Thi nhân viết nhiều về con người thời đại, họ luôn có xu hướng đi, phát hiện và ca ngợi cái đẹp của con người đó là giá trị nhân văn của thơ Đường, điều đó giúp ta hiểu được tại sao phụ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khi nói đến văn hóa nhân loại thì không thể bỏ qua nền văn hóa Trung Quốc vì
được coi là “cái nôi của văn minh phương Đông” và là nơi chứa đựng những gì tinh
túy nhất Trong đó văn học đóng một vai trò hết sức to lớn trong nền văn hóa Trung Hoa Niềm tự hào của văn học Trung Quốc cho đến nay vẫn là thơ Đường Giai đoạn (618-907) đây là thời kì cực thịnh của văn học với những thành tựu thơ ca tạo nên thời đại hoàng kim của lịch sử phát triển thơ ca trong xã hội phong kiến
Giai đoạn xã hội này gắn với tên tuổi của một số nhà thơ lớn: Đỗ Phủ, Bạch Cư
Dị, Vương Xương Linh đặc biệt là “ Thi tiên” Lý Bạch, một ngôi sao sáng trên bầu trời
thi ca đời Đường Ông đã để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ với thành công về nội dung lẫn nghệ thuật Đây là thời kì nhà Đường phát triển cực thịnh, đất nước phát triển về moiuj mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…, nhưng những tư tưởng hủ nho, phong kiến vẫn tồn tại và đè nặng lên con người Trong xã hội vẫn còn những bất công, có những số phận nhỏ bé, bị chèn ép, bị vùi dập, tiêu biểu là người phụ nữ Xã hội bước vào thời kì sở hữu tư sản, trong đó người phụ nữ không được coi trọng, mặc dù họ cũng là một lực lượng quan trọng trong xã hội trong mọi thời đại, ở họ có những nét đáng quý về hình thức bên ngoài lẫn phẩm chất bên trong mà nhiều khi đấng mày râu không thể có được Lý Bạch đã nhận thấy điều đó và dành cho họ cái nhìn ưu ái, đó là những con người với lòng chung thủy, sắc son, có sức tưởng tượng phi thường, đó chính là người phụ nữ trong thơ Lý Bạch Chính hình ảnh những người phụ nữ trong thơ ông đã làm cho tôi suy nghĩ về ông cũng như thơ ông Từ đó người viết đã đi đến
quyết định chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình là tìm hiểu “Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lý Bạch” Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài này còn
giúp tôi có những hiểu biết thêm và có những cảm nhận sâu sắc về người phụ nữ trong
xã hội phong kiến Hơn nữa, đây là vấn đề còn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, nên chúng tôi hi vọng sẽ mang một số đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu thơ viết về người phụ nữ nói riêng và những vấn đề khác về Lý Bạch nói chung
Trang 3nhân dân, mà ngày nay họ vẫn còn có được hơn 48000 bài thơ của 23000 thi sĩ Chừng
ấy bài thơ còn sót lại, với nội dung phong phú và nghệ thuật tuyệt thế cũng đủ dánh dấu thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc và làm cho thơ Đường cùng với Kinh thi, Sở từ, Tống từ và thơ ca Trung Quốc hiện nay được liệt vào hàng thơ ca ưu tú nhất của nhân loại
Đặc sắc nhất của thơ Đường là nội dung vô cùng phong phú, phản ánh rộng rãi các mặt hoạt động của đời sống xã hội, điều này có vẻ tiến bộ hơn thơ ca của Lục triều, nó phần lớn chỉ viết về đối tượng vua chúa, quan lại, kể lại những cuộc ăn chơi
xa xỉ của giai cấp trên Chỉ có một vài cá nhân như: Tả Tư, Đào Tiềm, Bảo Chiếu, là người đã miêu tả khá chân thực những hiện thực đen tối của xã hội, đó là do họ xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ nên thơ họ cũng là tiếng nói chung cho những số phận, những tầng lớp dưới Đến đời Đường, ngoài một số ít nhà thơ con nhà thế tộc, phần đông các nhà thơ là con cái của những người bị áp bức, cho nên lực lượng sáng tác cũng vô cùng phong phú, tác phẩm cũng đề cập được nhiều vấn đề trong cuộc sống Nhưng cho dù ở thời kì nào, tầng lớp nào các nhà thơ đều lấy nguồn cảm hứng sáng tác từ hiện thực xã hội Bên cạnh những chủ đề về thiên nhiên như sông, núi, tuyết, trăng, hoa …, thì những đề tài về cuộc đời, con người là một mảng không thể bỏ qua Thi nhân viết nhiều về con người thời đại, họ luôn có xu hướng đi, phát hiện và ca ngợi cái đẹp của con người đó là giá trị nhân văn của thơ Đường, điều đó giúp ta hiểu được tại sao phụ nữ trở thành một trong những nguồn cảm hứng sáng tác chính của thi nhân đời Đường bởi họ chính là biểu tượng, là hiện thân của cái đẹp, của những gì tinh túy nhất Đối với thi nhân không chỉ đơn giản là họ có niềm rung cảm sâu sắc đới với phụ nữ mà đa số họ muốn mượn hình ảnh người phụ nữ để nói lên tâm sự của chính bản thân mình, bởi họ còn bị ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, ít coi trọng phụ nữ,
họ thiên về những cái riêng của bản thân hoặc viết về những đề tài có ý nghĩa to lớn,
có tính triết lý cao thể hiện chí khí, tài năng và hoài bảo của bản thân
Đã có rất nhiều nhà thơ viết về đề tài người phụ nữ như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,
Đỗ Mục…, người nào cũng khai thác gần như triệt để và thể hiện một cách khá toàn
diện các khía cạnh về đề tài này Trong đó đáng chú ý hơn hết là phải nhắc đến “Thi tiên” Lý Bạch, ông đã rất thành công với những trang thơ viết về người phụ nữ Ông là
người có tư tưởng tự do, không chịu gò bó, thích cái đẹp, yêu đất nước, nguyện cống hiến sức mình để giúp nước Ông có tình yêu thương vô hạn với những người lao
Trang 4động, những số phận bi thảm dưới đáy xã hội cho nên khi viết về phụ nữ ông tỏ ra rất
am hiểu và khá thành công trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của mình thông qua
họ
Lý Bạch là nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc, đối với người dân Trung Quốc thì có lẽ ai cũng thuộc không nhiều thì ít bài thơ của Lý Bạch Còn đối với người Việt Nam chúng ta thì cũng không ít người biết về thơ ông Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường thì ta cũng đã có được những kiến thức căn bản về ông Tuy nhiên muốn tìm hiểu rõ hơn thì còn cần nghiên cứu nhiều tài liệu hơn Ta có thể dễ dàng tìm thấy một
số tài liệu, bài viết về tác giả ở một số thư viện, nhà sách, thậm chí trên internet cũng
có rất nhiều Những công trình đề cập rõ nhất như: Nhiều tác giả- Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập I)- NXB Giáo Dục, 1997 Ở quyển sách này thì người viết chỉ cung
cấp một vài thông tin về tiểu sử cũng như cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lý Bạch, bên cạnh đó cũng có đề cập đến nhũng vấn đề về tư tưởng, thành công về nghệ thuật của ông và một vài minh chứng cho cảm hứng lãng mạn trong thơ ông Tài liệu kế tiếp
là: Lưu Đức Niệm- Thơ Đường (chuyên luận), Nguyễn Khắc Phi- Lương Duy Thứ- Diện mạo thơ Đường, cũng chỉ dừng lại ở việc trích thơ, bình giảng một số bài thơ của
ông …, và có những công trình rải rác phân tích, bình một số bài thơ của ông: Nguyễn
Thị Bích Hải- Bình giảng thơ Đường- NXB Giáo Dục, 2003 cũng chỉ bình giảng một
số bài thường xuất hiện trong chương trình phổ thông cũ như: Vọng lư sơn bộc bố, Hành lộ nan, Tĩnh dạ tứ, Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên và một số bài viết về những tác giả khác Những tác phẩm của ông cũng xuất hiện trong một số sách:
Nguyễn Khắc Phi- Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất quen mà lạ- NXB Giáo Dục, tác
giả quyển sách này chỉ dành cho Lý Bạch một dung lượng không lớn Trần Trọng Kim
tuyển dịch- Đường thi- NXB Văn hóa thông tin, 1995, thì chỉ trích dẫn một số bài thơ
của Lý Bạch, đó là những sáng tác viết về nhiều phương diện, đi vào từng khía cạnh
của cuộc sống Tuy nhiên về đề tài “ Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lý Bạch” đến
giờ cũng chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu đầy đủ Một số công
trình như: Nhiều tác giả- Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập I)- NXB Giáo Dục, 1997, Nguyễn Thị Bích Hải- Thi pháp thơ Đường- NXB Thuận Hóa- Huế, 1995, trong
những tài liệu trên thì vấn đề phụ nữ chỉ được đề cặp một phần nhỏ, chưa được khai thác triệt để, thường chiếm dung lượng vài trang nằm trong phần cảm hứng lãng mạn
Trang 5Vấn đề người phụ nữ được miêu tả trong thơ Lý Bạch vừa mang yếu tố lãng mạn có cả chất hiện thực, và chưa được các nhà nghiên cứu trình bày rõ
Tóm lại, đề tài “ Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lý Bạch” vẫn còn nhiều
chỗ chưa khai thác hết và người viết bước đầu sẽ đề cặp đến Thơ Lý Bạch đã phần nào phản ánh được lịch sử Trung Quốc gắn liền với số phận người phụ nữ Nghiên cứu
về hình tượng người phụ nữ trong thơ Lý Bạch là một hướng mới, nhưng cũng có những tài liệu trích dẫn một vài bài thơ của Lý Bạch viết về người phụ nữ, đó cũng là nguồn tài liệu chính
3 Mục đích nghiên cứu
Có thể nói cả cuộc đời Lý Bạch cống hiến cho cuộc sống, cho sự nghiệp sáng tác, cho sự phát triển của văn học Trung Quốc nói riêng và văn chương nhân loại nói chung Ông đã để lại những bài thơ có thể nói là xuyên thế hệ làm xao động lòng người Những sáng tác của ông một phần mang yếu tố lãng mạn nhưng đó cũng là hiện thực mà Lý Bạch muốn phản ánh Tìm hiểu đề tài để làm rõ hình tượng người phụ nữ thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, với những nét đáng quí, những nỗi đau riêng và cũng giúp ta hiểu thêm về Lý Bạch, về cuộc đời cũng như sáng tác của ông Đề tài này cũng
là minh chứng cho tài năng thơ ca của Lý Bạch thể hiện qua cách xây dựng hình tượng người phụ nữ và có cái nhìn toàn diện hơn về người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc đời Đường
Và một mục đích khác nữa khi người thực hiện đề tài này là muốn hoàn thiện hơn vốn kiến thức về văn học cũng như về lịch sử Trung Quốc, để phục vụ cho việc học trong thực tại và tương lai sau này
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đây là giai đoạn văn học phát triển cao nhất trong lịch sử Trung Quốc Các tác giả có nhiều đề tài để lựa chọn: Thiên nhiên, con người, thời thế…, và khi viết về con người thì có một đối tượng ít được xã hội quan tâm nhưng lại được sự yêu mến và được lựa chọn để đưa vào thơ ca đó là người phụ nữ Khi thể hiện đề tài này thì mỗi người có cách thể hiện sáng tạo riêng, điều đó thể hiện những cái nhìn khác nhau của các nhà thơ Đặc biệt là với Lý Bạch, ông luôn có sự ưu ái cho người phụ nữ, minh chứng là sự xuất hiện khá dày đặc của họ trong sáng tác của ông, và ông đã viết về họ bằng thái độ trân trọng và sự cảm thông Lý Bạch đã thể hiện nội dung này trên những
Trang 6trang thơ thật sinh động và giàu hình ảnh Khi nghiên cứu đề tài này người viết cũng chú ý những điểm trên
Bất kì đề tài nào cũng có phạm vi và đối tượng nghiên cứu Đối với đề tài hình tượng người phụ nữ trong thơ Lý Bạch thì đối tượng nhiên cứu là thơ của Lý Bạch, phạm vi nghiên cứu là các bài thơ của Lý Bạch đặc biệt là những bài thơ viết về người
phụ nữ Cho nên phạm vi sẽ tập trung chủ yếu vào quyển Đường thi tuyển dịch của Lê
Nguyễn Lưu Bên cạnh đó còn có một số tài liệu nghiên cứu về thơ Đường cũng góp phần giải quyết các vấn đề của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này tôi áp dụng nhiều phương pháp trong việc nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, chứng minh, bình giảng, so sánh đối chiếu…, nhằm làm rõ luận điểm bằng những lý lẽ đi kèm dẫn chứng cụ thể để giải quyết những yêu cầu của đề tài đặt
ra
Trang 7PHẦN NỘI DUNG Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm “ Hình tượng nghệ thuật”
Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có hệ thống hình tượng nghệ thuật riêng Thông qua hệ thống hình tượng, người đọc dễ dàng nhận ra phong cách tác giả, nhận ra sự khác biệt giữa tác giả với tác giả, tác giả với thời đại
Về vấn đề hình tượng nghệ thuật, có những ý kiến khác nhau Theo GS Hoàng
Ngọc Hiến: “Nghệ thuật nhận thức sự vật bằng hình tượng cụ thể- cảm giác, chúng không có nhiệm vụ phản ánh bản chất của sự vật, chúng tiếp cận tính cách của sự vật”
Theo TS Đỗ Văn Khang: “Hình tượng nghệ thuật rất phong phú, khi thì ước lệ, khi thì tả thực, khi thì huyền ảo chứ không thể lúc nào cũng cụ thể- cảm giác, nghệ thuật phải có nhiệm vụ phản ánh bản chất của sự vật”
Có những ý kiến tiếp theo tranh luận về vấn đề hình tượng nghệ thuật, đa số họ đồng tình với cách nói của GS Hoàng Ngọc Hiến Bởi nó mang tính cấp tiến hơn, và đây cũng là quan niệm về hình tượng nghệ thuật mà các tác giả hiện đại đang vận dụng
và đã được các nhà lý luận nổi tiếng giải thích Nó khác quan niệm cũ xem hình tượng nghệ thuật là bức tranh vừa khái quát- cụ thể, vừa lý tính- cảm tính … Quan niệm đương đại hình tượng nghệ thuật thiên về cái cảm giác, cụ thể, khước từ lý tính, trừu tượng, tuy nó được thể hiện bằng nhiều hình thức tổng hợp thẩm mĩ từ cụ thể- lịch sử, tượng trưng- ước lệ, đến huyền ảo- vô thức, sắc thái có khác nhưng đều có tính chất chung là trực tiếp, cụ thể, đánh mạnh vào cảm giác, vào nhận thức trực tiếp cảm tính, coi trọng sự biểu hiện ấn tượng, cảm xúc, hơn là sự tái hiện thực tại
Còn ý kiến của Đỗ Văn Khang cũng từng được chấp nhận một thời, có lúc người ta cho rằng: Hình tượng nghệ thuật là cái phương tiện mà khi phản ánh thế giới người nghệ sĩ hư cấu nên, ở nó có sự thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, giữa cái chung và cái riêng, giữa cảm tính và lý tính Tuy nhiên các định nghĩa trên đã có nhiều thay đổi theo thời gian, các yếu tố lý tính, khái quát giảm dần, nhường
cho các yếu tố trực giác, cảm tính và cái nhiệm vụ “phản ánh thế giới” cũng chẳng còn
Trang 8là một chức năng nổi trội Trong các công trình ngày nay, định nghĩa về hình tượng nghệ thuật thường được xem là phương thức phản ánh hiện thực một cách riêng biệt dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, được nhận thức trực tiếp bằng cảm tính
Theo tài liệu Thuật ngữ văn học: “Phương thức chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực riêng biệt, vốn có và chỉ có ở nghệ thuật Bất cứ hiện tượng nào được xây dựng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật đều là hình tượng nghệ thuật; thông thường
và quan trọng nhất là hình tượng con người (hình tượng nhân vật) Ở hình tượng nghệ thuật có sự hòa trộn nhân tố nhận thức- khách thể và nhân tố sáng tạo chủ thể”
[2;tr.142]
Hình tượng nghệ thuật có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó
bao giờ cũng ở phương diện tinh thần Người đọc không chỉ thưởng thức “cuộc đời thực” trong tác phẩm mà còn cảm nhận được sự suy tư, lòng trắc ẩn và cả nụ cười ẩn
trong cuộc đời thực ấy Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học
và thẩm mỹ của nghệ thuật
Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học lấy ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng Hình tượng nghệ thuật là hình tượng ngôn từ Thông qua hình tượng ngôn từ, tác phẩm đem đến cho người đọc không phải là bức tranh đời sống đứng yên mà luôn luôn sống động, lung linh, huyền ảo, vừa vô hình vừa hữu hình, cụ thể đấy mà mơ hồ đấy như mặt trăng đáy nước, bóng người trong gương, như không gian vốn ba chiều nay thu lại trong không gian hai chiều của hội hoạ, như một mái chèo trên hai thước chiếu sân khấu mà tác giả đã vẫy vùng trước đại dương
Người viết đồng tình với cách định nghĩa trên bởi nó cũng đồng nghĩa với việc cho rằng hình tượng nghệ thuật là sự kết hợp hữu cơ những đặc điểm của trực quan sinh động và tư duy trừu tượng nhưng bản chất của nó lại không hề trùng hợp với đặc điểm của loại này hoặc loại kia Hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần
đặc thù Gọi là “khách thể” bởi vì nó là thế giới tinh thần đã được khách thể hóa thành
một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, không phụ thuộc ý muốn chủ quan người sáng tạo hay người thưởng thức, tuy nhiên ở đây nó cũng không gắn liền với quá trình
tâm lí của tác giả như trong quá trình sáng tạo gọi là “tinh thần” bởi tinh thần là một
cấp phản ánh đặc biệt của ý thức con người
Trang 9Nếu cảm giác, tri giác, khái niệm, phán đoán là những hình thức nhận thức phản ánh từng mặt của khách thể thì cái tinh thần là một hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Tóm lại: Hình tượng nghệ thuật là khách thể tinh thần, mọi phương tiện biểu hiện chỉ có ý nghĩa khi nào làm sống lại các khách thể đó và người đọc tác phẩm chỉ khi nào thâm nhập được vào thế giới tinh thần đó mới nảy sinh được sự thưởng thức đồng cảm Nó là sự đặc trưng hóa một cách hoàn chỉnh và trọn vẹn những hiện tượng cuộc sống và nó miêu tả dưới hiện thực cảm tính cụ thể, cá biệt, có ý nghĩa thẩm mỹ
và khái quát hóa, được nhà văn thể hiện bằng ngòi bút của mình
1.2 Khái quát về thơ Đường
đồ sộ với khoảng 2300 bài thơ và xuất hiện một số nhà thơ tài ba như Đỗ Phủ, Bạch
Cư Dị, Lý Bạch… Về đề tài thì rất phong phú, bao gồm tất cả các mặt trong xã hội đời Đường
Thơ Đường được kết tinh, chắc lọc những gì hay nhất, đẹp nhất, tinh túy, ý vị nhất vì thế hầu như thi nhân mọi thời đại đều đánh giá cao thơ Đường, chỉ trong một thời gian mà thơ Đường đã đạt được những thành tựu đáng kể Khi nói đến thơ Đường
là nói đến đỉnh cao của thi ca Trung Hoa và là “thời đại hoàng kim của thơ ca phương Đông” [20; tr.15] Sự phát triển của thơ ca Đường có thể chia làm bốn giai đoạn theo
các mốc lịch sử:
- Sơ Đường (618-713):
Thơ ở giai đoạn này chủ yếu được làm theo thể tứ tuyệt với những nhà thơ nổi tiếng của phái Tứ Kiệt (Vương Bột, Dương Quýnh, Lạc Tân Vương, Lư Chiếu Lân), phái Thẩm Tống (Thẩm Nguyên Kỳ và Tống chi Vấn), phái Ngô trung tứ sĩ (Hạ Chi Trương, Bao Dung, Tương Húc, Trương Nhược Hư) …, riêng Trần Tử Ngang là người
có công tìm tòi những nét mới xóa dần đi sự duy mỹ, khuôn khổ đặt ra nền móng để chuẩn hóa thơ, góp phần tạo nên luật thơ cho đời sau Hai tác phẩm xuất sắc của thơ ca
Trang 10đời sơ Đường là bài “Xuân giang hoa dạ nguyệt” của Trương Nhược Hư và bài “Đằng vương cát” của Vương Bột
- Thịnh Đường (713, -766)
Đây là thời kỳ có nhiều trường phái nhiều tác giả được nghìn đời sau ca tụng và ngưỡng mộ nhất Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng sự phát triển của nó lại vượt bậc chưa từng thấy Thơ thời kỳ này đa dạng về đề tài, nội dung, chủ đề…, cùng với những tài năng như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Xương Linh, Thôi Hiệu, Mạnh Hạo Nhiên…, thơ ca chia thành nhiều trường phái:
+ Phái sơn thủy điền viên: với các đại biểu như Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy + Phái lãng mạn: đứng đầu là Lý Bạch
+ Phái hiện thực: Đỗ Phủ
Thơ ca đời Đường vượt trội hơn so với các giai đoạn khác chính là ở chổ nhiều
về số lượng, đạt về chất lượng, đây là thời đại hoàng kim của thơ ca thời Đường nói riêng và thơ ca Trung Hoa nói chung
Đúng như nhà thơ Việt Nam đã từng nhận xét:
“Khen rằng đáng giá thịnh Đường Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân”
(Nguyễn Du)
- Trung Đường (766- 835)
Lúc này thơ ca không còn phát triển như trước bởi những biến cố lịch sử Xã hội trải qua loạn (An- Sử), những mất mác, sự hoảng loạn trong tinh thần vẫn là vết thương âm ỉ trong lòng mỗi người Tuy nhiên cũng có một số tác giả và tác phẩm xuất
sắc như Bạch Cư Dị với “Trường hận ca” và “Tỳ bà hành” Ngoài ra còn phải nhắc
đến Hạn Dũ và Liễu Tông Nguyên
- Vãn Đường (835-907)
Đây có thể coi là buổi chiều tà của thơ Đường Càng về sau xã hội càng trở nên suy thoái Nhiều nhà thơ vẫn mang nỗi buồn thời thế Thế nhưng vẫn có một số tài năng thơ ca xuất hiện như Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục, Ôn Đình Quân, Lý Hạ …, cũng tạo nên nét mới lạ, đặc sắc riêng cho thời kỳ này
Trang 111.2.2 Chủ đề người phụ nữ trong thơ Đường
Thơ ca Trung quốc phát triển nhất vào đời Đường, trong đó thời kì thịnh Đường được gọi là thời đại hoàng kim trong lịch sử Trung Quốc Các nhà thơ Đường đã phản ánh hiện thực xã hội với nhiều chủ đề khác nhau như thiên nhiên, đất nước, thời thế, con người…, trong đó các nhà thơ cũng dành một dung lượng không nhỏ để nói về chủ
đề người phụ nữ Các nhà thơ đã phản ánh hiện thực cuộc sống sinh hoạt của người phụ nữ trong xã hội một cách sinh động, sáng tạo Thi nhân không chỉ nhận thức được
vẻ đẹp về ngoại hình bên ngoài mà còn thấy được phẩm chất bên trong của họ, đặc biệt
là nhận thấy được nỗi đau và những nguyên nhân sâu xa đã vùi dập cuộc đời họ Bên cạnh đó nhà thơ đã thấy được vai trò quan trọng của người phụ nữ, họ là lực lượng sản xuất quan trọng trong bất kì xã hội nào, trong lịch sử cách mạng Trung Quốc nếu không có sự tham gia của phụ nữ thì khó có thể thành công được Thế nhưng người phụ nữ lại phải sống trong thảm kịch, bị áp bức về mọi mặt và bằng nhiều hình thức khác nhau Ngoài sự áp bức của giai cấp họ còn chịu nỗi đau của những quan niệm thần quyền, phụ mẫu quyền, nam quyền… Người phụ nữ trong xã hội phong kiến còn phải chịu bao nỗi thống khổ chồng chất Khổ vì sưu cao thuế nặng khổ vì tình duyên dang dở, khổ vì phận mỏng, vì không con …, các nhà thơ đã rất khéo léo đề cập đến những vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau Đối tượng được các nhà thơ hướng đến nhiều nhất là những người phụ nữ trong cung cấm Miêu tả những việc tranh giành sủng ái, khoe khoang giàu có, hào hoa lộng lẫy của những ngươi phụ nữ tầng lớp trên trong cung đình, sự khổ đau, bi thảm của những người phụ nữ ở tầng lớp dưới, những người cung nữ, những nét đẹp về ngoại hình lẫn tâm hồn của những người phụ nữ bình thường, số phận bi thảm của cô gái nghèo, những người phụ nữ lao động Tất cả đã được các thi nhân phản ánh một cách chân thực trong một mức độ nhất định Đó như
là một bảng cáo trạng về sự tàn bạo của xã hội phong kiến Tuy nhiên hầu như đó chỉ
là cách mượn hình ảnh phụ nữ để than thở cho chính bản thân mình, họ cũng khổ đau, cũng đang bị thất sủng, bị chèn ép và đó cũng là đặc điểm nổi trội của thơ Đường
Viết về phụ nữ thì có rất nhiều nhưng trước hết phải nhắc đến những vần thơ của Bạch Cư Dị:
“Nhất sinh mạc tác phụ nhân thân, Bách niên khổ lạc do tha nhân”
Trang 12(Người ta sinh ra chớ nên làm con gái Trăm năm sướng khổ do người khác quyết)
(Thái hành lộ- Bạch Cư Dị) Với hai câu thơ trên thì tác giả đã vạch ra một tương lai đen tối cho người phụ
nữ Số phận của họ bị chi phối bởi nhiều thế lực, hạnh phúc sẽ là một thứ ngoài tầm tay của họ
Đặc biệt đối với người phụ nữ bị thất sủng trong cung thì việc tìm hạnh phúc khó như hái sao trên trời Họ phải chôn chặt cuộc đời nơi cung cấm, chịu sự ghẻ lạnh, mang một nỗi oán trách đến lúc lìa đời:
“Lệ thấp la cân mộng bất thành
Dạ thâm tiền điện oán ca thanh Hồng nhan vị lão ân tiên đoạn,
Tà ỷ huân lung tọa đáo minh”
(Đêm khuya không ngủ lệ thấm đầy Tiếng đàn đã tắt gió mành bay Nhan sắc chưa phai mà ghẻ lạnh Tựa gối đầu nghiên tới rạng ngày)
(Hậu cung từ- Bạch Cư Dị) Thi nhân đã viết về họ với cả một sự cảm thông Họ chính là nạn nhân của chế
độ vua chúa Tuy nhiên họ còn có được chút hạnh phúc là đã từng được vua yêu thương, bên cạnh những con người đáng thương này còn có những số phận còn bi thảm hơn, những bản cáo trạng gay gắt hơn đó là tình cảnh của những cô cung nữ bị đưa vào cung, chôn vùi cả tuổi thanh xuân, cả cuộc đời nơi cung cấm nhưng chưa một lần được gặp mặt vua Đây là một hiện trạng có thật trong xã hội phong kiến Dưới thời Đường Minh Hoàng có rất nhiều cô gái trẻ, đẹp được đưa vào kinh đô Lạc Dương
và Trường An để làm cung tỳ Và Bạch Cư Dị đã thể hiện lòng thương tiếc cho phận
hồng nhan, tố cáo chế độ tàn bạo qua bài “ Thượng dương bạch phát nhân”, lúc nàng mới vào cung thì: “Kiểm tự phù dung hung tụ ngọc” (Mặt tựa phù dung thân tựa ngọc),
nhưng sau bao lần trăng không thâý mặt Hoàng Đế đâu mà chỉ thấy ánh trăng vẫn vô
tình xuất hiện rồi biến mất theo tuần hoàn của tự nhiên, và bây giờ thì : “Hồng nhan
Trang 13ám lão bạch phát tân” (Má hồng phai nhạt tóc sương nhuốm màu) Tàn nhẫn hơn đó là
việc trói chặt cuộc đời của những cô gái với những cái lăng tẩm, với người chết
“Vũ lộ chi ân bất cập giả
Do văn bất cập tam thiên nhân Tam thiên nhân, ngã nhĩ quân ân hà hậu bạc?
Nguyên lệnh luân chuyển trực lăng viên, Tam tuế nhất lai quân khổ lạc”
( Mưa móc ơn vua không rưới khắp Vẫn nghe không tới ba ngàn người
Ba ngàn người đây đó ơn vua ai nặng nhẹ?
Theo lệnh chuyển tới trực lăng viên
Ba năm thảy đều cùng sướng khổ)
(Lăng viên thiếp- Bạch Cư Dị)
“Lăng viên thiếp”, đó là nỗi uất nghẹn của người cung nữ giữ lăng được Bạch
Cư Dị thể hiện
Trong cung cấm, đối lập với những người thất sủng, những người chưa từng được sủng ái đó là những cung phi với sắc đẹp mê hồn và đang hưởng ân sủng của
Hoàng Đế, đó là thời gian sung sướng cực độ Trong bài “Ai giang đầu” Đỗ Phủ đã
thuật lại cảnh huy hoàng của bậc dương phi:
“Ức tinh nghê tinh hạ nam uyển Uyển trung vạn vật sinh nhan sắc Thiều dương điện lý đệ nhất nhân Đồng liễn tùy quân thị quân trác Liễn tiền Tài nhân đới cũng tiễn Bạch mã tước tước hoàng kim lặc Phiên than hướng thiên ngưỡng xạ vân Nhất tiễn chính trị song phi dực”
(Nhớ trước kiệu cờ ghê xuống vườn Nam Trong vườn muôn vật thêm nhan sắc
Trang 14Người đẹp bậc nhất điện Chiêu Dương Cùng kiệu cung vua bao nhan sắc Trước kiệu cung nhân đeo
Ngựa trắng chuông vàng rung tiếng nhạc Vươn mình bắn tên lên ngang mây Một tên hai chim rơi cùng lúc)
(Ai giang đầu- Đỗ Phủ) Thế nhưng cuối cùng nàng cũng trở thành vật hi sinh cho chế độ hậu cung độc
ác, đó là qui luật, là số phận không tránh khỏi của kiếp hồng nhan Bên cạnh đó còn có những cô gái tài sắc vẹn toàn cũng phải cùng chung số kiếp, đã trở thành vật hi sinh cho những mưu đồ chính trị như Vương Chiêu Quân Nhà thơ Lý Bạch đã mượn sự tích về nàng để tố cáo xã hội phong kiến cướp đi hạnh phúc của người phụ nữ, đến
là nhũng người có nhan sắc phải chịu kiếp hồng nhan bạc phận, bị lưu lạc, cô đơn giũa
cuộc đời, phải lâm vào cảnh ngộ “Vành rượu bạc gãy tan nhịp gõ; Bức quần hồng hoen úa rượu ơi” đó là cô gái trong bài “Tỳ bà hành”
“Thiên hô vạn hóa thủy xuất lai,
Do lão tỳ bà bán gì diện Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh,
Vi hành khúc điệu thiên hữu tình Huyền huyền yểm ức thanh thanh tư
Tự tố sinh bình bất đắc chí”
Trang 15(Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ Tay ôm đàn che nữa mặt hoa Vặn đàn mấy tiếng dạo qua Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng bay Nghe não ruột máy dây buồn bực Dương than niềm tấm tức bấy lâu)
(Tỳ bà hành- Bạch Cư Dị) Tiếng đàn réo rắc khi trầm lúc bỗng, một mối tơ vò, tâm sự ngổn ngang Tiếng đàn não ruột, như tiếng lòng của một cô gái, nàng đã trút hết bầu tâm sự của mình, với
mong muốn tìm được tri âm, nhưng sự thật diễn ra trước mắt thì quá phủ phàng “Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng bay”
Bên cạnh những người phụ nữ trong cung cấm, những nàng ca kỉ thì bộ phận những người phụ nữ đời thường được tự do về không gian sinh sống cũng được các nhà thơ chú ý đề cập đến Đó là những người phụ nữ lao động, những cô gái tầm thường không điểm trang, không son phấn Họ hiện lên với những vẻ đẹp sống động, những phẩm chất cao quí, nét đẹp của họ được thể hiện trong lao động đó là một sự
phát hiện đầy sáng tạo của thi nhân Lý Bạch với bài “Thái liên khúc” đã khái quát lên
điều đó
Chủ đề về người phụ nữ trong thơ Đường rất đa dạng và phong phú, các thi nhân đã thể hiện đề tài khá phong phú với nhiều mặt khác nhau Các thi nhân nhìn nhận về phụ nữ một cách khá chính xác Họ không những đẹp mà còn lắm nỗi đau trong cuộc đời mà họ phải gánh lấy, chỉ với ngòi bút của thi nhân thì họ mới giải tỏa được những nỗi u uất, sầu hận Các nhà thơ đã bênh vực họ, đứng về phía họ để chiến đấu hay đó cũng nhằm mục đích mượn hình ảnh họ để nói lên tâm sự của chính mình
“tài cao nhưng phận bạc” Và những vần thơ đó chính là bản cáo trạng đối với xã hội
phong kiến
Trang 16Chương 2:
LÝ BẠCH VÀ THƠ ÔNG
2 1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lý Bạch
Lý Bạch (701-762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê quán ở thành Kỷ, Lũng Tây ( nay ở huyện Thiên Thủy, tỉnh Cam Túc), tổ tiên vì mắc tội bị đày đến Tây Vực
Ông sinh ở Toái Diệp, trưởng thành ở làng Thanh Liên, huyện Chương Minh thuộc Miên Châu (nay là huện Miên Dương, Tứ Xuyên) Còn trẻ đã thích múa kiếm, khinh tài trọng nghĩa, thích làm hiệp khách, rất giỏi thơ phú
Năm 20 tuổi ông đi du lịch khắp nơi như Thành Đô, núi Nga Mi …và lên núi để đọc sách
Năm 25 tuổi “đeo kiếm rời nước, tù biệt cha mẹ đi xa”, rời quê hương
Năm 27 tuổi ông kết hôn cùng cháu gái quan tể tướng Hứa Vũ Sư ở An Lục (Hồ Bắc) và từ An Lục ông chu du khắp nơi
Thiên Bảo năm đầu (742), Lý Bạch được Ngô Quân tiến cử lên vua Đường, vua đòi ông về Trường An và được đường Minh Hoàng phong chức Cung phụng hàn lâm
Ba năm sống ở kinh đô, ông nhận ra bộ mặt xấu xa thối nát của bọn quyền quý, mộng trở thành người kinh ban tế thế không còn
Năm Thiên Bảo thứ ba (744), ông từ quan, rời Trường An đến Lạc Dương tiếp tục chu du khắp nơi, kết bạn với nhiều người như Đỗ Phủ, Cao Thích …
Trong loạn An Lộc sơn, Đường Huyền Tông chạy vào đất Thục Lúc này Lý Bạch ra giúp sức cho Vĩnh Vương Lí Lân ( con trai thứ 16 của Đường Minh Hoàng,
em Đường Túc Tông) để cứu nước Nhưng Lí Lân bị nghi ngờ và bị quân đội của Túc Tông đánh tan, Lí Lân bị giết, Lý Bạch bị bắt và bị đày đi Dạ Lang, trên đường đi gặp
kì đại xá nên trở về quê
Năm 761 ông bị bệnh và mất một năm sau đó, tại nhà của chú họ là Lý Dương Băng, huyện lệnh huyện Đương Đồ (An Huy)
Ông mất đi để lại trên 1000 bài thơ Nội dung thơ lý Bạch rất phong phú nhưng chủ đề chính là thể hiện sự khát khao vươn tới lí tưởng cao cả Khát vọng giải phóng
cá tính, thái độ bất bình với hiện thực tầm thường và thế giới tình cảm phong phú, mãnh liệt, phong cách thơ Lý Bạch rất phóng túng, phiêu dật mà rất tự nhiên, tinh tế và
giản dị, thơ ông lại nói về cõi tiên nên mọi người gọi ông là “ Thi tiên” Cuộc đời của
Trang 17“Thi tiên” là một cuộc hành trình vươn tới cái cao cả của lí tưởng làm người, cũng là
một cuộc hành trình đi tìm và thể hiện cái đẹp của tự nhiên, của dời sống và của tình người, đặc trưng mĩ học của thơ Lý Bạch là sự thống nhất giữa cái cao cả và cái đẹp
2.2 Tư tưởng của Lý Bạch
Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn vĩ đại của văn học Trung Quốc Chính sự giáo dục của gia đình đến con đường chính trị đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Lý Bạch Hoàn cảnh xã hội thịnh suy của nhà Đường cũng tác động đến ông Nó làm cho tư tưởng ông rất phức tạp, phong cách thơ ông không thuần nhất (vừa hào phóng bay bổng, vừa trầm tư u uất), đôi khi có sự kết hợp giữa lãng nạn và hiện thực
Lý Bạch là người chịu ảnh hưởng mạnh của tưởng Nho gia và Đạo gia nhưng Đạo gia chiếm ưu thế hơn trong việc hình thành hệ tư tưởng trong thơ ông Bản chất ngạo mạn, thích tự do đã ăn sâu và tâm trí ông Dám đem mình so sánh với những bậc thánh nhân, đem lời giễu cợt:
“Sở cuồng chính là ta Hát rong cười ông Khổng”
“Nho sĩ đâu bằng người hiệp sĩ Bạc đầu đọc sách có gì hay”
Ông viết rất nhiều bài thơ ca ngợi thái độ sống, tinh thần của các hiệp sĩ bằng thái độ ngợi ca, nể phục:
“Tề có ông phóng khoáng,
Lỗ Liên thật tuyệt vời, Trăng sáng từ đáy biển, Một sớm chiếu muôn nơi
Tuyệt Tần nổi danh tiếng, hậu thế còn sáng soi
Trang 18Coi thường nghìn vàng tặng, Ngó nhìn Bình Nguyên cười
Ta cũng người phóng đãng, Phủi áo về mà chơi.”
(Cổ phong bài 10) Luồng tư tưởng giận đời ghét tục, trở về với thiên nhiên của đạo gia kết hợp với tinh thần du hiệp, lấy tinh thần phản nghịch đả kích trật tự và lễ giáo xã hội phong kiến, lấy thái độ ngạo mạn mà kinh thường bọn quyền quý trong tập đoàn thống trị Tìm kiếm sự tự do cá nhân và giải phóng cá tính Do cơ sở tư tưởng đó mà lí tưởng và nguyện vọng đẹp đẽ thể hiện trong thơ ông thường phù hợp với yêu cầu của tầng lớp trí thức tiến bộ đương thời và ở một mức độ nào đó nó cũng phù hợp với yêu cầu của nhân dân nói chung, làm cho phần lớn thơ ông chan chứa một tinh thần lãng mạn tích cực và sáng ngời như ngọn lửa chưa bao giờ tắt Ông cũng đã lấy nền tảng tư tưởng đó
làm chuẩn mực cho hoạt động chính trị của mình, theo suy nghĩ “công thành thân thoái”
“ Mong được giúp chúa hiền Công thành về rừng cũ.”
“Xe tung bụi mù trời, Giữ trưa mà tối mịt!
Hoạn quan lắm bạc vàng, Liền mây nhà cao tít
Lũ chọi gà trên đường,
Trang 19Nghiêu, Chích nào ai biết!”
(Cổ phong- Bài 24) Ông còn là người yêu thiên nhiên và chính thiên nhiên đã tạo nên nguồn cảm hứng vô tận cho thi nhân, dưới đôi mắt thi nhân, thiên nhiên hiện lên với nhiều sắc thái khác nhau, thể hiện sự giao hòa giữa thi nhân và đất trời Có khi mang một nét đẹp tuyệt vời làm mê hồn người
“Chèo thuyền xuống bến Quảng Lăng Trên đình Chinh Lỗ một vừng trăng treo
Hoa đồi như dải gấm thêu Trên sông đốm lửa như chiếu sao sa”
(Dạ hạ Chinh Lỗ đình)
Đôi khi thiên nhiên hùng vĩ khiến người ta choáng ngợp, bất ngờ như bài:
“Vọng Lư sơn bộc bố, bài 2”
“Nắng rọi Hương lô khói tía bay
Xa trông dòng thác trước sông này
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây”
Trong bài Tĩnh dạ tư, ông đã kết hợp yếu tố trữ tình và tự sự để miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên:
“Đầu giường ánh trăng rọi Mặt đất ngỡ là sương Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương”
Những bài thơ miêu tả thiên nhiên của ông, dù trong sáng, siêu phàm hay hào phóng, mạnh mẽ, đều có thể đưa lại cho chúng ta một sự hưởng thụ cái đẹp, hung đúc tâm hồn chúng ta và khích lệ lòng yêu nước
Tinh thần yêu nước của Lý Bạch ngoài cách gởi gắm tâm tình, cách miêu tả đối với thiên nhiên, còn được thể hiện ở nỗi đau xót khi đất nước gặp nguy, xót thương cho người dân vô tội phải chụi nhiều mất mát trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, mà bản thân thì không thể xoay chuyển tình thế
Trang 20“Tháng ba Lạc Dương bụi Hồ bay, Trong thành Lạc dương oán hận đầy
Thiên Tân nước chảy sóng như máu
Xương trắng ngỗn ngang tũa đống cây”
(Mãnh hổ hành) Cho nên lòng ông lúc này:
“Ruột đứt không vì nghe nước Lũng
Lệ rơi nào phải dạo đàn ung.”
(Mãnh hổ hành) Thế nhưng:
“Bệ rồng nào dám dâng mưu sách, Đành trốn về Nam lánh giặc Hồ.”
(Mãnh hổ hành) Bên cạnh đó, ở Lý Bạch luôn chứa đựng tinh thần nhân đạo, thông cảm cho sự đau khổ của người dân, yêu thương con người, phản ánh một cách khá chính xác hiện thực cuộc sống Tuy Lý Bạch chưa trải nghiệm đời sống của nhân dân lao động một cách đầy đủ nên số lượng tác phẩm viết về đề tài này không nhiều nhưng như vậy cũng đã thể hiện được sự chân thành của thi nhân đối với người lao động Ông hiểu:
“Nhà nông mùa màng khó nhọc, cô gái hàng xóm đêm khuya giã gạo lạnh lùng.” Cũng
là tinh thần nhân đạo, ông cũng dành những vần thơ nói về người phụ nữ, một lực lượng luôn bị xã hội phong kiến xem thường, việc xuất hiện trong thơ ca là rất hạn chế
Đó cũng không nằm ngoài mục đích lên án xã hội, xót thương cho bản thân, cho con người Trong Lý Bạch ta dễ dàng nhận thấy sự mâu thuẫn đó là ông giận đời, ghét tục, yêu tự do, tinh thần ẩn dật Một mặt gắn bó với thiên nhiên đất trời, tuy nhiên khi
có cơ hội thì ông luôn hăm hở lao vào con đường chính trị, khát vọng lập công danh rất mạnh mẽ trong ông, bởi lòng yêu đất nước yêu quê hương luôn dạt dào trong lòng
thi sĩ Ông mong muốn “đem tài trí năng lực nguyện giúp đỡ nhà vua, làm cho thiên
hạ yên ổn, bốn bề thanh bình”, “cứu dân đen”, “làm cho dân an cư lạc nghiệp” Nhưng chính sự đen tối của xã hội đã khiến ông trở thành người “bất đắc chí” cho nên
mới nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt
Trang 21Tóm lại: “Thơ Lý Bạch là thơ lãng nạn, nói chung lành mạnh và tích cực Nội dung và phong cách thơ ấy chính là phản ánh lối sống, tính cách và tư tưởng của ông, cho nên muốn tìm hiểu ở chỗ đó Lý Bạch là con người cuồn phóng, không chịu sự trói buộc nào
Thơ Lý Bạch có một phong cách phóng khoáng, hào hùng rất đặc biệt Phong cách gắn liền với nội dung tư tưởng các bài thơ mà cũng gắn liền với nhân cách của
nhà thơ Lời thơ không sắp đặt, không trau chuốt, đẹp một cách tự nhiên” [10; tr.137]
2.3 Nghệ thuật thơ Lý Bạch:
Lý Bạch chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực trong Kinh thi, ảnh hưởng sâu sắc nhất vẫn là những tác phẩm của Khuất Nguyên trong Sở từ Lý Bạch đã kế thừa và phát huy truyền thống lãng mạn tích cực của Khuất Nguyên, tuy nhiên có sự phát triển thêm Về nội dung có phần rộng hơn, thơ ông luôn chan chứa tình yêu quê hương, đất nước, thể hiện sự đồng cảm đối với những số phận khổ đau bị áp bức, nỗi phẫn uất trước xã hội đen tối, tỏ ra căm gét bọn thống trị phong kiến thể hiện qua những vần thơ
có tính phản kháng mãnh liệt Về bút pháp, ông hấp thụ thủ pháp khoa trương của thơ
ca nhân gian nhưng có sự sáng tạo riêng nhờ vào trí tưởng tượng bay bổng của mình:
“Khách từ Trường an đến, Lại trở về Trường An
Lòng ta cơn gió cuốn, Trèo lên cây Tần quan
Tình này khôn xiết kể, Bao giờ lại gặp nhau?
Nhìn xa nào có thấy, Mây mù khuất núi ngàn.”
(Kim Hương tống Vĩ Bát chi Tây Kinh- Lý Bạch) Ông đã dùng sức tưởng tượng để nói lên sự quyến luyến của mình với Trường
An Ông là người yêu thiên nhiên, tất cả những hình ảnh về thiên nhiên hiện lên trong thơ ông hết sứ kì ảo, khác thường, như một con người đó là do thủ pháp nhân cách hóa Khi nói đến ánh trăng thì không phải đơn thuần là ánh trăng bình thường mà ông còn kết hợp việc sử dụng thủ pháp nhân cách hóa để thể hiện một ánh trăng nó không chỉ đẹp mà còn là người bạn tri âm của thi nhân:
“Chiều hôm bước xuống chân đèo,
Trang 22Bóng trăng trên núi cũng theo cùng về.”
Ông có rất nhiều sáng tạo khi sử dụng nghệ thuật phóng đại:
“Tóc trắng ba nghìn trượng,
Vì buồn dài lạ sao?”
Cách khoa trương của Lý Bạch không làm cho người ta thấy hình ảnh trong thơ trở nên xa xôi, lạ lẫm mà ngược lại nó trở nên đẹp, có sức biểu đạt tâm tư tình cảm lớn lao làm cho ta tưởng chừng như không khoa trương thì không được
Trong thơ ông ta bắt gặp một thế giới ảo tưởng bao la với những hình tượng tráng lệ, nhiều sắc thái, thể hiện thành công tinh thần lãng mạn tích cực và nội dung cũng đầy đủ hơn đó là nhờ ông kết hợp cách thể hiện như thần thoại, ảo tưởng và khoa
trương lại với nhau trong việc thể hiện Trong các bài “Thục đạo nan, Mộng du Thiên
Mụ ngâm lưu biệt, Lương phủ ngâm, Bắc phong hành, Viễn biệt ly…”, ông đều kết
hợp những cách thể hiện đó với mức độ khác nhau
Đứng trên phương diện nghệ thuật với việc học tập thơ ca dân gian thì thành công rõ rệt nhất của thơ Lý Bạch là sử dụng ngôn ngữ để khác họa hình ảnh, ngôn ngữ trong thơ ông sinh động, trong sáng, hoa mĩ và tự nhiên Đặc biệt là ngôn ngữ tự nhiên thì đời sau khó mà bì kịp Hình ảnh trong thơ hiện lên giản dị nhưng thoát tục, trong những bài luận về thơ ông có nói:
Gió thu thổi không ngớt,
ải ngọc tình bao la
Trang 23Bao giờ dẹp yên giặc, Cho chàng khỏi xông pha.”
(Tý dạ ngô ca)
“Tóc em mới kín trán, Trước của bẻ hoa đùa
Chàng cưỡi ngựa trúc lại, Quanh ghế tung mơ chua
Cùng ở xóm Trường Can, Đôi trẻ vui tha hồ.”
(Trường can hành) Ngay cả những bài ông tự đặt đề mà làm, những bài ngũ ngôn, thất ngôn tuyệt
cú đều chứa đựng phong cách dân ca:
“Hái sen, gái nhược gia, Thấy khách lướt thuyền qua
Cười lẫn trong sen mất, Giả thẹn chẳng quay ra.”
(Việt nữ từ, bài 3) Lối sử dụng đề tài này phù hợp với phong cách lãng mạn Về phương diện ngôn ngữ, thơ ông có đặc điểm chất phác, tinh luyện và sáng đẹp, ngôn ngữ giàu hình ảnh
âm thanh nhạc điệu Ông có sử dụng điển cố đã trở thành quen thuộc, ít có điển cố cầu
kì khó hiểu
Bên cạnh việc học tập thơ ca nhân gian ông còn tiếp thu một cách có phê phán
kĩ xảo ngôn ngữ của các nhà thơ ưu tú từ Ngụy Tấn trở về sau và kế thừa ngôn ngữ của Đào Uyên Minh, Tạ Linh Vận, Bão chiếu, Tạ Diễu và Dĩu Tín …
Có thể nói nghệ thuật thơ Lý Bạch đã đạt tới mức lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, đọc lên có vị ngọt ngào tươi mát, nhưng cũng có niềm khẳng khái tự hào, bay bổng Lý Bạch đã để lại cho đời bấy nhiêu tác phẩm và ông vẫn đứng vững trong xã hội con người vì thơ ông đã chắp cánh cho con người bay cao
2.4 Đóng góp của Lý Bạch và thơ ông trong nền thi ca thời Đường
Trong thời thơ ca Đường phát triển cực thịnh, có hai trường phái có ảnh hưởng sâu rộng nhất và có những thành tựu lớn nhất đó chính là trường phái hiện thực mà đại biểu là Đỗ Phủ và trường phái lãng mạn với đại diện là Lý Bạch Chính những tên tuổi
Trang 24này đã tạo nên một thời đại hoàng kim cho văn học Trung Quốc nói riêng và văn học thế giới nói chung Trong giai đoạn từ Khai Nguyên đến Thiên Bảo, thế nước thịnh vượng, văn hóa phát triển và kinh tế phồn vinh, hiện thực đó đã tạo nên tinh thần phấn khởi, sôi nổi của thời đại và đưa lại nhiệt tình và lý tưởng lãng mạn cho các nhà thơ, cho nên chủ nghĩa lãng mạn đã trở thành dòng thơ chủ đạo của thơ ca thời đó mà Lý Bạch là đại diện tiêu biểu Lý Bạch là nhà thơ lớn thời Đường, được mệnh danh là
“người Trung Hoa kim cổ kỳ nhân” ông luôn là một ngôi sao sáng trên thi đàn Trung
Quốc từ thời nhà Đường đến nay, người ta thường gọi ông là Thi tiên (Trích tiên Lý Bạch) Hơn một ngàn bài thơ của Lý Bạch còn để lại có một ảnh hưởng rất sâu rộng trong lịch sử văn học Trung Quốc và được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian Ở Trung Quốc cũng như trên thế giới, thơ Lý Bạch như một kho báu vô giá, là đối tượng thu hút những nhà nghiên cứu bởi họ luôn tìm thấy những vẻ đẹp mới trong thơ ông Thơ của Lý Bạch giản dị tự nhiên, không cầu kỳ chải chuốt mà ý thơ sâu sắc, có sức truyền cảm mạnh mẽ và sức quyến rũ một cách lạ lùng kết hợp với phương hướng sáng tác đúng đắn là kế thừa có phê phán, phục cổ để cách tân thì Lý Bạch không những đưa thơ Đường đến chổ phồn vinh mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển thơ Đường sau này Một số nhà thơ về sau đã tạo nên những kiệt tác nhờ học theo lối sáng tác của Lý Bạch cùng với sự sáng tạo của bản thân như Bạch Cư Dị, Trương Tịch, Vương Kiến …, đó là những nhà thơ nối bước theo thể nhạc phủ của Lý Bạch Tài năng của Lý không chỉ ở thể thơ này mà ở những lối sáng tác khác thì ông cũng khiến người ta ái mộ, đặc biệt phải nói đến tuyệt cú, chính nó đã tạo nên vị trí độc tôn cho thi nhân Tuyệt cú của ông có thể nói là xuất quỷ nhập thần Người viết đã sưu tầm được một vài nhận định của một số học giả về tuyệt cú của ông Hồ Chấn Hanh dẫn lời
cổ nhân nhấn mạnh :"Thái Bạch với tuyệt cú ngũ thất ngôn, ba trăm năm đời Đường thực chỉ có một người" ("Thái Bạch ngũ thất ngôn tuyệt cú thực Đường tam bách niên nhất nhân") Bản thân ông cũng ca ngợi: "Ngũ thất ngôn tuyệt cú, Thái Bạch quả là thần!"… Sau này, các tài liệu hiện đại nghiên cứu thơ Lý Bạch hay thơ tứ tuyệt đời
Đường nếu có nhắc tới Lý Bạch cũng cùng chung nhận xét đó Giáo sư Dịch Quân Tả
trong cuốn "Văn học sử Trung Quốc" [5; tr.383] cũng cho rằng tuyệt cú của Lý Bạch
"thật cao diệu" và "thơ tuyệt cú của Đỗ lại thua Lý" [5; tr.399] , những nhận định
trên đều cùng một quan điểm là công nhận địa vị bậc nhất của Lý Bạch về tứ tuyệt trong thi đàn tứ tuyệt thời Đường.
Trang 25Đến nay thì thơ Lý Bạch còn trên dưới 1000 bài, bài nào cũng được đánh giá rất cao Có được thành tựu như vậy ngoài việc người ta khâm phục tính cách phóng khoáng và tư tưởng tiến bộ của ông bên cạnh đó như ta đã nói, trong những trang thơ ông thể hiện những lí tưởng và nguyện vọng đẹp đẽ thường phù hợp với yêu cầu của tầng lớp trí thức tiến bộ đương thời và ở một mức độ nào đó nó cũng phù hợp với yêu cầu của nhân dân nên thơ Lý được nhiều tầng lớp, giai cấp chấp nhận Ông đã vận dụng thiên tài thi ca của bản thân, sự tu dưỡng nghệ thuật rộng lớn và tinh tế của mình, tình yêu đối với tổ quốc và nhân dân, cũng như sự nhận thức và lí giải sâu sắc của mình đối với cuộc sông hiện tại cùng sự trải nghiệm của chính bản thân mình trong suốt cuộc đời đầy thăng trầm, việc vận dụng những phương pháp sáng tác khác nhau, xây dựng những phong cách nghệ thuật của riêng mình để phản ánh thời đại cùng với những biến cố xảy ra trong xã hội, tạo nên những kiệt tác làm rung động bao thế hệ không chỉ trong giới trí thức mà cả những người lao động bình thường cũng biết không nhiều thì ít về ông cũng như thơ ông Có thể nói chính Lý Bạch đã đưa thơ ca lãng mạn đạt đến đỉnh cao về nội dung lẫn nghệ thuật Có được thành công vượt bậc như vậy ngoài tài thơ phú bẩm sinh, kinh nghiệm cuộc sống cùng với những biến cố của thời cuộc thì việc tích cực học tập những người đi trước là một nhân tố rất trọng Ông coi trọng Hán Ngụy, học tập cả cái hay của Dĩu Tín lẫn cái dụng công của Âm khanh,
Hà Tốn Không những vậy Lý Bạch còn không ngừng ca ngợi thơ của những bậc tiền bối như tứ kiệt thời sơ Đường, khâm phục cả những nhà thơ cùng thời như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên…, có thể nói ông đã đạt được thành tựu như Nguyên Chẩn nói:
“Có được tất cả thế mạnh của cổ kim, mà lại kim được cái độc đáo của từng người”
[6;tr.418] Lý Bạch đã không ngừng nghiên cứu, học hỏi và tiến theo phương châm kế
thừa có phê phán và phục cổ để cách tân, chính phương hướng sáng tác này đã ảnh hưởng đến người đương thời và người đời sau Gần đây người viết có truy cập một số thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng và đã nhận được một bài báo đưa tin
về sự kiện Tháng Di sản châu Á diễn ra ở Vancouver (Canada), nhiều bài thơ của Lý Bạch được tôn vinh tại đây, các tác phẩm của ông đã được ngâm thành 10 thứ tiếng Các bài thơ của ông được trình bày bởi World Poetry Extravagana, một tổ chức chuyên thúc đẩy sự tôn vinh các nhà thơ vĩ đại trên thế giới Trong khi đó, câu chuyện cuộc đời của Lý Bạch trong thời kỳ hoàng kim của thơ Trung Hoa cũng được nêu bật tại Richmond, thành phố láng giềng của Vancouver Sau đây người viết sẽ trích một số
Trang 26nhận định của những người quan tâm đến thơ Lý Bạch và người có lien quan đến sự kiện này Ông Jan Walls, tiến sĩ 70 tuổi chuyên nghiên cứu về văn học Trung Hoa
đánh giá cao thơ Lý Bạch, ông nói: “Các chủ đề trong thơ của Lý Bạch mang tính toàn cầu Chúng tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp và đề cập đến những điều mà ai cũng thấy gần gũi: “Niềm vui sum họp, nỗi buồn chia ly, núi non hùng vĩ, biển cả bao la, sinh, lão, bệnh, tử và mọi khía cạnh của cuộc sống” Ông Lawrence Lim, người Singapore
có nguồn gốc ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) là người cảm thấy vô cùng vinh dự trước
sự kiện này bởi bản thân ông cũng là một người Trung Quốc và là người yêu thơ của
họ Lý, ông nhận định như sau : “Lý Bạch viết về con người và cảnh vật xung quanh, về
sự sáng tạo và thiên nhiên Các bài thơ của ông ra đời từ cách đây hàng ngàn năm, nhưng giờ ngắm những dãy núi vẫn thấy một màu xanh như thế Lý Bạch có khả năng siêu phàm trong việc mô tả cảm xúc của con người trước cảnh vật thiên nhiên”
Tài năng của Lý Bạch không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà còn vươn xa ra tầm quốc tế Tất cả những vấn đề mà người viết trình bày ở đây và một vài nhận định của các học giả cũng đã làm sáng tỏ được phần nào về vị trí, ảnh hưởng của Lý Bạch cũng như thơ ông trong nền thi ca đường, chứng minh cho địa vị độc tôn của thi nhân trên thi đàn Trung Quốc và cũng đã chiếm được một vị thế quan trong trong nền văn chương nhân loại Thành tựu mà Lý Bạch đạt được khó có người nào sánh kịp, có thể nói như Lý Dương Băng: “Thiên tải độc bộ, duy công nhất nhân” (hàng ngàn năm chỉ
có một mình ông mà thôi), đó là câu nói bất hủ về Lý Bạch trong "Thảo Đường Tập Tự"
Trang 27Chương 3:
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ LÝ BẠCH
Vương An Thạch đã nhận xét rằng: “Thơ Lý Bạch trong 10 bài thì đã có 9 bài liên quan đến phụ nữ và rượu” Đó có thể là nhận định chủ quan nhưng theo chúng tôi
tìm hiểu thì quả thật Lý Bạch viết rất nhiều về phụ nữ và rượu, đặc biệt là về phụ nữ thì có khoảng 250 bài thơ có liên quan đến phụ nữ chiếm khoảng 1/4 số lượng các bài thơ của Lý Bạch, và viết riêng về phụ nữ thì có hơn 80 bài Theo thống kê của Lư Tú
Hà thì: “Trong thơ Lý Bạch có khoảng 110 lần nhắc đến từ mỹ nữ, 28 lần nhắc đến từ
mỹ nhân, 24 lần nhắc đến từ kỹ nữ” Chỉ với những thống kê đó ta cũng đã thấy được
sức ảnh hưởng của người phụ nữ trong sáng tác của thi nhân và thấy được tình cảm của thi nhân dành cho họ Có thể những vần thơ về trăng về rượu đã làm nên thành công cho sự nghiệp thơ Lý Bạch, thì những vần thơ về phụ nữ cũng góp phần không nhỏ
3.1 Các dạng phụ nữ được nhà thơ đề cặp
Lý Bạch là người có chí lớn nhưng không thực hiện được, ông từng đi khắp nơi
để trải nghiệm cuộc sống, để quên sự đời Ông thấy nhiều cảnh đời khác nhau do đó ông có tình cảm dạt dào vời những kiếp người khổ đau thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau đặc biệt là đối với phụ nữ Trong thơ ông thường chú ý đề cặp đến những dạng phụ nữ đó là người chinh phụ, người phụ nữ lấy chồng khách thương và người cung nữ và một vài dạng phụ nữ khác Với đề tài về phụ nữ thì có thể nói ông là người viết nhiều, viết hay nhất
3.1.1 Nhóm những bài thơ tiêu biểu về người chinh phụ
Đây là hình tượng nổi bậc nhất trong thơ Lý Bạch, bởi nó chiếm một dung lượng khá lớn trong số những vần thơ về phụ nữ Xã hội đang thời chiến loạn làm cho tan nhà nát cửa nhiều gia đình vốn đang hạnh phúc và để lại nỗi khổ cho người đi kẻ ở Viết về đề tài này nhiều chứng tỏ có rất nhiều người chinh phụ phải rơi vào cảnh đau khổ như vậy Đó là minh chứng rõ ràng nhất phản đối chính sách chiến tranh của nhà Đường Bên cạnh đó nhà thơ muốn phê phán tư tưởng thích lập nên công danh trong thời loạn lạc của người trai trong xã hội phong kiến mà không đói hoài đến cảm nhận của người vợ Ông đã viết rất nhiều bài thơ khắc họa tâm lý nhớ mong, buồn nản, chờ đợi, niềm vui đến với họ có khi như ánh sáng vụt ngang, bản thân chưa kịp cảm nhận được đã phải trở về với hiện thực đau khổ đó là những lúc được tin chồng Lý Bạch
Trang 28thường sử dụng biện pháp đối trong cách miêu tả của mình để làm nổi lên cái cô đơn lẻ loi của người chinh phụ khi đem đặt nàng vào cuộc sống rộn rịp bên ngoài Cảnh sắc thì muôn màu muôn vẻ con người càng cô đơn, càng trống vắng Đó là tâm trạng của
người phụ nữ trong bài “Tử dạ thu ca”:
長安一片月 Trường An nhất phiến nguyệt
萬戶擣衣聲 Vạn hộ đảo y thanh 秋風吹不盡 Thu phong xuy bất tận 總是玉關情 Tổng thị ngọc quan tình 何日平胡虜
Hà nhật bình Hồ Lỗ 良人罷遠征 Lương nhân bãi viễn chinh
Trường An trăng một mảnh, Đập vải rộn muôn nhà, Gió thu thổi về mãi, Đưa đến tình ải xa
Bao giờ dẹp xong giặc
Để chàng thôi xông pha
(Tổ văn học Trung Quốc- khoa Văn ĐHTH dịch) Ánh trăng trơ trọi giữa bầu trời cũng như số phận của người chinh phụ, thật bi
ai, thật trống trải, ánh trăng như soi thấu được tận đáy lòng con người đau khổ Ở đây người phụ nữ sống trong cảnh rộn rịp, nhưng một luồng gió từ quan ải thổi về đã mang theo cả tình cảm nhớ nhung, và mong ước dẹp xong giặc để đón chồng trở về Niềm hy vọng chính là thứ giúp họ sống qua ngày về mặt tinh thần Cùng một tâm trạng nhưng
người chinh phụ trong bài “Tý dạ ngô ca bài 4” thể hiện sự nhớ thương qua hành động
thức suốt đêm may áo gửi chồng Những cử chỉ luồng kim thấy lạnh, tuy run không cầm nỗi kéo dao nhưng cũng đủ khắc họa một tâm hồn tẻ lạnh Người phụ nữ này thể
Trang 29hiện sự nhớ thương da diết qua từng đường kim mũi chỉ, trời rét tay run vì lạnh nhưng vẫn kiên nhẫn ngồi may áo cho chồng, cái nàng đang đối mặt không chỉ là cái rét của
từ thiên nhiên mà còn là cái lạnh buốt của sự cô đơn
Ở bài “Đảo y thiên” tác giả không chỉ mô tả hình ảnh của người chinh phụ, một
người phụ nữ đã xa chồng 10 năm, với sự nhớ nhung da diết, ở người phụ nữ này với niềm hy vọng hé lên rồi vụt tắt mà tác giả còn vẽ lên hình ảnh của người chinh phu trong trí tưởng tượng của chinh phụ:
Trang 30Lâu thượng xuân phong nhật tương yết
Trang 31Nguyện tác Dương đài nhất đoạn văn
Chốn phòng khuê mười năm vắng lạnh Hận cô đơn, ngắm cảnh chau mày Xuân về chiếc én tung mây
Mang thư viễn xứ về đây dâng nàng Tay mở thư, cõi lòng tê tái
Chàng viễn chinh tận mãi Giao- hà
Giao hà về Bắc mờ xa, Ước làm chim nước nhởn nhơ xuôi dòng
Ngũa tơ xanh bên chàng mây phủ, Chốn lầu hồng thiếp ở đầy rêu
Gió xuân sắp hết trên lầu, Lòng nào ngắm mái tóc sầu bên gương
Sáng thổi dịch nương làn hoa rụng, Đập chiến bào dưới bóng trăng đêm
Rèm châu phủ kín hàng hiên, Đêm khuya dằng dặc trăng lên cao dần
Giải đồng tâm trên mành buông giở,
Tơ hợp hương phất nửa chiếu quỳnh Chiếu mành dệt gấm liền cành, Dưới đèn sao chỉ riêng mình bóng ta
Có ai ra sa trường ta gửi, Chiếc kéo vàng lót gối tương tư
Khăn lau mắt lệ đẫm mờ,
Lá cây trút sạch vẫn chưa thấy người
Nếu còn viễn thú xa xôi, Thiếp xin làm áng mây trôi theo chàng
(Tổ Văn học Trung Quốc dịch) Tác giả đối chiếu, so sánh giữa cảnh chinh phu nơi chiến trường và chinh phụ trong phòng lạnh, cả đôi bên đều mang nỗi đau khổ, nỗi nhớ thương đối phương, vì
sao họ không thể gặp nhau, đó là vì cuộc chiến tranh Và “Ước làm chim nước nhởn
Trang 32nhơ xuôi dòng; Thiếp xin làm áng mây trôi theo chàng”, đó chính là những mơ ước táo
bạo của chinh phụ, sẵn sàng rũ bỏ tất cả để được đồng hành với chàng Đây là một tình yêu mãnh liệt, một nỗi nhớ da diết, thường trực ngay khi mơ vẫn không dứt Người phụ nữ này khiến ta không khỏi khâm phục và cảm động Tuy cuộc sống của nàng ở chốn lầu hồng nhưng nàng không thể an nhàn mà hưởng hạnh phúc tâm trạng lúc nào cũng khổ đau vì nỗi nhớ chia lìa có thể nói đây là tâm trạng chung của đa số phụ nữ trong xã hội bấy giờ, đang xảy ra chinh chiến triền miên
Vì chiến tranh mà vợ phải xa chồng, chịu cảnh phòng không chiếc bóng, cuốn rèm trông trăng mà lòng đau như cắt, nhớ thương, lo lắng không nguôi Đó là hoàn
cảnh của người chinh phụ trong bài “Trường tương tư kỳ nhất”
長相思,
Trường tương tư 在長安。
tại Trường An 絡緯秋啼金井闌,
Lạc vi thu đề kim tỉnh lan 微霜淒淒簟色寒。
Vi thương thê thê đảm sắc hàn 孤燈不明思欲絕,
Cô đăng bất minh tứ dục tuyệt 卷帷望月空長嘆。
Quyển duy vọng nguyệt không trường than
Nhớ nhau hoài ở Trường An Đêm thu, sẹt sành kêu, lang cang giếng vàng Sương mỏng ảm đạm, chiếu nằm lạnh lẽo Một bóng đèn khuya hiu quạnh không sáng, nhớ không dứt
Cuốn rèm trông trăng lại thanh thản
(Lê Nguyễn Lưu dịch) Hay những lúc ngày tàn, trăng lên, người chinh phụ càng thêm nhớ nhung, thao
thức không ngủ, đứt ruột đợi tin chồng
Trang 33日色欲盡花含煙,
Nhật sắc dục tận hoa hàm yên 月明如素愁不眠。
Nguyệt minh dục tố sầu bất miên
Mặt trời sắp tắt khói lồng hoa Buồn thương thao thức ngắm trăng ngà
( Trường tương tư kì nhị- Lê Nguyễn Lưu dịch)
Cũng có khi nhà thơ nhìn vầng trăng núi Thiên San mà ông nghĩ tới nơi quan ải
Ngọc Môn mà ông xót thương cho người đi chinh chiến “Xưa nay chinh chiến mấy ai về”, và nhỏ lệ thay cho người chinh phụ ở nhà mòn mỏi chờ tin Đó là tình cảnh khổ đau của chinh phu và người chinh phụ trong “Nguyệt quan san” Cảm thương cho cảnh
khổ của chinh phu, nhìn mây nước mà nhớ quê nhà bởi trong thời kì này thì ai cũng biết rằng:
由來征戰地
Do lai chinh chiến địa 不見有人還 Bất kiến hữu nhân hoàn
Xưa nay người chinh chiến Một đi là biệt tăm
Bản thân chinh phu chấp nhận và chỉ biết:
戍客望邊色 Thú khách vọng biên sắc 思歸多苦顏
Tư quy đa khổ nhan
Lính thú nhìn mây nước Nhớ nhà, mặt ủ nhăn
Lúc này tình cảnh của người vợ ở nhà cũng không vui sướng gì hơn khi phải sống trong cảnh lầu cao hiu quạnh, còn tâm hồn thì trống trải lo lắng phập phồng, than thở cho số phận, căm giận chiến tranh đã làm chia lìa hạnh phúc:
Trang 34高樓當此夜 Cao lâu đương thử dạ 怹息未應閒 Than thức vị ưng nhàn
Gác cao, ai thao thức Thở ngắn lại than dài
để trong thơ, thông qua đó ông cũng thể hiện sự chán gét chiến tranh, lên án triều đình phong kiến theo đuổi chính sách bạo lực
3.1.2 Nhóm những bài thơ tiêu biểu về người thương phụ
Bên cạnh những người chinh phụ thì người phụ nữ có chồng làm nghề buôn bán cũng là đối tượng được nhà thơ hướng đến Tác giả đã thay họ để lên tiếng oán trách,
trách cho số phận, trách xã hội Người xưa thường có câu : “Phi thương bất phú”, theo
quan niệm nho giáo về người quân tử thì phải coi thường vàng bạc, vật chất, thương nhân là người coi trọng việc kiếm tiền, mặc dù họ có giàu thì họ vẫn bị xem thường bởi thương nhân là người không trong sạch Người phụ nữ là vợ của những thương nhân thì họ cũng bị xem thường bởi họ có dính đến tiền Cho nên thương phụ là chủ đề chưa được nhiều người khai thác triệt để, ta ít thấy xuất hiện trong những vần thơ của những tác giả khác, nếu có thì cũng là những người thương phụ sống xa xỉ, độc ác chứ chưa thật nhiều nhà thơ dành sự ưu ái cho họ
Trong bài Trường can hành, tác giả mô tả mối tình chung thủy của người vợ thương nhân Ở đây có sự oán trách, trách thái độ ham lợi nhuận mà bỏ bê hạnh phúc gia đình, từ đó ta nhận thấy nội dung chính là thể hiện khát khao có được hạnh phúc Bài thơ mô tả sự phát triển của tình yêu, từ buổi đầu thơ ngây hổ thẹn đến lúc quấn
Trang 35nhau không muốn rời Khi tình yêu đang nồng thắm thì người chồng lại đi mãi không
Chiết hoa môn tiền kịch 郎騎竹馬來,
Lang kỵ trúc mã lai 繞床弄青梅。
Nhiễu sang lộng thanh mai 同居長千里,
Đồng cư Trường Can lý 兩小無嫌猜。
Lưỡng tiểu vô hiềm sai 十四為君婦,
Thập tứ vi quân phụ 羞顏未嘗開;
Tu nhan vị thường khai 低頭向暗壁,
Đê đầu hướng ám bích 千喚不一回。
Thiên hoán bất nhất hồi 十五始展眉,
Thập ngũ thủy triển mi 願同塵與灰,
Nguyện đầu trần dữ hôi 常存抱柱信,
Thường tồn bão trụ tín