Nghiên cứu nhằm xác định một số yếu tố liên quan tới thực hành tuân thủ nguyên tắc điều trị lao của các bệnh nhân lao phổi được quản lý và điều trị tại phòng khám lao quận Hai Bà Trưng,
Trang 1Tình hình bệnh lao trên thế giới trong những năm gần đây đã có xu hướng quay trở lại và trầm trọng lên Việc tuân thủ đúng các nguyên tắc điều trị (NTĐT) lao là điều kiện quyết định kết quả điều trị, giảm tình trạng kháng thuốc Nghiên cứu nhằm xác định một số yếu tố liên quan tới thực hành tuân thủ nguyên tắc điều trị lao của các bệnh nhân lao phổi được quản lý và điều trị tại phòng khám lao quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang Chọn mẫu toàn bộ, số liệu được thu thập trên 174 bệnh nhân lao phổi, sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc đã được thiết kế sẵn Kết quả cho thấy, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu chưa tuân thủ đúng nguyên tắc còn cao (36,2%) Có mối liên quan giữa việc tuân thủ các nguyên tắc với các yếu tố như: trình độ học vấn, nghề nghiệp, sự động viên nhắc nhở của người thân, sự hiểu biết tốt về các nguyên tắc điều trị, và sự giám sát điều trị của cán bộ y tế Lý do bệnh nhân đưa ra để giải thích cho việc không tuân thủ điều trị (TTĐT) là khác nhau với các NTĐT, chủ yếu là do mệt, sợ tác dụng phụ, quên, đi vắng, bận, không kịp đến lấy thuốc Cần tăng cường kiến thức, tư vấn kỹ cho bệnh nhân, động viên người nhà tham gia hỗ trợ tăng cường TTĐT
Từ khóa: Yếu tố liên quan, tuân thủ điều trị, lao
Associated factors on TB treatment adherence among pulmonary tuberculosis patients at Hai Ba Trung District TB clinic, Ha Noi
Uong Thi Mai Loan (*); Ho Thi Hien (**), Vu Thi Tuong Van (***)
In recent years, the global tuberculosis (TB) situation has been getting worse The treatment adherence of TB is the most important factor to the effectiveness of treatment, and in reducing drug resistance This paper identifies some associated factors on the treatment adherence of pulmonary
TB patients at Hai Ba Trung TB clinic, Ha Noi Cross sectional design was employed, and all pulmonary tuberculosis patients (174) were selected for interview, using a structured questionnaire Results show that there is still a relatively high percentage of patients (36.2%) with failure of adherence of TB treatment principles There is a statistical association between TB treatment adherence and level of education, occupation, the encouragement of family members, awareness on the TB treatment adherence, and observation by the health staff Reasons for not implementing the adherence of treatment principles were tiredness, being afraid of side effects, drug dose missing,
Một số yếu tố liên quan với thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân lao phổi tại phòng khám
lao quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Uông Thị Mai Loan (*),Hồ Thị Hiền (**), Vũ Thị Tường Văn (***)
Trang 2being busy, and failure to get dispensed drugs from clinic There is a need to provide increased awareness, proper counseling to patients, and to encourage family members to participate in the treatment process for improving adherence among TB patients
Keywords: Association, associated factors, TB, tuberculosis, treatment adherence
Tác giả:
(*) BS Uông Thị Mai Loan: Bệnh viện Phổi Hà Nội.
(**) TS Hồ Thị Hiền: Bộ môn Dịch tễ - Thống kê, Trường Đại học Y tế công cộng Địa chỉ: 138 Giảng Võ
- Ba Đình - Hà Nội E.mail: hth1@hsph.edu.vn
(***) TS Vũ Thị Tường Văn: Khoa Vi sinh - Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội.
1 Đặt vấn đề
Tình hình bệnh lao trên thế giới trong những
năm gần đây đã có xu hướng quay trở lại và trầm
trọng lên Trên thế giới hiện nay có khoảng 2,2 tỷ
người đã nhiễm lao (chiếm 1/3 dân số thế giới) [1]
Có khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% số người
chết do lao ở các nước có thu nhập vừa và thấp, 75%
số bệnh nhân ở độ tuổi lao động
Mặc dù vắc-xin BCG đã được đưa vào chương
trình tiêm chủng mở rộng, chương trình chống lao
triển khai đến tuyến xã đảm bảo phát hiện và tổ
chức quản lý theo chiến lược điều trị ngắn ngày có
kiểm soát trực tiếp (DOTS) của Tổ chức Y tế Thế
giới với độ bao phủ hơn 99% dân số, Việt Nam vẫn
đứng thứ 12 trong 22 quốc gia có tỷ lệ lao cao trên
thế giới Hàng năm cả nước xuất hiện khoảng
150.000 bệnh nhân lao mới (tương đương với
173/100.000 dân), tỷ lệ hiện mắc các thể lao là
225/100.000 dân Số người chết do lao khoảng
20.000 (23/100.000 dân) [2] Bên cạnh đó, tỷ lệ
kháng thuốc ở mức báo động cao [5], chiếm 32,5%,
chỉ đứng sau Thái Lan (36,6%), Latvia (34%) và
Cộng hòa Dominica (40,6%) [7] Song hành với lao
là đại dịch HIV làm trầm trọng thêm tình trạng
nhiễm lao và hiệu quả điều trị của hai bệnh này Vì
thời gian điều trị lao thường kéo dài, cho nên TTĐT
lao còn gặp nhiều khó khăn Việc tuân thủ đúng các
nguyên tắc điều trị (NTĐT) lao là điều kiện quyết
định kết quả điều trị, giảm tình trạng kháng thuốc
Phòng khám lao thuộc quận Hai Bà Trưng là
một quận nội thành có số bệnh nhân lao nhiều nhất
thành phố, tỷ lệ mắc lao cao nhất thành phố Hà Nội
[1] Mỗi năm phòng khám này thu nhận khoảng 300
bệnh nhân lao Tỷ lệ tái phát và thất bại khá cao so
với tỷ lệ chung của toàn quốc, chiếm 13,8%, tỷ lệ
điều trị khỏi năm 2009 ở đây chỉ đạt 78% Trong khi đó, mục tiêu chương trình chống lao Hà Nội là đạt tỷ lệ khỏi trên 90% Qua sổ sách và đánh giá sơ bộ về tình hình tuân thủ các NTĐT bệnh lao ở đây cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân không làm đủ xét nghiệm đờm trong điều trị lao phổi là 12%, không lĩnh đủ thuốc là 16% Việc điều trị lao còn gặp nhiều khó khăn chủ yếu là do bệnh nhân chưa tuân thủ điều trị (TTĐT) đúng Thông tin về tình hình thực hiện NTĐT của bệnh nhân lao tại phòng khám còn chưa được ghi nhận đầy đủ, đặc biệt là về những yếu tố liên quan đến việc tuân thủ NTĐT
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định một số yếu tố liên quan tới thực hành tuân thủ nguyên tắc điều trị lao của các bệnh nhân lao phổi được quản lý và điều trị tại phòng khám lao quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
2 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang Chọn mẫu toàn bộ, số liệu được thu thập trên 174 bệnh nhân lao phổi, sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc đã được thiết kế sẵn
Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân lao phổi được thu nhận quản lý, điều trị tại phòng khám lao Hai Bà Trưng kể từ tháng 1/2009 đến 12/2009 đáp ứng được các tiêu chuẩn sau: 1/ Từ 15 tuổi trở lên; 2/ Bệnh nhân đăng ký điều trị tại phòng khám thu nhận từ tháng 1-12/2009; 3/Có đủ điều kiện sức khỏe để tham gia phỏng vấn
3 Kết quả 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Có 174 bệnh nhân (91% số bệnh nhân được chọn) tham gia vào nghiên cứu Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu được trình bày ở Bảng 1
Trang 3Phần lớn bệnh nhân lao phổi trong nghiên cứu
là nam giới, chiếm 82,2% Tuổi trung bình của đối
tượng nghiên cứu là 42 Hầu hết bệnh nhân tham gia
nghiên cứu đã học hết trung học cơ sở và trung học
phổ thông, chiếm tỷ lệ tương ứng là 32,8% và
39,7% Nghề tự do, bao gồm buôn bán, nội trợ, lái
xe chiếm tỷ lệ cao nhất (58%)
3.2 Thực hành TTĐT và một số yếu tố liên
quan đến TTĐT đúng
Để đánh giá thực hành việc TTĐT chúng tôi
tính điểm TTĐT, có 6 nguyên tắc với 6 câu hỏi
trong bộ câu hỏi, thực hiện đúng mỗi nguyên tắc
tính 1 điểm Biến số tổng điểm đạt 6 là bệnh nhân
tuân thủ đúng các NTĐT, dưới 6 là không tuân thủ
đúng các NTĐT Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ TTĐT
đúng ở bệnh nhân là 63,8%
Một số lý do khiến bệnh nhân không tuân thủ từng nguyên tắc điều trị được trình bày trong Bảng
2 Lý do chủ yếu mà bệnh nhân đưa ra cho việc không tuân thủ nguyên tắc dùng thuốc đều đặn là mệt, quên (25,9%); bận công việc (24,1%); cho là bệnh đã khỏi (20,7%); chưa kịp lĩnh thuốc khi hết (10,3%) Một số (8 bệnh nhân) không dùng thuốc đúng cách Các nguyên nhân là mệt, cho là phải uống thuốc lúc no, chia nhiều lần trong ngày tốt hơn
Một số lý do bệnh nhân báo cáo về việc không dùng thuốc đủ thời gian là cảm thấy đỡ cho là bệnh đã khỏi, nghỉ để điều trị bệnh khác, quá mệt không chịu được, tác dụng phụ của thuốc Quên, đi vắng, không thấy cần thiết, cho là bệnh đã khỏi là những lý do bệnh nhân đưa ra để giải thích cho việc không đến xét nghiệm và khám bệnh đúng hẹn
Bảng 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 1 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ đúng các
NTĐT
Bảng 2 Lý do không tuân thủ một số nguyên tắc
điều trị
Trang 4Bảng 3 cho thấy, các mối liên quan có ý nghĩa
thống kê (p<0,05) tìm thấy trong nghiên cứu là trình
độ học vấn, nghề nghiệp, thái độ của người thân,
hiểu biết của bệnh nhân về lao, giám sát điều trị của
cán bộ y tế Bệnh nhân là CBCNVC, hưu trí, học
sinh tuân thủ đúng các NTĐT tốt hơn bệnh nhân có
nghề nghiệp tự do, không nghề nghiệp và đặc biệt
là nghề lái xe Bệnh nhân có hiểu biết tốt thì tuân
thủ nguyên tắc điều trị tốt hơn bệnh nhân có hiểu
biết chưa tốt Có sự giám sát điều trị của cán bộ y
tế thì bệnh nhân sẽ thực hiện các nguyên tắc điều
trị tốt hơn Tác dụng phụ của thuốc; hỗ trợ của các
tổ chức đoàn thể không có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê với thực hành đúng các NTĐT
4 Bàn luận
4.1 Một số thông tin chung về đối tượng
nghiên cứu
Trong mẫu nghiên cứu, có 174 bệnh nhân lao
phổi được quản lý và điều trị tại quận Hai Bà Trưng
từ 01/01/2009 đến 31/12/2009, nam giới là chủ yếu,
chiếm 82% Kết quả này phù hợp với tình trạng mắc lao chung là nam gặp nhiều hơn nữ và tương tự với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Tiến trong 6 năm 1998-2003 [5] Mắc bệnh tập trung ở lứa tuổi lao động, 15-49 chiếm tỷ lệ cao 52,2%; lứa tuổi từ 45-59 chiếm 28,7%
4.2 Một số yếu tố liên quan đến việc thực hiện các NTĐT của bệnh nhân
Bệnh nhân có trình độ học vấn càng cao thì tuân thủ đúng các nguyên tắc điều trị hơn so với bệnh nhân có trình độ học vấn thấp hơn Kết quả này là phù hợp vì người có trình độ học vấn thấp hơn thì sự hiểu biết của họ có hạn và họ ít có điều kiện để cập nhật thông tin hơn người có trình độ học vấn cao Nghề nghiệp cũng có ảnh hưởng đến việc thực hiện các nguyên tắc điều trị Bệnh nhân là cán bộ công nhân viên chức, học sinh sinh viên tuân thủ đúng các nguyên tắc điều trị cao hơn bệnh nhân có nghề nghiệp tự do (buôn bán, lái xe, ở nhà…) Có lẽ
vì cán bộ công nhân viên, học sinh sinh viên có điều kiện để hiểu biết và thực hiện đúng các nguyên tắc điều trị hơn những người làm nghề tự do và ở nhà, họ không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện sống và làm việc bị động như những người làm nghề tự do và có lẽ họ cũng có thu nhập và cuộc sống ổn định hơn những người làm nghề tự do và ở nhà
Bảng 3 chưa cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa TTĐT và tác dụng phụ của thuốc Trong nghiên cứu của Nguyễn Đăng Trường năm
2009 tại Thanh Trì, Hà Nội lại thể hiện mối liên quan này rất rõ: bệnh nhân không có biểu hiện tác dụng phụ của thuốc thì tỷ lệ tuân thủ cao gấp 6,7 lần
so với những bệnh nhân có tác dụng phụ (p<0,001) [6] Trong kết quả nghiên cứu này, số liệu định tính cũng chỉ rõ, những bệnh nhân có tác dụng phụ của thuốc, nhất là trong giai đoạn điều trị tấn công thường lo ngại và không tuân thủ đúng các NTĐT Cỡ mẫu định lượng của nghiên cứu là 174 bệnh nhân là không lớn, có thể đây là lý do không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tác dụng phụ của thuốc và tuân thủ đúng các NTĐT trong nghiên cứu này
Chúng ta cũng thấy rõ khi có sự quan tâm gần gũi, động viên nhắc nhở của người thân, gia đình thì việc tuân thủ các NTĐT cao hơn Sự hỗ trợ của các tổ chức, ban ngành, đoàn thể cũng rất quan trọng Có sự hỗ trợ bệnh nhân sẽ TTĐT tốt hơn là không có sự hỗ trợ, mặc dù mối liên quan này không có ý nghĩa Bảng 3 Mối liên quan giữa một số yếu tố và tuân
thủ các NTĐT
Trang 5thống kê Hiểu biết tốt các nguyên tắc điều trị thì
việc tuân thủ các nguyên tắc điều trị cao hơn
(p<0,001) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi hiểu
biết tốt thì tuân thủ các nguyên tắc tốt là 71,4%, thấp
hơn nghiên cứu của Phạm Ngọc Hân (81,1%) [7]
Bảng 3 cho thấy bệnh nhân được cán bộ y tế
giám sát kiểm tra thì TTĐT tốt hơn những bệnh
nhân không được giám sát Mối liên quan này có ý
nghĩa thống kê (p = 0,01) Điều này cho thấy nếu
được động viên nhắc nhở thường xuyên thì bệnh
nhân sẽ cố gắng và TTĐT tốt hơn
Balasubramanian và cộng sự nghiên cứu tại Ấn Độ
năm 2000 không đưa ra mối liên quan giữa giám
sát và TTĐT nhưng đã chỉ ra sự khác biệt có ý
nghĩa về kết quả điều trị giữa những bệnh nhân
được giám sát điều trị và những bệnh nhân không
được giám sát điều trị Ở những bệnh nhân không
được giám sát điều trị có tỉ lệ AFB(+) cao sau 2
tháng điều trị, tỷ lệ khỏi thấp, tỷ lệ thất bại và tái
phát cao [10]
Các lý do không tuân thủ các NTĐT trong
nghiên cứu này bao gồm: cảm thấy đỡ cho là bệnh
đã khỏi, nghỉ để điều trị bệnh khác, quá mệt không
chịu được, tác dụng phụ của thuốc, chưa kịp lĩnh
thuốc khi hết Quan niệm uống thuốc phải uống lúc
no, chia đều trong ngày vẫn còn tồn tại Quên, đi vắng, không thấy cần thiết, cho là bệnh đã khỏi là những lý do bệnh nhân đưa ra để giải thích cho việc không đến xét nghiệm và khám bệnh đúng hẹn Điều này cho thấy cần tăng cường vai trò tư vấn của CBYT để bệnh nhân dùng thuốc đúng cách là rất quan trọng, tránh kháng thuốc Kết quả này cũng phù hợp với số liệu thu được qua số liệu định tính của nghiên cứu này [6]
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tuân thủ đúng nguyên tắc còn chưa cao (63,8%) Kết quả cho thấy có 6 mối liên quan giữa việc tuân thủ các nguyên tắc với các yếu tố như: trình độ học vấn, nghề nghiệp, sự động viên nhắc nhở của người thân, sự hiểu biết tốt về các nguyên tắc điều trị, việc cần thiết phải thực hiện các nguyên tắc này và sự giám sát điều trị của cán bộ y tế Lý do bệnh nhân đưa ra để giải thích cho việc không TTĐT là khác nhau với các NTĐT, chủ yếu là do mệt, sợ tác dụng phụ, quên, đi vắng, bận, không kịp đến lấy thuốc Cần tăng cường kiến thức, tư vấn kỹ cho bệnh nhân về cách dùng thuốc đúng thời gian vào một lần trong ngày Cần động viên người nhà tham gia hỗ trợ tăng cường TTĐT cho bệnh nhân Tăng cường thực hiện DOTS của cán bộ y tế
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1 Bệnh viện lao và bệnh phổi (2009) Báo cáo hoạt động
chương trình phòng chống lao Hà Nội 6 tháng đầu năm 2009,
Hà Nội.
2 Chương trình chống lao quốc gia Việt Nam (2009) Hướng
dẫn quản lý bệnh lao, NXB Y học, Hà Nội.
3 Chương trình phòng chống lao Việt Nam (2009), Bệnh
lao, truy cập từ:
http//:digitaltelevision.wetpaint.com/page/CHƯƠNG+TRÌ
NH+PHÒNG+CHỐNG+LAO+VIỆT+NAM, ngày
20/3/2009.
4 Lưu Thị Liên, Trần Văn Sáng (2002) Nhận xét tình hình
kháng thuốc của vi khuẩn lao ở những bệnh nhân lao phổi
thất bại và tái phát, Tóm tắt các công trình nghiên cứu khoa
học Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội, Hà Nội.
5 Nguyễn Đình Tiến (2004), "Tình hình phát hiện và điều
trị lao trong 6 năm (1998 - 2003) tại khoa lao và bệnh phổi
- Bệnh viện 103 Vientiane - Lào", Nội san lao và bệnh phổi,
40, 27-30.
6 Nguyễn Đăng Trường (2009) Đánh giá kiến thức, thực hành việc tuân thủ điều trị lao tại cộng đồng huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2009, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đai học Y tế Công cộng, Hà Nội.
7 Phạm Ngọc Hân (2005), Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới việc tuân thủ nguyên tắc điều trị của bệnh nhân lao được quản lý, điều trị tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học y tế Công cộng, Hà Nội.
8 Trần Văn Sáng (1999), Vi khuẩn lao kháng thuốc cách phòng và điều trị, Nhà xuất bản y học, Hà Nội.
9 Uông Thị Mai Loan (2010) Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị lao tại phòng khám lao Hai Bà Trưng 2009, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
Tiếng Anh
1 Balasubramanian VN, Oommen K, Samuel R (2000) DOTS or not? Direct observation of anti-tuberculosis treatment and patients outcomes, Kerala State, India, Int J Tuberc Lung Dis, 4(5): 409-413.