn này có các tuyên bố về biện pháp an ninh lãnh hải, về việc kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa trên phần thềm lục địa tiếp giáp với lãnh hải Việt Nam Ngày 1/4/1970 Sài Gòn thông qua luật dầu lửa, có định nghĩa thềm lục địa Việt Nam Ngày 1/4/1972 Nam Việt Nam Tuyên bố một vùng đánh cá đặc quyền rộng 50 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải

- Luật biển từ khi tổng tuyển cử thống nhất (1976 trở đi)

Trong giai đoạn này, Chính phủ ra Tuyên bố 12/5/1972 về các vùng biển Việt Nam Tháng 7/1977 đoàn đại biểu Việt Nam tham gia Hội nghị lần thứ ba của Liên Hợp Quốc về Luật biển

Tuyên bố 12/11/1982 về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Đây là văn bản pháp lý quan trọng của Việt Nam xác định chiều rộng lãnh hải Việt Nam

Trang 18

Ngày 23/6/1994, Việt Nam phê chuẩn Công ước về luật biển 1982

Bộ luật hàng hải Việt Nam ngày 30/06/1990 được thông qua ngày 30/6/1990

Các Nghị định của hội đồng bộ Trưởng và nghị định của Chính phủ cũng là một trong các nguồn của Luật biển Việt Nam trong giai đoạn này

b/ Nguồn của Luật biển Việt Nam

- Các văn kiện pháp lý chính của Việt Nam

Tuyên bố của chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam;

Nghị định của hội đồng Chính phủ số 30-CP ngày 29/1/1980 về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;

Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đường

cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982;

Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ hải sản ngày 25/4/1989 Hội đồng nhà nước thông qua ngày 2/6/1990;

Nghị định 195-HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ngày 2/6/1990;

Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990;

Nghị định của Hội đồng bộ trưởng số 242-HĐBT, ban hành ngày 5/8/1991 quy định về việc các bên nước ngoài và phương tiện nước ngoài vào nghiên cứu khoa học

ở các vùng biển Nước Cộng hòa Xã hội chủ Nghĩa Việt Nam;

Hiến pháp 1992 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Luật Dầu khí ngày 6/7/1993;

Luật bảo vệ môi trường ngày 27/12/1993;

Nghị định của Chính Phủ ngày 18/10/1994 về hướng dẫn và thi hành Luật Bảo vệ môi trường;

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 6/7/1995, công bố theo lệnh số CTN ngày 19/7/1995;

Trang 19

41-L-Nghị định 48- CP ngày 12/8/1996 “Quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản” Nghị định này thay thế nghị định số 85/CP ngày 22/11/1993 của Chính Phủ ban hành “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản”;

Nghị định số 55-CP ngày 1/10/1996 của Chính Phủ về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nghị định số 84/CP của Chính Phủ ngày 17/12/1996 quy định chi tiết về việc thi hành Luật dầu khí ngày 6/7/1993;

Pháp lệnh Cảnh sát biển ngày 28/3/1998;

Bộ luật Thủy sản năm 2003;

Luật Biên giới quốc gia năm 2003;

Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005;

Nghị định số 160/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 về quản lý hoạt động hàng hải tại các cảng biển Việt Nam;

Các quy định của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về cơ bản đều phù hợp với công ước về Luật biển 1982 Qua đó khẳng định quan điểm của nhà nước Việt Nam liên quan đến vấn đề biển và chủ quyền trên biển đảo của Việt Nam Khẳng định nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự quan tâm lớn tới Luật biển quốc tế sẵn sàng hợp tác với các nước trên tinh thần đoàn kết để cùng nhau phát triển trong hòa bình của Liên Hợp Quốc đề ra đồng thời cũng khẳng định chủ quyền của nhà nước Việt Nam trên biển và quyền đó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm pham

1.3 Khái quát chung về các vùng biển theo quy định của công ước về luật biển 1982

Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982, là văn kiện tổng hợp toàn diện, đề cập tới tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kĩ thuật, môi trường… nó phản ánh một sự nhất trí rộng rãi về hầu hết các vấn đề liên quan đến biển, và nhằm mục đích xác lập một trật tự pháp lý để điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ biển và Đại dương.Trật tự pháp

lý biển, được xác định đối với các vùng biển rất đa dạng và phức tạp Căn cứ vào Công

Trang 20

ước Luật biển 1982, dựa vào tính chất chủ quyền quốc gia ven biển, các vùng biển

được phân chia thành:

1.3.1.Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia

+ Vịnh thiên nhiên: Theo điều 10 Công ước 1982 thì vịnh là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền, được bao bọc phần lớn bởi bờ biển Một vùng lõm chỉ được coi là một vịnh nếu như diện tích của nó ít nhất cũng bằng diện tích một nữa hình tròn có đường kính là đường cơ sở thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm

Diện tích của một vùng lõm được tính giữa ngấn nước triều thấp nhất dọc theo

bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên Nếu do có các đảo mà một vùng lõm có nhiều cửa vào thì nửa hình tròn nói trên có đường kính bằng tổng số chiều dài các đoạn thẳng cắt ngang cửa vào đó Diện tích của các đảo nằm trong một vùng lõm được tính vào diện tích chung của vùng lõm Công ước cũng quy định trường hợp khoảng cách giữa các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên của một vịnh vượt quá 24 hải lý, thì phải kẻ một đường cơ sở thẳng dài 24 hải lý ở phía trong vịnh, sao cho phía trong

nó có một diện tích nước tối đa (Điều 10)11

+ Vịnh lịch sử và vùng nước lịch sử

Là một vịnh biển mặc dù cửa vịnh có thể vượt quá 24 hải lý nhưng có vị trí địa

lý đặc biệt liên quan trực tiếp về an ninh, chính trị, xã hội… đối với các quốc gia ven biển Gắn liền với các hoạt động của quốc gia trong nhiều lĩnh vực và đã được quốc gia ven biển chiếm hữu, sử dụng từ lâu

Vùng nước lịch sử: Vùng nước này có thể là các vùng nước thuộc các biển vịnh, vũng đậu tàu, eo biển… thực tiễn quá trình khai thác, sử dụng biển đã hình thành một số tiêu chí nhất định để xác định tính chất lịch sử cho các vùng vịnh, vùng nước

11

Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc 1982

Trang 21

có danh nghĩa lịch sử hay có vị trí địa lý đặc biệt gắn liền với lãnh thổ quốc gia và là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia Đồng thời nó có ý nghĩa đặc biệt về an ninh, quốc phòng, kinh tế… đối với quốc gia ven biển và cách xa đường hàng hải quốc tế

+ Cảng biển

Cảng biển: là một khu vực trung gian nối liền biển với đất liền có thể là cảng dùng cho thương mại quốc phòng hay cảng chuyên dùng Quy chế Geneva ngày 9/12/1922 định nghĩa: cảng biển là tất cả các cảng thường xuyên có tàu biển ra vào và được sử dụng phục vụ cho mậu dịch đối ngoại

Quy chế pháp lý của nội thủy

+ Trong vùng nước nội thủy, các quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền của mình Tàu thuyền nước ngoài muốn vào vùng nước nội thủy phải xin phép quốc gia ven biển và phải tuân theo luật lệ của quốc gia đó Quốc gia ven biển có quyền không cho phép tàu thuyền đó được hoạt động trong vùng nước nội thủy của quốc gia mình Tuy nhiên, vẫn có đôi chút khác biệt giữa chủ quyền trong vùng nước nội thủy và chủ quyền trên lãnh thổ đất liền ở trong một số trường hợp cụ thể

Khi hoạt động trong nội thủy, tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ các quy định hiện hành của quốc gia sở tại Như không được cập mạn tiếp xúc với các tàu thuyền

Trang 22

nước ngoài khác, nếu không được trái phép; không được đo dạc, khảo sát thăm dò những yếu tố khí tượng thủy văn, độ sâu, chất đất; không được chụp ảnh, quay phim

Tàu quân sự nước ngoài muốn váo nội thủy của quốc gia ven biển phải tuân theo chế độ xin phép đặc biệt, thời gian xin phép trước phải tuân theo quy định của quốc gia sở tại, số lượng tàu quân sự của một nước không được vượt quá số lượng cho phép, thời hạn trú đậu cũng được quy định cụ thể Đối với tàu ngầm khi được phép vào nội thủy phải vận hành ở tư thế nổi, phải treo cờ mà tàu mang quốc tịch và phải chấp hành nghiêm các quy định của nước sở tại đối với các loại tàu nổi của nước ngoài ở nội thủy Tàu thuyền nước ngoài khi ở nội thủy không được gây ô nhiêm môi trường

+ Thẩm quyền tài phán

- Thẩm quyền tài phán dân sự:

Đối với tàu dân sự thương mại, Luật Biển quốc tế công nhận thẩm quyền tài phán dân sự của quốc gia ven biển trong trường hợp có hành vi vi phạm của tàu thuyền nước ngoài Các tranh chấp phát sinh trong nội bộ thủy thủ đoàn thuộc quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ

Tàu thuyền Nhà nước được hưởng quyền miễn trừ dân sự, tức không bị bắt giữ, cầm cố và áp dụng các biện pháp tư pháp khác Trong trường hợp tàu này có hành vi

vi phạm quốc gia ven biển có quyền yêu cầu tàu thuyền nhà nước của nước ngoài phải rời khỏi vùng nội thủy nước mình

- Thẩm quyền tài phán hình sự

Trong trường hợp của tàu thương mại thì về nguyên tắc, quốc gia ven biển không can thiệp vào các xung đột bạo lực diễn ra trên tàu nước ngoài đậu tại cảng biển của mình Nhưng cơ quan có thẩm quyền của quốc gia sở tại có quyền can thiệp nếu:

+ Hành vi phạm tội do một người ngoài thủy thủ đoàn thực hiện

+ Thuyền trưởng yêu cầu chính quyền sở tại can thiệp

+ Hậu quả của hành vi pham tội có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự của cảng biển

Tàu quân sự và tàu Nhà nước phi thương mại của nước ngoài, về nguyên tắc được hưởng quyền miễn trừ tài phán tuyệt đối Trong trường hợp có hành vi vi phạm, quốc gia nơi tàu đang hoạt động có quyền yêu cầu tàu thuyền vi phạm rời khỏi vùng biển của mình

Trang 23

*Lãnh hải :

- Khái niệm: Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài vùng đất

và nội thủy của mình và trong trường hợp quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo đến một vùng biển tiếp liền gọi là lãnh hải Và mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình Chiều rộng này không được vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở được xác định theo đúng quy định của Công ước12

Như vậy, lãnh hải của một quốc gia là vùng biển nằm giữa nội thủy và vùng biển thuộc quyền chủ quyền ( vùng tiếp giáp) và có chiều rộng là lớn hoặc bằng 12 hải

lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển, còn ranh giới phía ngoài của lãnh hải là đường song song với đường cơ sở và có chiều rộng bằng chiều rộng lãnh hải của quốc gia này đã được chính thức công bố Đây là đường biên giới quốc gia trên biển, có ý nghĩa giới hạn chủ quyền của quốc gia ven biển

- Quy chế pháp lý: Thuật ngữ lãnh hải là sự kết hợp thành công giữa hai từ lãnh thổ và biển Lãnh hải là một vùng biển đệm giữa một bên là lãnh thổ do quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, với vùng lãnh hải của mình Chủ quyền này là không hoàn toàn tuyệt đối như với vùng nước nội thủy của quốc gia, do việc cộng đồng quốc tế thừa nhận quyền qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong vùng lãnh hải Tuy nhiên, đối với vùng trời bao trùm trên lãnh hải, cũng như đáy biển

và lòng đất dưới đáy biển của vùng lãnh hải, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn riêng biệt ( tuyệt đối) Trong vùng trời bên trên lãnh hải không tồn tại quyền bay qua

vô hại dành cho phương tiện bay hàng không

Luật biển coi lãnh hải như một ''lãnh thổ chìm'', một bộ phận hữu cơ của lãnh thổ quốc gia, trên đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt về phòng thủ quốc gia, về cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống

ô nhiễm, như quốc gia đó tiến hành trên lãnh thổ của mình Các Điều 2 của Công ước Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp, cũng như Điều 2 của Công ước năm

1982 của Liên Hợp quốc về Luật biển ghi rõ: ''Chủ quyền của quốc gia ven biển được

mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình, đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải'' Tuy nhiên, việc đồng hóa lãnh hải thành lãnh thổ không phải là tuyệt đối Chủ quyền giành cho quốc gia ven biển trên lãnh hải không phải là tuyệt đối như trên các vùng nước nội thủy, do sự thừa nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải

12

Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc 1982 Điều 3

Trang 24

Quyền đi qua không gây hại: Là một nguyên tắc tập quán của luật quốc tế, được thừa nhận bằng thực tiễn của các quốc gia Công ước Giơnevơ 1958 đã pháp điển hoá quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển cho tàu thuyền nước ngoài Công ước cũng gián tiếp công nhận quyền đi qua không gây hại cho tàu thuyền quân sự nước ngoài, vì nó có điều khoản cho phép quốc gia ven biển được yêu cầu tàu thuyền quân sự nước ngoài rời khỏi lãnh hải của mình trong trường hợp các tàu này vi phạm luật lệ của quốc gia ven biển13

Chiều rộng lãnh hải: Hai hội nghị đầu tiên của Liên Hợp Quốc về Luật biển đã thất bại trong việc thống nhất hoá chiều rộng lãnh hải Trước khi có Công ước Luật biển năm 1982, tập quán chung áp dụng chiều rộng lãnh hải là ba hải lý Sau này, Điều

3 của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 đã thống nhất rằng, quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Tới năm 1994 đã có 116 nước tuyên bố lãnh hải rộng 12 hải lý

Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải: Việc xác định bề rộng thực tế và ranh giới ngoài của lãnh hải phụ thuộc vào việc vạch đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Thông thường đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải được căn theo ngấn nước thủy triều thấp nhất Các đảo cách ven bờ có thể được chọn làm điểm cơ sở

để vạch đường cơ sở lãnh hải Đường cơ sở lãnh hải là ranh giới trong của lãnh hải Như vậy, ranh giới ngoài của lãnh hải là đường chạy song song với đường cơ sở

và cách đều đường cơ sở một khoảng cách tối đa là 12 hải lý Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển

Tóm lại, luật biển quốc tế và cụ thể là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 ghi nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền của các nước trong phạm vi lãnh hải của các quốc gia ven biển Mặt khác, Công ước Luật biển cũng thừa nhận quyền của quốc gia ven biển bằng luật quốc gia quy định cụ thể chế độ pháp

lý điều chỉnh hoạt động của tàu thuyền nước ngoài khi đi qua lãnh hải nhằm đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của mình

Trang 25

Theo quy định của luật biển, thẩm quyền tài phán dân sự được quy định phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể như sau:

Quốc gia ven biển sẽ có thẩm quyền xét xử dân sự theo quy định của pháp luật trong nước của mình, nếu tàu thuyền nước ngoài dừng lại trong lãnh hải hoặc đang đi qua lãnh hải sau khi rời nội thủy;

Quốc gia ven biển không có quyền cầm giữ, bắt thay đổi hành trình của tàu thuyền nước ngoài để thực hiện thểm quyền tài phán dân sự đối với một cá nhân đang

ở trên tàu đó, nếu tàu thuyền đó chỉ đi qua lãnh hải;

Quốc gia ven biển có quyền bắt giữ hay tiến hành dự thẩm, nếu tàu thuyền nước ngoài vi phạm những nghĩa vụ đã cam kết hay các trách nhiệm đã cam kết thực hiện để được đi qua vùng lãnh hải của quốc gia ven biển

- Thẩm quyền tài phán hình sự

Các Công ước 1958 cũng như Công ước 1982 đã quy định Tòa án của quốc gia ven biển không có quyền bắt giữ để tiến hành thẩm vấn hoặc xét xử sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu khi đi qua lãnh hải để vào nội thủy trừ khi phát sinh một trong các trường hợp sau đây:

 Hậu quả của hành vi vi phạm có ảnh hưởng đến quốc gia ven biển;

 Sự vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình, trật tự và an ninh của quốc gia này;

 Thuyền trưởng hay cơ quan ngoại giao – lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu giúp đỡ;

 Biện pháp này là cần thiết để ngăn chặn và trừng trị các hành vi buôn lậu ma túy hay các chất hướng thần

1.3.2 Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia

* Vùng tiếp giáp lãnh hải:

Vùng tiếp giáp lãnh hải được thừa nhận tại Điều 24 của Công ước về Lãnh hải và đây là vùng biển nằm giáp phía ngoài lãnh hải và không thể mở rộng quá 12 hải lý kể

từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

- Một số đặc điểm đáng lưu ý của vùng tiếp giáp lãnh hải :

Trang 26

Đây là vùng được xây dựng với tính chất là vùng đệm giữa vùng thuộc chủ quyền của nước ven biển và vùng quốc gia đó có được những quyền do chủ quyền đem lại Vì tính chất của vùng đệm như trên mà ngôn ngữ lãnh thổ gọi là “Biên giới vùng”

Có sự phát triển về bản chất của vùng tiếp giáp qua hai văn bản pháp lý quốc tế

cơ bản về Luật biển quốc tế (Công ước 1958 và Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc), phù hợp với xu thế phát triển của luật biển quốc tế (xu thế mở rộng chủ quyền của nước ven biển)

Bề rộng của vùng tiếp giáp theo Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc không quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở Xuất phát điểm để hoạch định vùng tiếp giáp là đường cơ sở ven bờ lục địa hay đường cơ sở của đảo, quần đảo, quốc gia quần đảo, tùy theo đạ hình thực tế của lãnh thổ mỗi quốc gia Nhưng bề rộng này sẽ không thể đạt tối

đa 24 hải lý nếu như liên quan đến trường hợp xác định vùng tiếp giáp giữa các quốc gia hữu quan có bờ biển đối diện hoặc kề nhau

Trong vùng tiếp giáp, vấn đề thực thi pháp luật trên biển theo quy định của nước ven bờ có tính nổi trội, mặc dù vùng này không thuộc phạm vi lãnh thổ quốc gia Nếu so với Công ước 1958, vùng tiếp giáp theo Công ước 1982 có sự mở rộng trên cả hai phương diện, bề rộng và thẩm quyền của nước ven biển Song trên thực tế, sự xuất hiện của vùng đặc quyền kinh tế một mặt làm cho vùng tiếp giáp được nhân lên bởi chức năng của vùng đặc quyền kinh tế, nhưng mặt khác, lại ít nhiều làm giảm đi vai trò độc lập của vùng tiếp giáp, chẳng hạn như khi liên quan đến trường hợp phân định biển

- Chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải:

Thẩm quyền của các quốc gia ven biển được quy định trong tập quán quốc tế cũng như trong hai Công ước (1958 và 1982) tập trung chủ yếu vào hai nội dung:

+ Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định thuế quan, thuế khóa,

y tế, nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của nước ven biển

+ Trừng trị những vụ vi phạm pháp luật trong lãnh thổ hay trong lãnh hải của quốc gia ven biển

Các quốc gia khác và tàu thuyền nước ngoài được hưởng các quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm tại vùng tiếp giáp giống như tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Trong trường hợp tàu thuyền nước

Trang 27

ngoài chỉ đi qua vùng tiếp giáp mà không vào các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia đi ra thì không phải chịu sự kiểm soát, kiểm tra của quốc gia ven biển Vì vậy, tuy được xác định là đặc quyền của nước ven biển, nhưng quyền này không hoàn toàn đương nhiên trong mọi trường hợp mà chỉ có ý nghĩa khi có liên quan đến việc tàu

thuyền nước ngoài ra vào nội thủy hay lãnh hải của nước ven biển

* Vùng đặc quyền kinh tế:

Theo điều 55 Công ước luật biển 1982, vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm

ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải bao gồm vùng nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng nước này Vùng này, có chiều rộng không quá 200 hải lý

từ đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải và thuộc chủ quyền về kinh tế của quốc gia ven biển

- Vấn đề thiết lập vùng đặc quyền kinh tế

Trong các quy định của Công ước Luật biển 1982 và các thỏa thuận song phương giữa các nước hữu quan, vùng đặc quyền kinh tế đã chính thức hình thành và chịu sự tác động của nhóm vùng biển (là các vùng biển chủ quyền quốc gia và các vùng biển thuộc sở hữu quốc tế)

Vùng này chỉ trở thành hiện thực thông qua tuyên bố đơn phương hoặc thỏa thuận của các quốc gia hữu quan Đây cũng là cơ sở để giải thích vì sao, trong nhiều trường hợp, ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có thể trùng khít với nhau, nhưng không thể gộp thành vùng biển chung có cùng quy chế pháp lý

Thể hiện đặc trưng của vùng đặc quyền kinh tế là nhóm lợi ích có liên quan đến nước ven biển, nhằm dành cho nước này sự thụ hưởng đặc quyền về khai thác tài nguyên ở vùng đặc quyền kinh tế Đặc quyền này cho thấy sự khác biệt giữa vùng đặc quyền kinh tế và vùng đánh cá trong Công ước 1958 Trước hết vùng đặc quyền kinh

tế trong Công ước 1958 là vùng không xác định được bề rộng Vùng đánh cá giới hạn quyền lực của quốc gia ven biển đối với tài nguyên sinh vật trong lòng cột nước của vùng trong khi vùng đặc quyền kinh tế lại bao gồm tất cả các sinh vật hoặc không sinh vật trong tất cả các tầng của vùng này như bề mặt biển, cột nước biển Quyền tài phán trong Công ước Luật biển 1982 là đảm bảo quan trọng để có sự mở rộng thực sự quyền chủ quyền của quốc gia ven biển và không đơn thuần là một sự ưu tiên mang tính hình thức như vùng đánh cá trong Công ước 1958 trước đây

Trang 28

Thể hiện bản chất của vùng đặc quyền kinh tế trên cơ sở tiếp thu luật biển truyền thống là những lợi ích từ sự cân bằng giữa các nhóm quốc gia khác nhau Điểm đặc trưng của vùng đặc quyền kinh tế là trong khi dành cho các nước ven biển những quyền chủ quyền thì luật biển quốc tế cũng đảm bảo để các quốc gia khác có được những quyền nhất định14

Tính đặc quyền của quốc gia ven biển về khai thác tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế còn được phản ánh ở quyền của nước này trong việc đưa ra các điều kiện và thể thức để cho nước ngoài tiếp cận tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền kinh tế thuộc quốc gia ven biển

Một nội dung khác khá quan trọng liên quan đến khai thác tài nguyên thiên nhiên ở vùng đặc quyền kinh tế là vấn đề thứ tự ưu tiên, đối với việc tiếp cận tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế Trong vùng đặc quyền kinh tế, lợi ích của quốc gia ven biển luôn được xác định ở vị trí hàng đầu, nhất là quốc gia ven biển

có nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào việc khai thác tài nguyên sinh vật trong vùng này Tình trạng phụ thuộc như thế nào là do sự đánh giá của chính nước ven biển đó

+ Quyền tài phán của nước ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế

Có thể nhận thấy, điểm khác nhau cơ bản giữa vùng đánh cá theo Công ước

1958 với vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước Luật biển 1982 là đối với vùng đặc quyền kinh tế, Công ước 1982 đã ghi nhận việc nước ven bờ có quyền tài phán trong vùng biển thuộc chủ quyền này của nước mình

Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về lắp đặt, xây dựng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình

14

Ts Lê Mai Anh, Luật biển quốc tế hiện đại, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội, 2005

Trang 29

Quyền tài phán về nghiên cứu, quản lý và tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học trên biển

Việc nghiên cứu khoa học phải được tiến hành bằng các phương pháp và phương tiện khoa học thích hợp với quy định của Công ước về Luật biển 1982, nhất là các quy định về bảo vệ môi trường biển

Việc nghiên cứu không tạo cơ sở pháp lý cho một yêu sách nào đối với một bộ phận nào đó của môi trường biển hay tài nguyên của nó

Công tác nghiên cứu khoa học biển không được gây trở ngại một cách phi lý cho các hoạt động do quốc gia ven biển tiến hành khi thực thi quyền chủ quyền của mình

Quyền tài phán trong lĩnh vực bảo vệ và gìn giữ môi trường biển chống lại các

ô nhiễm từ các nguồn khác nhau

200 hải lý, khi mép ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoản cách gần hơn”

+ Thềm lục địa là phần nền lục địa ngập nước với độ dốc thoai thoải (độ dốc trung bình 0.07-10) thường thì kéo dài đến độ sâu 200m

+ Dốc lục địa là phần nằm giữa thềm lục địa và bờ lục địa, phân biệt với thềm lục địa bằng một sự thay đổi độ dốc đột ngột, trung bình khoảng 4-50

+ Bờ lục địa là vùng tiếp theo dốc lục địa khi độ dốc thoai thoải trở lại, thường rất nhỏ 0.50 mở rộng từ chân dốc cho đến khi gặp đáy đại dương

- Chế độ pháp lý :

+ Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình;

+ Những quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa của mình

là những đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển này không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa (bao gồm các tài nguyên không sinh vật và các tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư), thì không ai có quyền

Trang 30

tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thoả thuận rõ ràng của các quốc gia đó;

+ Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào Các quyền này tồn tại một cách đương nhiên trên thực tế;

+ Tất cả các quốc gia đều có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thoả thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của ống dẫn hoặc cáp; Khi quốc gia ven biển tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì phải có một khoản đóng góp theo quy định của Công ước;

+ Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này;

+ Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận, cũng không được cản trở việc thực hiện các quyền này một cách không thể biện bạch được;

+ Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì

1.3.3 Các vùng biển nằm ngoài phạm vi chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển

* Biển cả (biển quốc tế):

Biển cả hay còn gọi là biển tự do, biển mở hay biển quốc tế… đây là vùng biển nằm ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia

Theo Công ước 1958 thì khái niệm Biển cả được hiểu theo 2 nghĩa: xét từ góc độ pháp lý thì đó là không gian nằm bên ngoài quyền tài phán quốc gia và từ góc độ pháp

lý là việc sử dụng, khai thác khoảng không gian đó luôn luôn được luật quốc tế điều chỉnh Công ước về Biển cả năm 1958 đã đưa ra cơ sở xác lập biển cả là khoảng không gian nằm ngoài đường ranh giới phái ngoài của lãnh hải, được dành cho tất cả các dân tộc sử dụng chung dựa trên nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử và không một quốc gia nào được quyền mở rộng chủ quyền của mình trên khu vực biển cả

Trang 31

Còn Công ước 1982 đã làm rõ hơn tính chất không gian của biển cả, thông qua định nghĩa được ghi nhận tại điều 86 “Biển cả là tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia, cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo” Định nghĩa này khẳng định chắc chắn, các quy định trong Công ước này, phần liên quan đến biển cả không được áp dụng cho các vùng biển nằm trong quyền tài phán của quốc gia ven biển15 + Chế độ pháp lý:

Nguyên tắc có tính chủ đạo, bao trùm và được coi là nền tảng pháp lý của chế

độ nghiên cứu, khai thác và sử dụng biển cả là nguyên tắc tự do biển cả Nguyên tắc này xác định rõ, biển cả là tự do và được dành cho tất cả các quốc gia và công dân của quốc gia đó

Để đảm bảo trật tự, an toàn cho các hoạt động ở biển cả và bảo tồn tài nguyên sinh vật ở biển cả, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 ghi nhận một loạt những quy định về:

- Quy chế pháp lý đối với các loại tàu thuyền hoạt động ở biển cả; quyền và nghĩa vụ của quốc gia có tàu đối với tàu thuyền hoạt động ở biển cả;

- Việc ngăn chặn và cấm các hoạt động chuyên chở nô lệ, buôn bán bất hợp pháp ma tuý và các chất kích thích, cướp biển, phát sóng truyền thanh, truyền hình bất hợp pháp từ biển cả hướng vào đất liền;

- Sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật ở biển cả

Ngoài ra, nếu quốc gia ven biển có đầy đủ lý do để chứng minh rằng một tàu nước ngoài đã vi phạm pháp luật của mình, thì quốc gia đó có quyền truy đuổi đến tận biển cả với những điều kiện quy định trong Công ước 1982 và chỉ khi nào chiếc tàu vi phạm đó lọt vào vùng biển của một quốc gia khác thì quyền truy đuổi sẽ kết thúc16

*Vùng (đáy biển và vùng đất dưới đáy biển):

Vùng là khu vực đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, nằm phía dưới vùng biển quốc tế, và ngoài phạm vi thềm lục địa

Trang 32

Đáy biển cả và đại dương cùng lòng đất dưới chúng cũng như các nguồn tài nguyên ở đó là di sản chung của nhân loại

Ngày 17/12/1970, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 2747 tuyên

bố về những nguyên tắc điều hành đáy biển và đại dương ghi nhận những nội dung:

Không một quốc gia, một thể nhân hoặc pháp nhân nào được chiếm hữu hoặc áp đặt chủ quyền trên bất kì phần nào trong khu vực đó Không quốc gia nào, thể nhân hoặc pháp nhân nào có quyền đưa ra yêu sách đối với quyền chủ quyền ở khu vực đó, trái với bản chất của tuyên bố này

Khu vực này chỉ được sử dụng vì mục đích hòa bình Việc thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên của Vùng phải được tiến hành vì lợi ích chung của toàn thể loài người, dưới sự điều hành quản lý chung theo một quy chế quốc tế sẽ được xác định sau

+ Quy chế pháp lý:

Theo Công ước Luật biển 1982, Vùng được xác định bắt đầu từ ranh giới bên ngoài của thềm lục địa pháp lý, vì vậy, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển cả không nhất thiết phải trùng với Vùng, Các quốc gia ven biển có nghĩa vụ thông báo rõ ràng

và chính thức ranh giới phía ngoài của thềm lục địa nước mình theo kiến nghị của Ủy ban ranh giới thềm lục địa

Chế độ pháp lý của Vùng được dựa trên nền tảng của nguyên tắc Vùng và tài nguyên của Vùng là di sản chung của nhân loại, với nội dung khái quát: Đây là khối tài sản chung của Cộng đồng quốc tế, không thể bị chia sẻ và chỉ được sử dụng cho toàn thể nhân loại vì lợi ích và quyền lợi của mọi quốc gia, phù hợp với pháp luật quốc tế Nguyên tắc này được thể hiện:

- Vùng và tài nguyên của Vùng không phải là đối tượng của hành vi chiếm hữu

- Vùng phải được sử dụng vì mục đích hòa bình

- Khai thác và quản lý Vùng vì lợi ích của toàn thể nhân loại

Trang 33

1.4 Khái quát chung về đường cơ sở trên biển theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển 1982

1.4.1.Khái niệm và các phương pháp xác định đường cơ sở trên biển theo quy định của Công ước về Luật biển 1982

Đường cơ sở là đường từ đó được lấy làm cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải,

nó là ranh giới phía trong của lãnh hải và là ranh giới phía ngoài của nội thủy Đường

cơ sở có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định ranh giới các vùng biển; đường cơ sở dùng để xác định nội thủy (vùng biển nằm bên trong đường cơ sở) , lãnh hải (24 hải lý tính từ đường cơ sở), vùng đặc quyền kinh tế (200 hải lý tính từ đường cơ sở)17 Theo Công ước luật biển 1982 ta có hai hoại đường cơ sở: Đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng

- Đường cơ sở thông thường: là ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển như được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ lớn đã được các quốc gia ven biển chính thức công nhận

Phương pháp này được áp dụng để xác định đường cơ sở tại những nơi có địa hình bờ biển phẳng, không khúc khuỷu, lồi lõm

Như vậy, ta có thể thấy ngấn nước thủy triều thấp nhất (trong một ngày đêm, một tháng hay một năm ) dọc theo bở biển, đảo, quần đảo để xác định đường cơ sở Tuy nhiên, mức nước thủy triều thấp nhất ở các nước thường không giống nhau Hơn nữa, từng nước tự mình xác định mực nước chuẩn của mình Đây là vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia của nước ven biển, các nước ngoài không thể đánh giá, đối chiếu được

cụ thể mà chỉ có thể đánh giá tính chính xác, mức độ hợp lý của đường cơ sở thông thường bằng cách căn cứ vào chính sự công bố trên hải đồ của quốc gia ven biển đưa

ra18

- Đường cơ sở thẳng: là đường nối liền các điểm thích hợp và được áp dụng ở những nơi nào mà bờ biển được khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay chạy dọc theo bờ biển hoặc ở những nơi nào bờ biển cực kì không ổn định do

có một châu thổ và do có những điều kiện tự nhiên khác

Phương pháp này thường hay được áp dụng đối với các quốc gia có bờ biển và địa hình phức tạp, có nhiều đảo ven bờ hoặc những vùng ngấn nước triều thấp nhất

Trang 34

không thể hiện rõ ràng Người ta chọn những điểm nhô ra xa nhất của các đảo ven bờ, của các mũi hoặc những điểm nhất định mà khi nối các điểm đó lại với nhau tạo thành một đường gãy khúc liên tiếp chạy dọc theo chiều hướng chung của bờ biển làm đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải

- Bên cạnh 2 loại đường cơ sở trên Công ước về luật biển 1982 còn quy định về đường cơ quần đảo: là đường cơ sở thẳng của quần đảo nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nổi xa nhất của quần đảo

Điều kiện của đường cơ sở quần đảo:

Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi cạn lúc nổi lúc chìm của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vục mà tỷ lệ diện tích nước đó với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ số 1/1

và 9/1

Chiều dài các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; tuy nhiên có thể có tối đa 3% của tổng số đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn nhưng cũng không được vượt quá 125 hải lý;

Đường cơ sở này không thể kéo đến hay xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp tại đó có xây các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô lên mặt nước hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất một khoảng cách không vượt quá chiều rộng lãnh hải;

Tuyến các đường cơ sở không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần đảo

Đường cơ sở quần đảo không được phép làm cho lãnh hải của một quốc gia khác tách rời với biển cả hay với một vùng đặc quyền về kinh tế

 Về khoảng cách từ đường cơ sở đến bờ

Đây là vấn đề pháp lý được quan tâm trong luật biển bởi vì đụng chạm tới quyền lợi và lợi ích quan trọng của mỗi quốc gia có biển nói riêng cũng như cộng đồng quốc

tế nói chung Cho đến nay, chưa có quy định nào của Luật biển quốc tế điều chỉnh vấn

đề này, kể cả Công ước 1958 và Công ước 1982 về Luật biển

Đối với quốc gia sử dụng phương pháp đường cơ sở thẳng, vấn đề khoảng cách

từ đường cơ sở đến bờ được các quốc gia vận dụng linh hoạt nhằm mục đích mở rộng

Trang 35

tối đa nội thủy của nước mình Cách xử sự như vậy của các nước được viện dẫn dựa trên cơ sở của khoản 4 Điều 4 Công ước Giơnevơ 1958 và khoản 5 Điều 7 của Công ước 1982 về Luật biển, khi cho phép các quốc gia sử dụng phương pháp đường cơ sở thẳng, được phép ấn định một số đoạn của đường cơ sở thẳng có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tiễn và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng

Trong trường hợp có các đảo hoặc quần đảo nằm cách bờ biển không quá hai lần chiều rộng lãnh hải, thì các đảo hoặc quần đảo đó được coi như gắn liền với đất liền để vạch đường cơ sở Còn giữa các đảo với nhau, nếu khoảng cách không quá hai lần chiều rộng lãnh hải thì các đảo đó được coi như là gắn liền với nhau Các quần đảo được coi như một tổng thể để xác định đường cơ sở Theo tinh thần của Điều 4 Công ước 1958 và Điều 7 Công ước 1982, quốc gia ven biển có thể đưa các tọa độ của đưởng cơ sở thẳng ra tới các hòn đảo ở xa đất liền gấp nhiều lần chiều rộng lãnh hải nếu họ chứng minh được rằng lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó có ý nghĩa tầm quan trọng sống còn đối với quốc gia mà quá trình sử dụng lâu dài khu vực biển này

đã chứng tỏ điều đó Như vậy, khoảng cách từ đường cơ sở đến bờ biển là tùy thuộc

vào đặc điểm của từng khu vực, chứ không hạn chế ở một giới hạn nhất định nào

1.4.2.Mục đích và ý nghĩa của việc xác định đường cơ sở trên biển

hệ quốc tế

Xác định đường cơ sở trên biển là cơ sở để xác định đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển Đường cơ sở là ranh giới phía trong của lãnh hải và ranh giới phía ngoài của nội thủy

* Ý nghĩa:

Trang 36

Việc xác định đường cơ sở luôn là một vấn đề rất nhạy cảm do tính chất quyết định của đường cơ sở ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia ven biển và ảnh hưởng tới các quốc gia khác Một văn bản pháp luật của quốc gia liên quan đến việc xác định đường cơ sở không hợp lý có thể gây ra những phản ứng từ phía các quốc gia khác Nhìn chung việc xác định đường cơ sở có 2 ý nghĩa quan trọng :

Thứ nhất, bên trong đường cơ sở của một nước, thí dụ: cửa sông, vịnh, vùng biển sau các đảo viên, là nội thủy của nước đó Nội thủy tương đương với lãnh thổ trên

bộ một nước có hoàn toàn thẩm quyền trên nội thủy của mình Nếu vạch đường cơ sở thái quá tham vọng thì nước đó sẽ biến quá nhiều mặt biển trở thành nội thủy của mình, buộc tàu thuyền và máy bay các nước khác có phép của của nước có chủ mới được đi qua Như vậy sẽ thiệt thòi cho các nước khác

Thứ hai, các ranh giới khác được tính từ đường cơ sở Phía ngoài đường cơ sở

là lãnh hải của nước đó nếu như vạch đường cơ sở không đúng quy định thì sẽ ảnh hưởng tới nước khác có thể gây ra việc xâm phạm chủ quyền của một nước

 Công ước về Luật biển 1982 được thông qua tại Hội nghị quốc tế lần thứ 3 về biển, là một văn kiện pháp lý toàn diện về biển Công ước không chỉ được các quốc gia có biển mà ngay cả các quốc gia không có biển cũng rất quan tâm Nó không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính tập quán Chính điều này đã giải thích vì sao Công ước 1982 lại được các quốc gia viện dẫn và áp dụng một cách rộng rãi ngay cả khi nó còn chưa có hiệu lực Với 320 điều khoản chứa đựng trong 17 phần và 9 phụ lục, Công ước 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế và là một trong những thành tựu có ý nghĩa trong lĩnh vực luật quốc tế của thế kỉ XX Lần đầu tiên trong lịch sử, Công ước 1982 đã đưa ra các quy định tổng thể các tính chất bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực biển; Các quy định về hàng hải và hàng không; sử dụng, khai thác và quản lý các tài nguyên biển, sinh vật và không sinh vật; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an ninh trật tự trên biển, đấu tranh chống các tội phạm trên biển; vấn đề phân định biển và giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến biển

Từ thời xa xưa, biển Đông đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân nước ta Hiện nay, Đảng và nhà nước cũng đang hết sức quan tâm đến sự nghiệp bảo

vệ và phát triển kinh tế biển của đất nước Điều kiện địa lý và sự phát triển của luật pháp quốc tế về biển đã làm cho tình hình địa lý-chính trị nước ta có sự thay đổi lớn

Trang 37

Là một quốc gia nằm ven bờ biển Đông, Việt Nam có các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia rộng khoảng gần 1 triệu

km2, gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền Bờ biển Việt Nam dài 3260km, ở hai đầu đất nước có hai vịnh lớn là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan Vùng biển Việt Nam có khoảng 2800 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ với tổng diện tích 1720km2 Đặc biệt Việt Nam

cò có hai quần đảo quan trọng nằm giữa trung tâm biển Đông là quần đảo Trường Sa

và Hoàng Sa nơi có các tranh chấp về lãnh thổ phức tạp Đồng thời, các vùng biển rộng lớn của Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú và có vị trí chiến lược quan trọng về anh ninh, kinh tế Do vậy vấn đề Luật biển là vấn đề đáng được quan tâm thực hiện

Vấn đề đường cơ sở trên biển có một vai trò to lớn đối với các nước ven biển Nó ảnh hưởng tới chủ quyền, quyền chủ quyền của một quốc gia Công ước về luật biển

1982 ra đời đã đặt một khung pháp lý mới cho việc xác định đường cơ sở trên biển của các nước Việt Nam ngay từ ngày 12/11/1982 đã đưa ra Tuyên bố về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của mình Văn bản này được thi hành trước khi Công ước về Luật biển 1982 có hiệu lực và Việt Nam chưa là thành viên của Công ước Điều này thể hiện sự quan tâm lớn của Đảng và nhà nước ta đối với biển Tuyên bố đã thể hiện

rõ phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và khẳng định chủ quyền đó là bất khả xâm phạm Chúng ta sẽ kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi xâm phạm chủ quyền của quốc gia trên biển trên cơ sở của luật biển quốc tế

Trang 38

CHƯƠNG 2:

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐƯỜNG CƠ SỞ VÀ THỰC

TIỄN ÁP DỤNG TRONG KHU VỰC BIỂN ĐÔNG

2.1.Đường cơ sở theo quy định của công ước về luật biển 1982 và pháp luật quốc tế

2.1.1.Đường cơ sở thẳng

Phương pháp này xuất hiện lần đầu tiên tại vùng biển Na Uy

Năm 1951, Tòa án quốc tế xử cho Na Uy thắng cuộc trong vụ ngư trường Anh –

Na Uy Các nguyên tắc áp dụng đường cơ sở thẳng năm 1935 của Na Uy trở thành các tiêu chuẩn mới của luật quốc tế19 Bản án này là rất quan trọng trong lịch sử luật biển quốc tế Đây được xem như là bản án lệ đầu tiên cho việc hình thành cơ sở cho pháp luật về đường cơ sở thẳng trên biển Tiếp sau đó các hội nghị pháp điển hóa về luật biển và đường cơ sở trên biển tiếp tục pháp triển cho đến năm 1982 khi Công ước về luật biển của Liên Hợp Quốc ra đời

Công ước 1982 đã quy định ba khả năng để áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng đó là :

- Ở những nơi bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm;

- Ở những nơi có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển;

- Ở những nơi có các điều kiện thiên nhiên đặc biệt gây ra sự không ổn định của

bờ biển như sự hiện diện của các châu thổ

Theo điều 7 Công ước Luật biển 1982 việc vạch đường cơ sở thẳng phải tuân thủ các điều kiện:

- Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lòi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng có thể được sử dụng

để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

- Ở nơi nào bờ biển cực kì không ổn định do có một châu thổ và những đặc điểm

tự nhiên khác, các điểm thích hợp có thể được lựa chọn dọc theo ngấn nước triều thấp nhất nhô ra xa nhất và ngay cả trường hợp về sau ngấn nước triều thấp nhất có thể dịch

19

Ts Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về Luật biển, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 1997, Tr,53

Trang 39

chuyển vào phía trong bờ, các đường cơ sở đã được vạch ra vẫn có hiệu lực cho tới khi

các quốc gia ven biển sửa đổi chúng theo Công ước

- Tuyến đường cơ sở vạch phải đi theo xu hướng chung của bờ biển, và các vùng

biển ở bên trong đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức đặt dưới chế độ nội

thủy, nghĩa là tuyến đường cơ sở thẳng vạch ra không được cách xa bờ

- Khi vạch đường cơ sở thẳng phải tuân thủ theo các vấn đề sau: Các bãi cạn có

lúc nổi lúc chìm không được chọn làm các điểm cơ sở trừ trường hợp ở đó có những

đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô lên mặt nước hoặc việc kẻ

đường cơ sở thẳng đó đã được thừa nhận chung của quốc tế

- Trong trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng được áp dụng theo

khoản 1 khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có tính đến những lợi ích kinh tế riêng

biệt của khu vục đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình trình

sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng

- Phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không được làm

cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền về

kinh tế

Trong trường hợp sử dụng phương pháp đường cơ sở thẳng dẫn đến việc xáp

nhập những vùng biển trước kia là một bộ phận của lãnh hải vào vùng nội thủy, thì

quốc gia ven biển phải đảm bảo quyền qua lại vô hại tại vùng nội thủy này theo quy

định chung Ngoài ra, theo quy định được ghi nhận trong luật biển, thì quốc gia ven

biển khi xác định từng đoạn đường cơ sở có thể tính đến “lợi ích kinh tế riêng biệt của

từng vùng biển cụ thể mà ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đã được chứng minh qua

quá trình sử dụng lâu dài” quy định này đã tạo điều kiện thận lợi cho quốc gia ven biển

vận dụng một cách linh hoạt theo xu hướng mở rộng quyền lợi và lợi ích của mình một

cách hợp pháp, qua việc đẩy đường cơ sở ra để mở rộng thêm nội thủy của quốc gia

mình

Trong thực tế, có nhiều trường hợp các đường cơ sở thẳng được vạch không

tuân theo những quy định của Công ước 1982 Chúng có thể được nhóm thành các

trường hợp sau đây: Đường cơ sở thẳng được vạch tại bờ biển không bị khoét sâu vào

đất liền (Asutralia, Iceland), không có sự hiện diện của chuỗi đảo (Cuba, Mexico),

vùng biển bên trong đường cơ sở không được liên kết gần gũi với đất liền (Myanmar,

CuBa), sử dụng bãi cạn lúc nổi lúc chìm làm điểm cơ sở không phù hợp với Công ước

1982 (Đức Sudan) Tuy nhiên, việc vạch đường cơ sở thẳng này nếu như không làm

Trang 40

phương hại tới quyền và quyền chủ quyền trên biển của một quốc gia khác hoặc hợp với khuyến nghị của Liên Hợp Quốc về luật biển thì có thể sẽ được cộng đồng quốc tế thừa nhận Ta sẽ phân tích một số thuật ngữ kĩ thuật sử dụng trong Công ước liên quan đến vấn đề này :

- Bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm

Cụm từ “bị khoét sâu và lồi lõm” thường được hiểu là khoét sâu vào trong đất liền nhưng chưa đủ mức để được xem xét như một vịnh pháp lí theo quy định của điều

10 Công ước 1982 Như vậy khi bờ biển chỉ có một vùng lõm như vậy thì có được áp dụng để vạch đường cơ sở thẳng hay không Công ước 1982 không đưa ra câu trả lời chính xác cho vấn đề này mà chỉ nêu “ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển phương pháp đường cơ

sở thẳng có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” Công ước 1982 chỉ nêu lên khái niệm “bị khoét sâu” tương tự như trong định nghĩa vịnh do bờ biển của một quốc gia bao bọc tại điều 10

Khuyến cáo của Văn phòng luật pháp của Liên hợp quốc dựa trên thực tiễn quốc gia và các phán quyết của tòa án Quốc tế, và gợi ý của Mỹ định nghĩa hình dạng

“bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm” này phải thỏa mãn các đặc tính như sau:

+ Các vùng lõm phải tương đối gần nhau, không cách nhau quá xa;

+ Chiều sâu của từng vùng lõm đó tính từ đường cơ sở thẳng được đề nghị đóng cửa đổ ra biển của vùng lõm đó phải lớn hơn một nữa chiều dài của đoạn đường cơ sơ đó;

+ Những nơi mà bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm phải có ít nhất từ ba vùng lõm sâu rõ rệt20;

Ta thấy dường như những điều kiện này là nghiêm ngặt song rất rõ ràng và tạo ra khả năng loại bỏ việc lạm dụng sự thiếu cụ thể của Công ước vì lợi ích riêng của quốc gia ven biển

Để xem xét rõ hơn về vấn đề này ta có thể lấy một số ví dụ về việc áp dụng phương pháp vạch đường cơ sở thẳng của các quốc gia ven biển để thấy rõ sự khác nhau trong cách giải thích và áp dụng Công ước Thứ nhất, về tuyên bố 14/10/1988 của Chính phủ Cota Rica, tại đó đường cơ sở bao gồm các đoạn ngang qua những vùng hoàn toàn không phải là những vùng lõm như ý định của Công ước, Mỹ đã phản

20

Ts Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về Luật biển, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 1997, Tr,55

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w