Đề tài “Kiến thức, thái độ, hành vi và một số rào cản trong báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2017” với 2 mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi báo cáo sự cố y khoa và tìm hiểu một số rào cản đối với việc thực hiện báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VÀ MỘT SỐ RÀO CẢN TRONG BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC
NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VÀ MỘT SỐ RÀO CẢN TRONG BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC
NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các phòng/khoa, các bộ môn của Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc, Phòng Đào tạo - Chỉ đạo tuyến, Phòng Quản lý chất lượng và các Khoa/phòng khác của Bệnh viện quận Thủ Đức đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và hoàn thành luận văn này Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo các bộ môn của Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho lớp cao học Quản lý bệnh viện khoá 08 Thành phố Hồ Chí Minh trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến Thầy TS.BS Nguyễn Văn Hoạt – Bệnh viện Trường Đại học Y Hà Nội và Thầy PGS.TS.BS Hoàng Văn Minh – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình trực tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ nhóm học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình, những người luôn giúp đỡ và động viên nhóm học viên trong học tập, công tác cũng như trong cuộc sống
Chân thành cảm ơn
Học viên
Trần Thị Bích Bo
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG 8
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 9
DANH MỤC HÌNH 10
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 CÁC KHÁI NIỆM 5
1.2 PHÂN LOẠI SỰ CỐ Y KHOA 5
1.2.1 Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại đối với người bệnh 6
1.2.2 Phân loại sự cố y khoa theo đặc điểm chuyên môn 6
1.2.3 Phân loại theo báo cáo bắt buộc 7
1.3 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN SỰ CỐ Y KHOA 8
1.4 BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA 9
1.5 HẬU QUẢ CỦA SỰ CỐ Y KHOA 10
1.6 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN SỰ CỐ Y KHOA 11
1.7 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 17
1.8 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 23
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 23
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 24
2.3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 24
2.4 CỠ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU 24
2.4.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định lượng 24
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định tính 24
2.5 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 25
2.5.1 Biến số nghiên cứu định lượng 25
2.5.2 Thang đo nghiên cứu định lượng 25
Trang 52.5.3 Chỉ số nghiên cứu định lượng 27
2.5.4 Biến số nghiên cứu định tính 27
2.6 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 28
2.7 PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ, XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 30
2.7.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng 30
2.7.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính 30
2.8 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 31
2.9 KIỂM SOÁT VÀ XỬ LÝ SAI SỐ CỦA NGHIÊN CỨU 31
2.10 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 33
3.1.1 Tuổi của đối tượng nghiên cứu 33
3.1.2 Giới tính của đối tượng nghiên cứu 34
3.1.3 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 34
3.1.4 Thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu 35
3.1.5 Vị trí công tác của đối tượng nghiên cứu 35
3.1.6 Phân bố số lượng người bệnh được điều trị/chăm sóc trung bình trong một ngày 36
3.2 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC 37
3.2.1 Kiến thức báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức 37
3.2.2 Thái độ báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức 41
3.2.3 Hành vi báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức 44
3.2.4 Tần suất báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện quận Thủ Đức 47
3.2.5 Một số yếu tố liên quan đến hành vi báo cáo y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quận Thủ Đức 49
3.2.6 Phân tích hồi quy đa biến về mối liên quan giữa hành vi báo cáo sự cố y khoa đúng với kiến thức, thái độ báo cáo sự cố y khoa và đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 52
3.3 RÀO CẢN ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA 54
Chương 4 BÀN LUẬN 58
Trang 64.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 58 4.2 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC 59 4.3 RÀO CẢN ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA 68 Chương 5 KẾT LUẬN 71 Chương 6 KHUYẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Phụ lục 1 PHIẾU ĐIỀU TRA VỀ BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA CỦA NHÂN VIÊN
Y TẾ 1 Phụ lục 2 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho Ban Giám đốc Bệnh viện Quận Thủ Đức) 6 Phụ lục 3 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp và Điều dưỡng Bệnh viện Quận Thủ Đức) 8 Phụ lục 4 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho Trưởng phòng Quản lý chất lượng Bệnh viện Quận Thủ Đức) 10 Phụ lục 5 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho Nhân viên chuyên trách quản lý sự cố - Phòng Quản lý chất lượng Bệnh viện Quận Thủ Đức) 12 Phụ lục 6 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho Trưởng Khối Nội, Ngoại, Hồi sức Bệnh viện Quận Thủ Đức) 14 Phụ lục 7 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU (Dành cho Bác sỹ, Điều dưỡng Bệnh viện Quận Thủ Đức) 16 Phụ lục 8 HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 18 Phụ lục 9 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 22 Phụ lục 10 QUY TRÌNH BÁO CÁO SỰ CỐ TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC 27 Phụ lục 11 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN 2
Trang 7ĐDT: Điều dưỡng trưởng
HSOPSC Hospital Survey on Patient Safety Culture
JCI: Joint Commission International
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại 6
Bảng 1.2 Danh mục các sự cố y khoa nghiêm trọng phải báo cáo 7
Bảng 1.3 Tổng kết các nghiên cứu về báo cáo sự cố y khoa trước đây 15
Bảng 1.4 Phân loại mức độ ảnh hưởng đến người bệnh của sự cố 21
Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.3 Thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu 35
Bảng 3.4 Vị trí công tác của đối tượng nghiên cứu 35
Bảng 3.5 Thái độ của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quận Thủ Đức về báo cáo sự cố y khoa năm 2017 41
Bảng 3.6 Hành vi của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức về báo cáo sự cố y khoa năm 2017 44
Bảng 3.7 Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017 47
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa hành vi báo cáo sự cố y khoa với một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 49
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa hành vi báo cáo sự cố y khoa với kiến thức chung về báo cáo sự cố y khoa của đối tượng nghiên cứu năm 2017 50
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa hành vi báo cáo sự cố y khoa với thái độ báo cáo sự cố y khoa của đối tượng nghiên cứu năm 2017 51
Bảng 3.11 Phân tích hồi quy đa biến về mối liên quan giữa hành vi báo cáo sự cố y khoa đúng với kiến thức, thái độ báo cáo sự cố y khoa và đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 52
Bảng 3.12 Rào cản đối với việc thực hiện báo cáo sự cố y khoa 54
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố giới tính của đối tượng nghiên cứu 34 Biểu đồ 3.2 Số lượng bác sỹ và điều dưỡng 36 Biểu đồ 3.3 Đặc điểm phân bố số lượng người bệnh được điều trị/chăm sóc trung bình trong 1 ngày 36 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quận Thủ Đức trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức báo cáo sự cố y khoa năm 2017 37 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quận Thủ Đức trả lời đúng các câu hỏi về sự cố bắt buộc phải báo cáo 39 Biểu đồ 3.6 Kiến thức chung về báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2017 40 Biểu đồ 3.7 Kiến thức chung về báo cáo sự cố y khoa của bác sỹ và điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2017 41 Biểu đồ 3.8 Thái độ chung của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quận Thủ Đức về báo cáo sự cố y khoa năm 2017 43 Biểu đồ 3.9 Thái độ chung của bác sỹ và điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quận Thủ Đức về báo cáo sự cố y khoa năm 2017 44 Biểu đồ 3.10 Hành vi chung của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức về báo cáo sự cố y khoa năm 2017 46 Biểu đồ 3.11 Hành vi chung của bác sỹ và điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức về báo cáo sự cố y khoa năm 2017 46 Biểu đồ 3.12 Báo cáo sự cố y khoa của bác sỹ và điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017 47 Biểu đồ 3.13 Đơn vị tiếp nhận sự cố y khoa được báo cáo tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017 48
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình các lớp hàng rào bảo vệ của hệ thống phòng ngừa sự cố 9 Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 17 Hình 1.3 Sơ đồ tổ chức bệnh viện quận Thủ Đức 19
Trang 111
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Sự cố y khoa là một sự việc xảy ra bất ngờ bao gồm chết hay chấn thương vật
lý, tâm lý nghiêm trọng, hoặc những việc dẫn đến rủi ro đối với người bệnh Một sự
cố y khoa sẽ hữu ích nếu được công khai, phân tích để từ đó rút kinh nghiệm nhằm không lặp lại lần sau Tuy nhiên, có nhiều rào cản ảnh hưởng lớn trong việc ghi nhận và báo cáo sự cố
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ, hành vi và một số rào cản trong báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2017” với 2 mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi báo cáo sự cố y khoa và tìm hiểu một số rào cản đối với việc thực hiện báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang,
kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 10,4% nhân viên y tế có kiến thức đúng về báo cáo sự cố; 88,4% nhân viên ủng hộ việc báo cáo sự cố; 25,7% nhân viên có hành vi đúng; 27% nhân viên
đã từng báo cáo từ 1 sự cố trở lên Bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều người lo sợ khi tham gia báo cáo (30,5%); trong đó thiếu sự phản hồi thông tin từ phòng Quản lý chất lượng là nổi trội hơn cả và nhóm bác sỹ có kiến thức đúng, có thái độ tích cực trong báo cáo cao hơn nhóm điều dưỡng nhưng lại có hành vi đúng về báo cáo sự cố thấp hơn Nhóm có thái độ tích cực về sự cố có hành vi đúng cao hơn so nhóm chưa
có thái độ tích cực (OR = 3,15; 95% CI = 1,93 – 5,15)
Từ đó, chúng tôi khuyến nghị cần tập huấn về kiến thức, mục đích, cách thức
và quy trình báo cáo sự cố, chỉnh sửa lại quy trình báo cáo sự cố, quy định rõ trách nhiệm của người báo cáo, tăng cường việc phản hồi thông tin từ phòng quản lý chất lượng, quy định cụ thể thời gian tiếp nhận, giải quyết và phản hồi thông tin cho từng loại sự cố
Trang 122
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự cố y khoa là sự việc không mong muốn, xảy ra bất ngờ và có thể dẫn tới tử vong hay chấn thương vật lý hoặc tâm lý nghiêm trọng đối với người bệnh [23] Sự
cố y khoa có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình cung cấp các dịch vụ
y tế từ khâu chẩn đoán điều trị và chăm sóc, đặc biệt khi mà các nhân viên thường xuyên bị áp lực do công việc và áp lực về tâm lý Vì vậy, sự cố y khoa không mong muốn là điều khó tránh và nhiều khi rất khó kiểm soát Khi sự cố y khoa xảy ra, cả người bệnh và người thầy thuốc đều là gặp bất lợi Đối với người bệnh sự cố y khoa
có thể gây ra các biến cố sức khỏe, gây ra khuyết tật tạm thời hay vĩnh viễn, thậm chí chết người [5]
Một cuộc điều tra của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh - Hoa Kỳ được Daniel R Levinson thực hiện vào năm 2010 trên 780 bệnh án cho thấy 13,5% bệnh nhân nội trú đã gặp phải các sự cố y khoa Trong các sự cố y khoa đó khoảng 49% sự cố có thể phòng ngừa được [16] Một số nghiên cứu khác cho thấy đa phần sự cố y khoa
là do phẫu thuật hoặc có liên quan đến phẫu thuật Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới ước tính hàng năm có khoảng 230 triệu ca phẫu thuật trong đó có 0,4% đến 0,8% trường hợp tử vong do sự cố y khoa và có từ 3% đến 16% bị các tai biến khác [10]; hay thống kê của Viện nghiên cứu Y học Mỹ và Úc gần 50% các sự cố y khoa xảy ra sau các ca phẫu thuật [29]
Hiện nay, sự cố y khoa là một vấn đề đáng quan tâm không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản nhằm hạn chế sự cố y khoa như các quy chế chuyên môn, quy chế bệnh viện, hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, chương trình và tài liệu đào tạo an toàn người bệnh Bên cạnh đó Luật Khám bệnh, chữa bệnh cũng
đã ghi rõ những điều khoản về quyền lợi của người bệnh khi khám, chữa bệnh [6] Tuy nhiên, vấn đề báo cáo sự cố y khoa cũng như những giải pháp phòng ngừa để bảo đảm an toàn người bệnh vẫn chưa được thực hiện tốt ở nhiều bệnh viện
Trang 133
Để phòng tránh được các sự cố y khoa, việc nhận diện sự cố, báo cáo sự cố, và học hỏi từ sự cố, sai sót, chú trọng xác định nguyên nhân gốc rễ vấn đề và có hoạt động thích hợp cải thiện cho tương lai là hết sức quan trọng
Sự cố y khoa có thể được giảm thiểu nếu được phát hiện, báo cáo kịp thời, phân tích và rút kinh nghiệm Tuy nhiên, rào cản chính đối với việc ghi nhận và báo cáo sự cố là nhận thức và tâm lý lo ngại bị buộc tội và trừng phạt ở nhân viên y tế Bệnh viện quận Thủ Đức là bệnh viện tuyến quận/huyện nhưng mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khám chữa bệnh trung bình khoảng 4.500 lượt bệnh nhân ngoại trú,
và khoảng 450 bệnh nhân điều trị nội trú Nhân viên y tế làm việc tại bênh viện luôn phải đối mặt với tình trạng bệnh viện bị quá tải, căng thẳng và cũng đã có một số sự
cố y khoa xảy ra Theo báo cáo năm 2016, bệnh viện đã tiếp nhận 88 báo cáo sự cố
y khoa Tuy nhiên số liệu này còn quá ít so với thực tế
Để có một cái nhìn khách quan về kiến thức, thái độ, hành vi và một số rào cản trong báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện quận Thủ Đức, nhằm cung cấp các bằng chứng khoa học phục vụ công tác quản lý bệnh viện nói chung và công tác đảm bảo an toàn người bệnh tại Bệnh viện Quận Thủ Đức nói riêng, chủ động phòng ngừa những sự cố, sai sót lặp lại, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ, hành vi và một số rào cản trong báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017” Qua kết quả nghiên cứu tác giả mong muốn đưa ra được những
giải pháp, đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng công tác báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện Quận Thủ Đức
Trang 144
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017;
2 Tìm hiểu một số rào cản đối với việc thực hiện báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017
Trang 15Theo tiêu chuẩn quốc tế Joint Commission International (JCI): Sự cố y khoa là
sự việc không mong muốn, xảy ra bất ngờ và có thể dẫn tới tử vong hay chấn thương vật lý hoặc tâm lý nghiêm trọng đối với người bệnh [23]
Hiện tại Bộ Y tế đang xây dựng Thông tư hướng dẫn quản lý sự cố y khoa trong các cơ sở khám chữa bệnh nhưng chưa được ban hành chính thức
1.2 PHÂN LOẠI SỰ CỐ Y KHOA
Tùy theo mục đích sử dụng mà có các cách phân loại sự cố y khoa khác nhau Các cách phân loại hiện tại bao gồm: Phân loại theo nguy cơ đối với người bệnh, phân loại theo báo cáo bắt buộc và phân loại theo đặc điểm chuyên môn [2]
Trang 166
1.2.1 Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại đối với người bệnh
Bảng 1.1 Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại
A Sự cố xảy ra có thể tạo ra lỗi/sai sót Không nguy hại
E Sự cố xảy ra trên người bệnh gây tổn hại sức
khỏe tạm thời đòi hỏi can thiệp chuyên môn
Nguy hại cho người bệnh
F Sự cố xảy ra trên người bệnh ảnh hưởng tới sức
khỏe hoặc kéo dài ngày nằm viện
G Sự cố xảy ra trên người bệnh dẫn đến tàn tật vĩnh
viễn
H Sự cố xảy ra trên người bệnh phải can thiệp để
cứu sống người bệnh
I Sự cố xảy ra trên người bệnh gây tử vong
1.2.2 Phân loại sự cố y khoa theo đặc điểm chuyên môn
Hiệp hội an toàn người bệnh Thế giới phân loại sự cố y khoa theo 6 nhóm sự
cố gồm: (1) sự cố y khoa do nhầm tên người bệnh, (2) sự cố y khoa do thông tin bàn giao của cán bộ y tế không đầy đủ, (3) do sai sót trong sử dụng thuốc, có thể xảy ra trong tất cả các công đoạn từ kê đơn, cấp phát thuốc, pha chế thuốc, sử dụng thuốc
và theo dõi sau dùng thuốc, (4) sự cố y khoa do nhầm lẫn liên quan tới phẫu thuật (nhầm vị trí, nhầm phương pháp, nhầm người bệnh), (5) do nhiễm khuẩn bệnh viện
và (6) là sự cố y khoa do người bệnh bị té ngã trong khi đang điều trị tại các cơ sở y
tế [2]
Trang 177
1.2.3 Phân loại theo báo cáo bắt buộc
Các sự cố y khoa nghiêm trọng bắt buộc phải báo cáo: (1) sự cố do phẫu thuật, thủ thuật, (2) sự cố do môi trường, (3) sự cố liên quan tới chăm sóc, (4) sự cố liên quan tới quản lý người bệnh, (5) sự cố liên quan tới thuốc và thiết bị và (6) sự cố liên quan tới tội phạm [2]
Bảng 1.2 Danh mục các sự cố y khoa nghiêm trọng phải báo cáo [16] 1) Sự cố do phẫu thuật, thủ thuật
- Phẫu thuật nhầm vị trí trên người bệnh
- Phẫu thuật nhầm người bệnh
- Phẫu thuật sai phương pháp trên người bệnh
- Sót gạc dụng cụ
- Tử vong trong hoặc ngay sau khi phẫu thuật thường quy
2) Sự cố do môi trường
- Bị shock do điện giật
- Bị bỏng trong khi điều trị tại bệnh viện
- Cháy nổ ôxy, bình ga, hóa chất độc hại
3) Sự cố liên quan tới chăm sóc
- Dùng nhầm thuốc (sự cố liên quan 5 đúng)
- Nhầm nhóm máu hoặc sản phẩm của máu
- Sản phụ chuyển dạ hoặc chấn thương đối với sản phụ có nguy cơ thấp
- Bệnh nhân bị ngã trong thời gian nằm viện
- Loét do tỳ đè giai đoạn 3-4 và xuất hiện trong khi nằm viện
- Thụ tinh nhân tạo nhầm tinh trùng hoặc nhầm trứng
- Không chỉ định xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh dẫn đến xử lý không kịp thời
- Hạ đường huyết
Trang 188
- Vàng da ở trẻ trong 28 ngày đầu
- Tai biến do tiêm/chọc dò tủy sống
4) Sự cố liên quan tới quản lý người bệnh
- Giao nhầm trẻ sơ sinh lúc xuất viện
- Người bệnh gặp sự cố y khoa ở ngoài cơ sở y tế
- Người bệnh chết do tự tử, tự sát hoặc tự gây hại
5) Sự cố liên quan tới thuốc và thiết bị
- Sử dụng thuốc bị nhiễm khuẩn, thiết bị và chất sinh học
- Sử dụng các thiết bị hỏng/thiếu chính xác trong điều trị và chăm sóc
- Đặt thiết bị gây tắc mạch do không khí
6) Sự cố liên quan tới tội phạm
- Do thầy thuốc, NVYT chủ định gây sai phạm
- Bắt cóc người bệnh
- Lạm dụng tình dục đối với người bệnh trong cơ sở y tế
1.3 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN SỰ CỐ Y KHOA
Theo tài liệu đào tạo An toàn người bệnh của Bộ Y tế có hướng dẫn cách thức phân tích nguyên nhân gây ra sự cố bằng phân tích nguyên nhân gốc với mô hình phân tích nguyên nhân sự cố theo Reason J Cathey
Theo tác giả Reason JT và công sự (2001) mô tả về mô hình pho mát Thụy Sĩ giải thích cách thức các sự cố xảy ra trong hệ thống Mô hình cho thấy lỗi ở một tầng của hệ thống chăm sóc sức khỏe thường chưa đủ để gây sự cố, nó là kết quả của nhiều tầng lớp bảo vệ khác nhau trong đó phân thành lỗi cá nhân và lỗi hệ thống [32]
Lỗi cá nhân hay còn gọi là lỗi hoạt động, là những người thuộc tầng phòng thủ cuối cùng trực tiếp chăm sóc, tiếp xúc người bệnh, và khi sự cố xảy ra họ thường bị
đổ lỗi Tuy nhiên thực tế cho thấy có nhiều lỗi cá nhân do hệ thống gây ra, và 80%
sự cố do lỗi hệ thống Lỗi hệ thống liên quan đến các qui trình, qui định của tổ
Trang 19Hình 1.1 Mô hình các lớp hàng rào bảo vệ của hệ thống phòng ngừa sự cố
Việc phân tích xác định nguyên nhân gốc không chỉ đơn giản là tìm kiếm lỗi
cá nhân mang tính triệu chứng mà phải loại bỏ các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn gián tiếp thúc đẩy sự cố xảy ra Việc phân tích nguyên nhân gốc và thực hiện các hành động khắc phục được coi là quá trình cải tiến liên tục của cơ sở y tế
1.4 BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA
Báo cáo sự cố y khoa là việc thu thập các thông tin từ bất kỳ sự việc nào đó có nguy cơ gây hại hoặc đã gây hại cho người bệnh Hệ thống báo cáo sự cố y khoa đóng vai trò cơ bản trong việc rút kinh nghiệm từ thực tiễn các sai sót, thất bại được ghi nhận lại trong các báo cáo sự cố, tăng cường an toàn người bệnh, ngăn chặn tình
Trang 20Để nâng cao nhận thức của nhân viên về các sự cố, sai sót, hoặc những nguy
cơ tiềm ẩn có rủi ro cao, Lãnh đạo bệnh viện cần xây dựng và duy trì môi trường khuyến khích mọi người báo cáo những sai sót, thừa nhận sai phạm, đưa ra ý kiến
và trao đổi ý kiến Khi nhân viên lo sợ bị trách phạt, họ ít khi báo cáo sai sót và như vậy cơ sở y tế mất một nguồn thông tin giá trị về an toàn cho người bệnh Và để tăng số lượng và chất lượng báo cáo sự cố, bệnh viện nên có phương cách bảo vệ người có liên quan khỏi các hình thức xử lý kỷ luật, cho phép báo cáo bí mật hoặc giấu tên người báo cáo, tách cơ quan thu thập, phân tích các báo cáo ra khỏi cơ quan
có thẩm quyền xử lý kỷ luật, cung cấp cho người báo cáo những thông tin phản hồi nhanh chóng, hữu ích, dễ hiểu; và đơn giản hóa qui trình báo cáo [9]
1.5 HẬU QUẢ CỦA SỰ CỐ Y KHOA
Hậu quả của các sự cố y khoa không mong muốn làm tăng gánh nặng bệnh tật, tăng ngày nằm viện trung bình, tăng chi phí điều trị, làm giảm chất lượng chăm sóc
y tế và ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin đối với cán bộ y tế và cơ sở cung cấp dịch vụ [2]
Theo tài liệu đào tạo liên tục an toàn người bệnh – Bộ Y tế do Nhà xuất bản Y học Hà Nội ban hành vào năm 2014 có thống kê tổng hợp về hậu quả của sự cố y khoa của các nghiên cứu trên thế giới [2]:
Tại Mỹ (Utah – Colorado): Các sự cố y khoa không mong muốn đã làm tăng chi phí bình quân cho việc giải quyết sự cố cho một người bệnh là 2262 USD và tăng 1,9 ngày điều trị/người bệnh Theo một nghiên cứu khác của Viện Y học Mỹ chi phí tăng 2595 USD và thời gian nằm viện kéo dài hơn 2,2 ngày/người bệnh [36]
Trang 21Tại Nhật Bản, theo số liệu của tòa án, bình quân mỗi ngày người dân kiện và đưa bệnh viện ra tòa từ 2 – 3 vụ Thời gian giải quyết các sự cố y khoa tại Nhật Bản trung bình 2 năm/vụ khiếu kiện [35]
Hiện tại, tác giả chưa tìm ra nghiên cứu nào thống kê những hậu quả do sự cố
y khoa gây ra tại Việt Nam
1.6 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN SỰ CỐ Y KHOA
Theo thống kê tại Canada hàng năm có 2,5 triệu người nhập viện và ước tính
có 185.000 người bệnh gặp sự cố y khoa Các chuyên gia y tế Mỹ ước tính ít nhất
có 44.000 đến 98.000 người bệnh tử vong trong các bệnh viện của Mỹ hàng năm do
sự cố y khoa Số người chết vì sự cố y khoa trong các bệnh viện của Mỹ cao hơn tử vong do tai nạn giao thông, ung thư vú, tử vong do HIV [14], [15], [17] Một sự cố, rủi ro xảy ra cho người bệnh gây ra những mất mát, đau thương cho người bệnh, gia đình người bệnh và gây những tổn thất về kinh tế là điều đau lòng, không ai mong muốn Các cuộc điều tra tại Mỹ vào cuối thế kỷ 20 cho thấy sự cố y khoa không thể được nhận diện và ngăn chặn vì nó không được báo cáo, các điều dưỡng ngại báo cáo sai sót của bản thân mình hay của người khác khi gặp phải sự cố vì thủ tục báo cáo rườm rà dẫn đến tâm lý ít thay đổi, sợ kiện cáo [22]
Trang 2212
Sự cố y khoa liên quan tới nhiễm khuẩn bệnh viện: WHO công bố nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) từ 5 – 15% người bệnh nội trú và tỷ lệ NKBV tại các khoa điều trị tích cực từ 9 – 37%; Tỷ lệ NKBV chung tại Mỹ chiếm 4,5% [28] Năm 2002, theo ước tính của CDC tại Mỹ có 1,7 triệu người bệnh bị NKBV, trong
đó 417.946 người bệnh NKBV tại các khoa hồi sức tích cực (24,6%) [27]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Vincent (1999) về lý do không báo cáo sự cố y khoa khi tiến hành điều tra thực nghiệm đối với 42 bác sỹ sản khoa và 156 nữ hộ sinh tại hai đơn vị sản khoa năm 1998 Hầu hết các nhân viên biết về sự cố và hệ thống báo cáo tại đơn vị Nữ hộ sinh báo cáo sự cố cao hơn so với các bác sỹ, và nhân viên báo cáo sự cố nhiều hơn cấp lãnh đạo Những lý do chính cho việc không báo cáo cũng lo ngại bị đổ lỗi, khối lượng công việc cao và niềm tin (mặc dù vụ việc đã được chỉ định là phải báo cáo) [13]
Nghiên cứu của tác giả Albert (2000) về sự cần thiết giúp đỡ nhân viên y tế gây ra sự cố cho thấy rào cản đối với báo cáo sự cố: sợ bị phát hiện, sợ bị trừng phạt, đồng nghiệp chỉ trích, đổ lỗi cho người khác, sợ bị tổn thương, im lặng, bị lên
án trong các cuộc họp [12]
Nghiên cứu về thái độ và rào cản đối với báo cáo sự cố y khoa từ năm 2001 đến 2003 của tác giả Evans chỉ ra rằng, điều dưỡng có trên 5 năm kinh nghiệm đã từng hoàn thành báo cáo sự cố cao hơn những người thâm niên công tác dưới 5 năm, bác sỹ có thời gian công tác dưới 5 năm báo cáo sự cố nhiều hơn bác sỹ trên 5 năm kinh nghiệm Và lãnh đạo báo cáo sự cố ít hơn nhân viên [20]
Một cuộc điều tra 186 bác sỹ và 587 điều dưỡng về thái độ của bác sỹ và điều dưỡng ở Nam Úc của tác giả Kingston MJ1 và cộng sự năm 2004 bằng phương pháp định tính cho thấy hầu hết các bác sỹ và điều dưỡng (98,3%) biết rằng bệnh viện của họ có một hệ thống báo cáo sự cố Điều dưỡng biết làm thế nào để truy cập báo cáo chiếm tỉ lệ 88,3%, trong khi bác sỹ là 43%; đã từng hoàn thành một báo cáo
ở điều dưỡng là 89,2% và bác sỹ là 64,4%; và biết phải làm gì với báo cáo hoàn thành nhóm điều dưỡng cũng chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm bác sỹ với tỉ lệ lần lượt là
Trang 23lo sợ bị chú ý, nguy cơ bị khiển trách [30]
Một điều tra về báo cáo các sự cố y khoa để nâng cao an toàn cho người bệnh của tác giả Kaldjian và cộng sự năm 2008 thực hiện trên 338 bác sỹ nội trú cho thấy hầu hết đồng ý báo cáo sự cố để cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân trong tương lai chiếm tỉ lệ (84,3%), 73% là tỉ lệ báo cáo các sai sót nhỏ, 92% là tỉ lệ báo cáo các sai sót gây tổn hại đến bệnh nhân Tuy nhiên thực tế cho thấy chỉ 17,8% người trả lời đã từng báo cáo các sai sót nhỏ (kết quả điều trị kéo dài hoặc khó chịu), 3,8% báo cáo các sai sót nghiêm trọng (dẫn đến khuyết tật hoặc tử vong) Có tới 54,8% biết được làm thế nào để báo cáo và 39,5% biết được các lỗi cần báo cáo [25]
Một nghiên cứu tại Bệnh vện đa khoa Hàn Quốc của tác giả Jee – In Hwang, Sang – IL Lee và cộng sự năm 2012 về các rào cản đối với hoạt động báo cáo sự cố
y khoa cho thấy rào cản đối với báo cáo sự cố bao gồm không đảm bảo về vấn đề bảo mật, thiếu chia sẻ thông tin giữa các bộ phận liên quan, thiếu khả năng tiếp cận báo cáo (trong các ngày nghỉ), cũng như khiếm khuyết của qui trình báo cáo (liên quan nhiều bộ phận), và khả năng sử dụng hệ thống báo cáo [24]
Nghiên cứu định tính của tác giả Adriana Parrella và cộng sự năm 2013 về báo cáo tác dụng phụ sau tiêm chủng tại Úc cho thấy trở ngại đối với báo cáo bao gồm các ràng buộc thời gian và qui trình báo cáo không đạt yêu cầu, không biết làm thế nào để báo cáo, các định nghĩa không rõ ràng, sự nhầm lẫn ở người có trách nhiệm báo cáo [11]
Trang 2414
Một cuộc điều tra của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh về sự cố y khoa không mong muốn trên 89 điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cai Lậy tỉnh Tiền Giang năm 2008 đến năm 2010 cho thấy các sự cố y khoa không mong muốn liên quan đến thuốc chiếm tỉ lệ 30,42%; sự cố liên quan cận lâm sàng chiếm tỉ lệ 12,54%; rủi ro nghề nghiệp chiếm tỉ lệ 16,03%, chuyên khoa ngoại sản chiếm tỉ lệ 7,61% và các sự cố y khoa khác chiếm tỉ lệ là 33,4% [4]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Yến năm 2015, điều tra 271 nhân viên và kết quả cho thấy rằng 12% có kiến thức chung đúng về báo cáo sự cố
và những người có kiến thức đúng đã từng báo cáo sự cố cao gấp 3,3 lần những người có kiến thức chưa đúng Đa số nhân viên ủng hộ báo cáo sự cố 68,3%, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người lo sợ khi tham gia báo cáo sự cố 60,9%, nhóm kỹ thuật viên có thái độ lo sợ cao hơn bác sỹ [9]
Các nghiên cứu trên về báo cáo sự cố cho thấy báo cáo dẫn đến những cải tiến đáng kể về an toàn thông qua các cuộc điều tra có hệ thống các sự cố từ đó nhân viên hiểu và sửa chữa những thất bại của họ Tuy nhiên, trong khi một số tổ chức thành công trong việc xây dựng hệ thống báo cáo, thì những tổ chức khác lại gặp nhiều khó khăn Lý do hệ thống báo cáo không thành công rất nhiều và đa dạng Về
cơ bản sợ trách nhiệm và trả thù, cảm giác tội lỗi, sợ hành động trừng phạt, văn hóa
an toàn kém trong một tổ chức, thiếu sự hiểu biết giữa các bác sỹ về những gì cần được báo cáo, thiếu hiểu biết về cách thức báo cáo và làm thế nào báo cáo dẫn đến những thay đổi để cải thiện an toàn người bệnh Đặc biệt, thiếu hệ thống phân tích các báo cáo và thông tin phản hồi trực tiếp với các bác sỹ được xem là rào cản lớn đối với sự tham gia của lâm sàng Báo cáo sự cố được đánh giá như là một phần quan trọng trong khuôn khổ quản lý rủi ro của mỗi bệnh viện
Trang 2515
Bảng 1.3 Tổng kết các nghiên cứu về báo cáo sự cố y khoa trước đây
trên thế giới và trong nước
TT TÊN NGHIÊN CỨU TÁC GIẢ Yếu tố tác động
1 Lý do không báo cáo sự cố
(nghiên cứu thực nghiêm)
Vincent (1999) - Kiến thức
- Thái độ
- Niềm tin
2 Rào cản đối với báo cáo sự cố Albert (2000) - Rào cản
3 Thái độ và rào cản đối với báo
cáo sự cố
Evans và cộng sự (2001 – 2003)
- Kiến thức
- Thái độ
- Rào cản
- Đặc điểm cá nhân: chức danh nghề nghiệp, thâm niên, chức vụ
4 Thái độ của bác sỹ và điều
dưỡng về báo cáo sự cố y khoa
Kingston và cộng
sự (2004)
- Kiến thức
- Thái độ
5 Thái độ của bác sỹ và điều
dưỡng về báo cáo sự cố y khoa
7 Rào cản hoạt động của hệ
thống báo cáo sự cố y khoa tại
bệnh viện đa khoa Hàn Quốc
Trang 2616
8 Kiến thức, kinh nghiệm và rào
cản của báo cáo sự cố sau tiêm
9 Nghiên cứu phân tích hành vi
báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh
viện Từ Dũ
Nguyễn Thị Kim Yến (2015)
Trang 2717
1.7 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là hành vi báo cáo sự cố và các biến độc lập ảnh hưởng đến ý định báo cáo Bên cạnh các yếu tố kiến thức, thái độ, hành
vi nghiên cứu còn xem xét những rào cản ảnh hưởng đến hành vi báo cáo và các yếu tố khác có khả năng ảnh hưởng đến ý định báo cáo như đặc điểm đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, chức vụ, chức danh nghề nghiệp, …)
Rào cản
Trang 2818
1.8 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC
Thủ Đức sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 là một trong 6 huyện ngoại thành, nằm ở phía Đông – Bắc thành phố Hồ Chí Minh Năm 1997, huyện Thủ Đức được phân chia thành 3 quận gồm: quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức theo Nghị định 03/1997/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 06 tháng 01 năm 1997 Quận Thủ Đức mới có diện tích 4.726,5 ha diện tích tự nhiên và 510.779 nhân khẩu, có địa giới hành chính giáp Quận 9, Quận 12; tỉnh Bình Dương Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong và ngoài quận, Bệnh viện Quận Thủ Đức được thành lập trên cơ sở tách ra từ Trung tâm y tế của quận theo quyết định số 32/2007/QĐ-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh
Bệnh viện Quận Thủ Đức nằm ở của ngõ phía Đông Bắc của thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở tách ra từ Trung tâm Y tế Quận Thủ Đức theo quyết định số 32/2007/QĐ-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2007 của UBND Thành phố, với diện tích 12.400m2 nằm ở vị trí trung tâm của phường Tam Phú, quận Thủ Đức Nơi tập trung đông dân cư của quận Với quy mô hoạt động 50 giường bệnh, 3 phòng chức năng và 4 khoa (Khoa Cấp cứu, Khoa Khám bệnh, Khoa Nội và Khoa Sản) tổng nhân sự vào thời điểm thành lập 99 người trong đó có 17 bác sỹ, 82 nhân viên và bệnh viện chưa được xếp hạng Mỗi ngày cấp cứu khoảng 20 lượt, khám bệnh khoảng 200 lượt và điều trị nội trú khoảng 10 lượt/ngày
Ngày 05/6/2009, Bệnh viện được UBND Thành phố xếp loại Bệnh viện Hạng
II theo quyết định số 2855/QĐ-UBND
Sau 7 năm hoạt động, vào ngày 12 tháng 11 năm 2014, Bệnh viện Quận Thủ Đức được UBND Thành phố xếp hạng I theo quyết định số 5563/QĐ-UBND Với qui mô 800 giường, thực hiện trên 4000 lượt người bệnh ngoại trú/ ngày, đội ngũ nhân sự 1394 người (số liệu cập nhật 31/9/2016)
Trang 2919
Bệnh viện đã đạt được giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn TCVN ISO 9001: 2008 vào năm 2013 và đạt 4.0 theo Bộ tiêu chí đánh giá
chất lượng bệnh viện (Kết quả đánh giá của Sở Y tế TP HCM năm 2016)
Hình 1.3 Sơ đồ tổ chức bệnh viện quận Thủ Đức
Hiện tại, Bệnh viện hoạt động theo khối (07 khối), gồm có 09 phòng, 37 khoa
và hơn 100 phòng khám trên toàn địa bàn quận Thủ Đức
Bệnh viện Quận Thủ Đức đang nỗ lực cố gắng xây dựng bệnh viện với định
hướng:
- Bệnh viện đa khoa chuyên sâu hoàn chỉnh;
- Mô hình bệnh viện Viện – Trường;
- Quản lý chất lượng toàn diện
Trang 3020
Bệnh viện quận Thủ Đức dần khẳng định năng lực khám chữa bệnh của Bệnh viện cửa ngõ tuyến Thành phố, phục vụ khám chữa bệnh cho người dân địa bàn Quận Thủ Đức và tỉnh lân cận
Quy trình báo cáo sự cố bệnh viện Quận Thủ Đức (Phụ lục 10):
Cuối năm 2013, Bệnh viện Quận Thủ Đức đã xây dựng và ban hành qui trình báo cáo sự cố và được bổ sung, chỉnh sửa lại vào tháng 7 năm 2016 với mục đích ghi nhận bằng hồ sơ, điều tra, phân tích, theo dõi và xác định xu hướng của tất cả các sự cố và tình huống xung quanh những sự cố để quản lý sự cố một cách phù hợp
và kịp thời, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị và sự an toàn cho người bệnh
Khi có sự cố xảy ra, nhân viên tại các phòng/khoa nhận biết hoặc phát hiện sự
cố có trách nhiệm báo cáo ngay với điều dưỡng trưởng hoặc người quản lý tại các phòng/khoa Điều dưỡng trưởng hoặc người quản lý các phòng/khoa báo cáo sự cố bằng điện thoại hoặc theo mẫu “phiếu báo cáo sự cố” gửi về phòng Quản lý chất lượng trong vòng 24 hoặc 72 giờ tùy theo mức độ ảnh hưởng đến người bệnh của sự
cố (sự cố từ mức 0 – 3a: trong vòng 72 giờ, sự cố từ mức 3b – 5: trong vòng 24 giờ sau khi xảy ra sự cố) [1]
Trang 3121
Bảng 1.4 Phân loại mức độ ảnh hưởng đến người bệnh của sự cố y khoa[1]
trên người bệnh
Ảnh hưởng sức khỏe
(nhất thời)
Phải điều trị, (còn phục hồi được)
viễn)
Di chứng , không phục hồi
Nhân viên chuyên trách quản lý sự cố phòng Quản lý chất lượng liên hệ với điều dưỡng trưởng hoặc người quản lý tại các phòng/khoa có sự cố tìm hiểu nguyên nhân và xử lý trong vòng 24 giờ đối với sự cố từ mức 0 – 3a và giải quyết ngay đối với sự cố từ mức 3b – 5 Nếu sự cố liên quan đến nhiều khoa/phòng, ngoài khả năng
xử lý của nhân viên chuyên trách quản lý sự cố thì được báo lên Hội đồng Quản lý chất lượng bệnh viện hoặc Ban Giám đốc bằng hình thức trực tiếp hoặc thông qua
hệ thống điện thoại để thảo luận, xin ý kiến chỉ đạo
Nhân viên chuyên trách quản lý sự cố phòng Quản lý chất lượng phối hợp với lãnh đạo phòng/khoa xảy ra sự cố triển khai các phương án giải quyết Sau khi tiến hành các hành động khắc phục sự cố, phòng Quản lý chất lượng cập nhật sự cố vào
Trang 3222
sổ tổng hợp sự cố Sau đó cập nhật tình hình sự cố cho các khoa/phòng vào mỗi cuối tháng Họp và rút kinh nghiệm cho các phòng/khoa khác [1]
Trang 3323
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
Các bác sỹ, điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức
Tiêu chuẩn lựa chọn: Bao gồm các bác sỹ điều trị và điều dưỡng chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàng bệnh viện quận Thủ Đức, đã được ký hợp đồng làm việc chính thức, đồng ý tham gia nghiên cứu và hoàn thành đầy đủ biểu mẫu nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Bác sỹ, điều dưỡng đang thử việc, đang đi học dài hạn, nghỉ phép dài hạn, nghỉ thai sản tại thời điểm khảo sát hoặc không hoàn thành biểu mẫu nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
Các nhà lãnh đạo, quản lý bệnh viện và nhân viên y tế
Đối tượng được chọn tham gia nghiên cứu:
- Phỏng vấn sâu:
+ Ban Giám đốc;
+ Trưởng Phòng Kế hoạch tổng hợp;
+ Trưởng phòng Điều dưỡng;
+ Trưởng Phòng Quản lý chất lượng;
+ Nhân viên chuyên trách quản lý sự cố phòng quản lý chất lượng;
+ Trưởng các khối Nội, Ngoại, Hồi sức cấp cứu;
+ Bác sỹ và điều dưỡng trực tiếp tham gia điều trị và chăm sóc người bệnh các khối Nội, Ngoại, Hồi sức cấp cứu;
Trang 3424
- Thảo luận nhóm: Với thành viên chuyên trách mạng lưới quản lý chất lượng trực thuộc tất cả các khoa lâm sàng
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02/2017 đến 5/2017
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện quận Thủ Đức
2.3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
- Nghiên cứu định lượng nhằm điều tra thực trạng kiến thức, thái độ, hành
vi và rào cản về báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh
viện quận Thủ Đức năm 2017
- Nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu thêm một số rào cản đối với việc thực hiện quy định báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2017
2.4 CỠ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
2.4.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ Mẫu được chọn là tất cả các nhân viên y tế tại 26 khoa lâm sàng của Bệnh viện quận Thủ Đức, có 747 người
đủ điều kiện chọn vào mẫu nghiên cứu
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định tính
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích đối với phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Phỏng vấn sâu có 14 người đại diện cho bệnh viện, các phòng/khoa, trong đó:
- Ban Giám đốc: 01 người;
- Trưởng Phòng Kế hoạch tổng hợp: 01 người;
Trang 3525
- Trưởng phòng Điều dưỡng: 01 người;
- Trưởng Phòng Quản lý chất lượng: 01 người
- Nhân viên chuyên trách quản lý sự cố phòng quản lý chất lượng: 01 người
- Trưởng các khối Nội, Ngoại, Hồi sức cấp cứu: 03 người
- Chọn ngẫu nhiên bác sỹ và điều dưỡng trực tiếp tham gia điều trị và chăm sóc người bệnh các khối Nội, Ngoại, Hồi sức cấp cứu: 06 người
Để nội dung thảo luận có trọng tâm, nhóm thảo luận được chọn với 26 thành viên chuyên trách mạng lưới quản lý chất lượng trực thuộc tất cả các khoa lâm sàng (01 cuộc)
2.5 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
2.5.1 Biến số nghiên cứu định lượng
(Đính kèm phụ lục số 9)
2.5.2 Thang đo nghiên cứu định lượng
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang đo Likert để đánh giá thái độ
và hành vi của đối tượng nghiên cứu Thang đo Likert bao gồm một câu hỏi đóng với 05 mức độ lựa chọn dựa vào vấn đề bằng cách cho điểm vấn đề [19]
I
Hoàn toàn không đồng ý
Không bao giờ báo cáo
Hoàn toàn không ảnh hưởng
Trang 36Luôn luôn báo cáo
Hoàn toàn ảnh hưởng
Trang 3727
- Thái độ chưa tích cực/ hành vi chưa đúng khi điểm trung bình của thang đo thái độ/ hành vi đạt: < 3,41 điểm (tương đương với mức I, mức II hoặc mức III) [3]
2.5.3 Chỉ số nghiên cứu định lượng
Đánh giá kiến thức chung, thái độ chung và hành vi chung đến báo cáo sự cố y khoa dựa trên bộ câu hỏi được lượng hóa bằng cách cho điểm
Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá:
- Kiến thức chung: là kiến thức tổng hợp của kiến thức về báo cáo sự cố y khoa Tổng điểm kiến thức là 15 điểm (mỗi câu trả lời đúng được cho 1 điểm) Dựa vào cách tính điểm cắt đoạn 75% trên tổng số điểm của mỗi đối tượng nghiên cứu
có được Kiến thức đúng khi tổng điểm kiến thức chung ≥ 11,25 điểm (≥ 75%) và kiến thức chưa đúng khi tổng điểm kiến thức chung < 11,25 điểm (<75%) [9]
- Thái độ chung về báo cáo sự cố y khoa được chia thành 2 nhóm: Thái độ tích cực và thái độ chưa tích cực Các biến số bao gồm 5 giá trị như sau: hoàn toàn không đồng ý, không đồng ý, không ý kiến, đồng ý, hoàn toàn đồng ý Mỗi thái độ
có 1 lựa chọn Thái độ tích cực khi tổng điểm thái độ chung có điểm trung bình ≥ 3,41 điểm và thái độ chưa tích cực khi tổng điểm thái độ chung có điểm trung bình
< 3,41 điểm [3]
- Hành vi chung về báo cáo sự cố y khoa được chia thành 2 nhóm: hành vi đúng và hành vi chưa đúng Các biến số bao gồm 5 giá trị như sau: không bao giờ báo cáo, hiếm khi báo cáo, đôi khi báo cáo, thường xuyên báo cáo, và luôn luôn báo cáo Mỗi hành vi có 1 lựa chọn Hành vi đúng khi tổng điểm hành vi chung có điểm trung bình ≥ 3,41 điểm và hành vi chưa đúng khi tổng điểm hành vi chung có điểm trung bình < 3,41 điểm [3]
2.5.4 Biến số nghiên cứu định tính
Một số rào cản ảnh hưởng đến việc triển khai và thực hiện quy định báo cáo
sự cố y khoa tại Bệnh viện quận Thủ Đức:
- Quy trình báo cáo sự cố;
- Tâm lý báo cáo sự cố;
Trang 3828
- Quản lý, phân tích và phản hồi báo cáo sự cố;
- Áp lực công việc;
2.6 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng
Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi tự điền được thiết kế bởi nhóm nghiên cứu Bộ câu hỏi điều tra được xây dựng dựa trên quy trình báo cáo sự cố của bệnh viện Quận Thủ Đức, tài liệu đào tạo an toàn người bệnh của Bộ Y tế và bộ câu hỏi HSOPSC của AHRQ chuẩn hóa sang tiếng Việt để áp dụng cho các bệnh viện trong thành phố Hồ Chí Minh về điều tra văn hóa an toàn người bệnh - HSOPSC-VN
2015 và tham khảo ý kiến chuyên gia Bộ câu hỏi được thử nghiệm trước khi được
áp dụng chính thức với sự tham gia của 70 nhân viên thuộc các khoa lâm sàng nhằm điều chỉnh bộ câu hỏi dễ hiểu, phù hợp với đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu chính thức được thực hiện sau khi bộ câu hỏi đã được hiệu chỉnh lại với ngôn ngữ rõ ràng,
đễ hiểu theo góp ý của các thành viên tham gia thử nghiệm bộ câu hỏi Như vậy, bộ câu hỏi hoàn thiện bao gồm 6 phần với 56 câu hỏi (Phần A: Thông tin cá nhân đối tượng tham gia nghiên cứu, với 6 câu hỏi; phần B: Kiến thức về báo cáo sự cố, với
15 câu hỏi; phần C: Thái độ về báo cáo sự cố, với 18 câu hỏi; phần D: Rào cản về báo cáo sự cố, với 12 câu hỏi, phần E: Hành vi về báo cáo sự cố, với 03 câu hỏi; phần F: Tần suất báo cáo sự cố, với 02 câu hỏi)
Điều tra viên được chọn là 3 nhân viên Phòng Quản lý chất lượng bệnh viện quận Thủ Đức được tập huấn kỹ năng giao tiếp, phát vấn giúp đối tượng nghiên cứu trả lời vào phiếu điều tra tự nhiên, trung thực
Tập huấn nhóm thu thập số liệu:
- Nêu rõ mục đích nghiên cứu
- Thái độ khi tiến hành thu thập số liệu: cần nhẹ nhàng, tỏ rõ thái độ tôn trọng đối tượng, tạo sự an tâm, tin tưởng
- Cách tiến hành chọn đối tượng nghiên cứu
- Hướng dẫn đối tượng nghiên cứu trả lời phát vấn
Trang 3929
Kỹ thuật thu thập số liệu: Điều tra viên phát phiếu điều tra cho bác sỹ và điều dưỡng viên tự điền vào phiếu điều tra và nộp lại sau đó (phiếu điều tra không ghi họ tên, thông tin cá nhân của bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên) Điều tra viên không được gợi ý câu trả lời, không tỏ cử chỉ thái độ, hành vi khiến đối tượng nghiên cứu ngại ngần khi trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn
Địa điểm phát vấn: Văn phòng khoa của đối tượng nghiên cứu, đảm bảo tính riêng tư và bí mật thông tin
Giám sát viên nghiên cứu: Gồm nghiên cứu viên và Trưởng Phòng Quản lý chất lượng Bệnh viện quận Thủ Đức Các giám sát viên cùng tham gia lớp tập huấn với các điều tra viên để nắm vững nội dung, phương pháp phát vấn
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính
Công cụ thu thập số liệu: Hướng dẫn phỏng vấn sâu và hướng dẫn thảo luận nhóm được xây dựng bởi nhóm nghiên cứu
Kỹ thuật thu thập số liệu:
2.6.2.1 Phỏng vấn sâu: Dựa trên hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 2, 3, 4, 5,
6, 7)
2.6.2.2 Thảo luận nhóm: Dựa trên hướng dẫn thảo luận nhóm (Phụ lục 8)
Toàn bộ đối tượng nghiên cứu được giải thích mục đích của buổi thảo luận nhóm và tự nguyện tham gia;
Nghiên cứu viên và nhóm điều tra thống nhất nội dung, hướng dẫn thảo luận, cách thức tiến hành thảo luận trước khi thực hiện
Nội dung thảo luận: Thực hiện theo bộ câu hỏi hướng dẫn được thiết kế sẵn Điều hành thảo luận nhóm là nghiên cứu viên
Nội dung cuộc thảo luận nhóm được thư ký là nhân viên phòng Quản lý chất lượng ghi lại và được thông qua trước khi kết thúc buổi thảo luận
Trang 4030
2.7 PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ, XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
2.7.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng
Nghiên cứu viên tiến hành kiểm tra toàn bộ số phiếu, xem đối tượng nghiên cứu đã điền đủ thông tin chưa
Sử dụng phương pháp làm sạch số liệu, loại bỏ những phiếu điều tra điền không đầy đủ
Các số liệu thu thập được quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1
Thống kê mô tả nhằm xác định tỷ lệ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quận Thủ Đức có kiến thức đúng về báo cáo sự cố, thái độ tích cực hay chưa tích cực, hành vi đúng hay chưa đúng, tần suất báo cáo và mức độ ảnh hưởng của những rào cản đến việc thực hiện báo cáo sự cố y khoa của đối tượng tham gia nghiên cứu Qua đó nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích đơn biến bằng phép kiểm định (Chi)2, Fisher chính xác nhằm xác định các yếu tố liên quan đến hành vi báo cáo sự cố và những rào cản trong việc thực hiện quy định báo cáo
sự cố của nhân viên y tế tại 26 khoa lâm sàng Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu còn
sử dụng phương pháp kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập, dựa vào giá trị hệ số phóng đại phương sai Vif để xác định sự đa công tuyến giữa các biến độc lập và nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến logistic để xác định các yếu tố liên quan đến hành vi báo cáo sự cố của đối tượng tham gia nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng các công cụ tính toán và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 [7]
Các đồ thị, biểu đồ được vẽ tự động bằng phần mềm SPSS 16.0 và Microsoft Excel 2010 [7]
2.7.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm, gỡ băng và phân tích theo phương pháp phân tích nội dung