1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại NGHIÊN cứu CHẾ độ ưu đãi THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 2008

68 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 15,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, có những quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 còn nhiều điểm bất cập, còn nhiều quy định chưa rõ ràng, mập mờ,v.v… Đó là một trong những nguyên nhân chạy “cơ chế

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS Lê Thị Nguyệt Châu Nguyễn Thị Tú Quỳnh

Trang 2

Trang 3

Trang 4

MỞ BÀI Error! Bookmark not defined

1 Lí do chọn đề tài: 1

2.Phạm vi nghiên cứu .2

3.Mục tiêu nghiên cứu .2

4.Phương pháp nghiên cứu .3

5.Bố cục luận văn .3

NỘI DUNG Error! Bookmark not defined Chương 1:Giới thiệu chung về thuế thu nhập doanh nghiệp 4

1.1 Những vấn đề cơ bản về Thuế 4

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của thuế 4

1.1.2.Khái niệm, bản chất và vai trò của thuế .9

1.2 Lịch sử phát triển của luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam 14

1.2.1.Thuế lợi tức và sự cần thiết thay thế thuế lợi tức bằng thuế thu nhập doanh nghiệp 14

1.2.2.Sơ lược chung về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 .18

Chương 2:Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 .22

2.1 Khái quát về chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 .22

2.1.1 Khái niệm về chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 22

2.1.2 Ý nghĩa của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp .22

2.2 Điều kiện, nguyên tắc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 .25

2.2.1 Điều kiện ưu đãi 25

2.2.2 Nguyên tắc ưu đãi .26

2.3 Hình thức ưu đãi .29

2.3.1 Thuế suất ưu đãi 29

2.3.2 Mức và thời gian miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp .32

2.3.3.Các ưu đãi khác 33

2.4 Xử lý các trường hợp hưởng ưu đãi theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản trước đây .39

Chương 3 :Đánh giá và kiến nghị hướng hoàn thiện chế dộ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 .42

3.1 Kết quả và những hạn chế của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2003.42 3.1.1.Những kết quả đạt được của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 .42

3.1.2.Những mặt hạn chế của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 45

3.2 Đánh giá và hướng áp dụng chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 .49

3.2.1 Đánh giá về chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 49 3.2.2 Kiến nghị hướng áp dụng những ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 52

Trang 5

Phần mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Là một quốc gia được nhiều tập đoàn kinh tế thế giới giành cho sự quan tâm đặc biệt, những năm gần đây Việt Nam luôn được đánh giá cao bởi sự ổn định chính trị, bởi nguồn nhân lực dồi dào, nguồn tài nguyên đa dạng, thị trường tiềm năng với hơn 80 triệu dân Nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng cao, đứng hàng đầu Châu Á (GDP năm 2006 là 8.2%, năm 2007 là 8.3 %)1 Năm

2006, Việt Nam đón nhận hàng loạt sự kiện quan trọng mang tính lịch sử như trở thành thành viên 150 của Tổ chức thương mại thế giới (gọi tắt là WTO), tổ chức thành công hội nghị APEC lần thứ 14 và Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn Đồng thời, kết hợp với một hệ thống pháp luật không ngừng cải tiến thông thoáng và phù hợp với thông lệ quốc tế mà điển hình là chính sách thuế đã khiến Việt Nam trở thành điểm hấp dẫn cho các nhà đầu tư Trong quá trình cải cách hệ thống thuế thì nhận thấy thuế thu nhập doanh nghiệp được xem là công cụ hiệu quả nhất để điều chỉnh sự phát triển kinh tế - xã hội cân đối giữa các vùng miền với nhau, nhất là thuế thu nhập doanh nghiệp đã

mở rộng cánh cửa thu hút vốn đầu tư vào mọi lĩnh vực của các thành phần kinh

tế, bằng cách tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thông thoáng và minh bạch cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước muốn phát triển trên lãnh thổ Việt Nam Đây

là một yếu tố quan trọng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Để đạt được bước tiến đó, Đảng và Nhà nước ta đã rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn trong quá trình cải cách thuế thu nhập doanh nghiệp; vì ngoài vai trò đóng góp cho ngân sách Nhà nước thì thuế thu nhập doanh nghiệp còn được xem là công cụ vĩ mô điều tiết nền kinh tế Và chính sự ưu đãi của thuế thu nhập doanh nghiệp đã giúp cho các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tế trọng điểm có điều kiện thuận lợi nhằm thu hút đầu tư tạo nên sự cân đối giữa các thành phần kinh tế theo định hướng phát triển kinh tế đã định trước Hầu như bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững, lâu dài và hiệu quả, họ đều tìm cho mình những giải pháp ưu đãi, khuyến khích hấp dẫn nhất nhằm thu hút đầu tư Doanh nghiệp được ví như tế bào của nền kinh thị trường, tế bào khỏe thì

cơ thể phát triển mạnh; ngược lại tế bào kém phát triển thì cơ thể suy nhược, dễ

1

Nguyễn Mạnh Hùng – “ Luật đầu tư - Sự cộng hưởng” thời điểm của lịch sử, Tạp chí tài chính, tháng

10, năm 2007

Trang 6

phát bệnh Nhà nước đã bồi dưỡng sức khỏe cho các doanh nghiệp bằng việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm giúp các doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh

và có lợi nhuận sau thuế, tích cực đổi mới thiết bị máy móc công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh Việt Nam đã thực hiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhiều lĩnh vực, dự án khác nhau Tuy nhiên, có những quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 còn nhiều điểm bất cập, còn nhiều quy định chưa rõ ràng, mập mờ,v.v… Đó là một trong những nguyên nhân chạy “cơ chế”

và với chính sách ưu đãi tràn lan, đối tượng được hưởng ưu đãi rộng làm cho hiệu quả áp dụng các ưu đãi này thấp và gây thiệt hại cho nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh làm ăn chính đáng, đồng thời cũng làm sụt giảm ngân sách Nhà nước

Ưu đãi, khuyến khích bằng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là việc làm cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đã được ban hành (có hiệu lực 1/1/2009) đã có nhiều sửa đổi các quy định về ưu đãi của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003, đồng thời ban hành các quy định mới về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đây là một bước tiến quan trọng nhằm để cải thiện môi trường đầu tư, thu hút đầu tư, nhất là hạn chế đến mức thấp nhất sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các vùng, miền với nhau Vì vậy “ nghiên cứu về chế độ

ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp” trở nên hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay Và người viết nhận thấy đây là điều kiện để người viết có thể phân tích một cách khoa học những thuận lợi cũng như hạn chế của việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Từ đó, có thể tìm thấy giải pháp chính xác, cụ thể hơn

2 Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu thuế thu nhập doanh nghiệp là một vấn đề rộng bao gồm nhiều khía cạnh như: căn cứ tính thuế, thuế suất….Vì vậy trong khuôn khổ của luận văn, người viết tập trung “nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008”, nghĩa là đi sâu tìm hiểu thuế suất ưu đãi, mức độ miễn giảm thuế và thời gian ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập donah nghiệp

2008

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm làm nổi bật những điểm mới của chế độ ưu đãi của thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 Phân tích những điểm mới của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 để thấy được nó đã khắc phục những hạn chế của những ưu đãi của Luật

Trang 7

thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 Đồng thời, xem xét quá trình áp dụng của những quy định mới này để thấy những điểm chưa hợp lý để tiếp tục sửa đổi

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, bình luận những quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; so sánh giữa văn bản hiện hành với văn bản trước với những văn bản đã hết hiệu lực hoặc những quy định nước ngoài về thuế thu nhập doanh nghiệp

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận Luận văn chia thành ba chương riêng biệt:

- Chương 1: Cơ sở lý luận

Không chỉ trình bày về sự phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp từ những ngày đầu mới hình thành với tên gọi luật thuế lợi tức, chương 1 còn nêu đặc điểm vai trò phạm vi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp 2008

- Chương 2: Nghiên cứu về chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008

Phân tích chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm thuế suất ưu đãi, thời gian ưu đãi, các ưu đãi khác ( như chuyễn lỗ, trích lập quỹ khoa học và công nghệ của doanh nghiệp,….)

- Chương 3: Hướng áp dụng chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

2008

Kiến nghị hướng áp dụng chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

2008

Trang 8

Nội dung

Chương 1:

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP

DOANH NGHIỆP 1.1 Những vấn đề cơ bản về Thuế

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Thuế

Thuế ra đời từ rất sớm gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người Từ xã hội chưa hình thành giai cấp, chưa có sự phân công lao động đến xã hội phân chia giai cấp- phân công lao động, một xã hội được đảm bảo ổn định, trật tự bằng công cụ quyền lực công cộng, đó là bộ máy Nhà Nước Thật vậy, trong thời kỳ nguyên thủy con người liên kết với nhau một cách tự phát, họ

tự tập hợp thành cùng một nhóm người, cùng làm chung cùng ăn chung Sản phẩm của họ làm ra chỉ đủ ăn, thậm chí còn thiếu so với nhu cầu tối thiểu của họ

Tuy nhiên, trong quá trình sống và lao động con người đã tích lũy kinh nghiệm, cải tiến công cụ lao động Kết quả là có một số người tạo ra nhiều của cải nhiều hơn so với những người khác Sản phẩm làm ra nhiều hơn gấp nhiều lần so với nhu cầu bình thường của họ Sản phẩm tạo ra dư đó đã được những người này tích lũy, và họ ngày càng có nhiều của cải dư thừa và trở nên giàu có hơn những người khác trong xã hội lúc bấy giờ Họ thoát ly khỏi cuộc sống chân tay bằng cách thuê mướn người làm thay Họ trở nên có thế lực và được mọi người vị nể, vì thế họ được cử ra là người đại diện thị tộc và bộ lạc Những người này có lợi ích riêng khác với lợi ích giai cấp còn lại trong xã hội Với vị trí của mình trong xã hội cùng với việc nắm trong tay phần lớn của cải trong xã hội Những người này tập hợp nhau thành một giai cấp có đặc quyền “ Cơ sở để liên kết các đại diện của các bộ lạc, thị tộc là tính thống nhất về các điều kiện tồn tại lợi ích kinh tế của họ”2.Cụ thế hơn, đó xuất phát từ mong muốn : Làm sao tạo ra thật nhiều của cải hơn ? Làm gì để bảo vệ của cải ấy một cách tuyệt đối trong tay mình? Sự liên kết này làm cho sức mạnh của những người đại diện thị tộc, bộ lạc ngày càng lớn, càng vững chắc.Với vị trí của mình trong xã hội họ có thể chấn áp những người khác xâm chiếm của cải của họ mà ít bị sự phản kháng của xã hội

2 Bùi Xuân Lưu.Trường Đại Học Nha Trang Giáo trình Thuế và hệ thống thuế ở Việt Nam.NXB Giáo Dục.2003.Trang 5

Trang 9

Như vậy, thực chất những người này là người đứng đầu của chính quyền công cộng Chính quyền này ngày càng lớn mạnh và dần dần phát triển thành Nhà nước E.Ănghen đã miêu tả: “ trước đây không phải lúc nào cũng có Nhà nước Đã từng có xã hội không cần có Nhà nước và chính quyền Nhà nước Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, một giai đoạn tức nhiên gắn liền với

sự phân chia xã hội thành giai cấp, thì Nhà nước mới trở thành một tất yếu cho sự phân chia đó3

Nhà nước, nếu xét ở khía cạnh phân công lao động xã hội, Nhà nước là tổ chức bộ máy với nhiều hệ thống cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau để tổ chức điều hành cai quản xã hội, nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển theo mong muốn của Nhà nước Để làm được điều này Nhà nước cần những người tham gia vào công việc của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương Những người này họ không trực tiếp sản xuất, thoát ly sản xuất để thực hiện chức năng quản lý

xã hội Tuy nhiên, để thực hiện được chức năng quản lý xã hội đó thì những người tham gia vào bộ máy Nhà nước cần phải có tiền, hay còn gọi là nguồn ngân sách (hay nguồn tài chính) để hoạt động Nguồn tài chính này được dùng vào công việc thuộc chức năng Nhà nước như: chi quốc phòng an ninh, chi cho

sự phát triển hạ tầng; chi cho phúc lợi xã hội, công cộng,…Những khoản chi này

là tất yếu trong một Nhà nước Bởi vì, Nhà nước không thể tồn tại và phát triển nếu như không có cơ sở vật chất, không có phương tiện hỗ trợ để đảm bảo cho sự tồn tại của nó Do vậy, những nhu cầu chi tiêu đó là rất cần thiết và không thể thiếu trong sự tồn tại của một Nhà nước Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng lớn, cả về phạm vi và quy mô chi tiêu

Như vậy, vấn đề đặt ra là nguồn tài chính này lấy từ đâu ra? Và Nhà nước làm cách nào để động viên nguồn tài chính này?

Khi nghiên cứu về lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước thông qua các chế độ xã hội, đã chứng minh rằng:

“ Nguồn tài chính để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy Nhà nước được động

viên từ một phần thu nhập của bộ phận dân cư trong xã hội, những người đã trực tiếp tham gia vào lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội ”4

Trang 10

Từ trước đến nay, khi xem xét hình thức động viên một phần thu nhập xã hội cho ngân sách Nhà nước, thì ta thấy hầu hết các Nhà nước sử dụng ba hình thức động viên chính, đó là: Quyên góp, vay, dùng quyền lực của mình buộc người dân phải đóng góp

Mặc dù hầu hết các Nhà nước sử dụng chủ yếu ba hình thức động viên này, tuy nhiên không phải lúc nào các Nhà nước cũng sử dụng cùng một lúc cả

ba hình thức đó để động viên nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước, mà tùy theo tình hình thực tế cũng như nhu cầu chi tiêu của Nhà nước như thế nào, mà Nhà nước sẽ xem xét nên sử dụng hình thức động viên nào là chủ yếu, cũng như Nhà nước xem xét có nên kết hợp cùng một lúc cho cả ba hình thức động viên đối với khoản thu nhập của người dân hay không ?

Và Nhà nước sẽ dựa vào cơ sở nào để quyết định hình thức động viên nào,

để động viên thu nhập của người dân vào ngân sách Nhà nước?

Khi phân tích về hiệu quả của ba hình thức động viên trên, thì ta nhận thấy:

 Đối với hình thức động viên bằng cách quyên góp: Quyên góp phụ thuộc vào khả năng và sự tự nguyện của mỗi người, tức là người có nhiều góp nhiều có ít góp ít hoặc không góp Nếu sử dụng hình thức này thì Nhà nước cũng không làm gì nếu như có ai đó không tham gia đóng góp vào nguồn tài chính của Nhà nước Do đó, xem ra hình thức động viên này không công bằng, không lâu dài, không ổn định và trên hết là không đảm bảo được nguồn chi tiêu của Nhà nước Cho nên hình thức động viên này không cơ bản và thường được sử dụng khi trong tình huống đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt Ví dụ, trong cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở nước ta có các hình thức quyên góp phục vụ kháng chiến như:

“Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo kháng chiến”…

 Còn nếu Nhà nước sử dụng hình thức vay tiền của người dân để phục

vụ chi tiêu cho Nhà nước Thì hình thức này xem ra không khả thi vì có vay tiền thì phải trả tiền, mà Nhà nước hay các thành viên tham gia vào bộ máy Nhà nước học không tham gia trực tiếp vào sản xuất thì lấy tiền đâu để chi trả cho người dân Hơn nữa, công việc của Nhà nước, nguồn tài chính mà Nhà nước huy động nhằm chủ yếu phục vụ cho lợi ích công cộng, suy cho cùng thì nguồn tài chính này chủ yếu phục vụ cho chính những người dân mà thôi Do đó, hình thức động viên là vay của người dân thường sử dụng trong trường hợp đặc biệt, hoặc vay cho đầu tư phát triển

Trang 11

Chính vì thế, chỉ có dùng quyền lực của Nhà nước để buộc người dân đóng góp là cơ bản nhất Hình thức động viên dùng quyền lực Nhà nước buộc người dân đóng góp đó gọi là thuế, và theo E.Ănghen thì : “ Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của người dân cho Nhà nước, đó là thuế”5

Bởi vì, với quyền lực chính trị sẵn có, Nhà nước sẽ thu nhập một bộ phận thu nhập của xã hội để phục vụ chi tiêu của mình Vì thế mà, mục tiêu cơ bản của thuế luôn luôn đảm bảo nguồn thu cho chi phí Nhà nước Một vấn đề đặt ra tiếp theo mà Nhà nước cần phải suy nghĩ là: nếu số của cải vật chất do người dân sản xuất ra chỉ đủ nuôi sống bản thân họ thì làm gì có phần đóng góp để nuôi sống bộ máy Nhà nước Theo Marx, quá trình tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng

là hai vấn đề quan trọng làm nền tản cho những lý luận cơ bản về thuế Lao động với tư cách là một loại hàng hóa đặc biệt, qua hoạt động lao động tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu của nó Phần mới sáng tạo ra gọi là thu nhập Thu nhập chính là cơ sở cho tái sản xuất mở rộng và là nguồn cho sự động viên của ngân sách Nhà nước6

Vì thế, mọi Chính phủ đều cần có ngân sách để hoạt động Mặc dù có thể

có những lựa chọn khác nhưng thuế là công cụ hữu hiệu nhất để tạo nguồn thu ngân sách

Thuế có một lịch sử rất dài, Thuronyi cho rằng trong lịch sử, có những khoản thu như thuế nhưng không phải là thuế, nhưng việc sử dụng những tên gọi khác nhau không có nghĩa là có sự khác biệt về mặt phát lý7 Theo Burg, là một phần của lịch sử nhân loại ở cả phương Đông và phương Tây từ ít nhất 2500 năm

và có thể là 4500 năm8.Burg cũng tìm ra rằng hình thức sớm nhất của thuế được gọi là corveé, một hình thức lao động bắt buộc ( và từ “ lao động” trong tiếng Ai Cập cổ cũng đồng nghĩa với từ “thuế” Khẳng định điều này, giáo trình Luật

Thuế Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội năm 2005 cũng viết rằng: “ thu thuế

được thực hiện từ hình thức bằng hiện vật sang thu bằng giá trị Điều đó cũng có nghĩa là, thuế xuất hiện ban đầu có hình thức biểu hiện rất đơn giản Quan hệ phu phen, cống nạp là những loại thuế thể hiện dưới hình thức hiện vật dần có sự phức tạp hơn hình thức sưu, thuế được cắt đặt một cách hệ thống trong phạm vi

Trang 12

lãnh thổ Đến khi tiền tệ ra đời, hình thức thuế thu bằng tiền làm nhẹ đi sự nghiệt

cho rằng ban đầu thuế có những điểm chung với các khoản đóng góp của người dân cho các nhà tu để họ sử dụng trong việc giải thích các nỗi sợ hãi, những bí mật của tự nhiên và những biện pháp để thu hút các khoản đóng góp này cũng không khác với hình thức thu thuế là mấy10

Ở phương Tây, hình thức thuế xuất hiện sớm nhất là ở La Mã cổ đại dưới dạng thuế ruộng đất11 Theo đó, sông Nile được dùng làm cơ sở để đánh thuế Những mảnh đất gần lưu vực sông sẽ phải đóng thuế cao hơn những mảnh đất nằm sâu bên trong sa mạc, bởi vì ở gần lưu vực sông đất đai màu mở thuận lợi trồng trọt, và thuận lợi cho hoạt động trao đổi buôn bán lúc bấy giờ Ở Trung Quốc, hình thức thuế sớm nhất là “ cống ” thời nhà Hạ Thuật ngữ “ thuế ” xuất hiện ở Trung Quốc vào năm 594 trước công nguyên12 Ở thời Ai Cập cổ đại, các Pharaoh thu thuế trên nhiều lĩnh vực kể cả dầu ăn13 Chính quyền Hi lạp cổ đại cũng cố gắng tận thu các khoản trang trãi cho chi phí chiến tranh; Caesar Augustus được xem là một trong những nhà chiến lược về thuế vì Ông đã ban hành thuế thừa kế để lấy tiền chi trả cho các quân nhân giải ngũ 14

Trong quá trình tồn tại của Nhà nước, thuế luôn luôn là vấn đề quan trọng

và rất được sự quan tâm Nhà nước luôn mong muốn thu được nhiều thuế vào ngân sách Nhà nước nhưng ít sự phản đối của người dân Do đó, khi xây dựng chính sách về thuế luôn tạo điều kiện cho người dân tham gia ý kiến khi xây dựng pháp luật về thuế (nhất là ở các nước Tư bản chủ nghĩa), nhằm tạo nên tính minh bạch, công khai về thuế Thông qua việc lấy ý kiến của người dân mà nhà nước sẽ xem xét được mức độ hài lòng của người dân đối với chính sách thuế mới đó, qua đây Nhà nước sẽ xem xét nên hay không nên ban hành luật thuế mới, cũng như chỉnh sửa Luật thuế đó nhằm để đảm bảo nguyên tắc khả thi

Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, những loại thuế và hình thức thuế phức tạp hơn được hình thành Những chính sách thuế tận thu hà khắc

B.E.V Sabine Short History of Taxation Butterworths London,1980

11 Trường Đại học Luật Hà Nội Giáo trình Luật Thuế Việt Nam, NXB Tư Pháp năm 2005.Trang8

12 Trường Đại học Luật Hà Nội Giáo trình luật Thuế Việt Nam NXB Tư Pháp năm

2005 Trang 8

13 http://uie.edu/detp/document/resourees/taxhistory/shtml

14

http://www.taxworl.org/History/TaxiHistory/htm

Trang 13

dần dần được thay thế Nhà nước chú tâm nhiều hơn vào việc “hoàn trả” các loại thuế mà dân đóng góp thông qua việc cung cấp hàng hóa công cộng, phúc lợi xã hội v.v Ngay các cơ quan thuế cũng cố gắng thay đổi diện mạo của mình, vừa nhân danh Nhà nước thu thuế nhưng cũng vừa là người trung gian giúp cho người dân thực hiện chính xác các nghĩa vụ của mình cho Nhà nước15.Đặc biệt, dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội được đặt ra như là một nhu cầu cấp thiết đòi hỏi Nhà nước phải đặc biệt quan tâm Điều này đòi hỏi Nhà nước phải hướng sự hoạt động của mình vào sự phát triển toàn diện của dân chúng, quan tâm sâu sắc đến những người có thu nhập thấp.v.v Để thực hiện được mục tiêu này Nhà nước đã thực hiện điều tiết một phần thu nhập của người có thu nhập cao qua các sắc thuế trực thu như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và một số sắc thuế gián thu khác để chi cho một số mục tiêu khác của xã hội Ở đây, thuế phải đảm bảo không hạn chế ý chí làm giàu của các cá nhân trong xã hội, đồng thời cũng tăng được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nhưng vẫn giữ được tính nhân đạo của thuế

1.1.2 Khái niệm, bản chất và vai trò của thuế

 Khái niệm thuế:

Thuế là công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình Tuy nhiên, tùy vào cách nhìn nhận khác nhau, người ta có cách hiểu khác nhau về thuế:

 Theo từ điển tiếng Việt (xuất bản năm 1977) thì Thuế là một phần tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước

 Ở góc độ nghiên cứu về kinh tế chính trị học thì có khái niệm về thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên các quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo chức năng Nhà nước

 Ở góc độ nghiên cứu về pháp luật thì thuế được quan niệm là khoản đóng góp bắt buộc theo nghĩa vụ do pháp luật quy định Thuế là khoản thu không phải hoàn trả ngang giá và trực tiếp

 Với người nộp thuế thì hiểu thuế là khoản thu bắt buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định

15

Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật thuế, Trường Đại học Cần thơ, 2007, Trang 7

Trang 14

Từ những quan niệm về thuế như trên có thể rút ra khái niệm đầy đủ về thuế là: “ Thuế là khoản thu nhập mà tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo chức năng Nhà nước Người đóng góp được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại.”16

-Các vấn đề cần lưu ý đối với khái niệm trên:

 Thuế trước hết là phần thu nhập Có thu nhập thì mới có tiền nộp thuế, nhưng chỉ là một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân Phải chừa còn lại lại một phần nhập để tái sản xuất để tạo ra thu nhập mới phải nhiều hơn thu nhập còn lại Nếu không chừa thu nhập lại để tiếp tục sản xuất thì không có thu nhập đóng thuế trong tương lai Thu nhập ở đây là thu nhập kích thích sản xuất phát triển, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo định hướng có lợi cho sản xuất xã hội17

 Thuế là một trong những nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và của công nhân được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật của Nhà nước Nộp thuế là nghĩa

vụ mang tính chất bắt buộc

 Việc đóng thuế là nghĩa vụ đóng góp của công nhân là một vấn đề hệ trọng của một quốc gia, cho nên phải do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ban hành là Quốc hội ban hành thành văn bản pháp quy là các luật hoặc các

bộ luật

 Thuế đóng cho Nhà nước vừa là nghĩa vụ, vừa là quyền lợi, vừa là tự đầu tư cho chính mình; đây là một yêu cầu tất yếu khách quan Quyền lợi mà người nộp thuế được hưởng thông qua lợi ích kinh tế, phúc lợi xã hội do các khoản đầu tư từ thuế của ngân sách Nhà nước mang lại

 Đối với tổ chức và cá nhân sau khi làm tròn nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định, phần thu nhập còn lại thuộc sở hữu hợp pháp của họ Phần thu nhập này được pháp luật tôn trọng, bảo vệ và giúp đỡ họ sử dụng có hiệu quả Thuế là công cụ giúp Nhà nước thực hiện thu ngân sách Nhà nước Đồng thời, thuế là công cụ thông qua đó giúp Nhà nước quản lý xã hội Do đó, thuế có những đặc điểm riêng biệt giúp phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí…

Trang 15

 Bản chất của Thuế:

Thuế gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước – đại diện quyền lợi cho một giai cấp nhất định Do đó, thuế có bản chất kinh tế - chính trị - xã hội sâu sắc

 Bản chất kinh tế của thuế thể hiện trước hết, thuế là một phần thu nhập của xã hội được tập chung để phục vụ chi tiêu của Nhà nước Kinh tế là cơ sở của thuế18 Không có sản xuất và phát triển sản xuất và sản xuất không có hiệu quả thì nguồn thu từ thuế của Nhà nước không thể tăng nhiều và nhanh được Vì thế, qua thu thuế phải tác động tới sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh phát triển, thúc đẩy thực hành tiết kiệm mọi mặt trong sản xuất và tiêu dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu càng lớn cho ngân sách

 Bản chất giai cấp quyết định bản chất của thuế19 Cùng một hiện tượng Nhà nước khác nhau thì bản chất thuế là khác nhau Điều này thể hiện bên trong của thuế là: Thuế thu vào ai? Thu như thế nào? Và thu để làm gì? Đặc biệt, thu để làm gì thể hiện rõ bản chất giai cấp của thuế

 Thuế còn thể hiện bản chất xã hội rộng rãi Trước hết thuế thu vào toàn dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập xã hội giữa các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư

Chính vì, xuất phát từ bản chất tốt đẹp của thuế mang lại mà thuế có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế xã hội

 Vai trò của Thuế trong nền kinh tế xã hội:

 Thuế là khoản thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước:

Trong các nguồn thu ngân sách quốc gia, thông thường gồm các khoản thu như: thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách của Chính phủ Mặc dù khái niệm về thuế còn nhiều quan điểm khác nhau, song bất kỳ ai cũng công nhận rằng thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước

Trang 16

Theo khảo sát của Ngân hàng thế giới thì có 60 nước có khoản thu thuế chiếm 80% tổng thu ngân sách, đặc biệt như: Đức ( 92,7 % ), Nhật Bản ( 95,4% ), Pháp ( 95,3% ), Mỹ ( 95% ) 20

Còn ở Thụy Điển, trong vòng 40 năm, từ năm 1950 đến năm 1988 mức đóng góp của thuế vào ngân sách Nhà nước không tăng: 1950 là 23%, năm 1960

sự đóng góp của Thuế vào ngân sách Nhà nước luôn giữ vị trí quan trọng: năm

1991 là 81%, 1995 là 85,7% và năm 1997 là 89,6%

Những số liệu trên đây đã khẳng định vị trí hàng đầu của thuế trong tổng nguồn thu ngân sách nhà nước, và còn cho thấy vị trí đó ngày càng quan trọng hơn  Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân Ngoài vai trò là nguồn thu ngân sách chủ yếu, thuế còn giữ vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh kinh tế vì chính sách thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả, đến quan hệ cung cầu, đến cơ cấu đầu tư và sự phát triển cũng như suy thoái nền kinh tế quốc gia Do đó, tùy thuộc vào thực trạng kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ, Nhà nước hoàn toàn có thể chủ động điều chỉnh chính sách thuế nhằm thực hiện mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân Điều tiết vĩ mô nền kinh tế có nghĩa là Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế,

xã hội bằng các mệnh lệnh hành chính mà Nhà nước chỉ đưa ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế - xã hội đi theo, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế đề ra, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - xã hội thực hiện trong khuôn khổ pháp luật22 Do vậy, thuế được sử dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, và nó được thể hiện ở các điểm sau:

 Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế áp dụng chung cho các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển23

Trang 17

 Nhà nước quy định nhiều loại thuế khác nhau và mức thuế khác nhau, cho từng nhóm hàng hóa, hay từng loại hàng hóa cụ thể, thể hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích, ưu đãi hay không ưu đãi, bảo hộ hay không bảo hộ… Thông qua đó Nhà nước sẽ hướng dẫn các thành phần kinh tế bỏ vốn sản xuất, kinh doanh những ngành nghề, mặt hàng theo định hướng của Nhà nước Hơn nữa, sự lựa chọn áp dụng một loại thuế này hay thuế khác cũng góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế24

 Nhà nước có thể dùng tiền thuế thu được để tài trợ, trợ cấp một số ngành nghề, mặt hàng cần khuyến khích phát triển, hoặc cần cung cấp cho các vùng khó khăn, miền núi, hải đảo Nhà nước cũng có thể đầu tư trực tiếp cho các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước hoặc của từng vùng đầu tư vào những việc

mà tư nhân không muốn làm hoặc không có khả năng làm

 Nhà nước thu thuế đồng thời Nhà nước cũng muốn chi cho phúc lợi

xã hội, tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người dân

 Nhà nước ký các hiệp ước về thuế với các nước trên thế giới nhằm thúc đẩy đầu tư, giao lưu kinh tế, giảm trình trạng thuế trùng lên thuế

 Thuế góp phần điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối:

Trong nền kinh tế hàng hóa nói chung, đặc biệt là kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì việc phân phối của cải và thu nhập ngày càng tập trung, tạo ra hai cực đối lập nhau, một tiểu số người sẽ giàu lên nhanh chóng và đa số người nghèo cuộc sống sẽ không được cải thiện25 Tình trạng này chẳng những liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng mà còn tạo nên sự đối lập giai cấp làm mất đi ý nghĩa của mục đích phát triển kinh tế của Nhà nước Trong khi đó sự phát triển kinh tế của một quốc gia là kết quả nỗ lực của cả cộng đồng, và mỗi thành viên trong xã hội có những đóng góp nhất định của họ Thành quả của sự phát triển kinh tế nếu không chia sẽ cho mọi người cùng hưởng thì rõ ràng mất đi sự công bằng Bởi vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước trong sự phân phối thu nhập xã hội, đặc biệt thông qua công

Trang 18

Vai trò của thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội thể hiện rõ nhất trong thuế trực thu Ví dụ như, thu thuế cá nhân thì đánh vào những người có thu nhập cao Như vậy, ngoài việc tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, thuế còn đóng vai trò quan trọng trong thực hiện công bằng xã hội Việc điều hòa thu nhập xã hội còn được thể hiện một phần thông qua các sắc thuế gián thu như: Thuế GTGT, Thuế tiêu thụ đặc biệt….các loại thuế này thường đánh rất cao vào những mặt hàng, dịch vụ cao cấp nhằm điều tiết bớt thu nhập của cá nhân có thu nhập tương đối cao so với mức bình quân xã hội

Do chế độ chính trị và sự phát triển của Nhà nước ở mỗi quốc gia là khác nhau, nên dẫn đến mỗi một quốc gia có lịch sử phát triển của thuế là không giống nhau Ở Việt Nam lịch sử phát triển về thuế có những đặc điểm riêng, và qua từng giai đoạn phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam dần dần được hoàn thiện và hiệu quả hơn

1.2 Lịch sử phát triển của luật Thuế ở Việt Nam

1.2.1.Thuế lợi tức và sự cần thiết thay thế thuế lợi tức bằng thuế thu nhập doanh nghiệp

Sau cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ cách mạng đã bải bỏ một số sắc thuế mang tính hà khắc như: thuế thân, thuế điền ở vùng lũ lụt…tạm thời duy trì một số sắc thuế củ của thời Pháp thuộc như: thuế tiêu thụ thuốc lá, thuế tiêu thụ rượu, thuế muối, thuế quan, nhưng số thu ngân sách không đáng kể

do chính sách thuế củ không còn phù hợp với giai đoạn bấy giờ

Nhằm tạo thêm vật chất để khắc phục khó khăn của đất nước sau nhiều thập kỷ đấu tranh giành độc lập, Chính phủ đã tổ chức các hình thức động viên sự tự nguyện đóng góp trên tinh thần yêu nước và nhiệt tình cách mạng của nhân dân (quỹ độc lập, quỹ kháng chiến….)

Như vậy, thuế trực thu còn lại là: thuế điền thổ, thuế môn bài; thuế gián thu còn lại : thuế tiêu thụ thuốc lá, thuế tiêu thụ rượu, thuế muối, thuế quan Trong hệ thống thuế lúc bấy giờ, thuế điền thổ là nguồn thu quan trọng nhất Từ năm 1947 đến năm 1956, thuế điền thổ chiếm 60% đến 80% tổng thu ngân sách nhà nước26

Sau năm 1951, sau Đại hội Đảng lần thứ II, thực hiện sự chuyển hướng,

về công tác tài chính theo phương châm “ tăng thu, giảm chi,

26

Trương Đông Lộc Bài Giảng Thuế Khoa Kinh tế - trường đại học cần thơ 2008 Trang 2

Trang 19

thống nhất quản lý tài chính” Chính phủ đã ban hành một hệ thống mới gồm 7 loại thuế:

Thuế nông nghiệp Thuế công – thương nghiệp Thuế hàng hóa

Thuế xuất, nhập khẩu Thuế sát sinh

Thuế trước bạ Thuế tem

 Thuế nông nghiệp: Ngày 11/05/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý sắc lệnh số 13 Sắc lệnh ban hành điều lệ thuế nông nghiệp với nội dung như sau: Thuế nông nghiệp là hình thức thuế đánh trên hoa lợi ruộng đất, căn cứ tính thuế là diện tích, sản lượng hàng năm tính thuế, và số nhân khẩu nông nghiệp trong mỗi hội nông dân Thuế nông nghiệp gồm 11 bậc thuế suất, thấp nhất là 5%, và cao nhất là 45%, và được tính theo lũy tiến toàn phần; thuế suất 5% áp dụng cho hộ nông dân có nức hoa lợi thu nhập bình quân khẩu từ 81 kg đến 95 kg lương thực quy thóc, thuế suất 45% áp dụng cho các hộ có mức hoa lợi nhân khẩu từ 1.816 kg lương thực quy thóc trở lên

Thuế nông nghiệp lúc bấy giờ giữ vai trò quan trọng, hàng năm động viên khoản 20% sản lượng lương thực chụi thuế27

 Thuế công – thương nghiệp: là loại thuế đánh và các hoạt động sản xuất, kinh doanh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương nghiệp Thuế công thương nghiệp bao gồm : thuế doanh thu, thuế thực lãi, và thuế buôn chuyến Trong đó, thuế thực lãi tính theo phương pháp lũy tiến từng phần với thuế suất từ 5% đến 27%

Sau thắng lợi 1954, hệ thống thuế được đổi mới và áp dụng ở miền Bắc, bao gồm 12 sắc thuế: thuế doanh nghiệp, thuế hàng hóa ( mở rộng thêm nhiều mặt hàng), thuế xuất nhập khẩu, thuế thổ trạch, thuế kinh doanh nghệ thuật, thuế sát sinh, thuế buôn chuyến, thuế môn bài, thuế trước bạ, thuế rượu, thuế muối, thuế lợi tức Trãi qua những năm tháng lịch sử, hệ thống thuế và thu tài chính nói trên đã đảm bảo nguồn thu quan trọng của ngân sách, phục vụ cho việc thực hiện

27

Trương Đông Lộc Bài Giảng Thuế Khoa Kinh tế - Trường đại học Cần Thơ 2008.Trang2

Trang 20

những nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội, quốc phòng trong từng thời kỳ Tuy nhiên, ngay các yêu cầu đổi mới đất nước theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI về cơ cấu kinh tế xã hội, thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật khách quan của một nền kinh tế nhiều thành phần, mở của buôn bán, hợp tác kinh tế với nước ngoài, cơ chế giá cả thỏa thuận….v.v…dẫn đến hệ thống thu tài chính và thuế hiện hành bộc lộ nhiều nhược điểm về bản thân chính sách cũng như tổ chức thực hiện, do tính cách chắt vá, thuế tính trùng lắp, vừa lạm dụng thu lại và chưa bao quát hết nguồn thu Từ những yêu cầu khách quan của nền kinh

tế đòi hỏi đổi mới của hệ thống thuế hiện hành với tính pháp lý cao hơn, bao quát toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh

Ngày 30/06/1990, tại kỳ họ thứ 7, Quốc hội khóa VIII đã thông qua ba luật thuế: Luật thuế doanh thu, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, và Luật thuế lợi tức Ngày 08/08/1990, Hội đồng Nhà nước đã ra nghị quyết số 270 B-NQ/HĐNH8 công bố thi hành ba luật thuế trên Sự ra đời của ba luật thuế này đã đánh dấu một bước ngoặc trong quá trình pháp luật hóa các sắc lệnh thuế ở nước ta Đặc biệt là sự ra đời thuế lợi tức (thay thế thuế thực lãi) góp phần tăng đáng kể nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Và ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, thuế lợi tức được sửa đổi và hoàn thiện và đóng vai trò chủ yếu trong động viên ngân sách Nhà nước

Thuế lợi tức được Quốc hội ban hành năm 1990, thuế lợi tức là loại thuế trực thu, là loại thuế thu vào các khoản tiền lời (lợi nhuận) thu được cho các hoạt động kinh doanh

Theo đó, cá nhân và các tổ chức kinh tế có hoạt động kinh doanh phát sinh lợi tức và là người thụ hưởng lợi tức, thì phải trả khoản thuế lợi tức này Các cơ sở kinh doanh nộp thuế lợi tức là tổng lợi tức chịu thuế cả năm của tất cả các hoạt động kinh doanh cơ bản và các hoạt động kinh doanh ngoài cơ bản, bao gồm thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên Cơ sở kinh doanh này phải (trừ hộ kinh doanh nhỏ, hộ buôn chuyến) nộp thuế suất ổn định

cả năm đối với từng ngành nghề theo quy định Tuy nhiên ngoài nộp thuế suất ổn định, các tổ chức và cá nhân kinh doanh nếu có lợi tưc cổ tức vượt mức quy định của luật thuế cổ tức thì phải nộp thuế lợi tức cổ sung Thuế lợi tức bổ sung loại thuế này nhằm động viên trực tiếp vào cơ sở kinh doanh có thu hoặc có lợi tức Đồng thời, việc quy định thuế lợi tức bổ sung là nhằm điều tiết cho ngân sách Nhà nước một phần thu nhập của cơ sở kinh doanh có thu nhập cao để góp phần đảm bảo công bằng xã hội

Trang 21

Thuế lợi tức ra đời là công cụ hỗ trợ Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, chính sách đổi mới kinh tế, theo nền kinh tế thị trường có định hướng Xã hội chủ nghĩa, qua đó tăng cường hội nhập kinh tế, thu hút đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam Luật thuế lợi tức năm 1990, có nhiều quy định và nhiều mức thuế suất khác nhau đánh lên thu nhập doanh nghiệp, tùy thuộc vào thành phần kinh tế Doanh nghiệp Nhà nước chịu mức thuế suất khác với mức thuế suất tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có mức thuế suất khác, trong đó doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi hơn các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, việc sử dụng chính sách thuế như công cụ kêu gọi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài như vậy sẽ dẫn đến tình trạng đối xử không bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Có thời điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp lợi tức thuế suất 25% (và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài) còn doanh nghiệp trong nước phải nộp thuế suất 45% và có thể nộp thuế bổ sung với thuế suất có khi lên đến 40% ( như đối với các ngành thương nghiệp, ăn uống dịch vụ các loại)28

Trước tình hình đó, để khắc phục những nhược điểm của thuế lợi tức, ngày 10/5/1997, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua, và luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời thay cho Luật thuế lợi tức năm 1990

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời với thuế suất là 35% áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước, đã phần nào góp phần giảm bớt sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp Đồng thời, góp phần khuyến khích phát triển các doanh nghiệp trong nước, góp phần năng tăng trưởng kinh tế chung cho

cả nước

Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển kinh tế, cũng như sự thay đổi trong quá trình sản xuất, kinh doanh, đòi hỏi Nhà nước trong quá trình quản lý, phát triển kinh tế xã hội cần phải thay đổi – ban hành các chính sách mới, đặc biệt về thuế nhằm để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển theo định hướng Nhà nước Sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đánh dấu sự cố gắng của Nhà nước trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, và sự bắt nhịp của Nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

28

Ts.Lê Thị Nguyệt Châu Giáo trình Luật Thuế Trường Đại học Cần Thơ 2007 Trang 37

Trang 22

1.2.2 Sơ lược chung về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Ở các nước, tên gọi luật thuế này có thể khác nhau như: luật thuế thu nhập công ty (Thụy Điển), thuế lợi nhuận công ty (Mỹ), thuế lợi tức….nhưng bản chất của nó tương đối giống nhau Có quốc gia quy định luật thuế này trong một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung một bộ luật với thu nhập cá nhân vì họ cho rằng giữa hai luật thuế có quan hệ mật thiết với nhau nên quy định trong cùng một văn bản dễ tiếp cận hơn29

 Đây là loại thuế trực thu nhưng đôi khi đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp có thể chuyển gánh nặng về thuế cho các đối tượng khác (

Trang 23

như người tiêu dùng, người lao động ) thông qua việc tăng giá sản phẩm, giảm tiền lương…v v

 Vai trò:

Cũng như vai trò của thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội Là công cụ quan trọng trong điều tiết thu nhập xã hội

 Nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp để điều tiết những người có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách Nhà nước công bằng và hợp lý hơn Các doanh nghiệp bị lỗ sẽ không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp và được chuyển lỗ sang năm sau, giảm tình trạng phá sản của doanh nghiệp

 Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước Một nền kinh tế phát triển, tăng trưởng kinh tế được đảm bảo, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ ngày càng dồi dào31

 Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là công cụ khuyến khích sản xuất , thúc đẩy sản xuất, kinh doanh theo định hướng của Nhà nước Nhà nước ưu đãi khuyến khích chủ đầu tư đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực địa bàn khó khăn mà Nhà nước ưu tiên phát triển theo từng thời kỳ

 Phạm vi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp:

Đối tượng nộp thuế:

Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia, người có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau Theo quy định nộp thuế thu nhập doanh của Anh và Mỹ thì chỉ có các tổ chức kinh tế kinh doanh thì mới nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Khác với các nước, pháp luật Việt Nam quy định đối tượng nộp thuế tương đối cụ thể Bất kể, các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ (sau đây gọi là các doanh nghiệp) có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008, người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:

“ Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

31

Ts Lê Thị Nguyệt Châu – “Giáo trình Luật Thuế”, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2007 Trang 32

Trang 24

Doanh nghiệp thành lập theo pháp luật nước ngoài ( sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không thường trú tại Việt Nam;

Các tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;

Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam;

Các tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh có thu nhập.”

Như vậy, khi so sánh đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 với đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 thì thấy:

Điểm khác biệt rõ nhất giữa nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 và thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 là: Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đã loại cá nhân trong nước hoạt động sản xuất, kinh doanh, hàng hóa dịch vụ ra khỏi đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, mà chuyển đối tượng này sang nộp thuế theo thuế Thu nhập cá nhân Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 còn mở rộng thêm đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là: Doanh nghiệp thành lập theo pháp luật nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam Đồng thời, các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập, sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 124 thì phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định Quy định mới về mở rộng đối tượng chịu thuế này, nhận thấy: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đã góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng về thuế thông qua việc mở rộng đối tượng chịu thuế, giảm bớt tình trạng thuế trùng lên thuế khi chuyển đối tượng nộp thuế là cá nhân trong nước sản xuất hàng hóa dịch vụ ra khỏi đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, mà nộp thuế theo Luật thuế khác

 Đối tượng không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp:

Mặc dù, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 không quy định về đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, tuy nhiên trên cơ sở đối chiếu với các văn bản pháp luật khác (như thuế thu nhập cá nhân và nghị định 124/2008 hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008…) thì nhận thấy:

Tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Như vậy, Nhà nước vẫn còn nhiều ưu đãi cho các đối tượng này nhằm để khuyến khích phát triển nền sản xuất tập thể

Trang 25

Tóm lại, thông qua quá trình nghiên cứu cơ sở lý luận về thuế, đã làm nỗi bật vai trò của thuế trong sự hình thành và tồn tại của Nhà nước, thuế là một công

cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và điều phối sản xuất, kinh doanh theo định hướng phát triển của Nhà nước, nhất là trong việc thu ngân sách để đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước Ở Việt Nam, Chính phủ ban hành nhiều sắc thuế khác nhau trong quá trình thực hiện chức năng của mình, tuy nhiên trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đem lại nguồn thu rất lớn và rất hiệu quả trong quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế - xã hội

Thuế thu nhập doanh nghiệp với chính sách ưu đãi thuế là công cụ hiệu quả trong quá trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đặc biệt, thông qua vai trò thu hút đầu tư của chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đã là cơ sở quan trọng

để Nhà nước phân bổ lại thu nhập xã hội, phân bổ nguồn lực,… Để thực hiện sự công bằng xã hội, và phát triển kinh tế theo chiến lược đã được vạch ra

Trang 26

Chương 2:

Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

2008 2.1 Khái quát về chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

2008

2.1.1 Khái niệm về chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là chính sách mà Đảng và Nhà nước đưa ra để quy định các trường hợp được miễn thuế, giảm thuế nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc khắc phục các khó khăn, rủi ro để phát triển sản xuất, hoặc khuyến khích các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào các ngành nghề, mặt hàng, các vùng mà Nhà nước cần tập trung khuyến khích, đẩy mạnh sản xuất, qua đó góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế

2.1.2 Ý nghĩa của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo giáo trình Đại học Luật Hà Nội: “Thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cơ sở kinh doanh Vì thông qua chính sách ưu đãi thuế miễn thuế, giảm thuế đã tác động lớn đến việc đầu tư vốn và tổ chức hoạt động kinh doanh của các cơ sở kinh doanh Hiện nay, các quốc gia thường có xu hướng sử dụng chính sách ưu đãi thuế, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu điều tiết nền kinh tế của mình Thông thường, các nước áp dụng chế độ ưu đãi thuế, miễn thuế, giảm thuế cho các lĩnh vực quan trọng, các ngành mũi nhọn hoặc có lợi cho phát triển và các ngành tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh cao ở từng nước”32

Như vậy, ngoài chức năng thu ngân sách Nhà nước thuế thu nhập doanh nghiệp còn góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thuế thu nhập doanh nghiệp với nhiều chính sách ưu đãi đã điều chỉnh có hiệu quả sự phát triển đồng bộ của các lĩnh vực, đảm bảo sự phát triển thống nhất, cân đối giữa các ngành nghề, vùng, miền thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước theo định hướng chiến lược mà các Nhà nước đã vạch ra

Ở Việt Nam, trong các công cụ điều tiết nền kinh tế nói chung và thuế nói riêng thì thuế thu nhập doanh nghiệp là một công cụ hữu hiệu, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước cao nhất, và dễ quản lý hơn các loại thuế khác trong

32

Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp năm 2007, Trang 210

Trang 27

hệ thống thuế Thông qua nguồn thu ngân sách từ Thuế thu nhập doanh nghiệp mang lại, Nhà nước đầu tư vào các cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, bảo đảm phúc lợi xã hội, v v góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn

Không chỉ là một công cụ đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước,

mà Thuế thu nhập doanh nghiệp (đặc biệt là chính sách ưu đãi thuế) có một vai trò rất mạnh mẽ và tác động rất lớn đến thu hút nguồn đầu tư, nhất là nguồn đầu

tư từ nước ngoài vào Việt Nam

Hiện nay, Nhà nước đặc biệt sử dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư nhằm mục đích:

 Phân bổ nguồn lực: Kích thích phân bổ các nguồn đầu tư theo định

hướng của Nhà nước Việt Nam sử dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm kích thích các hoạt động đầu tư theo vùng, theo lĩnh vực đầu tư và đổi mới công nghệ, bảo vệ môi trường, tăng đầu tư sản xuất hàng hóa xuất khẩu Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh thường vì lợi ích của chính mình đôi khi tác động tiêu cực đến lợi ích chung của toàn xã hội Nhà nước cần phải phân bổ lại nguồn lực xã hội bằng công cụ thuế suất, chế độ miễn thuế, giảm thuế hợp lí để giảm thiểu độ chênh lệch phát triển của các vùng; việc ưu đãi cho ngành này, vùng này đồng nghĩa với việc hạn chế ưu đãi cho ngành khác, vùng khác

 Khuyến khích đầu tư: Ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vốn đầu tư trong

Nhà nước và nước ngoài là một trong các biện pháp quan trọng để khuyến khích đầu tư

 Đối với đầu tư trong nước, khuyến khích đầu tư có nghĩa là tạo điều kiện và môi trường thuận lợi nhằm mời chào các nguồn vốn trong dân cư vào nền kinh tế

 Đối với vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, việc Nhà nước đưa ra các biện pháp khuyến khích đầu tư có ý nghĩa như là một động thái nhằm góp phần cải thiện môi trường đầu tư Khuyến khích đầu tư chính là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để tăng thêm nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài đổ vào Việt Nam

Thông qua chính sách ưu đãi đầu tư, các doanh nghiệp thuộc đối tượng được khuyến khích hoặc đặc biệt khuyến khích đầu tư sẽ được hưởng những ưu đãi liên quan đến tài chính, thủ tục hành chính, nhất là ưu đãi về thuế Tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn thu hút những nhà đầu tư Đặc biệt, thông qua chính

Trang 28

sách thuế thu nhập doanh nghiệp (ưu đãi về thuế suất, thời gian miễn, giảm thuế

và các ưu đãi khác) giúp cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc lựa chọn ngành nghề đầu tư, địa bàn đầu tư, nhất là những ngành nghề cần phải đòi hỏi khoa học - công nghệ - kỹ thuật cao Từ đó, có động lực lớn đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực đầu tư được khuyến khích đầu tư, nhằm phát triển đồng đều giữa các vùng kinh tế

Theo thống kê số liệu chưa đầy đủ của 54/61 tỉnh, thành, thì năm 1999 đã

cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư cho 568 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn

7112 tỷ đồng Kết quả của chính sách ưu đãi đầu tư của các doanh nghiệp trong

4 năm đã khuyến khích đầu tư khoảng 7600 tỷ đồng và với hơn 840.000 cơ sở kinh doanh mới thành lập Đến năm 2003 đạt 21147 tỷ đồng; năm 2004 là 24201

tỷ đồng; năm 2005 là 28729 tỷ đồng; năm 2006 là 33663 tỷ đồng; năm 2007 là

sách ưu đãi thuế để thu hút đầu tư và thực sự là công cụ hiệu quả để tăng các dự

án đầu tư, thu hút nhà đầu tư

 Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa: Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sẽ

làm tăng ngoại tệ, tăng cường đổi mới công nghệ, tài sản cố định của các doanh nghiệp, đưa hàng hóa nội địa, trình độ nội địa cọ xát trình độ khu vực và thế giới Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cùng với những ưu đãi khác đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, tăng lợi nhuận sau thuế Từ đó, tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới, khuyến khích đầu tư vào hàng hóa xuất khẩu

 Khuyến khích sản xuất và tái sản xuất: Trước hết phải tìm hiểu doanh

nghiệp chính là chủ thể, là đối tượng quan trọng trong việc đóng góp ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước cần có mức độ động viên hợp lí để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, không chỉ tốt cho bản thân doanh nghiệp mà còn tốt cho xã hội như: Nhà nước thu được nhiều thuế, người lao động nhận được tiền lương, doanh nghiệp có lợi nhuận Nếu doanh nghiệp bị phá sản thì xã hội chi tiêu cho người thất nghiệp Do đó, việc miễn, giảm thuế được xem là khoản tài trợ của Nhà nước giành cho doanh nghiệp Việc tái mở rộng sản xuất chính là việc nuôi dưỡng nguồn thu sau này trong những năm tiếp theo

Do vậy, thực chất của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp chính là việc Nhà nước miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế cho các doanh nghiệp thuộc đối

33

http://www.humlam.com/news.asp?tin- ID=2405&loai-tin-ID=6

Trang 29

tượng ưu đãi đầu tư, giúp họ khắc phục khó khăn, tăng phần lợi nhuận khi tham gia đầu tư vào những ngành nghề, vùng miền thuộc danh mục ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật

Như vậy, chính sách ưu đãi thuế có tác động rất lớn đến xã hội nói chung

và đặc biệt hoạt động kinh tế nói riêng Chính sách thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả, mối quan hệ cung cầu, thu nhập và mức sinh hoạt của các tầng lớp dân cư trong xã hội Thuế được sử dụng như đòn bẩy để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế, hạn chế, hoặc thúc đẩy quá trình tích lũy và đầu tư Những ưu đãi về thuế sẽ được điều chỉnh theo hướng linh hoạt sẽ có tác dụng kích thích các nhà đầu tư đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc một địa bàn nào

đó

Trong khi tiềm lực kinh tế còn yếu chưa thể sử dụng các ưu đãi khác, Nhà nước chủ trương dùng thuế làm chính sách ưu đãi chủ yếu để khuyến khích

và định hướng đầu tư các ngành nghề, lĩnh vực, các vùng cần ưu tiên phát triển

Và chính sách thuế của Nhà nước cùng với những ưu đãi đa dạng, phong phú nhằm khuyến khích đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh giữa các quốc gia

2.2 Điều kiện, nguyên tắc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

2008

2.2.1 Điều kiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 200834

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đã sửa lại Thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 nhằm:

 Một là, tiếp tục tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, đảm bảo công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh, giảm mức thuế chung cho chiến lược cải cách thuế đến năm 2010 để khuyến khích doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy, tích cực đổi mới công nghệ, đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao nâng lực cạnh tranh

 Hai là, sắp xếp ưu đãi thuế đảm bảo tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư

có chọn lọc, tác động tích cực đến phân bổ nguồn lực phát triển địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn và một số lĩnh vực mũi nhọn đặc biệt quan trọng, đồng thời đảm bảo chính sách đơn giản, rõ ràng, minh bạch, góp phần thúc đẩy mạnh cải cách hành chính đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

 Ba là, đảm bảo nguồn thu ngân sách cao nhất và hợp lý nhất

34

Điều 18, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008

Trang 30

Chính vì thế, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đã đưa ra điều kiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập khi :

 Doanh nghiệp thực hiện các sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ; đã đăng ký thuế và nộp theo tờ khai theo quy định của pháp luật

 Doanh nghiệp phải sản xuất, kinh doanh vào những ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn được Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển

Doanh nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên

Trong khi đó, nếu xem xét các quy định ưu đãi của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003, thì khi các doanh nghiệp có dự án đầu tư đáp ứng một trong các điều kiện sau đây thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp:

 Đầu tư vào ngành, nghề, lĩnh vực, địa bàn thuộc doanh mục ưu đãi đầu tư do Chính phủ ban hành theo quy định của Luật đầu tư

 Đầu tư vào địa bàn thuộc địa bàn trong danh mục có điều kiện kinh

tế - xã hội đặc biệt khó khăn do Chính phủ ban hành theo quy định Luật đầu tư

Do đó, khi so sánh điều kiện ưu đãi của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

2003 với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội thông qua 3/6/ 2008 có hiệu lực thi hành 1/1/ 2009, nhận thấy:

Điều kiện ưu đãi theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 thông thoáng và chặt chẽ hơn, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia đầu tư ngày càng nhiều hơn vào các ngành nghề được Nhà nước ưu tiên phát triển

Mặc dù, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã xây dựng những điều kiện tốt nhất để kích thích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Nhưng để được hưởng các điều kiện ưu đãi

đó thì các doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện các ưu đãi đó theo nguyên tắc nhất định

2.2.2 Nguyên tắc ưu đãi

Theo quy định tại Điều 19 “ Điều kiện áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp” của Nghị định số 124/2008/NĐ-CP, ngày 11/12/2008 hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 Theo đó, nguyên tắc ưu đãi theo Nghị định số 124 bao gồm các nguyên tắc:

Trang 31

 Doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập của các hoạt động sản xuất kinh doanh, được ưu đãi tại Điều 13 (ưu đãi thuế suất) và tại Điều 14 (ưu đãi

về thời gian miễn thuế, giảm thuế) trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008

Trong trường hợp, doanh nghiệp không hạch toán riêng được thu nhập của hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế thì thu nhập của hoạt động kinh doanh được ưu đãi được xác định theo tỷ lệ doanh thu giữa hoạt động sản xuất kinh doanh được ưu đãi thuế trừ (-) đi tổng doanh thu của doanh nghiệp

 Trong thời gian quy định thực hiện miễn thuế, giảm thuế, nếu các doanh nghiệp thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh thì phải theo dõi và hạch toán riêng thu nhập của từng hoạt động kinh doanh

Trong đó, thu nhập của hoạt động kinh doanh được miễn thuế, giảm thuế xác định bằng (=) tổng thu nhập chịu thuế nhân (X) tỷ lệ phần trăm (%) của tổng doanh thu sản xuất kinh doanh miễn thuế, giảm thuế so với tổng doanh thu của

cơ sở kinh doanh trong kỳ tính thuế

Trong trường hợp, năm quyết toán thuế doanh nghiệp có các hoạt động sản xuất kinh doanh vừa có hoạt động lãi và vừa có hoạt động lỗ (trừ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất, chuyển nhượng vốn, hoạt động đầu tư ở nước ngoài) thì thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

 Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi thuộc diện miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp thì cơ sở kinh doanh có thể lựa chọn:

 Hạch toán riêng lãi của hoạt động ưu đãi thuế để thực hiện miễn thuế, giảm thuế theo quy định của pháp luật về miễn thuế và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; hoạt động lỗ được chuyển lỗ theo quy định pháp luật

 Lấy lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh được ưu đãi để bù lỗ cho hoạt động khác, nếu còn lỗ thì chuyển lỗ cho các năm sau theo quy định của pháp luật

 Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh miễn thuế, giảm thuế bị lỗ mà hoạt động sản xuất kinh doanh không thuộc diện ưu đãi có lãi thì sau khi bù trừ, thì phần thu nhập còn lại áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất của hoạt động kinh doanh có thu nhập

 Cơ sở kinh doanh đang trong thời gian được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp có tổ chức lại doanh nghiệp ( chia, tách, sáp nhập, hợp nhất), chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Cơ sở kinh doanh

Trang 32

mới (sau khi có sự thay đổi nêu trên) tiếp tục hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp trong khoản thời gian còn lại, nếu đáp ứng các điều kiện ưuđãi đầu

Năm miễn thuế, giảm thuế xác định phù hợp với kỳ tính thuế Thời điểm bắt đầu tính thuế miễn thuế, giảm thuế tính liên tục kể từ kỳ tính thuế đầu tiên đối với cơ sở kinh doanh ban đầu có thu nhập chịu thuế (chưa trừ số lỗ các kỳ trước chuyển sang)

Trường hợp kỳ tính thuế đầu tiên của cơ sở kinh doanh có thu nhập chịu thuế nhưng thời gian sản xuất hàng hóa, dịch vụ dưới 12 tháng thì cơ sở kinh doanh có quyền đăng ký với cơ quan miễn giảm thuế, tính thời gian miễn, giảm thuế ngay kỳ tính thuế đầu tiên đó hoặc tính từ kỳ tính thuế tiếp theo Trường hợp, cơ sở kinh doanh đăng ký thời gian miễn thuế, giảm thuế vào kỳ miễn giảm thuế tiếp theo thì phải xác định thuế phải nộp của kỳ tính thuế ban đầu để nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định

 Trong cùng một kỳ tính thuế, nếu có một khoản thu nhập thuộc diện

áp dụng thuế suất ưu đãi doanh nghiệp và miễn thuế theo từng trường hợp khác nhau thì các doanh nghiệp có quyền lựa chọn một trường hợp ưu đãi có lợi nhất cho mình theo quy định

Việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Điều 13( ưu đãi thuế suất) và Điều 14( ưu đãi về thời gian miễn, giảm thuế) của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 không áp dụng đối với35:

 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ quyền sở hữu, quyền

sử dụng tài sản, thu nhập từ chuyển nhượng cho thuê và thanh lý tài sản; thu nhập

từ lãi tiền gữi, cho vay vốn bán ngoại tệ, và các khoản dự phòng; thu nhập từ các khoản nợ khó đòi nay đòi được; thu khoản nợ phải trả trước đây không xác định được chủ; khoản thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của những năm trước bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở ngoài Việt Nam

 Thu nhập từ hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác;

 Thu nhập từ kinh doanh có thưởng, cá cược theo quy định của pháp luật

35

Khoản 2, Điều 19, Nghị định số 124/2008/NĐ-CP, ngày 11/12/2008 hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008

Trang 33

 Thu nhập từ hoạt động khai thác khoáng sản

Như vậy, những quy định của Nghị định 124/2008/ NĐ – CP ngày 11/12/2008 hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đã hệ thống hóa các nguyên tắc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cụ thể và dễ hiểu hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể chủ động tiếp cận với các ưu đãi

mà Nhà nước giành cho mình, và phát huy một cách hiệu quả những ưu đãi đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để đem lại lợi nhuận cao nhất mà vẫn đảm bảo đúng quy định của pháp luật

2.3 Hình thức ưu đãi

2.3.1 Thuế suất ưu đãi

Hiện tại, thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước, và mong muốn của Nhà nước khi ban hành luật thuế là làm sao phải thu nhiều cho ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mục tiêu chính của Nhà nước ta khi ban hành thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đơn thuần là đảm bảo thu cho ngân sách Nhà nước, mà vai trò chính

và đặc biệt quan trọng của thuế thu nhập doanh nghiệp là điều tiết vĩ mô nền kinh

tế theo định hướng chiến lược đã được Nhà nước vạch ra

Để thực hiện hiệu quả vai trò của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh

tế thì việc Nhà nước ban hành chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là điều rất quan trọng và không thể thiếu Vì thông qua chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mà Nhà nước sẽ xem xét khu vực cần được ưu đãi, ngành nghề, địa bàn cần ưu tiên phát triển theo tình hình phát triển chung của cả nước, trong khu vực và thế giới Từ đó, nhằm tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền trên phạm vi cả nước

Thuế suất ưu đãi là một trong những hình thức ưu đãi đặc biệt trong thuế thu nhập doanh nghiệp mà Nhà nước đã ban hành

Thuế suất ưu đãi là thuế suất thấp hơn tiêu chuẩn và thường được áp dụng các ngành hoặc các nghề, hoặc các khu vực được lựa chọn ưu đãi

Như vậy, thuế suất ưu đãi đặc biệt là chế độ ưu đãi đặc biệt mà Nhà nước dành cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng điều được hưởng các ưu đãi mà Nhà nước ban hành, doanh nghiệp chỉ được hưởng các ưu đãi thì phải đáp ứng các điều kiện luật định (nếu có) và ít nhất doanh

Trang 34

nghiệp đó phải đầu tư sản xuất kinh doanh, hàng hóa dịch vụ vào khu vực thuộc diện ưu đãi đã được Chính phủ ban hành kèm theo

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008, đã áp dụng mức thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp:

 Về thuế suất phổ thông:

Doanh nghiệp nộp thuế suất từ 28% như trước kia giảm xuống còn 25%36 Đây là một thay đổi hiển nhiên Theo tờ trình của Chính Phủ sự thay đổi này là do hoạt động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh của quốc gia ngày càng gây gắc hơn, nên nhiều nước trên thế giới cũng như trên khu vực đã sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp là một công cụ quan trọng để tăng hấp dẫn đầu tư

Xu hướng quốc tế hóa gần đây cho thấy nhiều nước chuyển từ ưu đãi ngành, lĩnh vực sang ưu đãi diện rộng, khuyến khích tổng thể nền kinh tế bằng chính sách điều tiết thuế thu nhập doanh nghiệp hợp lý, chỉ tập trung ưu đãi theo một số ngành mũi nhọn và vùng đặc biệt khó khăn

Ví dụ như: Trung Quốc hạ thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 33% xuống còn 25%, đồng thời còn xóa bỏ hầu hết các ưu đãi về thuế, kể cả các doanh nghiệp đầu tư hàng hóa trước đây Cũng như Trung Quốc, Singapo cũng

hạ mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 20% xuống còn 19% 37 Mục đích của việc ưu đãi này là để khuyến khích tổng thể nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các cộng đồng doanh nghiệp có điều kiện thêm nguồn lực để đầu

tư, phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới

 Thuế suất ưu đãi

Theo đó, Thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh được quy định38 :

Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm áp dụng đối với:

 Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án hoạt động đầu tư tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008, khu kinh tế, khu công nghệ cao được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm