1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn BIỂU TƯỢNG “ÁNH TRĂNG” TRONG THƠ lý BẠCH

79 711 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 700,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở mỗi thời đại thơ có nhữngđặc sắc riêng và thơ Đường được xem là đỉnh cao của thơ Trung Hoa và là một trong những đỉnh cao của thơ ca nhân loại, có ảnh hưởng lớn đến thơ ca của các quốc

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

NGUYỄN VĂN KHÁNH (MSSV: 6062117)

BIỂU TƯỢNG “ÁNH TRĂNG” TRONG

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử nhân loại, mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng Nền văn

hóa này được hình thành tùy theo tiến trình phát triển của mỗi dân tộc Và cũng từ đó

Trang 4

lịch sử dân tộc được hình thành Cùng với dòng chảy của lịch sử, con người cũng phảitrãi qua các cuộc đấu tranh với thiên nhiên, giặc ngoại xâm hay đấu tranh trong nội bộcác dân tộc…để sinh tồn và phát triển.

Bên cạnh nhu cầu về vật chất, con người còn có những nhu cầu về tinh thần, để

đáp ứng nhu cầu đó, các hình thức văn hóa nghệ thuật bắt đầu xuất hiện, lúc đầu quy

mô và chất lượng còn hạn chế, nhưng càng về sau nó càng trở nên hoàn thiện hơn

Nói đến văn hóa phương Đông, người ta thường đề cập đến văn hóa Trung Hoa,

vì văn hóa Trung Hoa là cái nôi của văn hóa phương Đông Trong đó, văn học có vaitrò hết sức to lớn Văn học phản ánh cuộc sống thông qua hình tượng nhân vật Thànhtựu của văn học Trung Hoa hết sức to lớn và có ảnh hưởng đến văn học các nước Á

Đông Vì vậy, việc tìm hiểu văn học Trung Hoa là một việc làm bổ ích và lý thú, góp

phần củng cố kiến thức, tăng cường thêm hiểu biết về những giá trị của văn học

Mỗi giai đoạn văn học đều có những thành công riêng với những tác giả tácphẩm xuất sắc mà cho đến ngày nay chúng ta vẫn được học và đọc Trong lịch sử vănhọc phong kiến Trung Hoa, đời Đường có nột vị trí rất quan trọng Dưới đời Đường,Trung Hoa là một quốc gia phát triển trên tất cả cả các phương diện: kinh tế, chính trị,

văn hóa, xã hội… Trung Hoa là một quốc gia có truyền thống về thơ, từ Kinh Thi chođến thơ hiện đại, thơ Trung Hoa có hơn 2500 năm lịch sử Ở mỗi thời đại thơ có nhữngđặc sắc riêng và thơ Đường được xem là đỉnh cao của thơ Trung Hoa và là một trong

những đỉnh cao của thơ ca nhân loại, có ảnh hưởng lớn đến thơ ca của các quốc gia lâncận

Trong các thể thơ Đường, có lẽ đặc sắc hơn cả vẫn là thể thơ tứ tuyệt, một thể

thơ có yêu cầu cao về niêm, luật, vận, đối, kết cấu… Thơ tứ tuyệt được rất nhiều nhàthơ cũng như các nhà nghiên cứu đánh giá cao Ngày nay, mặc dù thơ tứ tuyệt không

còn được phổ biến như trước nhưng trong tâm thức của mỗi người vẫn còn đọng lạinhững âm hưởng của thơ Đường

Việc nghiên cứu đề tài này giúp tôi hiểu rõ hơn về Đường thi, nhằm củng cốthêm kiến thức về mảng văn học nước ngoài Không những thế, nó còn giúp tôi rènluyện thêm các phương pháp nghiên cứu khoa học để sau này có dịp vận dụng vào quátrình làm việc của mình

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Trang 5

Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây ánh trăng luôn để lại nhiều ấn tượng sâu sắc

cho con người Trăng dù tròn hay khuyết đều có nét đẹp riêng Từ xa xưa, con người

xem việc thưởng nguyệt là một phần trong cuộc sống, là một thú vui tao nhã, từ đó bậtlên thành những tứ thơ Ngày nay, cuộc sống với bộn bề công việc nên người ta quên

đi việc thưởng nguyệt Nói như thế không phải phủ nhận hoàn toàn việc thưởng nguyệt

của người ngày nay

“Người phương Đông rất coi trọng những đêm trăng tròn”, họ dựa vào việc

xem thiên văn, xem trăng, xem sao…để dự báo thời tiết, và cũng dựa vào đó để suyđoán thời vận Ánh trăng không những có ý nghĩa thực tế mà còn có giá trị thẩm mỹcao, trăng là nguồn cảm hứng bất tận cho các thi nhân dù xưa hay nay Cũng không ai

biết từ bao giờ trong thơ trăng lại lung linh đến thế Con người không ai không thấybâng khuâng, buồn vui…khi ngắm vầng trăng sáng trên bầu trời Có lẽ vì thế mà thi sĩ

không thể hờ hững với trăng, phải bật thành tứ thơ Theo thời gian “ánh trăng là môtip

trữ tình tiêu biểu của thơ ca phương Đông” (Nguyễn Đăng Mạnh)

Nguyễn Thị Lan cũng có nhận định về trăng trong bài “Trăng trong thơ Lý

Bạch” “Trăng là một đề tài ruột của các thi sĩ, từ khi con người biết làm thơ Trăng

đi vào thơ của các thi nhân không chỉ ở vẻ đẹp vốn có của nó mà còn có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc Trăng gợi nhớ gợi thương Những kẻ tha phương thì nhìn trăng nhớ cố hương, những kẻ ưu tư buồn bã nhìn trăng để tìm bạn để có thể thông cảm, chia sẻ Những đôi tình nhân yêu nhau mượn trăng thề thốt…khi ấy hình ảnh vầng trăng hiện lên với những nét vui buồn khác nhau theo cách nhìn và tâm trạng của người ngắm trăng”.

Quả thật, trăng là biểu tượng không thể thiếu trong thơ ca từ cổ điển cho đếnhiện đại, mỗi bài là một ánh trăng rất riêng bởi ý nghĩa tượng trưng của nó là không

giống nhau và tâm trạng của thi sĩ cũng không giống nhau “Khảo sát hàng trăm bài

thơ của các vị thi tiên thơ Đường trong các tập Đường thi tuyển dịch, chúng ta thấy từ nguyệt xuất hiện với tần số khá cao… Có khi nguyệt xuất hiện ngay trong nhan đề của bài thơ, đó là những bài thơ mang chủ đề trăng…cũng có những bài thơ trăng xuất hiện đột ngột giữa bài thơ, trong một câu thôi” (Nguyễn Thị Lan)

Từ những dẫn chứng trên ta có thể khẳng định “ánh trăng” là mảng đề tài

không thể thiếu, rất phổ biến và cực kỳ phong phú, đồng thời cũng có nhiều giá trị đặcsắc trong thơ ca, nhất là thơ Đường

Trang 6

Có thể thấy biểu tượng ánh trăng trong Đường thi thật phong phú và đa dạng.

Trăng đi vào thơ với muôn vàn ý nghĩa tượng trưng Đặc biệt là trăng trong thơ Lý

Bạch, trăng như một tri âm tri kỷ, trăng chia sẻ những niềm vui nỗi buồn…trăng còn là

đối tượng để Lý Bạch gửi gắm lý tưởng, thể hiện chất triết lý

Song, biểu tượng ánh trăng cũng chỉ là một phần trong mảng đề tài chung vềthiên nhiên Việc nghiên cứu đề tài ánh trăng trong thơ Lý Bạch vẫn chưa thấy côngtrình nào riêng biệt mà chủ yếu là những bài phân tích, nhận định, đánh giá về một số

bài thơ có biểu tượng ánh trăng trong những công trình nghiên cứu lớn về Đường thi.Cho nên đề tài vẫn có sức thu hút, cần đi sâu tìm hiểu

3 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu

Hơn 1000 năm nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, nghiên cứuĐường thi, nhất là thơ tứ tuyệt Các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Việt Nam thường

đi sâu nghiên cứu về thi pháp, về luật thơ…vấn đề biểu tượng “ánh trăng” là một

mảng đề tài nhỏ trong hệ thống các mảng đề tài lớn của thơ Đường Mảng đề tài này

thường được lồng vào các vấn đề lớn khác Thực hiện đề tài này cần phải tập trung vào

những yêu cầu:

Ý nghĩa biểu tượng “ánh trăng” trong thơ Đường luật Trung Hoa có gì đặc

sắc?

Ý nghĩa biểu tượng “ánh trăng” trong thơ Lý Bạch có gì nổi bật?

Tìm và phân tích những bài thơ có biểu tượng ánh trăng tiêu biểu của TrungHoa và nhất là của Lý Bạch nhằm làm sáng tỏ lập luận

Việc nghiên cứu đề tài này giúp tôi nắm bắt sâu sắc hơn về hình thức, nội dung

và nghệ thuật của Đường thi, hiểu thêm về biểu tượng “ánh trăng” trong thơ Đường

mà nhất là “ánh trăng” trong thơ Lý Bạch, góp phần hoàn thiện hơn vốn kiến thức văn

học Trung Quốc cho bản thân

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tôi áp dụng nhiều phương pháp khác nhau Trước tiên làsưu tầm tài liệu, ghi chép sau đó tổng hợp lại các tài liệu, từ đó đề ra cách trình bày

thích hợp Với đề tài này tôi đã sử dụng nhiều phương pháp như: phân tích, tổng hợp,

so sánh đối chiếu, thuyết minh, giảng giải…nhằm làm rõ luận điểm bằng những lý lẽ

có đi kèm dẫn chứng cụ thể để giải quyết những yêu cầu của đề tài đặt ra

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Nhìn chung, tất cả các ngành khoa học hay một công trình nghiên cứu khoa học

đều phải có đối tượng và phạm vi nghiên cứu Việc làm đó giúp người nghiên cứu xácđịnh đúng đối tượng và khả năng tìm hiểu của mình về vấn đề đặt ra Đồng thời cũnggiúp người đọc tiếp xúc với vấn đề một cách trực tiếp và tăng thêm sức thuyết phục,

sức hấp dẫn

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài này là những bài thơ có biểu tượngánh trăng của Lý Bạch ngoài ra cũng có một số bài thơ có biểu tượng ánh trăng trong

thơ Đường Cho nên phạm vi sẽ tập trung chủ yếu vào những quyển “Đường thi tuyển

dịch” Bên cạnh đó còn có một số tài liệu nghiên cứu về thơ Đường cũng góp phần

giải quyết các vấn đề của đề tài

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Khái quát chung

Trang 9

Đường luật là một thể thơ có nguồn gốc từ Trung Hoa, có niêm luật, thanh vần

rất chặt chẽ, thường được gọi tắt là thơ Đường Thơ Đường Luật là một thể thơ ngắngọn có tối đa là bảy chữ, tám câu, diễn đạt nội dung một cách cô động xúc tích

Lương Duy Thứ cho rằng: “Người Trung Hoa vẫn tự hào đất nước mình là đất

của thơ – thi ca chi bang [8; 13] Mỗi khi nhắc đến thơ Đường, người ta thường nhắc

đến một thể thơ tuyệt diệu của Trung Quốc Thơ Đường cũng được lấy tên từ triều đại

phồn thịnh vẻ vang của Trung Hoa, đời Đường Cũng chính nhờ sự xuất hiện của thơ

Đường đã làm cho thơ ca Trung Hoa bước vào thời kì hoàng kim với tất cả sự vinh

quang Có thể nói thơ Đường đã để lại một dấu son chói lọi trong lịch sử thơ ca TrungHoa

Nam Trân đã từng viết “Trên thi đàn Trung Quốc, thơ Đường chiếm một vị trí

quan trọng, có thể nói rằng ở Trung Quốc trước kia chưa từng thấy một thời đại nào lại có một nền thơ ca rạng rỡ cho bằng thơ Đường Mặc dù bao nhiêu biến cố đã xảy

ra, hủy hoại rất nhiều di sản văn học của nhân dân, mà ngày nay chúng ta còn được hơn 48000 bài thơ của 2300 thi sĩ chừng ấy bài thơ còn sót lại, với nội dung phong phú và nghệ thuật trác việt cũng đủ đánh giá thời đại hoàng kim của nền thơ ca Trung Quốc và làm cho thơ Đường cũng rất Kinh Thi, Sở Từ và thơ ca hiện nay liệt vào hàng thơ ca ưu tú nhất của nhân loại”.

Có thể nói, Trung Hoa là cái nôi của thơ Đường và thơ Đường trở thành mộtphần quan trọng, không thể tách rời trong đời sống văn hóa nghệ thuật của Trung Hoa.Ngay từ khi ra đời cho đến khi phát triển đến đỉnh cao, thơ Đường có những đặc điểmrất riêng khó lẫn Từ cấu tứ, thể loại, ngôn từ, cho đến phong cách sáng tác….đềukhông trùng lấp với bất cứ thể thơ nào Ngay cách truyền tụng cũng mang dấu ấnriêng Ngoài việc in ấn bình thường, người Trung Hoa còn đem thơ Đường vào nhữngbuổi tiệc rượu, tiệc trà

Từ những bài thơ được ngâm vịnh, sáng tác trong tiệc dần dần được lưu truyềnrộng rãi trong nhân gian Ngoài việc đem thơ ngâm vịnh trong các tiệc, nhiều nhà thơcòn đề thơ của mình lên đá, khắc lên bia, lên cột nhà khách, quán trọ, nơi côngcộng…để lưu lại bút tích và tên tuổi nhằm truyền tụng đến mọi người

Còn vào khoảng Trung Đường về sau lại xuất hiện thêm hình thức đề thơ vào

tấm bảng, nhà thơ Tuyết Năng qua đất Thục về Tuyền Đình nhìn thấy “trong chổ nghỉ

Trang 10

chân có hơn 100 tấm bảng đề thơ”, việc đề thơ vào bảng này cũng góp phần phổ biến

thơ trong nhân dân

Dù trải qua biết bao thăng trầm lịch sử vậy mà thơ Đường vẫn một nét tươi vui

không tàn úa Cho đến bây giờ đọc lại thơ Đường mọi người vẫn cảm được cái mới

mẻ, tươi đẹp, sống động và hấp dẫn Không chỉ vì thơ Đường phản ánh chân thật mộtthời đại lịch sử của dân tộc Trung Hoa mà thơ Đường còn chứa đựng một thứ nghệ

thuật tinh vi, điêu luyện, đề tài phong phú, đa dạng và bổ ích “Những bài thơ Đường

tựa như những đồ chơi bằng ngọc ngà, chạm trỗ rất tinh xảo, trau dồi bóng bẩy, càng ngắm càng thấy đẹp, chơi bao lâu cũng không chán Nhưng thơ ấy lại có những tình ý cao, ngâm nga tiêu khiển và ngẫm nghĩ kỹ, thật là lợi cho tính tình biết bao” [10; 16]

Ngày nay khi xã hội càng phát triển theo xu hướng thời đại, có nhiều thể thơmới ra đời với rất nhiều tên tuổi tác giả nhưng việc nghiên cứu và tìm hiểu những giá

trị thơ ca của lịch sử là hết sức quan trọng, nhằm hiểu thêm những giá trị mà các “thi

tiên” đã gửi gắm trong thơ Chính vì vậy, thơ Đường vẫn có một giá trị bền vững trong

lòng độc giả, vẫn có nhiều người yêu thích, đọc, bình, nghiên cứu và sáng tác thơ

Đường

Dù câu chữ có hạn định, nhưng nội dung thì vô cùng đa dạng và phong phú đagiúp thơ Đường đã làm nên một diện mạo độc đáo cho mình mà không một thể thơ

nào sánh kịp “thơ Đường trở thành bước tranh sinh động về cuộc sống đời Đường, với

cấu trúc kì lạ, sự hư cấu và tưởng tượng diệu kì, nó mang cái đẹp cao” Mà mỗi nhà

thơ lại có phong cách rất riêng, nên thơ Đường trở thành một vườn hoa trăm sắc nghìnhương Nói đúng hơn, sự phát triển của thơ Đường cũng chính là sự phát triển của lịch

sử đất nước Trung Hoa

1.2 Những nguyên nhân làm cho thơ Đường phát triển

Đời đường gần 300 trăm năm tồn tại và phát triển (618 - 907) với biết bao thăng

trầm lịch sử Thời đại này đã tạo ra một thể loại thi ca chói lọi nhất trong lịch sử văn

chương Trung Hoa Đó chính là thơ Đường Thơ Đường có gần năm vạn bài thơ củatrên 2300 nhà thơ Đó là một hình thức chưa bao giờ thấy trong lịch sử văn học Trung

Quốc Sự phát triển đặc biệt đó do bốn nguyên nhân sau đây

 Thứ nhất: Do chế độ thi cử đặc biệt của đời Đường là coi trọng thơ ca Trước

Đường chọn nhân tài theo chế độ “cửu phẩm trung chính” – lập từ Ngụy Tấn Tùy bỏ

chế độ này, đặt ra chế độ khoa cử để chọn người tài Đường kế tục nhưng chủ yếu là

Trang 11

hỏi về sách (kế hoạch) Đến đời Đường Cao Tông (681) vua xuống chiếu sửa đổi Cácbài thi trong khoa tiến sĩ gồm hai phần: một bài tạp văn (thi, phú) thử thách thông hiểu

âm luật rồi sau đó mới thi sách

Chính vì thế, thơ ca trở thành con đường tiến thân, việc học thơ và làm thơ trở

thành một phong trào rộng rãi trong cả nước Phàm kẻ “độc thư” ai cũng biết làm thơ.

Ở kinh đô và các châu quận đều có mở lớp dạy thi phú để chuẩn bị cho thí sinh đi thi

Các vua đời Đường đều ham thích thơ và nhiều người là nhà thơ Đường TháiTông là người đã mở Hoàng Văn Quán để đọc sách và xướng họa với các bác sĩ trongtriều Đường Huyền Tông là một thi sĩ Ông sùng bái Lý Bạch chỉ ba khúc Thanh bình

điệu mà nhà thơ dâng vua Các ông vua như Hiến Tông (phong Bạch Cư Dị làm bác

học sĩ vì mấy bái thơ phúng giá) Mục Tông bổ Nguyên Chẩn làm từ bộ lang trung vìmấy bài ca) cũng đều ham chuộng và thưởng thức thơ ca

Chế độ dùng thơ phú để chọn nhân tài đã tạo ra một phong trào thơ, làm thơ cóchiều rộng và chiều sâu, qua phong trào đó các nhà thơ xuất hiện ngày càng nhiều

 Thứ hai: Quan trọng hơn do phong trào thơ dần dần rời khỏi cung đình, trở

thành tiếng nói của quần chúng Các nho sĩ muốn dùng thi cử để tiến thân thườngthuộc tầng lớp giữa và tầng lớp dưới Họ am hiểu đời sống, kinh lịch rộng, niếm đủmùi gian truân nên trong thơ họ hiện diện phản ánh rộng hơn, nội dung thơ phong phú

hơn

Điểm lại các nhà thơ có tiếng đời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…đều như vậy Họ sống khốn khổ, lang bạt kỳ hồ, ít ra cũng gặp những điều không maytrên con đường hoạn lộ Cuộc sống sẽ tiếp sức cho thơ ca họ, tạo nên sức sống cho thơ

ca họ Cho nên nguyên nhân quan trọng làm cho thơ ca Đường có giá trị chính là chỗ

thơ đời Đường ra khỏi cung đình

 Thứ ba: Do sự giải phóng về mặt tư tưởng, nhà Đường tôn trọng đạo Nho,

mà lại đề cao Lão giáo, Phật giáo và các tôn giáo khác cũng được tự do truyền bá

Nếu như ở đời Hán, Nho giáo độc tôn (Đổng Trọng Thư dâng sớ bãi truất Bách

gia độc Nho thuật) thì ở đời Đường cả Khổng, Lão, cả Phật đều được coi trọng Đường

Thái Tông tôn Khổng Tử làm tiên thánh, cho soạn lại Ngũ Kinh làm sách dạy học trò

Bên cạnh Khổng Tử, Lão Tử cũng được đề cao Lý Uyên (cao tổ) tôn Lý Nhĩ(Lão Tử) làm ông tổ và lập miếu thờ Cao Tông truy phong ông làm Huyền Nguyên

hoàng đế, đích thân chú thích Đạo Đức Kinh để phổ biến Đạo sĩ được coi trọng

Trang 12

Vương hầu khanh tướng tin đan dược, ưa cầu tiên Có người vì uống đan dược màvông thân như Hàn Dũ.

Mặt khác, đạo Phật cũng được du nhập và rất thịnh đạt Hai vị sư Huyền Trang(thời Trinh Quán) và Nghĩa Tình (Cao Tông) đã vượt bao khó khăn sang tận Ấn Độ

đem kinh phật về truyền bá ở Trung Quốc Việc đó được các vua Thái Tông và Cao

Tông nhiệt liệt tán thưởng Đến Văn Tông thì Trung Quốc có hơn bốn vạn ngôi chùa

và 70 vạn tăng ni

Tóm lại, sự phồn thịnh của cả Nho, Phật, Lão tạo nên một không khí giải phóng

tư tưởng giúp hình thành cục diện trăm nhà đua tiến và song song với nó là quang cảnhtrăm hoa đua nở về văn học nghệ thuật

 Thứ tư: Sự phát triển của các ngành nghệ thuật khác cũng tạo điều kiện cho

thơ Đường phát triển

Hội họa thời Đường có nhiều thành tựu với bao nhà danh họa như Vương Duy,

Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn Vương Duy chuyên về tranh sơn thủy bằng mực tàu mởđầu cho phái họa Nam Tông Ông cũng là nhà thơ Tô Đông Pha nói:

“Đọc thơ Ma Cật thấy trong có họa Xem họa Ma Cật thấy trong họa có thơ”

Âm nhạc thời kỳ này đặc biệt phát triển Có những nhà âm nhạc nổi tiếng như

Lý Quy Niên Thơ ca của các nhà thơ nổi tiếng được phổ nhạc rộng rãi Việc Bạch Cư

Dị nghe đàn tỳ bà mà hiểu nổi lòng người giai nhân bị ruồng bỏ rối viết nên bài “Tỳ bà

hành” nổi tiếng, đủ chứng tỏ rằng sự am hiểu âm nhạc và tác dụng của nó đối với thơ

ca

Vũ đạo cũng đặc biệt phát triển, sự thông thương với vùng Trung Á, Ấn

Độ…cũng xúc tiến thêm sự phát triển của âm nhạc, hội họa Âm nhạc, hội họa, vũ đạo

đã tạo điều kiện cho thơ ca phát triển Hay nói đúng hơn, bởi vì cái hay của thơ Đường

cũng được biểu hiện ở sự kết hợp của thi – nhạc – họa

Tóm lại, sự phát triển của thơ Đường do rất nhiều nguyên nhân nhưng cơ bảnnhất vẫn là bốn nguyên nhân đã nêu ở trên đã làm cho thơ ca đời Đường đặc biệt pháttriển, phong phú về nội dung, điêu luyện vế hình thức tạo nên một thời kì hoàng kim

cho thơ ca Trung Hoa

1.3 Quá trình phát triển của thơ Đường

Trang 13

Thơ Đường Luật phát triển mạnh vào thời đại nhà Đường Tại sao thời kỳ nàythơ Đường Luật mới phát triển? Sở dĩ đến giai đoạn này thơ Đường mới thật sự bướclên đài vinh quang là do nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố như đã nêu trên Sự phát

triển của thơ Đường cũng tạo ra những trường phái khác nhau làm cho thơ Đường

phong phú và đa dạng về nội dung cũng như hình thức Tất cả làm tăng thêm vẻ hào

quang cho thời đại và trở thành niềm kiêu hãnh cho dân tộc Trung Hoa

Người ta chia thơ Đường ra làm bốn thời kỳ nhưng (lịch sử phát triển của thờiđại nhà Đường chỉ có ba thời kỳ) Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường và VãnĐường

1.3.1 Sơ Đường (618 – 713)

Khoảng 100 năm đầu nhà Đường Đây là thời kỳ chuẩn bị Thơ ca thời Sơ

Đường là gạch nối giữa thơ ca thời Lục triều với đương đại Các nhà thơ phần lớn đã

sống và chịu ảnh hưởng của thời đại trước nên thơ ca của họ bây giờ không thể khônglây nhiễm không khí, phong cách thơ Lục triều

Trong thời kỳ này có các nhà thơ nổi tiếng như: Lư Chiếu Lân có U Ưu Tử tập;Lạc Tân Vương có Lạc Tân Vương Văn Tập; Vương Bột có Vương Tử An Tập;

Dương Quýnh có Danh Xuyên Tập – gọi là Đường tứ kiệt

Tiếp nối tứ kiệt là hai nhà thơ sáng chói Thẩm Toàn Kỳ, Tống Chi Vấn mà

đương thời gọi là thi phái Thẩm – Tống Ngoài Thẩm – Tống thời Sơ Đường còn có

văn chương Tứ Hữu, Ngô Chung tứ sĩ Trong đó có bài “Xuân giang hoa nguyệt dạ”

của Trương Nhược Hưu và “Đằng Vương các” của Vương Bột là hai tác phẩm xuất

sắc nhất thi ca thời Sơ Đường

Trang 14

Thịnh Đường là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Hoa nói chung và triều đại

nhà Đường nói riêng Thơ Đường có thể chia ra làm bốn trường phái chính sau:

 Trường phái điền viên

Tiếp nối các nhà thơ thời Sơ Đường và chịu ảnh hưởng của tư tưởng của Lão –Trang và Phật, các bài thơ, bài từ miêu tả cảnh thanh nhàn, êm ả nơi thôn trang, cảnhsinh hoạt, cảnh thiên nhiên tươi đẹp thoát khỏi những hệ lụy của cuộc đời, ngày ngàykhông bận tâm đến vòng danh lợi bon chen, tâm hồn thư thái, thoải mái là nguồn cảmhứng cho các thi nhân Một kiện tướng của phái điền viên trong thời kỳ này là MạnhHạo Nhiên, một nhà thơ mà cuộc đời gắn liền với những lặng lẽ, u trầm nơi thôn dã,sống một cuộc đời thanh nhã được phản ánh một cách rõ nét qua các bài thơ ngũ ngôn

Người thứ hai được mọi người tôn vinh là “Phật thi” không ai khác là Vương Duy,

biệt danh là ông Ma Cật Thơ ông thấm đượm tư tưởng Phật giáo, bàng bạc tư tưởngLão – Trang Ông là một nhà thơ có tài, ông còn là một họa sĩ nổi danh với những bứctranh thủy mặc sống động Thơ và họa của Vương Duy hòa quyện vào nhau tạo nênbản sắc riêng của nhà thơ này Mỗi bài thơ của Vương Duy với những câu thơ lời lẽ

điêu luyện, cô đọng hàm xúc là một bức tranh đẹp và ngược lại với các bức họa thì đây

là một bài thơ được diễn tả bằng đường nét

 Trường phái lãng mạn

Một trong những nhà thơ tiêu biểu cho trường phái này hơn ai hết chính là “Thi

tiên” Lý Bạch và được xem là nhà thơ vĩ đại nhất của thời Thịnh Đường Đương thời

ông cũng được vua Đường Huyền Tông trọng vọng, ưu ái nhất Ông là một nhà thơ

“lãng mạn” theo đúng nghĩa của nó Bởi vì trong thơ ông, ý, tình, cảnh hòa vào nhau

làm một, vừa diễm lệ vừa kỳ vĩ lại vừa mênh mông bát ngát Thơ ông có đủ mọi tính:cuồng phóng có, hùng tráng có, diễm lệ có, phiêu dật có, trầm thống có… Dù là thơ cổphong, nhạc phủ hay ngay cả thơ cách luật, lời thơ trong thơ ông buông thả tự nhiên,không gò bó trong câu chữ niêm luật, không trau chuốt đẽo gọt nhưng vẫn toát lên cái

đẹp cái hay, sâu xa kỳ lạ Phái này thường thông qua ước mơ táo bạo để đối lập với

hiện thực xã hội đen tối

 Trường phái biên tái

Trang 15

Sắp xếp các nhà thơ Thịnh Đường vào phái biên tái xem ra có vẻ miễn cưỡng.Thật ra hầu như các thi nhân từ Sơ Đường đến Thịnh Đường không ít thì nhiều đều có

làm thơ biên tái theo cách của mình Cho nên bất cứ nhà thơ nào cầm bút làm thơ tả

cảnh chiến tranh trận mạc, cảnh thê lương hoang vắng nơi biên địa; nỗi nhớ mong vợ

con, quê hương bản quán của người lính thú; lòng thương nhớ buồn đau của người

khuê phụ nơi chốn cô phòng đều là nguồn cảm hứng cho mọi thi nhân Hai nhà thơtiêu biểu cho trường phái này là Cao Thích và Sầm Than

 Trường phái hiện thực

Đây là trường phái phê bình xã hội, cho thấy những rối ren của xã hội thịnhĐường Đại biểu xuất sắc cho trường phái này là Đỗ Phủ Mỗi bài thơ, lời thơ của Đỗ

Phủ là một viên ngọc được mài giũa một cách tinh xảo Là một người chịu nhiều bấthạnh trong cuộc sống, đi nhiều, thấy nhiều, ông thông cảm với những cảnh ngộ ngangtrái, éo le, bi đát trong cuộc đời nên thơ ông mang tính tố cáo rất cao cái xã hội bấtcông, xấu xa đương thời Mỗi lời thơ là một tiếng nấc nghẹn ngào Đỗ Phủ xứng đáng

là con chim đầu đàn cho trường phái hiện thực

Đó là các trường phái chính và các nhà thơ chính Còn thực ra thơ Đường rất

phong phú, muôn màu muôn vẻ Có thể lấy nhận định của Ngô Tất Tố để khái quát

diễn biến của các trường phái thơ Đường “Sơ Đường phần nhiều hay về khí cốt nhưng

lối dùng chữ đặt câu chưa được trau chuốt cho lắm Vãn Đường giỏi từ tao, lời đẹp, ý sâu nhưng lại thiếu phần hùng hồn có khi còn bị cái tôi ủy mỵ là khác Duy chỉ có Thịnh Đường ở vào giữa hai thời kỳ ấy, cho nên chẳng những không có cái dỡ của hai thời kỳ kia, mà con gồm cả cái hay của hai thời kỳ ấy nữa”.

Mở đầu cho thơ ca thời Trung Đường là nhóm “Đại Lịch thập tài tử” gồm Lư

Tuân, Cát Trung Phu, Hoàn Hành, Tư Không Thự, Thôi Đông, Miêu Phát, Lý Đoan,

Cảnh Vi, Tiền Khởi và Hạ Hầu Thẩm

Sang đến Nguyên Hòa – Trường Khánh xuất hiện hai nhà thơ kiệt xuất là Bạch

Cư Dị và Nguyên Chẩn được mọi người gọi là phái Nguyên – Bạch Ngoài nhóm

Trang 16

Nguyên – Bạch thời kỳ này cũng xuất hiện một số nhà thơ nổi tiếng như Lưu Vũ Tíchvới những bài thơ hoài cổ; Vi Ứng Vật, Liễu Tông Nguyên, Lưu Trường Khanh vớinhững tác phẩm mang tư tưởng nhàn dật, lánh đời của Lão – Trang.

Một điểm nữa thời kỳ này cũng xuất hiện trên thi đàn một trường phái thơ khác

mà phong cách trái ngược với nhóm Nguyên – Bạch do Hàn Dũ chủ xướng, đương

thời tặng cho danh hiệu “Quái đảng phái” Sở dĩ có danh hiệu này, theo Hàn Dũ nói là

thơ hay phải bí hiểm kì dị Quanh Hàn Dũ còn có Mạnh Giao, Giả Đảo, Lý Hạ…

1.2.4 Vãn Đường (827 – 904)

Gọi là Vãn Đường vì từ Thái Hòa trở đi nhà Đường lung lay suy sụp Nạn mua

quan bán tước, quan lại tham nhũng, sách nhiễu, thuế khóa nặng nề làm cho xã hội

Trung Hoa vốn đã suy thoái càng suy thoái nhanh hơn Đại diện cho thơ ca thời nàyphải kể đến Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục và Ôn Đình Quân

Lý Thương Ẩn sở trường là thể thất ngôn bát cú, ông thành công với những bài

“Vô đề” và nhất là bài “Cẩm sắt” Đây là những bài thơ mang phong cách tượng

trưng đặc biệt; còn Đỗ Mục thường được gọi là Tiểu Đỗ lại tỏ ra thiện nghệ trong thể

tuyệt cú như “Bạc Tân Hoài”, “Xích Bích”…Riêng Ôn Đình Quân thì nổi tiếng nhờ những “Từ khúc”.

Mỗi thời kỳ có những đặc điểm riêng, nhìn chung thơ Đường có những trường

phái khác nhau Nhưng tiêu biểu nhất là hai trào lưu lãng mạn và hiện thực, với nhữngtrường phái này thơ Đường đã phản ánh được đầy đủ một thời đại, xã hội – lịch sử lúc

bấy giờ Nhiều vấn đề cơ bản của xã hội được các nhà thơ đề cập đến, tuy cách giảiquyết có khác nhau, tùy theo địa vị giai cấp từng người nhưng ít nhiều đã phản ánhlịch sử của một thời kỳ

1.4 Đôi nét về thể loại và thi pháp thơ Đường

1.4.1 Thể loại

Chúng ta cần phân biệt thơ Đường (chỉ chung) và thơ Đường Luật làm theonhững quy định khắt khe về niêm, luật, vận, đối… Nói gọn lại thơ Đường có hai loaichính Một câu năm chữ gọi là ngũ ngôn và một câu bảy chủ gọi là thất ngôn Tronghai loại đó, mỗi loại có tới ba thể: Cổ phong, tuyệt cú và luật thi

1.4.1.1 Cổ phong (cổ thể)

Trang 17

Cổ phong là lối thơ mang nặng sức ảnh hưởng từ những triều đại trước Trong

thơ cổ phong người ta chia làm hai loại cho dể nhớ: Thơ cổ phong năm lời (ngũ ngôn)

và thơ cổ phong bảy lời (thất ngôn) Thơ cổ phong khác với thơ luật ở chỗ chỉ cần vần

chứ không theo luật bằng trắc, thơ cổ phong có thể dài ngắn khác nhau, có loại bàingắn (đoản thiên) và bài dài (trường thiên)

Số câu chữ trong cổ phong cũng không quy định cụ thể Đoản thiên có thể bốncâu, sáu câu, tám câu hoặc trên mười câu…Trường thiên là những bài thơ dài, nghiêng

về trần thuật, hoặc biểu cảm liên tục trước một đề tài không dứt, do đó cũng cần cótừng phần, mạch lạc, có cấu trúc hợp lý…

Vần trong thơ cổ phong cũng tự do hơn Có thể là bài thơ chỉ dùng một vần

(độc vận), có thể lấy bài Xuân Tứ của Lý Bạch làm điển hình

“Yên thảo như bích ty

Tần tang y lục chi.

Đương Quân hoài quy nhật,

Thị thiếp đoạn trường thì

Xuân phòng bất tương thứ

Hà sự nhập la vi.”

Cũng có thể thay nhiều vần trong lúc viết, vần bằng và vần trắc cũng có thểdùng từng loại hay cả hai Về lời trong câu thì có thể thể dài ngắn khác nhau khôngnhất thiết phải làm năm hay bảy chữ

Trong ngũ ngôn trường thiên có bốn điều cốt yếu được các nhà thơ vận dụng

 Phân mạch: chia đoạn, chi tiết, chia câu trong bài.

 Quá mạch: chuyển tiếp các ý của phần đầu.

 Hồi chiếu: biểu hiện những tứ lạ, ý hay đã nói lên ở các phần trên, phát triển

cho sâu sắc

 Tán thán: những ý nghĩ, suy tưởng, cảm nhận xen cài vào các đoạn trên.

Thất ngôn cổ phong thì cách mạch đoạn cho rõ ràng, ý nghĩa càng thâm trầm,

cao thoát để lại những ý vị ngoài bài thơ thì càng hay

Thơ cổ phong đôi lúc có những bài xen vào những câu sáu lời, hoặc hoàn toàn

sáu lời như bài “Vô đề” của Lưu Trường Khanh.

“Tình xuyên vĩnh lộ hà cục

Trang 18

Lạc nhật cô chu giải huề Diểu hướng bình du viễn cận Nhân tùy lưu thủy đông tây (tê) Bạch vân thiên lý vạn lý

Minh nguyệt tiền khê hậu khê Trù hướng trường sa trích khứ Gian đàm phương thảo thê thê”

Tuy vậy, lối thơ sáu lời này không được dùng phổ biến So với thơ luật thì thơ

cổ phong phóng túng hơn, ít bị trói buộc trong niêm luật, câu chữ Chính vì vậy mà

tính hàm xúc, cô đọng, những khắt khe đòi hỏi về đối ngẫu, luật thơ, âm nhạc, không

tập trung như thơ luật

1.4.1.2 Thơ luật (luật thi hay tân thể)

Thơ luật có ở đời nhà Đường nên cũng được gọi là Đường Luật Luật dựa trên

những thanh bằng và thanh trắc trong một câu và niêm giữa các câu với nhau và tạothành cấu trúc bắt buộc của bài thơ Luật thi là loại chặt chẻ nhất Luật thi cũng có hailoại là ngũ ngôn và thất ngôn, được chia làm hai loại: loại bát cú và tuyệt cú Trong đóloại bát cú được xem là dạng cơ bản nhất về niêm luật, về thanh điệu…đều xem làchuẩn mực của Đường thi từ đó có thể suy ra các dạng khác Vì thế cấu tạo thơ bát cúcũng thường được xem là quy tắc chung cho các thể khác

Thơ luật bát cú, cấu trúc quy định như sau:

 Phá: câu mở đầu (phá đề)

 Thừa: nhân ý câu phá mà chuyển tiếp (thừa đề)

 Thực: (hoặc tích thực): gần hai câu 3, 4 phải đối nhau từng lời và ý, nói rõ

chủ đề của bài thơ

 Luận: gồm hai câu 5, 6 cũng theo luật đối lời đối ý của câu thực, nhằm tăng ý

chính của bài

 Kết: hai câu cuối cùng, chuyển ý và thâu tóm ý tưởng của bài thơ hoặc có

một tứ lạ gây thêm cảm xúc cho người đọc

Tuy nhiên cũng có những bài thơ phải phân tích theo mạch cảm xúc và tình cảmtrong bài nên cũng phải uyển chuyển theo cấu trúc khác

Trang 19

Thơ Đường luật đặc biệt hơn ở các thể thơ khác là ở luật, niêm rất chặt chẽ và

hệ thống thanh bằng, thanh trắc Bài thơ được gọi là luật khi chữ thứ hai trong câu làthanh bằng và ngược lại đối với thanh trắc Bên cạnh đó cũng có một số nhà thơ không

theo niêm luật đã quy định mà có sự phá cách sáng tạo “luật nhất, tam, ngũ bất luận”.

Và đó cũng là sự mở rộng của thơ Đường

“Vân mộc trầm trầm hạ diệc hàn Thứ trung u ẩn ký kinh niên”

(Vương xử sĩ sơn cư – Lý Hàm Dụng)

Niêm luật thì được quy định như sau: chữ thứ nhất, thứ hai và thứ tư với ngũngôn; thứ nhất, thứ hai và thứ sáu đối với thất ngôn; câu 2 -3, 4 – 5, 6 – 7 và 1 – 8niêm với nhau Nếu phải bắt đầu bằng thanh bằng hay thanh trắc đều phải giống nhau

“Đỗ vũ thanh thanh hoán khách sầu

(Mộ xuân hoài cảm – Đái Đức Lân)

Trong thơ luật đối thanh là một yếu tố quan trọng, đối thanh là thành từng đôitương xứng nhau trong thơ Phép đối bao gồm: đối thanh, đối ý, đối lời (từ) Cả baphép đối đều phải tuân theo quy tắc chung: có số từ ngang nhau, thanh và ý đối nhau

Trang 20

Đối thanh: thanh bằng đối với thanh bằng, thanh trắc đối với thanh trắc, thường

thì trong một từ thanh và ý đối nhau, người sáng tác chọn thanh thì phải chọn ý

Đối ý: là ý của hai từ phải ngang nhau, có hai loại đối là đối tương đồng và đốitương phản Đối ý cũng có hai cách đối là tiểu đối và bình đối Tiểu đối là đối từng vế,

ở mỗi từ hay chỉ ở từ cuối mỗi vế Bình đối là toàn bộ ý câu trên đối với ý câu dưới, từđối từ, vế đối vế, câu đối câu

Đối từ: là đối từ loại (danh từ đối danh từ, động từ đối động từ, tính từ đối tính

từ)

Về vần và nhịp trong thơ luật hết sức chặt chẻ, vần trong thơ bát cú được gieo

theo cước vận (vần chân) thường có năm vần ở các vị trí 1, 2, 4, 6 và 8

“Đằng vương cao các lâm gia chử Bội ngọc minh loan bãi ca vũ Hoa đồng triêu phi Nam phố vân Châu Liêm mộ quyển Tây Sơn vũ Nhàn vân đàm ẩn nhạc du du Vật hoán tinh di kỉ độ thu Các trung đế tử kim hà tại Hạm ngoại trường gian không tự lưu”

(Đằng Vương Các – Vương Bột)

Từ gieo vần có thể bằng hoặc trắc nhưng vần bằng được ưa chuộng hơn Cũng

có bài chỉ có bốn vần gọi là trốn vần hay triết tự Vần cũng có thể bỏ ở câu thứ nhất.Chẳn trước lẻ sau là nhịp thường thấy trong thơ Đường luật Ngũ ngôn luật thường lànhịp 2/3; thất ngôn luật thì nhịp 4/3 (2/2/3) nhằm tăng cường ý nghĩa bài thơ

“Ngô ái Mạnh Phu Tử.

Phong lưu thiên hạ văn Hồng nhan khí hiên miện Bậc thủ ngọa tùng vân, Túy nguyệt tần trung thánh,

Mê hoa bất sự quân, Cao sơn an khả ngưỡng

Đồ thử ấp thanh phần.”

(Tặng Mạnh Hạo Nhiên – Lý Bạch)

Trang 21

1.4.1.3 Tuyệt cú (tứ tuyệt)

Tứ tuyệt là ở khoảng giữa trong mỗi bài cũng giới hạn bốn câu và mỗi câu cũngphải làm theo luật bằng trắc, nhưng không cần đăng đối chặt chẽ, nhưng ý tứ, ý nghĩaphải trọn vẹn sâu sắc Cũng phải có mở kết, có thể hiện nội dung chủ đề mình định

nói Chẳng hạn như bài “Tự quân chi xuất hỷ” của Trương Cửu Linh.

“Tự quân chi xuất hỹ Bất phục lý tàn ky

Tư quân như minh nguyệt

Dạ dạ giảm thanh huy”

Thơ tuyệt cú làm hay, thật khó Nhưng trong thơ Đường nhiều bài tuyệt cú đãvượt được thử thách, được lưu truyền hàng nghìn năm, tính tư tưởng cao, hình ảnh đẹp

và mãi là những viên ngọc sáng “Thơ tuyệt cú đẹp như một bông hoa trên cành thắm

có thể nói trực diện hoặc nói xa xôi mà ý tứ lại thâm trầm, đều được cả” (Ngô Văn

Phú)

Sự ra đời của tuyệt cú đánh dấu quá trình vận động và phát triển của thi caTrung Hoa, tiến đến mức độ cô đúc dồn nén ngôn từ vào một cấu trúc nhỏ gọn, hoànchỉnh để đạt được yêu cầu xúc tích, sâu sắc của thơ Đường

Ngoài ba loại trên còn có nhạc phủ (nhạc phủ là thơ làm theo yêu cầu của canhạc đời Đường, nhạc phủ có cổ phong, có luật thi và nhiều hơn cả tuyệt cú) và bàiluật (luật thi kéo dài)

1.4.2 Thi pháp thơ Đường

Được nhiều nhà nghiên cứu khai thác đi sâu và tìm hiểu, cho ra nhiều công

trình nghiên cứu về thi pháp Xuất phát từ quan niệm “tam tài” – thiên, địa, nhân nhất

thể, từ học thuyết âm dương ngũ hành tương sinh tương khắc, người xưa thường nói

đến sự thống nhất giữa văn (bên ngoài) và chất (bên trong) Văn thơ là sự đúc kết khí

thiên trời đất, là sự bốc men tâm hồn…Và vậy, việc tìm hiểu thơ cổ điển Trung Hoaphải xuất phát từ tâm thức truyền thống của người Trung Hoa

Thơ ca Trung Hoa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, Đạo giáo và Phật

giáo Đến thời Đường thì các nhà thơ đã nhập cả ba cảm hứng vào một “tam giáo đồng nguyên”, chi phối cấu tứ và biểu hiện của thơ Đường Nguyên tắc cao nhất của

thơ Đường là sự hài hòa cân đối, tạo dựng được đường nét và gợi lên âm thanh, tiết

tấu Đó là niêm, luật, vận, đối, tiết tấu và bố cục Cũng vì vậy mà thơ Đường bao giờ

Trang 22

cũng rất cô động và hàm xúc “Chủ nghĩa lãng mạn của Lý Bạch rõ ràng chịu ảnh

hưởng của tư tưởng Đạo gia Cơ sở tư tưởng của phái điền viên sơn thủy mà Vương Duy là đại biểu có nhân tố của Phật và Lão Thơ ca hiện thực từ Đỗ Phủ cho đến Bạch

Cư Dị thì lại lấy mặt tích cực của tư tưởng Nho gia làm nền tảng Phong trào cách tân

cổ văn do Hàn Dũ cầm đầu cũng lấy tư tưởng của Nho gia làm nội dung tư tưởng của văn chương” [5; tr10]

Trong “Thử tìm hiểu tứ thơ Đường”, Nhữ Thành cũng tán thành ý kiến thi pháp

thơ Đường là sự thống nhất của nhiều yếu tố Sự thống nhất đôi khi về logic khách

quan thì khó chấp nhận, nhưng với thi pháp đồng nhất hóa, thơ Đường vẫn dung nạp

được Sầm Than đã cho cây ngày nay nở hoa của ngày xưa

“Đình thủ bất tri khứ tận Xuân lai thời phát cựu thờ hoa”

(Sơn phòng xuân sự - Sầm Than)(Cây sân chẳng biết người đi hết

Xuân sang cứ nở những hoa xưa)Còn Nguyễn Thị Bích hải cho rằng đặc điểm chung nhất của tư duy, nghệ thuật

thơ Đường là tư duy quan hệ, nó đã tìm được sự tương giao, hài hòa thống nhất để đạtđược sự hòa điệu Về phương thức sáng tác có hai kiểu sáng tác chủ yếu: trữ tình lãng

mạn và phản ánh hiện thực Quan niệm về không gian nghệ thuật và về con người

trong thơ Đường cũng có hai hướng: vũ trụ và đời thường Về ngôn ngữ có hai trường:

khái quát (trang nhã, hình thức ước lệ, tượng trưng liên tưởng, sâu lắng trầm tư) và cụthể (truyền cảm, trần thuật, tự sự không ước lệ, tượng trưng liên tưởng, sâu lắng trần

tư) Cũng cần phải nói thêm rằng cách chia này chỉ có tính tương đối

Với bề dày của lịch sử phát triển, với biết bao biến cố thời gian, thơ Đường đãphát triển đến đỉnh cao chói lọi, với biết bao tác phẩm có giá trị cao cũng như nhữngtác giả đã vang danh trên toàn thế giới

2.4 Ngôn ngữ thơ Đường

Ngôn ngữ thơ Đường cũng nằm trong hệ thống tư duy nghệ thuật thơ Đường

Tư duy nghệ thuật thơ Đường là tư duy quan hệ - cụ thể là: với bộ phận thơ thể hiệncon người vũ trụ thì nhà thơ thể hiện bằng quan hệ thống nhất, tương giao, hòa hợp;

còn con người xã hội thường được phản ánh bởi quan hệ mâu thuẫn, đối lập Hai bộ

Trang 23

phận, hai khuynh hướng đó là: khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng thơ hiệnthực Ngôn ngữ thơ cũng quy tụ về hai khuynh hướng này.

Đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình lãng mạn (tức bộ phận thơ thể hiện con người

trong không gian vũ trụ) là sự giản dị và hàm súc Nhưng thơ Đường vẫn có một bộphận không nhỏ thơ phản ánh hiện thực đời sống xã hội

2.4.1 Ngữ pháp

“Ngữ pháp là công cụ của tư duy, công cụ giao tiếp” Mà tư duy con người có

tính quy luật cho nên ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau nhưng có tính quy luậtchung Chẳng hạn đều có một số từ loại như nhau, những kiểu câu giống nhau Xét vềmặt hình thức thì có câu đơn và câu phức; xét về mặt ngữ nghĩa thì có các kiểu như:trần thuật, cầu khiến, nghi vấn, cảm than, phán đoán… Ngữ pháp của thơ tuy có nhữngnét đặc thù nhưng không ngoài những kiểu câu cơ bản ấy

“Sự phát triển của ngữ pháp tương hợp với với sự phát triển của tư duy Tư duy nghệ thuật của thơ Đường có một sự phát triển cao hơn thơ ca các thời đại trước,

về ngữ pháp cũng có sự phát triển” [6; 220].

Thơ thời Tiên Tần (Kinh Thi, Sở Từ) tỷ lệ câu trần thuật cao hơn trong thơĐường Các loại câu cảm than, nghi vấn cũng nhiều hơn Còn câu phán đoán và suy lý

rất ít Đến thơ Hán, Ngụy, Lục Triều tình hình này có thay đổi Thơ Sơ, Thịnh Đường

ta thấy tỷ lệ câu trần thuật có giảm đi, câu cảm thán rất ít, trong khi đó câu phán đoán

tăng lên rõ rệt Đó là quan hệ điều kiện (nếu…thì), nhân quả (vì…nên), nhượng bộ(tuy…nhưng), tăng tiến, hô ứng, đối lập…

“Bất tài minh chủ khí

Đa bệnh cố nhân sơ”

(Quy Chung Nam Sơn – Mạnh Hạo Nhiên)

(Vì) bất tài nên vua hiền ghét bỏ(Vì) hay ốm nên bạn cũ nhạt dần

Đây là những câu có quan hệ nhân quả Còn những câu thơ dưới đây lại là quan

Trang 24

(Nếu) trong bốn biển còn tri kỷ(Thì) dẫu tận chân trời vẫn như ở bên nhauQuan hệ nhượng bộ (có khi mang ý nghĩa tương phản) cũng thường gặp trong

thơ

“Tích thời nhân dĩ một Kim nhật thủy do Hàn”

(Dịch Thủy tống

biệt – Lạc Tân Vương)

(Tuy) người xưa đã khuất rồi(Nhưng) nước sông ngày nay còn giá lạnh

Có khi quan hệ giữa hai câu thơ là quan hệ thừa tiếp, vì câu thơ trước chưa nóitrọn ý nên phải có câu thơ sau mới hoàn chỉnh

“Trường phong phá lãng hội hữu thì Trực quải vân phàm tế thương hải”

(Hành lộ nan – Lý Bạch)(Sẽ có lúc cưỡi gió dài sóng lớn

Giong thẳng bườm mây vượt biển cả)Xét về ngữ pháp thì hai câu thơ mới thành được một câu mang ý nghĩa thôngbáo hoàn chỉnh Về hình thức thì hai câu mới là một câu ngữ pháp Những kiểu phán

đoán này ở dạng đầy đủ thì phải có những từ chỉ quan hệ (vì…nên; nếu…thì;tuy…nhưng), nhưng trong thơ hầu hết lại không có quan hệ từ, vì cấu trúc của thơ cho

phép tỉnh lược những từ công cụ ấy mà khi đọc vẫn hiểu Đặc biệt, kiểu câu phán đoán

thường ở phần kết của bài thơ Vì trọng tâm ý nghĩa của bài thơ thường bao giờ cũng ở

(Kim Lăng tửu từ lưu biệt – Lý Bạch)

(Xin anh thử hỏi dòng nước chảy về đông

So với mối tình tiễn biệt, đằng nào dài ngắn?)

Trang 25

Từ những ví dụ trên ta có thể thấy câu cầu khiến xuất hiện một cách khá phổbiến trong thơ thường ở phần kết Nhưng cũng có những trường hợp câu cầu khiếnxuất hiện không ở cuối bài đôi khi có bài toàn là câu cầu khiến Đó là trường hợp bài

“Kim lũ y” của Đỗ Thu Nương.

“Khuyến quân mạc tích kim lũ y Khuyến quân tích phủ thiếu niên thì Hoa khai kham chiết trực tu chiết Mạc đãi vô hoa không chiết chi”

(Khuyên anh đừng tiếc áo thêu vàng

Khuyên anh hãy tiếc thời tuổi trẻHoa nở đáng hái thì nên hái

Đừng chờ hoa rụng bẻ cành cành không)Câu phán đoán và câu cầu khiến đều có tính chất chung là để chỉ quan hệ, đều

mang ý nghĩa khái quát chung và chúng là loại câu phức hợp với lối ghép chính – phụ

Trong thơ Đường ngữ pháp quan hệ không chỉ ở phần kết mà còn ở những trước như

quan hệ đối ngẫu (các đối liên)

“Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện Điểm thủy thanh đinh khoản khoản phi”

(Khúc giang – Đỗ Phủ)

(Bươm bướm luồn hoa thấp thoáng hiện

Chuồn chuồn chấm nước dập diều bay)Mỗi câu thơ, một vế đối của cặp câu đối là một câu hoàn chỉnh Đó là một câungữ pháp và bản thân câu đó là một thông báo trọn ý Hai vế của cặp đối là hai cụmchủ - vị độc lập về ngữ pháp

Về ngữ nghĩa, những câu đó thường là câu trần thuật Cũng có những trường

hợp (không nhiều) phải cả hai cặp đối (hai câu thơ) mới thành một câu như bài “Tống

hữu nhân” của Lý Bạch.

“Thử địa nhất vi biệt

Cô hồng vạn lý chinh”

(Nơi đây một khi đã chia tay

Cỏ bồng trơ trọi sẽ lênh đênh xa muôn dậm)

Trang 26

Như vậy, một đối liên hai vế câu có thể đôc lập nhưng được ghép với nhau tạo

thành quan hệ ý nghĩa, để gia tăng ý nghĩa Ý nghĩa của từng câu cũng được tăng thêm

khi có câu đối diện Do vậy sự xuất hiện của đối liên trở thành một nhu cầu của thể

loại

Trong bộ phận thơ phản ánh đời sống xã hội con người ngữ pháp cũng giốngvới bộ phận thơ trữ tình nhưng có phần khác là do phản ánh đời sống hiện thực nêncâu trần thuật nhiều hơn và ở những cặp câu đối ngẫu hoặc có nghĩa đối, kiểu đối

tương phản nhiều hơn Điển hình như bài “Tuế án hành” của Đỗ Phủ.

“Khứ niên mễ quý khuyết quân thực Kim niên mễ tiện đại thương nông Cao mã đạt quan yếm tửu nhục Thứ bối trử trục tư không”

(Năm ngoái gạo đắt thiếu lương línhNăm nay gạo rẻ khổ nhà nông

Quan lớn đi ngựa xe thì chán cả rượu thịt

Lũ này (dân) mảnh vải tấm tranh đều không có)

Tương ứng với hai kiểu con người trong hai hệ thống thơ là hai hệ thống ngữ

pháp Mỗi hệ thống có tính nhất quán cao: các loại câu phán đoán, cầu khiến xuất hiệnnhiều trong bộ phận thơ thể hiện con người vũ trụ Loại câu trần thuật xuất hiện cao

hơn trong bộ phận thơ phản ánh con người đời thường

2.4.2 Từ vựng

Trong thơ Đường từ vựng cũng tập hợp theo hai hệ thống Thứ nhất thể hiệncon người vũ trụ (thơ trữ tình lãng mạn) thường mang tính khái quát và ít nhiều có ước

lệ để bài tỏ tâm tình và tạo sự liên tưởng, đồng cảm; thứ hai là bộ phận thơ phản ánh

đời sống hiện thực, phản ánh con người xã hội thì từ vựng thường mang tính cụ thể,

trực quan để kể và tả nhằm đập mạnh vào giác quan người đọc

Về từ loại, bộ phận thơ thứ nhất danh từ và tính từ nhiều hơn, những từ loại nàytrong bộ phận thơ phản ánh hiện thực thì ngược lại, động từ nhiều hơn

 Động từ

Trong thơ thể hiện nội tâm, động từ thường là “tự động từ” (động từ nội động)

còn trong thơ phản ánh hiện thực thường là “ngoại động từ” Bộ phận thơ thể hiện con

Trang 27

người vũ trụ, thường là những động từ chỉ hoạt động tâm thức Do đó có nhiều chữ có

bộ “tâm” (tư, lự, tưởng, ức, hoài, niệm, ưu, phẫn, bi, oán, hận, sầu…)

“Ngô ái Mạnh phu tử

Phong lưu thiên hạ văn

(Tặng Mạnh Hạo Nhiên – Lý Bạch)(Ta yêu Mạnh phu tử

Phong lưu thiên hạ đều biết tiếng)

“Dao liên tiểu nhi nữ

Vị giải ức Trường an”

(Nguyệt dạ - Đỗ Phủ)

(Xa thương đàn trẻ nhỏChưa biết nhớ Trường an)

Còn trong thơ phản ánh hiện thực, động từ thường là những từ chỉ hoạt động cơ

năng, do đó về mặt văn tự những động từ này thường được ghi bằng chữ có bộ “thủ, xước, khẩu”…như khiên, tróc, cầm, nã, đầu, tác, sừ, đáp… Con người thường luôn bận

rộn, bất tận “luôn tay, luôn chân” rất ít khi có thời gian để suy nghĩ, suy tư.

 Danh từ

Danh từ trong thơ Đường cũng tập hợp theo hai hướng khá rõ Trong bộ phận

thơ thể hiện con người vũ trụ, danh từ thiên về tính khái quát, thống nhất thường là

những từ chỉ thiên nhiên “sơn, thủy, phong, hoa, tuyết, nguyệt”… và thế giới nội tâm.

Còn danh từ của bộ phận thơ phản ánh hiện thực thường thiên về từ cụ thể để tà cảnhvật, sự việc, sinh hoạt…

Ngôn ngữ thơ Đường trang nhã, giản dị, loại bỏ được những trang sức hoa lệ(từ tượng hình, tượng thanh) chỉ còn ý nghĩa chung nhất Đó là sự lắng lọc của tư duy,

để di dần về trạng thái tĩnh, sự cân bằng Ngôn ngữ thơ Đường cũng mang tính ước lệ

cao, một “đông phong” luôn ám chỉ người đàn ông; một màu dương liễu hay một

động tác “chiết liễu” là biểu tượng của sự chia ly Chính tính ước lệ này góp phần làm

cho ngôn ngữ thơ Đường giàu tính hàm súc, giàu sức gợi…

“Mỹ nhân quyển châu liêm Thâm tọa tần Nga mi Đãn kiến lệ ngân thấp

Trang 28

Bất tri tâm hận thùy”

(Oán tình – Lý Bạch)

(Người đẹp chốn rèm châu

Lặng ngồi chau mày ngàiChỉ thấy ngấn lệ ướcChẳng biết long giận ai)

Tính ước lệ làm cho hình tượng được hư hóa, trừu tượng, nhờ thế mà nó lại có

tính phổ quát Còn quá trình cụ thể lại diễn ra trong trí người đọc Tính ước lệ của hình

ảnh, ngôn từ mất khi con người đời thường xuất hiện

Trong bộ phận thơ phản ánh hiện thực, ngôn từ cụ thể, cá biệt, sinh động, rấtgần với đới thường Cuộc sống đời thường đang trôi chảy, chưa cái gì kịp hình thành

để ước lệ Hình ảnh cuộc sống hoàn toàn cụ thể

“Cựu khuyển hỉ ngã qui

Đề hồi nhập y cư Lân xá hỉ ngã qui

Cô tửu huề hồ lộ”

(Thảo đường – Đỗ Phủ)(Chó quen mừng ta về

Quấn quít chui cả vào vạt áoHàng xóm mừng ta về

Rượu ngon xách từng bầu đến)

Nét bút của ngôn từ không ước lệ vẽ một cách tỉ mĩ, tường tận cuộc đời cơ cựclầm than của những người nông dân nghèo khổ Thi nhân sử dụng những từ cá biệt cụthể của đời thường để tả chân

“Mại thán ông Phạt tân, thiêu than Nam sơn trung Mãn diện trần khôi yên hỏa sắc Lưỡng mấn thương thương, thập chỉ hắc”

(Mại than ông – Bạch Cư Dị)(Ông bán than

Đốn củi, đốt than ở trong núi Nam

Mặt đầy tro bụi và khói ám

Trang 29

Hai mái tóc hoa râm, mười ngón tay đen kịt)

 Tính từ

Cũng có sự khu biệt theo hai hệ thống, khi thể hiện con người vũ trụ thì tính từchỉ phẩm chất được dùng, tức là thuộc tính gần như thường xuyên của người và sự vật(mỹ, hảo, thanh, bạch, tân, cổ, dao, viên…)

“Tuế mộ hoặc tương phỏng

Thanh thiên kỵ bạch long”

(Tống Dương sơn nhân qui Tung Sơn)(Cuối năm nếu muốn sang chơi

Cưỡi con rồng trắng giữa trời thẳm xanh)

Tính từ chỉ trạng thái thường được dùng khi thi nhân phản ánh hiện thực

“Tửu hành kiến không hạng Nhật sấu khí thảm thê”

(Vô gia biệt – Đỗ Phủ)

(Đi hoài thấy ngõ trống

Thảm thê bóng nắng gầy)Phẩm chất thì tương đối bền vững, ổn định còn trạng thái thì dể thay đổi Đó

cũng là sự phân cực theo hai hướng “tĩnh” và “động” của hai bộ phận thơ.

 Hư từ

Hệ thống hư từ trong thơ Đường cũng đặc biệt “Một khi đã gạt bỏ gần như

toàn bộ hệ hư từ đã có, thơ Đường phải chọn cho nó một hệ hư từ riêng Đó là hệ

“nhất, độc, cô” với nghĩa là “một mình” để nêu bật tính thống nhất, đối lập với hệ

“tương, dữ, công” với nghĩa “cùng nhau” để nêu lên liên hệ tương hỗ; “không”,

“vô” để xác lập khái niệm về sự tồn tại!” (Nhữ Thành)

Những từ này là yếu tố quan trọng trong thi pháp thơ Đường vì nó là công cụthể hiện quan hệ Vì Vậy, ta thấy những từ này xuất hiện hầu hết ở các bài thơ

“Tương vọng tương tư minh nguyệt lâu Thứ thời tương vọng bất tương văn”

(Trương Nhược Hư)

“Minh nguyệt lai tương chiếu”

Trang 31

Chương II: CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VÀ TƯ TƯỞNG CỦA

LÝ BẠCH 2.1 Cuộc đời và sự nghiệp

Lý Bạch (701 – 762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ Quê quán ở LũngTây – Thành Kỹ, (nay là Tần An – tỉnh Cam Túc) Lý Bạch là nhà thơ thuộc chủ nghĩa

lãng mạn kiệt xuất nhất đời Đường, ông được người đời sau gọi là “Thi tiên”.

Lý Bạch xuất thân ở Tây Vực – Toái Diệp (thời nhà Đường thuộc An Tây – Đô

Hộ Phủ), nay thuộc nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Khi năm tuổi theo chachuyển đến Miên Châu – Xương Long (nay thuộc thôn Thanh Liên – huyện Giang Du

– tỉnh Tứ Xuyên)

Năm 18 tuổi ông lên Đài Thiên Sơn đọc sách và giao lưu với một số đạo sĩ Từ

20 tuổi, ông ngao du nhiều nơi danh lam thắng cảnh ở đất Thục, 25 tuổi nhà thơ xuốngnúi Nga Mi, từ giã cha mẹ, quê hương chống kiếm viễn du

Năm 26 tuổi Lý Bạch rời đất Thục, du ngoạn Hồ Động Đình, đến vùng sôngTương, quan Giang Hạ, Kim Lăng, Dương Châu, vào Ngô Việt lai quay về Giang Hạ

rồi đến An Lục

Năm 742 Lý Bạch được Ngô Quân tiến cử lên vua Đường sau đó ông vềTrường An Ba năm ở kinh đô Trường An Lý Bạch rõ hơn bộ mặt sa hoa thối nát của

bọn quyền quý và mộng trở thành người kinh ban tế thế đã không còn như xưa Khi

An Lộc Sơn chiếm Trường An Đường Huyền Tông chạy vào đất Thục ra lệnh cho con

là Vĩnh Vương Lý Lân bảo vệ miền trung hạ du Trường Giang Lý Lân mời Lý Bạch

ra giúp, ông nhận lời, nhưng khi Lý Lân bị giết, Lý Bạch bị kết tội mưu phản phải đi

đày ở Dạ Lang (nay thuộc Đồng Tử, Quý Châu) đi được nữa đường thì đuợc ân xá

Năm 761 ông còn xin nhập ngũ để truy kích tàn quân Sử Triều Nghĩa nhưng

giữa đường bị bệnh phải trở về và năm sau thì mất ở nhà chú họ là Lý Dương Băng, đểlại cho đời gần 1000 bài thơ và một số bài văn xuôi khác

Lý Bạch là một nhà thơ nổi danh thời Thịnh Đường cùng với Đỗ Phủ và Bạch

Cư Dị, ông là một trong ba nhà thơ lớn của Đường thi Trung Quốc Sự nghiệp sáng tácthơ ca của ông được kéo dài mãi đến tận những năm cuối đời Tuyệt đại bộ phận thơ lý

Trang 32

Bạch là trữ tình trong đó có bộ phận không nhỏ mang đậm đà màu sắc lãng mạn Qua

thơ văn ông ta có thể thấy được tâm tư, tình cảm, hình ảnh một kẻ sĩ hoài bảo, có tàinăng, có tâm hồn lạc quan, hào phóng

2.2 Tư tưởng của Lý Bạch

Lý bạch vốn là người tự do, ông đọc nhiều sách Tuy “tam giáo” bao trùm đời

sống tư tưởng nhưng thâm tâm Lý Bạch đã hình thành lối sống tự do cho riêng mìnhlấy tài mình để ngang dọc với đời, với ý nghĩa không chị khuất mình, không cầu cạnh

ai, giao thiệp ngang hàng với các bậc vương hầu, khanh tướng… Ý chí lớn như thế nênngay cả Khổng Tử, vua Ngiêu, vua Thuấn người được nho gia, thiên hạ tôn sùng là bậcthánh ông vẫn chế nhạo và coi thường

Đã có lần ông giễu Khổng Tử

“Ngã bản Sở cuồng nhân Phượng ca tiếu Khổng Khâu”

(Ta vốn người Sở cuồng

Hát Phượng cười Khổng Khâu)

Ông cũng đã từng nói: “Sự nghiệp Thuấn, Nghiêu chi đáng sợ

Lòng ta phơi phới vẫn coi thường”

Yêu thiên nhiên, thích bản chất trời đất vũ trụ, tư tưởng của Lý Bạch nghiêng

về Lão – Trang cùng với những tư tưởng của nhà Phật nên trong sáng tác của ông

người ta còn thấy những dấu ấn của Trang Tử Lý Bạch còn mang trong mình tưtưởng hiệp khách, kiếm khách, lại có một tác phong nghĩa hiệp rất mãnh liệt, thơ Lý

Bạch thường hay nhắc đến Chu Gia, Quách Giãi và Kịch Mạnh những hiệp sĩ mà Tư

Mã Thiên ca ngợi trong “Du hiệp liệt truyện” Ông có cả một bài thơ ca ngợi những

bậc vung kiếm dẹp những truyện bất bằng, sẵn sàng làm những việc phi thường trảnghĩa lớn, đó là bài “Hiệp khách hành”

“Khách Triệu buộc mũ rối, Móc Ngô sương tuyết soi.

Yên vàng ánh ngựa bạch, Vùn vụt như sao trôi.

Mười bước giết một mạng, Nghìn dặm không bóng người.

Việc xong phủi áo cút,

Trang 33

Giấu mình chẳng biết ai.”

(Hoàng Tạo dịch)Ông còn kết hợp tinh thần du hiệp với tư tưởng giận đời ghét tục, trở về vớithiên nhiên của Đạo gia, suốt đời bất mãn với hiện thực đen tối Lấy tinh thần phảnnghịch trật tự và lễ giáo xã hội phong kiến, lấy thái độ ngạo mạn mà khinh thường bọnquyền quý trong tập đoàn thống trị phong kiến, tìm kiếm không mệt mỏi tự do cá nhân

và giải phóng cá tính Do cơ sở lý tưởng đó, mà lý tưởng và nguyện vọng đẹp đẽ thểhiện trong thơ ông thường phù hợp với tầng lớp trí thức tiến bộ đương thời và mức độnào cũng phù hợp với yêu cầu của nhân dân nói chung, làm cho phần lớn thơ ông chanchứa một tinh thần lãng mạn tích cực và sáng ngời như ngọn lửa không bao giờ tắt

Tư tưởng hăm hở tiến thủ giúp nước cứu đời nói trên bắt nguồn từ tinh thần tích

cực nhập thế của Nho gia Song trong thơ ông lại thường xuất hiện những vần thơ phêphán Nho gia khá sắc xảo

“Ông đồ nước Lỗ học ngũ kinh Bạc đầu nhai hết từng chương cú Hỏi ông giúp đời thế nào đây

Lơ mơ như người mây khói phủ

…Việc đời đã chẳng hiểu chi chi”

(Giễu ông đồ nước Lỗ - Lý Bạch)Tinh thần lạc quan hào phóng của ông in đậm trong hàng loạt bài thơ miêu tảcảnh non song hùng vĩ của đất nước Trung Hoa

“Chao, ghê thay! Nguy hiểm, cao thay!

Đường Thục thật khó đi, Khó như lên trời xanh.”

(Thục đạo nan – Lý Bạch)Song như ta biết, Lý Bạch đã từng thất bại trên chính trường, từng chứng kiếncuộc sống xa hoa trụy lạc của cung đình Ông đã tiếp xúc ít nhiều với cuộc sống khổcực của dân chúng Thơ ông hướng về cái đẹp, ca ngợi cái đẹp và phản ứng với cáixấu, là hai mặt nhiều khi khó tách rời trong tư tưởng, tình cảm và thơ ca Lý Bạch Bài

Cổ phong thứ 15 Lý Bạch viết

“Cớ sao bậc cao sĩ Vứt như rác bên đường

Trang 34

Châu ngọc mua cười hát Tấm cám nuôn hiền lương”

Dẫu có đả kích quyết liệt đến đâu đi nữa rốt cuộc nhà thơ chỉ là một kẻ bướngbỉnh cô độc, nên từ đó đôi khi không khỏi cảm thấy bế tắc rồi đi tìm những lối thoátgiống như tư tưởng Lão – Trang Lý Bạch muốn điều hòa những mâu thuẫn trong tư

tưởng tình cảm bằng một lối sống độc đáo theo tinh thần của Lão Tử “công thành thân thoái”.

“Việc xong phủi áo cút Giấu mình chẳng biết ai”

2.3 Giá trị nghệ thuật trong thơ Lý Bạch

Hình tượng trong thơ Lý Bạch thường mang kích cỡ khác thường, quá khổ.Những hình tượng gợi cái cao lớn, hùng vĩ, mạnh mẽ như dòng sông Hoàng Hà từ vạndặm chảy vào giữa cõi lòng Hình ảnh con người dạo chơi trên núi Thiên Mụ, đứng

trên đỉnh núi với tay tới tận trời hay dãy Ngân Hà tuột khỏi mây…là những hình tượng

bắt nguồn từ trí tưởng tượng và bút pháp khoa trương phóng đại vốn là đặc trưng trong

thơ lãng mạn

Thiên nhiên trong thơ Lý Bạch không chỉ được khắc họa thông qua sự lãnh hội

thẩm mỹ của nhà thơ mà có khi còn là hóa thân của nhà thơ Bởi vậy thủ pháp nhân

cách hóa được tác giả sử dụng một cách phổ biến trong những bài thơ viết về thiênnhiên Trong thơ Lý Bạch hầu như mọi sự vật thiên nhiên đều có thể hiểu tâm sự củanhà thơ

“Gió xuân xót ly biệt Chẳng khiến liễu xanh cành”

(Lao lao đình – Lý Bạch)

Trang 35

Thủ pháp nhân cách hóa làm cho sự vật dù yên tĩnh, vô tư cũng trở nên đầy sứcsống Tuy vậy, Tác giả không tùy tiện gán ghép ý muốn chủ quan của mình vào sự vật

mà rất tôn trọng đặc điểm vốn có của sự vật được nhân cách hóa

“Bờ ao cỏ xuân mượt Non nước ngời trong sáng”

Người đời gọi Lý Bạch là “Thi tiên” bởi thiên nhiên trong thơ ông rất hay, sông

núi, nước khe, hang trời biển động…đều rất hùng tráng trong thơ ông

Thơ trăng Lý Bạch huyền ảo vô cùng, trăng trên núi, trăng trên sông, trăng với

sử sách, trăng ở quán trọ, trăng trong lúc cô đơn… Với trăng trong “Tĩnh dạ tứ” cũng

đủ làm ta nao lòng cùng Lý Bạch

“Đầu giường ánh trăng giọi Ngỡ mặt đất phủ sương Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương”

Nhưng rượu trong thơ Lý Bạch mới thật xuất sắc, khó ai có thể làm thơ về rượu

hay hơn ông

“Biết chăng ai Sông Hoàng Hà ngọn nước lại lưng trời Tuôn xuống bể khôn vời lại được

Biết chăng nữa Đài gươm mái tóc bạc Sớm như tơ mà tối đã như sương”

Một điểm nữa trong thơ lý Bạch là tính chất bình dị, tự nhiên, đây cũng là mộtsản phẩm tất yếu của tính cách tự do phóng khoáng, không trói buộc Bản thân LýBạch cũng đã từng nói:

“Nước trong sẽ nở hoa sen Thiên nhiên là đẹp chớ nên vẻ vời”

Trang 36

Thơ Lý Bạch không bị gò bó theo khuôn khổ, luật lệ và không bị hạn chế về

câu chữ, cách gieo vần, khả năng diễn đạt nhiều sắc thái, tình cảm cũng như phản ánh

được nhiều vấn đề trong xã hội Hình thức này phù hợp với tư tưởng bay bổng phóng

khoáng của ông

Lý Bạch là một nhà thơ lãng mạn vĩ đại trong lịch sử thơ ca cổ điển TrungQuốc, thành tựu của ông đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật lãng mạn Dù đứng về mặttinh thần hay mặt bút pháp đều có những ảnh hưởng to lớn đối với thi ca đời Đường vàcác thế hệ mai sau

Trang 37

Chương III: BIỂU TƯỢNG “ÁNH TRĂNG” TRONG THƠ

LÝ BẠCH

3.1 “Trăng” thi liệu quen thuộc trong Đường thi

Đường thi với số lượng tác phẩm đồ sộ, gần năm vạn bài thơ của trên 2300 nhàthơ Trong hàng chục ngàn bài thơ đó thì có trên 2/3 xuất hiện hình ảnh của thiênnhiên Xưa nay, thiên nhiên xung quanh chúng ta luôn có sức hấp dẫn lạ thường, đặc

biệt với thi nhân thiên nhiên luôn là nguồn cảm hướng sáng tác vô tận Như cái duyên

đã bén rễ từ lâu, các thi nhân tìm đến thiên nhiên không ngừng, để ca ngợi vẻ đẹp của

nó, để giải bài tâm sự, làm cầu nối tâm hồn hoặc gửi gắm hoài bão lý tưởng,…

Lương Duy Thứ cho rằng: “Thơ cổ Trung Quốc được gợi hứng từ thiên nhiên

[16; 23] Nói như thế để chứng minh rằng thiên nhiên là đề tài quen thuộc đã có từ lâu,thế nên không có gì ngạc nhiên khi Đường thi rất giàu hình ảnh của thiên nhiên Khởihứng từ thiên nhiên, đi tìm mối giao cảm giữa con người và thiên nhiên là một trong

những nguyên tắc cấu tứ phổ biến của thơ Trung Hoa “Nhưng thơ ca cổ Trung Hoa

thường chỉ gợi mà không tả, không nghị luận phân tích Nhà thơ thường ít nói rõ, nói hết ý của mình mà thường chỉ dựng dậy các mối quan hệ để độc giả tự luận ra dụng ý của tác giả, để độc giả tự cảm nhận lấy theo đôi mắt và trái tim mình” [16; 24].

Vì vậy khi đọc thơ Đường dù là những bài thơ đặt tả cảnh thiên nhiên cũngkhông nên hiểu theo lối bài thơ đó chỉ nói về thiên nhiên

Trùng thanh tân thúc lục song sa

(Nguyệt dạ - Lưu Phương Bình)

“Canh khuya trăng sáng nửa nhà

Trang 38

Trước thềm bắc đẩu, xế tà đẩu nam Đêm nay xuân thật nồng nàng Tiếng trùng thấu tận bên hàng song the…”

(Ngô Văn Phú dịch)Thoáng đọc ta cho rằng đây chỉ là một bài thơ tả cảnh đêm trăng mùa xuân gần

sáng Thế nhưng nếu ta suy ngẫm thấu đáo hẳn không đơn thuần là nói về đêm trăng

Ẩn bên trong câu chữ là một tâm hồn suy tư, trăn trở, băn khoăn,…của người thứccùng trăng trong đêm yên ã, tịch mịch lắng nghe tiếng côn trùng đến não nuột hay đó

cũng chính là tiếng lòng của thi nhân

Vương Duy cũng dành riêng cho thiên nhiên những tình cảm đặt biệt

Song tiền hướng thu nguyệt

(Sơn thù du – Vương Duy)

“Châu ngọc bày dưới núi Hương lành ngát lạnh dâng Vui góp từng chùm quế Trăng thu đầy trước song”

Trang 39

Hốt đáo Bàng Công thê ẩn xứ

(Dạ quy Lộc Môn ca – Mạnh Hạo Nhiên)

“Lộc Môn trăng rọi khói tuôn, Thoắt qua chỗ ở khi còn Bàng Công”

Đôi khi trăng lại chứng nhân cho tình cảm của thi nhân

tả thiên nhiên không nhiều, mà chủ yếu là mượn cảnh ngụ tình

Bởi lẽ, tức cảnh dễ sinh tình nên Đỗ Phủ nhìn trăng mà nhớ thương vợ con đang

“Nhập trực” cũng cho ta thấy nỗi lòng của Chu Tất Đạt trước khi vào chầu vua

Hình ảnh trăng non cũng như tâm trạng ông lúc này

歸 到 玉 堂 清 不 寐,

Quy đáo Ngọc Đường thanh bất mị

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w