1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ nữ TRONG TIỂU THUYẾT BÁU vật CỦA đời CỦA mạc NGÔN

63 806 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 727,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình tượng nghệ thuật- hình tượng văn học Về hình tượng nghệ thuật, người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

LÊ HỒNG THU MSSV: 6095814

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT BÁU

VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN

Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành Ngữ Văn

CBHD : PHẠM HOÀNG NGHĨA

Cần Thơ, 5-2013

Trang 2

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT

Tên đề tài:

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT BÁU

VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN

Phần I: MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

1.2 Nghiên cứu đề tài

1.3 Mục đích nghiên cứu

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phần II: NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Hình tượng nghệ thuật- hình tượng văn học

1.2 Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học

1.3 Hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết

1.3.1 Khái niệm tiểu thuyết

1.3.2 Quan niệm nhân vật trong tiểu thuyết

1.3.3 Hư cấu nhân vật trong tiểu thuyết

1.3.4 Quan hệ giữa nhân vật trong tiểu thuyết và nhân vật trong các loại hình nghệ thuật khác

1.4 Quan niệm nghệ thuật- quan niệm văn học

1.4.1 Quan niệm sáng tác

1.4.2 Quan niệm tiếp nhận

1.5 Tiếp nhận văn học Trung Quốc nói chung tiểu thuyết đương đại nói riêng ở Việt Nam

Trang 3

1.5.1 Môi trường tiếp nhận

1.5.2 Ý thức chủ thể tiếp nhận

1.5.3 Tiểu kết

Chương 2 : BÁU VẬT CỦA ĐỜI TIỂU THUYẾT ĐẶC SẮC NHẤT

CỦA MẠC NGÔN

2.1 Thời đại Mạc Ngôn

2.1.1 Bối cảnh văn hóa thời cải cách mở cửa

2.1.2 Vài nét về tác giả Mạc Ngôn

2.2 Báu vật của đời và những vấn đề được đặt ra

2.2.1 Tóm tắt cốt truyện

2.2.2 Giá trị tác phẩm

2.2.3 Những vấn đề đặt ra

Chương 3: BÁU VẬT CỦA ĐỜI TỪ HÌNH ẢNH ĐẾN BIỂU

TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRUNG HOA

3.1 Quan niệm Mạc Ngôn về người phụ nữ

3.2 Báu vật của đời nhìn từ nhan đề

3.3 Những biểu hiện về người phụ nữ trong Báu vật của đời

3.3.1 Thân phận – cách nhìn từ truyền thống

3.3.2 Bổn phận, trách nhiệm của người phụ nữ - nhìn từ cuộc sống hiện đại

3.3.3 Nét đặc sắc hình ảnh của người phụ nữ trong Báu vật của đời

3.3.3.1 Ngoại hình, vẻ đẹp người phụ nữ

3.3.3.2 Tính cách mạnh mẽ, trẻ trung đầy khát vọng dục vọng, hành động tự do theo thói quen cá tính

3.3.4 Góc nhìn về giới trong tương quan chế độ dân chủ, bình đẳng, vị trí và sự tôn trọng

3.3.5 Báu vật của đời biểu tượng người phụ nữ Trung Hoa

3.3.5.1 Biểu tượng “Mẫu” (mẹ đất)

Trang 4

3.3.5.2 Biểu tượng tính nữ

3.3.5.3 Biểu tượng người mẹ - người vợ trong Báu vật của đời

Phần III: KẾT LUẬN

Phần I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mạc Ngôn được xem là cây bút sáng giá trong nền văn học Trung Quốc hiện

đại Giải thưởng Nobel cho tiểu thuyết Báu vật của đời mà nhà văn đã mang về cho

nước nhà khẳng định sự thành công rực rỡ trong nền văn học Trung Quốc đương đại trong nền văn học thế giới Tiểu thuyết ra đời vào thời kỳ đương đại nhưng nội dung khái quát gần 100 năm từ đầu thế kỷ XX đến những năm 80 của thế kỷ XX Tiểu thuyết là một bức tranh sinh động về lịch sử Trung Hoa đầy hào hùng và bi tráng Ở tác phẩm này nhà văn Mạc Ngôn không chỉ đi sâu khai thác về các vấn đề chính trị xã hội mà còn khám phá những số phận con người của thời đại ấy đặc biệt là người phụ

nữ Với một góc nhìn thấu đáo của nhà văn người phụ nữ trong tác phẩm hiện lên một cách chân thực và sinh động Hình ảnh người phụ nữ trong tiểu thuyết đã gây cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc Họ không chỉ là những cô gái Trung Hoa trẻ trung năng động và mạnh mẽ mà thông qua đó nhà văn còn ca ngợi tình yêu cao cả vĩ đại của người mẹ, ca ngợi chức năng sinh dưỡng của họ Những người phụ nữ được xây dựng mang một phong cách riêng, độc đáo và đã tạo nên một giá trị nghệ thuật cao cho

tác phẩm Với đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Báo vật của đời

của Mạc Ngôn” , chúng tôi xin đóng góp cái nhìn sâu sắc hơn về hình tượng người

phụ nữ trong tiểu thuyết Báu vật của đời Hi vọng rằng với đề tài này sẽ giúp bạn đọc

có thể tiếp cận một cách đầy đủ và trọn vẹn hơn về giá trị của tiểu thuyết này

2 Nghiên cứu đề tài

Tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn là một tiểu thuyết đương đại đang

tạo được sức hút mạnh mẽ đối với độc giả và giới nghiên cứu bởi tính hiện thực và những nét nghệ thuật đặc sắc của nó Tác phẩm vừa đoạt giải Nobel văn chương 2012

đã khẳng định giá trị của tác phẩm và đánh giá bước thành công to lớn của nhà văn

Trang 5

Mạc Ngôn Tiểu thuyết Báu vật của đời đã đặt ra rất nhiều vấn đề lớn từ chính trị, xã

hội đến đời sống số phận của con người, tác phẩm được rất nhiều bạn đọc và giới nghiên cứu quan tâm Đến nay tiểu thuyết này đã có số lượng bài nghiên cứu tương đối

khá nhiều Một số luận văn như: “ Biểu tượng tiêu biểu trong Báu vật của đời” của Trần Thị Ngoan(GV trường Trung học Nguyễn Khuyến), “Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Báu vật của đời (Mạc Ngôn)” của Mã Thị Trinh (ĐHQG Hà Nội), bài nghiên cứu: “Tình yêu và nhu cầu giải tỏa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn của Nguyễn Thị Vũ

Hoài trên VnExpress.net… và một số bài nghiên cứu khác Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật, cũng như đi sâu khai thác hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Chúng tôi nhận thấy rằng nhà văn Mạc Ngôn có cái nhìn về người phụ nữ hết sức đặt sắc Với đề tài này, người viết xin góp một số ý kiến cũng như những nhận định về hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm để làm nỗi bật giá trị nghệ thuật mà nhà văn gửi gấm

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết “Báu vật của

đời” của Mạc Ngôn, chúng tôi hướng vào những mục tiêu sau: Nghiên cứu hình ảnh

những người phụ nữ ở thời kỳ đương đại mạnh mẽ dẻo dai, sống hết mình vì lý tưởng Làm rõ quan niệm của nhà văn đối với người phụ nữ, qua đó thấy được những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Ca ngợi hình ảnh người mẹ vĩ đại với chức năng sinh

con và nuôi dưỡng con cái

4 Phạm vi nghiên cứu

Để đi đến sự thành công trong bất cứ ngành khoa học hay nghiên cứu khoa học nào, cũng có phạm vi và đối tượng nghiên cứu nhất định Việc làm này giúp người viết xác định đúng đối tượng và khả năng tìm hiểu của mình về vấn đề được đặt ra Đồng thời cũng giúp người đọc tiếp xúc với vấn đề một cách chủ động và tăng sức thuyết phục, hấp dẫn dành cho người đọc Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu không phải là sự

ngẫu nhiên mà chúng tôi đã có sự chuẩn bị và chọn lọc kĩ càng Ở đề tài Hình tượng

người phụ nữ trong tiểu thuyết “Báu vật của đời” của nhà văn Mạc Ngôn, chúng tôi

Trang 6

chỉ nghiên cứu ở phạm vi cái nhìn của nhà văn đối với người phụ nữ đương đại trong tác phẩm Với việc giới hạn phạm vi nghiên cứu như thế sẽ giúp người nghiên cứu định hướng được cách giả quyết vấn đề, tránh lang man lệch trọng tâm Bài nghiên cứu

của chúng tôi chủ yếu dựa trên bản dịch Báu vật của đời của dịch giả Trần Đình Hiến

dịch, do Nhà xuất bản Văn học Hà Nội ấn hành năm 2001 có độ dài 860 trang

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để làm rõ vấn đề Chúng tôi dùng phương pháp phân tích tổng hợp để phân tích chi tiết từng nhân vật cụ thể để làm rõ hình tương người phụ nữ trong tác phẩm Thông qua đó chúng tôi đưa ra lí luận, bình luận để làm hiểu rõ hơn về những giá trị nghệ thuật độc đáo của tác giả về quan niệm người phụ

nữ

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Hình tượng nghệ thuật- hình tượng văn học

Về hình tượng nghệ thuật, người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, giúp con người thể nghiệm cái ý vị của cuộc đời, lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh Khác với các nhà khoa học khác, người nghệ sĩ không diễn đạt một cách trực tiếp ý nghĩ và tình cảm của mình bằng những khái niệm trừu tượng hay định lí, công thức mà bằng hình tượng Người nghệ sĩ bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình đời, tình người

Hình tượng nghệ thuật là cái tính chất làm cho tác phẩm trở thành tác phẩm

nghệ thuật “Chất văn”, “tính văn học” mà các nhà cấu trúc đề ra như là phẩm chất

thiết yếu của tác phẩm văn học, chỉ khi nào gắn với tính hình tượng nghệ thuật thì mới thể hiện được đặc trưng của văn học Song trong mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có hệ thống hình tượng nghệ thuật riêng Thông qua hệ thống hình tượng nghệ thuật, người đọc dễ dàng nhận ra phong cách tác giả, nhận ra sự khác biệt giữa tác giả này với tác

Trang 7

giả khác, hay tác giả với thời đại Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” của Lê Bá Hán thì

“Hình tượng nghệ thuật chính là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện lại một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh

thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận” [5; 99] Hình tượng nghệ thuật

có thể tồn tại qua chất liệu vật chất, nhưng giá trị của nó bao giờ cũng ở phương diện

tinh thần Người đọc không chỉ thưởng thức “cuộc đời thực” trong tác phẩm mà còn

cảm nhận được sự suy tư, lòng trắc ẩn và cả nụ cười ẩn trong cuộc đời thực ấy Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung ở các giá trị nhân học và thẩm mĩ của nghệ thuật

Đến với nghệ thuật, ta như được chứng kiến sống cuộc sống trong tác phẩm Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải là sao chép nguyên bản những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc, làm day dứt, trăn trở người khác Do sử dụng chất liệu là ngôn từ nên hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình theo quan niệm của nghệ sĩ

Về hình tượng văn học, đó là sự khám phá vẻ đẹp hài hòa mang bản chất thẩm

mĩ của hình tượng, vẻ đẹp ấy là những quan điểm nghệ thuật về cuộc sống của con người, quan điểm xã hội và quan điểm thẩm mĩ của nhà văn Mỗi yếu tố tham gia tạo dựng hình tượng phải trải qua sự chọn lọc, nghiền ngẫm của nhà nghệ sĩ để nó thật sự trở thành những phương thức thẩm mĩ có giá trị phục vụ cho công trình sáng tạo mang khát vọng lý tưởng của nhà nghệ sĩ Qua hình tượng văn học, người đọc có thể nhận ra được những vấn đề cuộc sống, quy luật sáng tác của văn học cùng những vấn đề thuộc phong cách sáng tạo của từng thời đại và từng nhà văn cụ thể Ở mỗi nhà văn đều có một cách sáng tạo riêng cho tác phẩm của mình, đều đó đã tạo nên những nét thẩm mĩ phong phú đa dạng và luôn là sức hấp dẫn muôn đời của văn học

1.2 Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học

Trang 8

Nói đến nhân vật trong tác phẩm văn học là nói đến việc con người được miêu

tả, thể hiện bằng ngôn ngữ trong tác phẩm văn học Nhân vật được thể hiện trong tác phẩm là nhân vật có thể có tên tuổi hoặc là những nhân vật không có tên tuổi rõ ràng Nhân vật ngoài con người ra còn là những nhân vật con vật, các loài cây, các sinh thể hoang (có trong truyện cổ tích, thần thoại…bao gồm cả quái vật, thần linh ma quỷ) Nhân vật trong tác phẩm văn học được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhân vật có thể được miêu tả đầy đủ từ ngoại hình đến nội tâm, có tư duy, tính cách, tiểu sử

rõ ràng (như trong tác phẩm tự sự, kịch); nhưng cũng có thể nhân vật trong văn học chỉ được miêu tả về mặt cảm xúc nỗi niềm, cách nhìn nhận như người trần thuật, giọng điệu hay cách nhìn nhận cuộc sống và con người (như nhân vật trong các tác phẩm trữ tình) trong tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó là hình thức cơ bản của văn học để qua đó con người và muôn loài được miêu tả một cách hình tượng Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra Ví dụ : như tên riêng; tiếp theo là các dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp hoặc đặc điểm hoàn cảnh riêng tư (như nhân vật chàng mồ côi, dì ghẻ, con chồng ); cụ thể hơn là các đặc điểm về tính cách (như gã tư sản học làm sang hay thằng đạo đức giả ) Những đặc điểm ấy thường được đúc kết thành công thức khi giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học Khác với nhân vật trong hội hoạ, điêu khắc, nhân vật văn học thường bộc lộ tính cách trong “hành động” và được biểu đạt bằng ngôn ngữ Qua ngôn ngữ trần thuật, kể và tả của của tác giả, và qua ngôn ngữ của nhân vật gồm độc thoại và đối thoại mà hiện thực đời sống trong sự phong phú muôn vẻ của nó được hiện lên như thật, khiến cho người đọc có thể hình dung đến như sờ mó được Nhân vật được xem là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy Ý nghĩa của nhân vật văn học chỉ có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể, đó là những đứa con tinh thần của nhà văn, là máu thịt của nhà văn để thể hiện quan niệm thẩm mĩ và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về cuộc đời và con người Nhân vật văn học là sự sáng tạo của nhà văn dựa trên thực tại nhưng không hoàn toàn giống như con người thật ngoài đời vì chúng có những đặc trưng nghệ thuật và được thể hiện trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học thông qua lăng kính của nhà văn, nhưng không vì thế mà chúng

Trang 9

kém phần chân thật Chức năng của nhân vật là khái quát lên những qui luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểủ biết và những kỳ vọng của con người và cũng có thể là những tâm tư niềm trắc ẩn của nhà văn Nhân vật không chỉ là tính cách xã hội lịch sử và đời sống xã hội gắn liền với nó, mà còn là quan điểm về tính cách và các tư tưởng mà tác giả muốn thể hiện Nhân vật trong tác phẩm văn học được phân chia ra

nhiều loại: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Thông qua hình ảnh nhân vật có thể phản ánh được hiện thực cuộc

sống đa chiều nhất là nhân vật ở thể loại tiểu thuyết Với một dung lượng lớn, nhân vật trong tiểu thuyết có thể phản ánh đầy đủ và sinh động về cuộc sống xã hội và số phận con người Vì vậy, nhân vật trong tiểu thuyết thường mang tính khái quát và sâu sắc Nếu con người là trung tâm của cuộc sống thì nhân vật là trung tâm của tiểu thuyết

Như vậy, nhân vật văn học là hình thức cơ bản để qua đó nhà văn miêu tả đời sống một cách hình tượng Các vấn đề của cuộc sống được phản ánh qua thế giới nhân vật, hay nói cách khác chức năng của văn học là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao, kỳ vọng của con người Bản chất của văn học là một quan hệ với đời sống, thông qua đó nhân vật trong văn học nó chỉ tái hiện đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò tấm gương phản chiếu cuộc sống

1.3 Hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết

1.3.1 Khái niệm tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thể loại văn học thuộc phương thức văn suôi tự sự, có hư cấu thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh lên bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thể loại tiểu thuyết, bởi nó là một thể loại đa dạng, luôn vận động và phát triển Tiểu thuyết có cấu trúc phức tạp ( nhiều cốt truyện – chủ đề - nhân vật) với nhiều tính cách

số phận đan xen nhau Theo Từ điển thuật ngữ văn học (2004) tiểu thuyết là: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [ 5; 328] Với dung lượng của tiểu thuyết lớn nên nó có khả

Trang 10

năng khái quát các vấn đề một cách cụ thể Thành phần chính của tiểu thuyết không chỉ ở cốt truyện hay nhân vật mà còn là sự đi sâu miêu tả tư duy nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ về các diễn biến tình cảm, trình bày tường tận về tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về mối quan hệ giữa người và người, về đồ vật, về môi trường… Từ sự giải thích trên ta có thể chỉ ra các đặc điểm của tiểu thuyết như: cái nhìn đời sống từ góc độ đời tư, tái hiện cuộc sống, miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời

Phạm Quỳnh trong cuốn Luận giải văn học và triết học (Nxb Văn hoá Thông tin năm 2003) đã viết : “Tiểu thuyết là một truyện viết ra bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạ tích kỳ, đủ làm cho người đọc có hứng thú”.[12; 14] Thông qua hình ảnh nhân vật, nhà văn phản ánh lên một hoàn cảnh

xã hội hay một số phận con người Trong tiểu thuyết nhà văn có thể hư cấu hoàn cảnh hay nhân vật nhằm tạo nên sức hấp dẫn cho người đọc

Tóm lại, tiểu thuyết là một thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học khác Sức phản ánh và biểu hiện của tiểu thuyết là rộng lớn, đa chiều Chính vì có khả năng tổng hợp cho nên tiểu thuyết luôn vận động phát triển và không đứng yên

1.3.2 Quan niệm nhân vật trong tiểu thuyết

Tiểu thuyết là sự bao hàm tất cả những thứ bề bộn của cuộc đời nó hấp thụ vào bản thân nó, mọi yếu tố (bao hàm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ) Trong tiểu thuyết nhân vật sẽ là những con người niếm trải, con người của tư duy Nhân vật được miêu tả nhiều mặt, tinh tế, chi tiết như con người sống Từ tính cách, cá tính đến số phận, từ hành động đến tâm lí, từ các loại quan hệ đến ngôn ngữ đều được các nhà tiểu thuyết quan tâm khám phá Nhân vật tiểu thuyết được miêu tả tỉ mỉ để người đọc tìm hiểu, đánh giá và dự báo bố phận cũng như cuộc đời của nhân vật, để từ đó có cùng hướng giải quyết với nhân vật Cuộc đời của nhân vật được mô tả không chỉ đóng khung, minh họa cho dụng ý cùa tác giả mà còn góp phần lý giải, thâm nhập vào cuộc đời và những vấn đề nhân vật gặp phải

Theo Vũ Bằng quan niệm nhân vật trong tiểu thuyết là “một nhân vật sống, là một nhân vật phản chiếu cái hình ảnh của đời, là một nhân vật như chúng ta đây, một

Trang 11

nhân vật rất gần, rất thân thiết chúng ta, một nhân vật mà nhìn vào lòng như thấy nhìn vào ta v ậy” [ 2;73]

M.Bakhtin viết: “Sự thay đổi định hướng trong thời gian và thay đổi khu vực xây dựng hình tượng không bộc lộ ở đâu sâu sắc và cơ bản bằng ở việc xây dựng lại hình tượng con người trong văn học”.[1 ;74] Có thể thấy, tiểu thuyết phản ánh hiện

thực cuộc sống đa chiều, phức tạp với dung lượng lớn, có khả năng dung nạp nhiều đặc điểm, nhiều biện pháp nghệ thuật Ở tiểu thuyết, con người được khám phá phong phú, toàn diện nhất trong tất cả các mối quan hệ xã hội Muốn có sức sống lâu bền thì người viết phải dựng được những chân dung nhân vật vừa sinh động, vừa có ý nghĩa khái quát, điển hình Do vậy, nhà văn thường xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết bằng sự miêu tả trên nhiều bình diện từ ngoại hình đến nội tâm, tính cách, hành động

Nhân vật trong tiểu thuyết thường có những đặc điểm cơ bản, trước hết là nhân vật được xây dựng bằng những chi tiết rõ nét vì khi nhà văn xây dựng những chi tiết nhằm bộc lộ rõ tính cách của nhân vật đó Tiểu thuyết vận dụng những chi tiết để khắc hoạ về chân dung, tâm lý và tính cách của nhân vật Đối thoại hoặc độc thoại nội tâm cũng là cách nhà văn thể hiện chủ đề của tác phẩm Nói tới nhân vật trong tiểu thuyết, không thể không nhắc tới những xung đột và các sự kiện Nhân vật trong tiểu thuyết bao giờ cũng phản ánh một quan niệm nào đó của nhà văn về cuộc đời Mặt khác, qua những nhân vật đó, nhà văn còn bộc lộ những khát khao thầm kín về cuộc đời và con người trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Trong tiểu thuyết nhân vật được sáng tạo

ra là sự hư cấu của tác giả, nhân vật trở nên phi thường mới lạ, độc đáo và mang giá trị nghệ thuật cao Hư cấu cho phép tác phẩm tái hiện những thời đại lịch sử phát triển trong câu chuyện hư cấu, không hiện thực như sử học, và những nhân vật hoàn toàn không bị lệ thuộc bởi nguyên mẫu ngoài đời thường và tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm

Nhân vật trong tiểu thuyết thường mang tính khái quát sâu sắc, nhân vật trong tiểu thuyết là linh hồn của tác phẩm, là công cụ khái quát hiện thực và phương tiện để tác giả hiện thực hoá quan niệm nghệ thuật về con người dưới một hình thức biểu hiện tương ứng

1.3.3 Hư cấu nhân vật trong tiểu thuyết

Trang 12

Văn học nghệ thuật vốn bắt nguồn từ cuộc sống nhưng không vì thế mà người nghệ sĩ sao chép lại nó Từ những chất liệu thực tế ấy người nghệ sĩ đã nhào nặn sáng tạo ra những hình tượng sinh động rõ nét và điển hình hơn, tùy thuộc vào chủ đề của tác phẩm Trong một tiểu thuyết, tư duy sáng tạo, hư cấu nhân vật của nhà văn là không thể thiếu Hư cấu nhân vật được xem như một phương thức xây dựng hình tượng điển hình thông qua việc sáng tạo ra những giá trị mới, những yếu tố mới, sự kiện cảnh vật, nhân vật theo sự tưởng tượng của tác giả Nhân vật đó có thể trở nên phi thường, lạ hóa, vượt ra khỏi thực tế và đó là một nghệ thuật nhầm gây chú ý cho người đọc Một nhân vật mà họ tạo ra là một quá trình nghiền ngẫm tạo dựng sao cho nhân vật đó bộc lộ được vấn đề mà nhà văn muốn gửi gấm Trong hư cấu, tác giả có thể sử dụng các biện pháp cường điệu, khoa trương, thậm chí là tượng tượng, nhân cách hóa nhân vật của mình Thể loại khoa học viễn tưởng chính là kết quả của hư cấu Giá trị của hư cấu nằm ở tính tư tưởng, chủ đề tác phẩm và tài năng khái quát hiện thực của nhà văn Hư cấu nhân vật được coi là một đặc trưng của thể loại tiểu thuyết, là một thao tác nghệ thuật không thể thiếu trong tư duy sáng tạo của tiểu thuyết Trong vô vàng những gương mặt đời thường và giữa muôn ngàn biến cố của lịch sử, nhà văn khi trước sáng tác một tác phẩm tiểu thuyết đã thực hiện những biện pháp nghệ thuật đồng hóa và tái hiện bức tranh đời sống bằng phương thức chọn lọc, tổng hợp và sự sáng tạo Hư cấu nhân vật làm tăng thêm giá trị độc đáo của tác phẩm tiểu thuyết, tạo sức hấp dẫn và lôi cuốn người đọc Hư cấu nhân vật trong tiểu thuyết đã trở thành yếu tố nghệ thuật bộc lộ rõ rệt phẩm chất sáng tạo dồi dào của nhà văn Thông qua hình ảnh nhân vật hư cấu tác giả còn phản ánh lên những ước mơ, khát khao hay những kỳ vọng của con người ở một tương lai tốt đẹp Bằng chất liệu ngôn từ người nghệ sĩ đã xây dựng nhân vật tiểu thuyết mang một điểm nhấn nghệ thuật riêng biệt, độc đáo và khác biệt so với nhân vật trong bất kỳ loại hình nghệ thuật nào khác

1.3.4 Quan hệ giữa nhân vật trong tiểu thuyết và nhân vật trong các loại hình nghệ thuật khác

Nhân vật tiểu thuyết là những nhân vật được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện ngôn ngữ Qua hình thức ngôn ngữ trần thuật, kể chuyện hay miêu tả của tác giả, và ngôn ngữ của nhân vật gồm độc thoại và đối thoại mà hiện thực đời

Trang 13

sống trong sự phong phú muôn vẻ của nó được hiện lên như thật, khiến cho người đọc

có thể hình dung như sờ mó được So với nhân vật trong một số loại hình nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc hay trong phim ảnh thì nhân vật trong tiểu thuyết là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, miêu tả một cách hình tượng bằng ngôn ngữ Khi đọc một tác phẩm tiểu thuyết người đọc có thể cảm nhận được những cảm xúc nội tâm của nhân vật qua ngôn ngữ Với chất liệu là ngôn từ, đọc tiểu thuyết người đọc có được một góc suy ngẫm về nhân vật qua lời kể của tác giả hay lời đối thoại, đọc thoại của nhân vật tạo được cảm xúc sâu sắc hơn Đối với nhân vật ở các loại hình nghệ thật khác thí dụ như ở loại hình nghệ thuật điện ảnh, nhân vật có phần sinh động hơn nhưng mạch cảm xúc thường bị dàn trải Có thể thấy ở một số phim được chuyển thể

từ thể loại tiểu thuyết như tiểu thuyết “Số Đỏ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng, hay tiểu thuyết “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư Trong phim nhân vật được thể hiện

một cách chi tiết, cụ thể và trở nên sinh động hấp dẫn hơn Nhưng khi nhân vật đã được thể hiện cụ thể hóa thì làm cho người xem mất đi sự tư duy và làm giới hạn sức tưởng tượng của khán giả về nhân vật Đôi khi trong nghệ thuật phim ảnh không thể lột tả hết được những xúc cảm nội tâm của nhân vật nhưng đối với tiểu thuyết thì người đọc có thể cảm nhận được Như vậy có thể nói, nhân vật trong tiểu thuyết có khả năng bộc lộ được những giá trị nghệ thuật qua ngôn ngữ Qua hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết mang đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc hơn về xã hội, về con người, và thông qua đó có thể hiểu được những suy tư trăn trở của tác giả

1.4 Quan niệm nghệ thuật- quan niệm văn học

1.4.1 Quan niệm sáng tác

Sáng tác và tiếp nhận văn học là vấn đề bản chất then chốt của nghiên cứu văn học Đối với sáng tác văn học, nhà văn ờ bất cứ thời đại nào cũng đều sống trong một đời sống văn hóa cụ thể, họ không thể tách ra khỏi những quy định xã hội của thời đại

ấy Những tác phẩm của họ – dù sáng tác theo khuynh hướng nào, kiểu tư duy nào cũng phải được chấp nhận, miễn là tác phẩm ấy mang chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, vì

sự sống và khát vọng cao đẹp của con người, vì giá trị chân – thiện – mỹ của từng thời đại Văn học là loại hình nghệ thuật đặc thù, nó phản ánh cuộc sống bằng hình tượng thông qua chất liệu ngôn từ cũng rất đặc thù Sáng tác là một sự sáng tạo của nhà văn nghệ sĩ họ cần suy nghĩ và động não để tìm tòi, thể nghiệm Sự những tìm tòi, thể

Trang 14

nghiệm ấy, chúng phải trở thành hấp lực và thu hút mọi chủ thể sáng tạo học tập, cộng hưởng để cuối cùng tạo ra một phong trào rầm rộ với hệ thi pháp độc đáo, mới mẻ, làm chuyển biến cho cả một thời kỳ hoặc một giai đoạn văn học với nhiều tác giả và tác phẩm tiêu biểu, xuất sắc Quan niệm của người sáng tác bộc lộ được tư tưởng và thẩm

mỹ trong ngôn từ của mình Họ viết với lòng tin sâu sắc vào cuộc sống và con người, vào sự hoàn thiện và sáng suốt đạo đức, sáng suốt nhân cách của mỗi cá thể hiện sinh Nghĩa là chủ nghĩa nhân văn trong tác phẩm của họ vẫn sáng ngời với những tìm tòi, thể nghiệm mới mẻ về mặt hình thức và nội dung Những nhà văn chân chính bao giờ cũng là những nhà tư tưởng, nhà mỹ học và nhà đạo đức học trên hành trình sáng tạo không mệt mỏi của mình để hoài thai những tác phẩm có giá trị Những sáng tác có thể tạo ra được những chuyển biến có tính cách mạng hợp quy luật như thế thì nền văn học giai đoạn ấy, thời kỳ ấy sẽ sống mãi, sẽ có giá trị như một nối tiếp giá trị mới cho từng chặng hành trình của cả tiến trình phát triển văn học

1.4.2 Quan niệm tiếp nhận

Theo từng thời đại, mọi người có cách tiếp nhận có cách tiếp nhận văn học nghệ thuật riêng, đa dạng, phong phú và đầy sáng tạo Sáng tác văn học là một quá trình nối tiếp giữa nhà văn với tác phẩm và người đọc Ba yếu tố này không mang những giá trị đồng đẳng mà tùy theo từng giai đoạn phát triển của tư duy lý luận văn học, nó luôn có

sự chuyển đổi vị trí trung tâm cho nhau, từ tác giả sang văn bản rồi đến người đọc Mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và người đọc dưới nhiều góc nhìn khác nhau, không ngừng mở rộng, bổ sung cho nhau để ngày càng làm rõ và hoàn thiện hơn tính chất của mối quan hệ mang tính bất biến này Với lý thuyết tiếp nhận hiện đại, đặc biệt là sự khẳng định vai trò của người đọc như là một đồng sáng tạo với nhà văn trong việc tạo ra giá trị mới cho tác phẩm văn học, tư duy lý luận văn học đã có một sự phát triển Đó là sự chuyển dịch trung tâm từ tác giả sang văn bản rồi đến người đọc Với quan niệm này, tác phẩm văn học vừa là sáng tạo của nhà văn, vừa là nơi hoạt động của ngôn ngữ, nhưng đồng thời vừa là nơi tiếp nhận những sáng tạo từ phía người đọc

để tạo nên những nét nghĩa mới cho tác phẩm văn học như là hình thức đọc đặc trưng mà từ phía sáng tác không giải thích được Việc nghiên cứu bản chất của tác phẩm văn học cũng chính là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn bản và người đọc Hoạt động tiếp nhận văn học, là quá trình biến đổi theo những biến động xã hội và tầm đón đợi của

Trang 15

người đọc, là sản phẩm mang tính quan hệ, ngay khi xuất hiện, văn bản văn học là đối tượng nghệ thuật đưa ra để được người đọc tiếp nhận Người đọc đã trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình sáng tác của nhà văn, là một nguồn động lực sáng tạo của nhà văn Vì thế, nhà văn sáng tác là hướng tới người đọc, là tìm về với người đọc, là đối thoại với người đọc như người bạn tri âm tiềm ẩn Chính nhờ sự tiếp nhận của người đọc, văn bản văn học mới trở thành tác phẩm Không có sự tiếp nhận của người đọc, thì những gì nhà văn sáng tác ra cũng chỉ là những trang giấy vô hồn và không có ý nghĩa

1.5 Tiếp nhận tiểu thuyết Trung Quốc nói chung tiểu thuyết đương đại nói riêng

ở Việt Nam

1.5.1 Môi trường tiếp nhận

Trong nửa đầu thế kỷ 20, quá trình hiện đại hóa văn học ở Trung Quốc diễn ra khá sôi nổi gắn với bối cảnh chung của văn hóa khu vực dưới sự tác động mạnh mẽ của văn hóa phương tây Nửa đầu thế kỷ 20 Trung Quốc đã xây dựng một nền văn học mới thoát khỏi phạm trù văn học trung đại để tiến đến phạm trù văn học hiện đại Từ cuối thế kỷ 19 quá trình hiện đại hóa văn học ở Trung Quốc bắt đầu phát triển rực rỡ Các nhà trí thức Trung Quốc đã quan tâm đến vai trò đại chúng, chủ trương cải cách văn tự, đổi mới tiểu thuyết, mở rộng dịch thuật tinh hoa văn hóa và văn học nước ngoài

Đến giữa thập niên thứ hai của thế kỷ 20, quá trình này thể hiện rõ nét hơn qua chủ trương của tờ Tân thanh niên do Trần Độc Tú sáng lập (từ 1915) với tôn chỉ “dân chủ”, “khoa học” phản đối nền văn học cũ, đề xướng nền văn học mới và nhất là cuộc vận động Tân Văn Học (Hồ Thích Chủ đề xướng 1917) và Ngũ Tứ vận động (1919)

Từ các cuộc vận động này, nền văn học mới Trung Quốc xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như : Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Tào Ngu

Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia có mối quan hệ văn hóa, văn học lâu đời và cũng đang trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc Việc hiện đại hóa nền văn học trong nước và mở rộng tiếp nhận tinh hoa của nền văn học Trung Quốc đương đại là vấn đề quan trọng Trong khoảng thời gian văn học Trung Quốc có những chuyển biến mạnh mẽ với sự phát triển thắng lợi của nền văn học mới, nước ta cũng đã

Trang 16

vận động phong trào “Quốc văn mới” lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đã chú trọng dịch thuật tinh hoa văn hóa phương Đông- Tây Với văn học Trung Quốc nước ta đã dịch hầu hết các tác phẩm văn học cổ điển, dịch cả Từ Trẩm Á – một tác giả viết theo lối diễm tình có ảnh hưởng sâu đậm đến sáng tác và đời sống tiếp nhận văn học ở nước

ta trong thập niên 1920 Trong những thập niên 1930 đầu 1940, nước ta đã xuất hiện

môt số bài viết nói đến nền văn học mới Trung Quốc như: Nguồn gốc văn học nước nhà và nền văn học mới của Lê Dư trên Nam phong tạp chí số 190 (1933), Cuộc vận động Tân văn hoá ở Trung Quốc của Trực Tâm trên Phụ nữ tân văn số 248 (1934), Văn mới của người Tàu của Nguyễn Tiến Lãng trên Nam phong tạp chí số 210 (1934), Trên đàn văn học thế giới, văn học Trung Hoa ở địa vị nào? của Phan Khôi trên Đông Dương tạp chí số 28 (1937), Nhớ lại Lỗ Tấn và lối văn bạch thoại nước Tàu của Quán

Chi trên Trung Bắc chủ nhật số 61 (1941)… các bài viết trên chỉ giới thiệu sơ bộ về cái lợi của văn bạch thoại cho văn ngôn đánh dấu bước chuyển biến mới trong văn học trung Quốc Việc tiếp nhận văn học Trung Quốc ở nước ta ở đầu thập niên 1940 còn nhiều hạn chế và chưa thật sự nắm bắt được thực chất của quá trình hiện đại hóa văn học Trung Quốc Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu thông tin hoặc không quan tâm đến quá trình hiện đại hóa văn hóa, văn học trong đời sống tiếp nhận ở Việt Nam trong thời gian khá dài, tính đến đầu thập niên 1940 Trước hết là về ngôn ngữ và văn tự, đầu thế kỷ 20 chữ quốc ngữ đã thật sự khẳng định vị trí trên phạm vi toàn quốc thể hiện ưu thế của mình trong sáng tác văn chương, sinh hoạt học thuật Nguyên nhân thứ hai là tình trạng kiểm duyệt, ở nước ta chính quyền thực dân đã chú ý đến nhưng thông tin từ Trung Quốc nhằm ngăn cản những tư tưởng giải phóng dân tộc

Để tiếp nhận một cách hoàn thiện hơn về nền tinh hoa văn học của nước này, Đặng Thai Mai – một trí thức yêu nước vốn có nhiều “cơ duyên” với văn hóa Trung Quốc qua nhịp cầu Lỗ Tấn đã quyết định giới thiệu nền văn học mới Trung Quốc, để qua đó, góp phần tác động đến lớp thanh niên, cả với giới sáng tác văn học Theo Đặng Thai Mai Lỗ Tấn không chỉ là người có tâm hồn đồng điệu mà “đằng sau Lỗ Tấn còn có cả một tư trào văn học, một cuộc đấu tranh, một thời đại oanh liệt với nhiều nhà

văn khác nữa” Một số trác phẩm của lỗ Tấn được giới thiệu như: bài thơ Người với thời gian, in trong mục Danh văn ngoại quốc, báo Thanh Nghị số 23/1942, Bóng từ giã người (thơ – Thanh Nghị số/1942), Người qua đường (kịch – TN số 26/1942), Khổng Ất Kỷ (truyện ngắn – TN số 28/1943), AQ chính truyện (tiểu thuyết – TN số từ

Trang 17

số 33 đến 44/1943 Với việc nghiên cứu của Đặng Thai Mai về Lỗ Tấn đã cho chúng

ta biết được một văn hào lớn của thế giới Ngoài Lỗ Tấn Đặng Thai Mai còn dịch và

giới thiệu kịch của Trần Lâm, của Tào Ngu (hai vở nổi tiếng Lôi vũ và Nhật xuất) trên Thanh Nghị; viết bài giới thiệu về Những bước đầu tiên trong cuộc vận động Tân văn hóa của Trung Quốc (Văn mới số 1/1944), khảo luận về Địa vị văn hóa Trung Quốc trong học thuật của nước ta sau này (Thanh Nghị đặc san, số 2/1945)

Về mặt tiếp nhận, ngoài việc Đặng Thai Mai nhận thức sâu sắc về các cuộc vận động tân văn hóa, văn học và địa vị của nền văn học mới Trung Quốc dẫn đến ý thức giới thiệu nền văn học này ở nước ta, có thể thấy những nghiên cứu, giới thiệu của Đặng Thai Mai đã đem đến một luồng sinh khí mới trong đời sống tiếp nhận văn hóa, văn học ở nước ta Về tiểu thuyết đương đại Trung Quốc, nước ta đã tiếp nhận hầu hết các tác phẩm của các nhà văn lớn như : Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Quỳnh Dao, Kim Dung, Mạc Ngôn, đã được công chúng Việt Nam hoan nghênh nhiệt liệt Sau Đặng Thai Mai, còn có Trương Chính, Lương Duy Thứ, Trần Xuân Đề, Nguyễn Khắc Phi…Ở thời kỳ đổi mới có sự đóng góp của giới nghiên cứu trẻ có tư duy rõ hơn, được tiếp cận trực diện hơn (du học, thực tập, nghiên cứu ở nước ngoài…), họ có cách nhìn mới mẽ hơn ví dụ như: Trần Đình Hiến, Trần Trung Hỷ, Nguyễn Thị Bích Hải…

Quá trình tiếp nhận nền văn học mới của Trung Quốc ở Việt Nam trong nửa

đầu thế kỷ 20 cũng phần nào cho thấy sự chuyển biến trong quan hệ văn hóa, văn học giữa hai nước trong bối cảnh cùng tiếp xúc và chịu sự tác động mạnh mẽ của văn hóa, văn minh phương Tây Ở cả hai nước đều xuất hiện nhu cầu hiện đại hóa văn hóa nói chung, hiện đại hóa văn học nói riêng, nhưng mối quan tâm đến văn hóa, văn học Trung Quốc ở Việt Nam đã khác xa với truyền thống Đây cũng là hiện tượng có tính tất yếu khi một nền văn học đang vươn ra khỏi phạm vi khu vực đậm màu sắc văn học trung đại để đi vào con đường có tính quốc tế hóa, từng bước hòa nhịp vào phạm trù văn học hiện đại

1.5.2 Ý thức chủ thể tiếp nhận

Tiếp nhận văn học hay cảm thụ văn học là sống với tác phẩm văn chương, rung động cùng với nó, lắng nghe và thưởng thức cái hay cái đẹp trong tác phẩm mà người nghệ sĩ sáng tạo Đồng thời qua đó cũng cảm nhận được sự sáng tạo tài hoa của người

Trang 18

nghệ sĩ Đến với văn học Trung Quốc là chúng ta đến với một nền văn minh văn hóa lớn và lâu đời, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống ta từ lâu và có ảnh hưởng nhất là

ở thể loại tiểu thuyết Mỗi độc giả đều có cách cảm nhận về văn chương khác nhau Là một độc giả yêu thích nền văn học Trung Quốc đặc biệt là tiểu thuyết ở thời kỳ đổi mới, tôi nhận thấy rằng tiểu thuyết Trung Quốc hiện đại rất đặc sắc và mới lạ, ngoài việc kế thừa cách viết truyền thống thì tiểu thuyết hiện đại đã có những đổi mới cách tân về nghệ thuật Có rất nhiều tác giả trẻ có nhiều thành công trong giai đoạn này nhưng ấn tượng nhất đối với tôi nhất là tác giả Mạc Ngôn Trong số các nhà văn hiện đại thì nhà văn Mạc Ngôn là cây bút sáng giá nhất trong nền văn chương Trung Quốc Tiểu thuyết Mạc Ngôn mang đậm dấu ấn lịch sử và số phận con người thời đại và bên cạnh đó nhà văn đã phát huy những sáng tạo độc đáo của mình, tạo nên những trang viết mới lạ và đầy tính hấp dẫn Những bộ tiểu thuyết thành công lớn của Mạc Ngôn

như tiểu thuyết Đàng hương hình, Cao lương đỏ, Báu vật của đời… Trong đó Cao lương đỏ là bộ tiểu thuyết ra đời ở những năm 80 của thế kỷ XX, tác phẩm tái hiện lại

một giai đoạn lịch sử hào hùng trên quê hương Đông Bắc Kết cấu truyện không theo dòng thời gian khách quan mà thời gian thường đảo ngược, không gian xáo trộn luôn

luôn thay đổi nhưng vẫn rõ ràng mạnh lạc Riêng đối với tiểu thuyết Báu vật của đời,

đây là một trong những cuối tiểu thuyết đương đại đồ sộ và thành công nhất của Mạc Ngôn Chứa đựng trong tác phẩm là trí tưởng tượng phong phú với tầm văn hoá lớn lao, một cái nhìn toàn cầu về văn hoá được thể hiện thông qua việc sáng tạo những biểu tượng có ý nghĩa nhân loại Với dung lượng năm mươi vạn chữ nhà văn đã khai thác một cách triệt để từ xã hội đến số phận con người trên vùng đất Cao Mật gần nửa thế kỷ lịch sử Qua hệ thống biểu tượng bạn đọc có thể hiểu được bản chất, ý nghĩa của

tự nhiên, hiện thức và truyền thống cũng như cơ sở gắn kết của cả một cộng đồng Mạc

Ngôn cũng đã khẳng định rằng “ viết gì thì đều phải có tính sáng tạo đầu tiên và độc nhất Người khác đã làm thì không lập lại Tốt nhất là viết những gì người khác chưa viết, thủ pháp cũng là cái của mình chưa sử dụng lần nào” [16 ;275] Tiểu thuyết của

ông luôn mang một phong cách riêng, mới lạ và độc đáo Mỗi tác phẩm của ông đều là một đột phá mới, bên cạnh việc kế thừa cách viết truyền thống thì Mạc Ngôn đã có những bước cách tân đổi mới trong nghệ thuật Như vậy có thể nói sự không ngừng tìm tòi sáng tạo của nhà văn đã tạo nên những tác phẩm tiểu thuyết mang giá trị nghệ

Trang 19

thuật lớn Tiểu thuyết của Mạc Ngôn không chỉ mang đến cho nền văn học hiện đại

Trung Quốc một thành tựu mới mà còn vươn cao ra cả thế giới

1.5.3 Tiểu kết

Tiểu thuyết của “mười bảy năm” (mười bảy năm trước “Cách mạng văn hóa”) viết về lịch sử cách mạng, chủ yếu tập trung miêu tả phong trào cách mạng quần chúng trong cuộc đấu tranh chống Nhật, cuộc đấu tranh giải phóng và cuộc đấu tranh phản

đế, phản phong trào của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo Tiểu thuyết của thời kì mới cũng đề cập đến đề tài này nhưng lại không hạn chế về thời gian Dưới ngòi bút của nhà văn, phong trào cách mạng sau cách mang Tân Hợi (1911) đến khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921) kéo dài thời kì đổi mới mở cửa đều được miêu tả chân thực, sống động và đầy kịch tính Đó là sự phản kháng anh dũng và sự đàn áp tàn bạo, cuộc kình chống kịch liệt giữa các lực lượng chính phủ và các giai cấp; sự tranh giành quyền lực của chủ tể Trung Quốc; ghi chép lại những trang lịch sử cực kì quan trọng trong lịch sử phát triển của Trung Quốc; các tác phẩm dựa trên những bình diện khác nhau biểu hiện con đường trưởng thành của phần tử trí thức tiến bộ phản kháng lại sự gian ác, xấu xa để đi tìm chân lí và ánh sáng; lột tả một cách hình tượng vận mệnh bi thảm của người phụ nữ trong thời đại cũ và con đường sống

mới của họ Có thể thấy rõ ở tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn, đây là tiểu

thuyết hiện đại đặc sắc nhất trong nền văn học Trung Quốc Tiểu thuyết là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, lịch sử xã hội được nhà văn tái hiện một cách sâu sắc Lịch sử xã hội mang không khí “sử thi” tiêu biểu về một giai đoạn Trung Hoa đầy biến động, u ám nhưng cũng hào hùng và bi tráng từ những năm 1900-1995 Qua vấn đề lịch sử nhà văn muốn nói đến số phận của con người mà đó là hình ảnh người phụ nữ Qua tiểu thuyết nhà văn đã được số phận của người phụ nữ trải qua các thời kỳ lịch sử từ thời phong kiến đến công cuộc cải cách mở cửa Theo sự biến đổi và phát triển của xã hội người phụ nữ đã được nhìn nhận một cách thoáng hơn, thoát ra khỏi chế độ phong kiến, họ mạnh mẽ, nhiệt huyết hơn

Về mặt nghệ thuật, Mạc Ngôn đã thể hiện nhiều hình thức thể hiện mới, tỏ rõ phong cách, phong thái của người sáng tác đã sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật mới

Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa giữa truyền thống và cách tân sáng tạo hiện đại

Trang 20

Đề tài của tiểu thuyết thời kì mới tương đối rộng lớn, bao quát có tính khái quát cao Trong thời kì mới, tầm nhìn của các nhà văn được mở rộng và được giải phóng Họ một mặt vẫn không từ bỏ việc miêu tả cuộc đấu tranh của giai đoạn cách mạng, mặt khác họ đem tầm nhìn đó đặt vào đời sống với giá trị thẩm mĩ mới

Chương 2 : BÁU VẬT CỦA ĐỜI TIỂU THUYẾT ĐẶC SẮC NHẤT CỦA

MẠC NGÔN

2.1 Thời đại Mạc Ngôn

2.1.1 Bối cảnh văn hóa thời cải cách mở cửa

Thời kỳ cải cách văn hóa từng được gọi là một giai đoạn đen tối trong lịch sử Trung Hoa Đây cũng là thời kỳ mà nó đã khơi nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật ra đời Trong công cuộc cải cách mở cửa này Trung Quốc đã rơi vào những biến cố lịch sử lớn lao Cuộc Cách mạng văn hóa diễn ra trong 10 năm từ năm 1966 đến 1976, với biết bao thăng trầm, biến cố và đã gây tác động lớn sâu sắc đến mọi mặt của cuộc sống chính trị, cho tới văn hóa, xã hội Trung Hoa Sau cuộc cách mạng này cũng đã làm thay đổi quan niệm chính trị xã hội, đạo đức của quốc gia một cách toàn diện và sâu sắc Cuộc Đại Cách mạng Văn hóa (1966 - 1976) kết thúc, đã đưa văn học Trung Quốc nói chung, tiểu thuyết Trung Quốc nói riêng đi vào thời kì nở rộ với sự phát triển tực rỡ, mới lạ cả về nội dung và hình thức Làm nên diện mạo văn học Trung Quốc đương đại là những nhà văn thuộc “thế hệ thứ 5”, lớp nhà văn xuất hiện và mau chóng trưởng thành sau Đại Cách mạng Văn hóa - với các đại diện tiêu biểu như: Lưu Chấn Vân, Mã Nguyên, Mạc Ngôn, Gia Bình Ao, Trương Khiết, Thẩm Dung, Tông Phác,… Đây là những nhà văn đã phải chịu đựng nhiều đau khổ, mất mát trong những năm “đại động loạn” Từ thực tại xã hội đã tác động không ít đến tư tưởng của các nhà văn Ở giai đoạn này văn học nghệ thuật đã cho ra đời những tác phẩm phản ánh chân thực sâu sắc về lịch sử xã hội bi tráng và những số phận con người của thời cuộc Tiểu thuyết thời kỳ này có sự phát triển và thay đổi rõ rệt, chú trọng đến sự thay đổi của lịch

sử và cuộc sống của con người trong thời đại mới, lột tả được những số phận bi thảm của người phụ nữ trong thời đại cũ và con đường tương lai của họ Tiểu thuyết trong

Trang 21

thời kỳ cải cách mở cửa đã tái hiện lại những vấn đề chính trị, văn hóa của thời đại phát triển một cách đột phá Về nghệ thuật, các nhà văn thời kỳ này đã có nhiều hình thức thể hiện mới, khẳng định phong cách hơn, chú trọng sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật mới Đối với nhà văn Mạc Ngôn, ông đã khai thác được các vấn đề

nổi bật ở thời kỳ này tiêu biểu qua tiểu thuyết Báu vật của đời Từ các vấn đề chính trị

xã hội đến số phận con người đều được nhà văn thể hiện một cách chân thực và sinh động Nhân vật trong tác phẩm là những con người có trong lịch sử, những anh hùng kháng chiến chống giặc, sự tranh giành quyền lực của thế lực trong xã hội Trung Quốc Bên cạnh việc tái hiện lại lịch sử xã hội Mạc Ngôn còn phản ánh đến số phận của người phụ nữ của thời đại cũ bước sang thời đại mới Mạc Ngôn đã khẳng định được ngòi bút của mình trong nền văn học hiện đại với những bước cách tân về nghệ thuật, luôn tìm tòi sáng tạo ra những giá trị nghệ thuật mới

Như vậy, ở thời kỳ cải cách mở cửa văn học Trung Quốc nói chung, tiểu thuyết Trung Quốc nói riêng đã có sự phát triển rực rỡ cả về nội dung và nghệ thuật Đối với tiểu thuyết thời kỳ mới đã được mở rộng về đề tài, chủ đề ngày càng phong phú, về nghệ thuật có nhiều cách tân và đổi mới Các nhà văn cũng không ngừng sáng tạo ra những nét mới trong văn học để đưa nền văn học Trung Quốc đến những bước tiến cao hơn

2.1.2 Vài nét về tác giả Mạc Ngôn

Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, người vùng Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông sinh ngày 17 tháng 02 năm 1955, xuất thân trong một gia đình nông dân Do “Cách mạng Văn hóa”, ông phải nghỉ học khi đang học ở tiểu học và phải tham gia lao động nhiều năm ở nông thôn Trong thời gian đó ông đã làm rất nhiều việc, từng làm công nhân hợp đồng ở nhà máy chế biến bông nên có cuộc sống gần gũi với người nông dân Tháng 02 năm 1976, ông nhập ngũ, từng làm chiến sĩ , rồi tiểu đội trưởng, giáo viên, rồi sau đó chuyển sang làm sáng tác Năm 1984, trúng tuyển vào khoa văn thuộc Học viện nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm 1986 Năm

1988, ông lại trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh sáng tác thuộc Học viện Văn học Lỗ Tấn, trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh, đến năm 1991 tốt nghiệp với học vị thạc sĩ

Trang 22

Hiện nay, ông là sáng tác viên bậc Một của Cục Chính trị – Bộ Tổng tham mưu Quân

Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Từ năm 1980, Mạc Ngôn bắt tay vào sáng tác Năm 1981 ông bắt đầu công bố tác phẩm và đến nay, ông đã cho in 10 truyện dài, 20 truyện vừa, hơn 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài ký, phóng sự, tùy bút , tổng cộng trên 200 tác phẩm Những

tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng của ông có: Cao Lương đỏ (một phần của Gia tộc Hồng Cao Lương, bản dịch ở Việt Nam 1998), Báu vật của đời (bản dịch 1995), Đàn hương hình, Tửu quốc, Sống đoạ thác đày,… (xuất bản ở Việt Nam 2000-2007), truyện vừa có: Trâu thiến, Hoan lạc, Châu chấu đỏ,…(Xuất bản ở Việt Nam 1990-2000) Nhà văn Mạc Ngôn từng được thế giới biết đến qua tác phẩm Cao lương đỏ được chuyển thể

thành phim cùng tên do đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu đã đoạt giải “Cành cọ vàng” tại Liên hoan phim Canne (Pháp) năm 1994, giải thưởng lớn “Con gấu vàng” ở

liên hoan phim Tây Béc-1in và “Quả pha lê vàng” tại liên hoan phim Các-lô-vi Vary

Từ khi bắt đầu sáng tác đến nay Mạc Ngôn đã dành được nhiều giải thưởng văn

học cao quý Giải thưởng văn học Mao Thuẫn 1985-1986 cho tác phẩm Cao lương đỏ

Giải nhất về tiểu thuyết của Hội Nhà văn Trung Quốc vào tháng 12/1995 cho tiểu

thuyết Báu vật của đời Tiểu thuyết đã cung cấp cho bạn đọc một lượng thông tin lớn,

khái quát cả giai đoạn lịch sử hiện đại của Trung Quốc thông qua câu chuyện về các số phận của mỗi thế hệ gia đình nhà Thượng Quan Bối cảnh chính của câu truyện là

vùng Cao Mật, Trung Quốc, chính trên mảnh đất quê hương của tác giả Báu vật của đời của Mạc Ngôn, là một trong những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của

văn học Trung Quốc hiện đại.Và cũng chính tác phẩm này Mạc Ngôn vinh dự nhận giải Nobel văn chương năm 2012, với giải thưởng cao quý ấy đã khẳng định sự thành công lớn của nhà văn trong sự nghiệp văn chương

2.2 Báu vật của đời và những vấn đề được đặt ra

Trang 23

trong năm đó Quyển tiểu thuyết này được xem là viên gạch nặng nhất, giá trị nhất trong lâu đài tác phẩm của nhà văn Mạc Ngôn Tiểu thuyết được chia thành bảy chương và một chương viết thêm, với dung lượng hơn 860 trang (Theo bản dịch của dịch giả Trần Đình Hiến, NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, năm 2000)

Báu vật của đời là cuốn tiểu thuyết mang không khí “sử thi” tiêu biểu về một giai đoạn

lịch sử (từ 1900 đến 1995) của đất nước Trung Quốc Ám ảnh tác giả là hình ảnh người mẹ với lòng khoan dung vô bờ bến mang tên Lỗ thị Nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời của bà không phải ở cái chết của cả gia đình mà là tập tục nghiệt ngã buộc phải có con trai Vì vậy, Lỗ thị đã phải “ngủ” cùng những người đàn ông không mong muốn chỉ với một hi vọng đó là có con trai

Cả câu chuyện xoay quanh cuộc đời của bà mẹ Lỗ thị, những đứa con gái của bà, những biến loạn của vùng Cao Mật và cũng là của cả đất nước Trung Quốc Tất cả mọi câu chuyện, mọi hình ảnh đều được tác giả kể thông qua cái nhìn của nhân vật Kim Đồng từ khi vừa sinh ra cho đến hết Một kết cấu độc đáo, độc đáo ngay trong cách kể chuyện, các nhân vật được xây dựng một cách rất thực mà cũng rất hư, xâu chuỗi các câu chuyện thành một mạch thống nhất… tất cả những điều đó làm nên một hiện tượng văn học - một trong những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của văn học Trung Quốc hiện đại Câu chuyện lấy bối cảnh ở vùng quê Cao Mật (có tổng cộng mười tám thôn), được cụ tổ của hai gia đình Tư Mã và Thượng Quan – Tư Mã Răng To và Thượng Quan Đẫu – là những người đầu tiên khai phá Năm 1900, hai ông đã thành lập đội Hổ Lang nhằm tổ chức đánh đuổi quân Đức với lòng yêu nước và

với những suy nghĩ, hiểu biết ngây thơ :“cho rằng quân Đức không có đầu gối, chân thẳng đuột không gập lại được Còn nói quân Đức ưa sạch, rất sợ dính phân vào người, hễ dính phân là nôn oẹ cho đến chết Lại nói bọn Tây đều là con chiên Chiên thì sợ hổ báo lang sói Thế là hai vị tiên phong trong công cuộc khai phá vùng đông bắc, tự tập một số bợm rượu, con bạc, du đãng … Tất nhiên họ đều là những kẻ không

sợ chết, võ nghệ siêu quần, thành lập đội Hổ Lang.” [10; 129, 130] Vì vậy đội Hổ

Lang đã dùng cát và phân để chiến đấu chống lại quân Đức Cuộc chiến đấu thất bại,

cả Tư Mã Răng To và Thượng Quan Đẩu đều bị giết hại Cũng cùng năm đó tại thôn

Sa Oa thuộc Cao Mật, quân Đức với sự tiếp ứng của quân triều đình Mãn Thanh đã gây ra vụ thảm sát bốn trăn chín mươi bốn người trong số đó có cha mẹ của cô bé Lỗ

Trang 24

Toàn Nhi Lỗ Toàn Nhi sau đó được cô chú Vu Bàn Vả đem về nuôi dưỡng, đến khi được năm tuổi thì bị bó chân Đến năm mười bảy tuổi thì được gả vào nhà Thượng Quan làm vợ của Thượng Quan Thọ Hỉ Thượng Quan Thọ Hỉ là một nông dân ngu dốt, bất tài và là một người chồng vũ phu, bất lực – không có khả năng truyền giống Trong khi đó mẹ chồng của cô – bà Thượng Quan Lã thị – lại là người vô cùng khao khát có cháu trai nối dõi, sau ba năm cưới về mà Lỗ Toàn Nhi vẫn không có đứa con

nào, bà thường xuyên xỉ vả, chì chiết, hành hạ cô “chỉ biết ăn mà không biết đẻ, nuôi cái đồ vô tích sự ấy làm gì!” [10;773]

Là con dâu trong gia đình, nhưng Toàn Nhi chẳng hơn gì một đứa đày tớ, cô sống trong sự hà khắc của mẹ chồng, sự vũ phu của chồng và lo sợ trước những định kiến của xã hội về một người đàn bà không có con Chính những điều đó đã đẩy cô đến hành động đi xin giống của đàn ông thiên hạ Cuối cùng Toàn Nhi đã sinh cho gia đình Thượng Quan một đàn con chín đứa gồm tám gái một trai, trong đó Lai Đệ và Chiêu Đệ là giống của ông chú dượng Vu Bàn Vả; Lãnh Đệ là con của anh chàng bán vịt dạo; Tưởng Đệ là con của một thầy lang bán rong; Phán Đệ là của lão Béo bán thịt chó ở thôn Sa Tử; Niệm Đệ là giống của Hoà thượng Trí Thông ở chùa Thiên Tề; Cầu

Đệ là kết quả của lần Lỗ Toàn Nhi bị bốn tên lính thất trận cưỡng hiếp ở bờ bắc sông Thuồng Luồng; sau cùng là cặp song sinh Kim Đồng, Ngọc Nữ của mục sư Malôa

Sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy, Toàn Nhi nhận ra một chân lý nghiệt ngã: là đàn

bà không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh toàn con gái cũng không được Muốn có địa vị trong gia đình, dứt khoát phải sinh con trai

[10; 783]

Mở đầu truyện là hình ảnh của hai cuộc “vượt cạn” Một bên là Lỗ Toàn Nhi đang một mình trên chiếc giường bẩn thỉu đang kêu gào trong cơn đau đớn Một bên là con lừa cái đang được cả gia đình Thượng Quan chăm sóc và mời cả bác sĩ riêng cho

nó Hai hình ảnh đối lập phần nào cho ta thấy được thân phận của người phụ nữ Trung Quốc trong xã hội phong kiến Sự khát khao cháu trai của mẹ chồng, sự nghiệt ngã của những quan niệm phong kiến, … tất cả những điều đó đã góp tay đẩy cuộc hôn nhân của Lỗ Toàn Nhi thành một bi kịch Khiến Lỗ Toàn Nhi thành một người đi xin “giống

dạo”, biến cô trở thành một phụ nữ sống trong nhục nhã và căm giận Toàn Nhi này có

đẻ thêm một ngàn đứa nữa, cũng không phải giống nhà Thượng Quan … Này mẹ

Trang 25

chồng, này chồng, các người cứ đánh tôi đi, cứ mong đi, tôi sẽ đẻ con trai nhưng nó không phải là giống nhà Thượng Quan [10; 785].Và xem việc ăn nằm với những

người đàn ông khác là cách trả thù gia đình Thượng Quan Chuyện ăn nằm, thụ thai và sinh nở của Lỗ thị chính là sự tung hê, thách thức cái xã hội khinh miệt, coi rẻ người phụ nữ Khi cặp song sinh Kim Đồng, Ngọc Nữ cất tiếng khóc chào đời thì cũng là lúc giai đình Thượng Quan bị quân Nhật tàn sát Một mình Lỗ Toàn Nhi phải gánh vác, chống đỡ cả gia đình, nuôi các con từng người từng người trưởng thành Trải qua biết bao lần các thế lực chính trị thay ngôi đổi chủ ở Cao Mật, biết bao biến thiên của xã hội với nào là kháng chiến (chống Đức, chống Nhật), nội chiến (giữa Cộng sản Đảng và Quốc dân Đảng), nạn đói, cải cách ruộng đất, cuộc “Cách mạng văn hoá” rồi cuộc

“cải cách mở cửa”… Lỗ thị đã chứng kiến, tham gia và cũng chịu tác động không nhỏ trong những biến cố ấy, mất chồng, mất con, mất cháu, gia đình ly tán rồi sum họp, lên voi xuống chó nhanh như chớp, bao phen đói khát phải ăn cỏ dại, rau rừng, ngủ cùng xác chết, cùng đạn bom, bị tra tấn, bị làm nhục nhưng với một ý chí sinh tồn mạnh mẽ đến khó tin cùng với tấm lòng của một người mẹ yêu thương đàn con vô hạn Lỗ thị đã khéo léo chống chèo cả gia đình vượt qua tất cả

Sự mong mỏi của Thượng Quan Lã thị cuối cùng cũng được thỏa lòng khi Lỗ Toàn Nhi sinh cho gia đình Thượng Quan một đứa cháu trai mang tên Thượng Quan Kim Đồng Nhưng Kim Đồng, đứa con trai duy nhất sau chuỗi sinh nở dằng dặc một đời người của Lỗ Toàn Nhi chỉ là một đứa trẻ to xác, nhu nhược, vô tích sự, suốt đời bám vú mẹ trong khi các cô gái nhà Thượng Quan đều quyết liệt dấn thân vào đời Đàn con của Lỗ thị có đủ mọi thành phần xã hội, nói rộng ra, có đủ mọi giống người Họ được bà mẹ vĩ đại sinh ra đúng vào lúc đất nước Trung Quốc cũng đang trong cơn quặn đau quặn đẻ Những cô gái nhà Thượng Quan quyết liệt dấn thân vào đời với những ước mơ, hoài bảo, tình yêu Họ đại diện cho những lối sống, những luồng tư tưởng khác nhau trong xã hội Trung Quốc, qua đó ta thấy được sự băn khoăn của một

bộ phận không nhỏ người dân Trung quốc trước những biến đổi to lớn của lịch sử Những biến loạn ấy to lớn đến nổi làm cho Kim Đồng không thể lớn về mặt tinh thần, mãi là một đứa trẻ bám vào vú mẹ (không chỉ là Kim Đồng mà là cả một thế hệ trong

đó Kim Đồng chỉ là đại diện) Đó là sự suy thoái của nhân sinh Mỗi đứa con chọn một con đường, một cách sống, và một cách chết trên con đường đời đầy gian truân khổ ải Họ thậm chí còn xung khắc, thù ghét nhau theo sự chọn lựa chính kiến, lý tưởng,

Trang 26

nhưng điểm tựa duy nhất, nguồn an ủi duy nhất của họ, là người mẹ Lỗ thị Suốt cuộc đời của Lỗ thị gắn liền với hai chữ “hi sinh” Ngoài đàn con chín đứa của mình, Lỗ thị con cưu mang, nuôi dưỡng tám đứa cháu khác gọi bà bằng ngoại Trong đó gồm có: Sa Tảo Hoa con của Lai Đệ và tên hán gian Sa Nguyệt Lượng; Hàn Vẹt, kết quả của cuộc tình vụng trộm giữa Lai Đệ và Hàn Chim; Câm anh, Câm em con của Tiên chim Lãnh

Đệ và tên câm Tôn Bất Ngôn; Tư Mã Phượng, Tư Mã Hoàng con của Chiêu Đệ và Tư

Mã Khố; Lỗ Thắng lợi, con của Phán Đệ và Lỗ Lập Nhân; Tư Mã Lương, con của Tư

Mã Khố và vợ ba – đứa con trai duy nhất sống sót trong đợt thảm sát gia đình Tư Mã của quân Nhật Lỗ thị là một người mẹ vĩ đại, bà sẵn sàng dang tay, che chở mọi sinh linh bé nhỏ không cần biết đến xuất thân sang hèn, không cần biết đó là sản phẩm của

hệ tư tưởng chính trị nào Nguồn sữa suốt đời của Lỗ thị chỉ dành riêng cho Kim Đồng nhưng trái tim và tình yêu của bà thì được mở rộng, chia đều cho mọi đứa con, đứa cháu

Cả cuộc đời Lỗ thị sống trong vất vả, lo toan, nuôi nấng đàn con đàn cháu nên người, nhưng đến cuối đời lại sống thui thủi một mình trong ngôi tháp canh bỏ hoang

cũ kĩ với những niềm hi vọng vào đứa con trai độc nhất.Mở đầu truyện, người mẹ sinh Kim Đồng trong cơn ngất lịm Kết thúc truyện, Kim Đồng thức chong đêm canh mộ

mẹ, sợ “ông Chính Phủ” bắt đào lên dù chôn tại một bãi đất hoang “Anh trông thấy phía sau mộ mẹ, nơi không bị giẫm nát, có rất nhiều hoa đang nở, những bông hoa mầu nhợt nhạt, chỉ một bông giữa là màu đỏ nhờ nhờ Loại hoa này có mùi thơm Anh

bò lên mấy bước, giơ tay ngắt lấy bông hoa rồi đưa vào miệng Cánh hoa rất giòn, như thịt tôm sống, nhưng khi nhai thì xộc lên mũi toàn một mùi máu Vì sao hoa nở có máu? Vì trên mảnh đất này thấm đẫm máu người” [10; 859]

Kết thúc truyện là cảnh những kẻ phát loạn, thoái hóa trong công cuộc “cải cách mở cửa” đang phải trả giá cho những hành động của mình và lại tiếp tục xuất hiện những thủ đoạn luồn lách pháp luật khác cùng với những hành động bất nhân khác của con người với nhau

2.2.2 Giá trị tác phẩm

Trang 27

Báu vật của đời là tác phẩm đánh giá sự thành công lớn trong sự nghiệp văn

chương của nhà văn Mạc Ngôn Ngay từ khi ra đời tác phẩm đã trở thành một “hiện tượng” không chỉ ở Trung Quốc mà còn gây thu hút sự chú ý đối với các bạn đọc trên

thế giới Tiểu thuyết dày với dung lượng hơn năm mươi vạn chữ, nhà văn Mạc Ngôn

đã khái quát lên cả một giai đoạn lịch sử Trung Hoa đầy bi tráng thông qua số phận của các thế hệ con cháu nhà Thượng Quan Nỗi bật là hình ảnh của người mẹ Lỗ thị và những cô gái con nhà Thượng Quan mạnh mẽ, sống hết mình sẵn sàng dấn thân vào cuộc đời một cách nhiệt huyết Mỗi người con trong gia đình có một tính cách khác nhau, có lập trường chính trị khác nhau có lúc họ đối đầu nhau vì bất đồng quan điểm chính trị , nhưng ở họ đều là những cô gái sống hết mình vì tình yêu và lý tưởng Tiểu

thuyết Báu vật của đời mở ra cho người đọc thấy được những bước tiến của người phụ

nữ trong sự phát triển của lịch sử xã hội Người phụ nữ của thời phong kiến chịu nhiều bất công đã vươn lên theo sự phát triển của xã hội, họ đã khẳng định vị trí của mình trong thời đại mới Bên cạnh đó nhà văn còn nói đến hình ảnh người mẹ cao quý, người mẹ Lỗ thị là người phụ nữ với sức mạnh kiên cường và dẻo dai, bà đã vượt qua mọi gian lao khổ cực để che trở cho đàn con đến ngày trưởng thành Dưới chế độ hà khắc của lễ giáo phong kiến Lỗ thị phải chịu nhiều cay đắng tủi nhục để sinh cho gia đình Thượng Quan đứa con trai nối dõi Thân phận người phụ nữ ở thời kỳ ấy thật rẻ rúng có lúc bà bị coi thua cả con lừa Nhưng ở người phụ nữ ấy luôn tồn tại một tình yêu thương con dạt dào và chấp nhận hi sinh cuộc đời vì những đứa con thân yêu Qua

đó, nhà văn Mạc Ngôn đã ca ngợi hình ảnh cao quý của người phụ nữ, ca ngợi chức năng sinh con, nuôi dưỡng con của người mẹ vĩ đại Ngay trên nhan đề của tác phẩm

Báu vật của đời trên nguyên tác là Phong nhũ phì đồn nhà văn đã thể hiện lên sự trân

trọng đối với người phụ nữ với nét một nét đẹp đầy đặn và khỏe mạnh, đó là vẻ đẹp

thiên phú của người phụ nữ Tiểu thuyết Báu vật của đời là tác phẩm mang một giá trị

lịch sử khá lớn nó đã khái quát lên được cả một thời kỳ của đất nước và dân tộc Trung Hoa hào hùng và vĩ đại cùng những thế lực chính trị Vùng đất Cao Mật là nơi mà nhà văn đã hội tụ đầy đủ tất cả các vấn đề từ chính trị xã hội đến con người Trung Hoa Cao Mật được xem như một đất nước Trung Hoa thu nhỏ mang đậm màu sắc giá trị tinh hoa của đất nước Thông qua lời kể- tự thuật của nhân vật chính Kim Đồng về số phận bi thương của những người thân trong gia đình đó là người mẹ và tám người chị gái, cùng biết bao cuộc đời người dân ở vùng đất Cao Mật, tác phẩm đã tái hiện một

Trang 28

bức tranh ngột ngạt, u ám của một giai đoạn lịch sử còn chưa xa Nhà văn đã sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật đảo ngược trật tự thời gian tuyết tính, niên sử, đan xen với các số phận nhân vật tạo nên sự độc đáo trong tác phẩm Mạc Ngôn đã có sự kết hợp giữa nghệ thuật kể chuyện truyền thống và nghệ thuật viết tiểu thuyết hiện đại trên cơ

sở kế thừa và cách tân đầy tính sáng tạo Sử dụng ngôi kể truyền thống nhưng cách kể chuyện của Mạc Ngôn đầy tính sáng tạo Người kể chuyện ngôi thứ ba sử dụng điểm nhìn của mình và kết hợp với điểm nhìn của các nhân vật khác trong truyện để kể Nhân vật kể chuyện xưng “tôi” độc đáo và mới lạ đó là một hài nhi khi vừa cất tiếng khóc chào đời Nhà văn đã khai thác triệt để thủ pháp tự thuật của nhân vật chính bằng

sự đồng nhất cái Tôi của tác giả nhằm làm cho tiểu thuyết mở rộng dung lượng hiện thực và khái quát vấn đề lịch sử xã hội một cách rộng lớn Đồng thời trong tiểu thuyết nhà văn đã kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật lạ hoá trong văn học phương Tây với yếu

tố kì ảo của văn học truyền thống Trung Quốc, kết hợp với nghệ thuật phóng đại đã tạo nên thế giới nhân vật trong “Báu vật của đời” vừa là những con người rất đời thường vừa mang vẻ đẹp của huyền thoại Nhân vật không đơn thuần là những hình tượng khô cứng mà đã vươn lên thành những biểu tượng nghệ thuật

Tiểu thuyết Báu vật của đời đã bao quát được dung lượng hiện thực rộng lớn,

phức tạp và đầy đổi thay của một gia đình trong xã hội Một bức tranh xã hội Trung Hoa đầy ngột ngạt, u tối và những số phận con người trong xã hội ấy đang đấu tranh với thời cuộc để dành lại sự sống Tác phẩm đã mang đến cho nền văn học Trung Quốc những giá trị nghệ thuật lớn và đây là tác phẩm có giá trị nhân loại

2.2.3 Những vấn đề đặt ra

Tiểu thuyết đã xây dựng lên một đất nước Trung Hoa thu nhỏ trên vùng đất Cao Mật chính quê hương tác giả Mọi thứ có mặt trên vùng đất này đều là sự gom nhặt của tác giả từ tất cả các sự kiện khắp nơi trên đất nước Trung Hoa để xây dựng nên Tiểu thuyết mở ra nhiều vấn đề lớn từ các vấn đề chính trị xã hội của các thời kỳ lịch sử của đất nước, từ xã hội phong kiến đến thời kỳ cải cách mở cửa bước vào xã hội hiện đại và số phận của con người khi trải qua từng thời đại Mạc Ngôn đã tái hiện lại một giai đoạn lịch sử tâm tối, u ám đầy bi tráng của Trung Hoa trên vùng đất Cao Mật Lịch sử kéo dài qua từng giai đoạn, từ cuộc kháng chiến chống Nhật, cuộc nội

Trang 29

chiến Quốc- Cộng, thời hợp tác hóa, đến cuộc cách mạng văn hóa và gần nhất là cuộc đổi mới như một xu thế tất yếu khách quan Theo dòng đời của các thế hệ con cháu gia đình Thượng Quan, Mạc Ngôn đã xây dựng lên một bức tranh sinh động đầy màu sắc về cuộc sống của thời đại Những người phụ nữ trong gia đình Thượng Quan mạnh

mẽ, sống cá tính và cuộc đời của họ gắn liền với những biến cố của lịch sử xã hội Trải qua những bước thăng trầm, u tối, ngột ngạt của lịch sử mà gần như bi thương, ai oán họ vẫn luôn luôn mạnh mẽ, khao khát vươn lên vì lý tưởng và tương lai, sức mạnh ấy nhờ được kế thừa từ người mẹ Lỗ Thị Thông qua lịch sử xã hội nhà văn đã ca ngợi hình ảnh người phụ nữ trong xã hội, những người phụ nữ mạnh mẽ dẻo dai trong gia

đình Thượng Quan đặt biệt là hình ảnh của người mẹ Báu vật của đời là tiểu thuyết

mà nhà văn Mạc Ngôn nung nấu viết với mục đích để tri ân người mẹ quá cố của mình Nhà văn ca ngợi người phụ nữ với chức năng làm mẹ, sinh con và nuôi dưỡng

con cái Chính nhan đề tác phẩm đã nói lên được điều đó, “Phong nhũ phì đồn” là hình

ảnh của người phụ nữ khỏe mạnh tràn đầy sức sống Với vẻ đẹp mà tạo hóa đã ban tặng cho họ, thân hình “vú to mông nẩy” không chỉ là vẻ đẹp của ngoại hình mà còn là

sự sinh sôi nẩy nở duy trì nòi giống của nhân loại Người mẹ Thượng Quan Lỗ thị mà nhà văn Mạc Ngôn xây dựng đó là hình ảnh mang dáng dấp của người mẹ ông Bà là một người mẹ vĩ đại hi sinh suốt cuộc đời vì những đứa con thân yêu Người mẹ Lỗ thị là người phụ nữ mạnh mẽ kiên cường, bà là chỗ dựa vững chắc cho chín người con bước vào đời Sinh thời Lỗ thị phải chịu nhiều cay đắng tủi nhục của xã hội phong kiến, hủ tục trọng nam khinh nữ, bà phải sinh được con trai nối dõi cho nhà Thượng Quan đã dày vò bà từ thể xác đến tinh thần Trải qua bao đau khổ người mẹ ấy có lần như gục ngã nhưng vì đàn con bà đã đứng lên để bảo vệ chúng đến ngày trưởng thành Tám người con gái và một người con trai duy nhất đó là tài sản quý báu nhất của bà Tám cô gái là những người phụ nữ được thừa hưởng sức sống mãnh liệt từ người mẹ Họ vượt lên những định kiến xã hội, sống mạnh mẽ theo những khát vọng và lý tưởng của chính mình

Với dung lượng lớn của tiểu thuyết nhà văn đã xây dựng thành công các vấn đề của chính trị xã hội và con người đặt biệt là đối với người phụ nữ Hình ảnh người phụ

nữ được thể hiện một cách chân thực và sâu sắc gắn liền với những biến động của lịch

sử xã hội Trải qua bao khó khăn trắc trở của cuộc sống nhưng họ vẫn mạnh mẽ vươn

Trang 30

lên Ca ngợi người phụ nữ với chức năng thiên phú sinh con và nuôi dưỡng con cái, duy trì nòi giống cho nhân loại

Chương 3: BÁU VẬT CỦA ĐỜI HAY BIỂU TƯỢNG NGƯỜI PHỤ

NỮ TRUNG HOA TRONG CÁCH NHÌN CỦA MẠC NGÔN

3.1 Quan niệm Mạc Ngôn về người phụ nữ

Hình tượng người phụ nữ không còn là đề tài xa lạ đối với các nhà văn Nhưng khi viết về đề tài này, ở mỗi nhà văn đều có một góc nhìn và một quan niệm sáng tác khác nhau Đến với nhà văn Mạc Ngôn, hình tượng người phụ nữ được xây dựng một cách chân thật và sinh động Họ là những người phụ nữ xuất thân từ trong đời sống lao động bình thường, chịu thương chịu khó, mạnh mẽ và dẻo dai Hầu hết trong các sáng tác của Mạc Ngôn hình ảnh người phụ nữ luôn là những con người tràn đầy sức sống Các nhân vật nữ của ông đều mang một cá tính mạnh mẽ, khát khao tự do đi tìm hạnh

phúc Trong tiểu thuyết Đàn hương hình nhân vật Mị Nương được miêu tả là người

phụ nữ xinh đẹp và tràn đầy sức sống ở vùng Đông Bắc Cao Mật Mị Nương là người thông minh tháo vát, chịu nhiều gian nan khổ cực, nhưng ở cô gái ấy luôn mạnh mẽ vượt lên Khao khát có được một tình yêu trọn vẹn nhưng người chồng cô không thể đáp ứng được, Mị Nương đã tìm đến người đàn ông khác để thỏa mãn những khát

khao hạnh phúc của mình Nhân vật Phượng Liên trong Cao Lương đỏ cũng là người

phụ nữ sống mạnh mẽ và cá tính Phượng liên xuất thân trong một gia đình nghèo khó và bị cha mẹ ép gả cho một gả hủi mà cô không hề yêu thương Mạnh mẽ, khát khao yêu thương, cô đã chạy theo tiếng gọi con tim cùng anh Chiếm Ngao người anh hùng thổ phỉ Người phụ nữ trong sáng tác của Mạc Ngôn luôn hướng tới sự mạnh mẽ, khát khao tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình Bên cạnh đó nhà văn Mạc Ngôn còn có cái nhìn sâu rộng về sự tiến bộ của người phụ nữ qua từng thời đại Ông thấu hiểu cho những thân phận người phụ nữ ở thời kỳ phong kiến, họ phải chịu biết bao định kiến

cổ hủ ràng buột khiến họ phải cam chịu nhiều tủi nhục, có thể thấy ở tiểu thuyết Báu vật của đời qua nhân vật Lỗ thị Lỗ thị sống nhẫn nhục dưới biết bao định kiến của xã

hội và sự dày vò của gia đình chồng Xã hội phong kiến đã áp đặt người phụ nữ này vào một quy luật nhất định và không có tự do quyết định trong cuộc sống của mình Lỗ

Trang 31

thị buộc phải sinh cho nhà Thượng Quan con trai để nối dõi, nhưng sự bất lực của người chồng, bà phải chịu biết bao cay đắng để “xin giống” sinh cho nhà Thượng Quan một đứa con trai Bà sinh tám người con gái mới được một người con trai duy nhất là Thượng Quan Kim Đồng, đó là tất cả niềm tin, niềm hi vọng của bà Đứa trẻ ấy sinh ra cũng là lúc đất nước Trung Hoa rơi vào thời kỳ biến động, cũng từ đó Lỗ thị phải trải qua bao nổi bi kịch của cuộc đời, nhưng ở người mẹ ấy vẫn kiên cường mạnh

mẽ và không lùi bước trước số phận Những người con của Lỗ thị là động lực đã tiếp thêm sức mạnh và nghị lực cho bà Một mình bà đã gánh vác mọi gian nan để nuôi dạy đàn con của mình Tấm lòng của người mẹ cao cả và rộng lớn vô bờ bến Những người con gái của Lỗ thị là thế hệ trẻ năng động khát khao sống tự do và sống hành động Được thừa hưởng sự chịu đựng dẻo dai của người mẹ, họ sống mạnh mẽ và khao khát vươn lên tìm một tương lai tốt đẹp Họ vượt qua những lễ giáo phong kiến cổ hủ để khẳng định chính mình trong xã hội Mỗi người mang một phong cách riêng có cá tính và hành động vì lý tưởng của mình, khẳng định sự bình đẳng so với nam giới Người

phụ nữ trong sáng tác của Mạc Ngôn là chân dung của người phụ nữ Trung Hoa đầy

sức sống và nghị lực

Mạc Ngôn có cái nhìn trân trọng đối với người phụ nữ, họ là những người phụ

nữ có sức sống dẻo dai, nhiệt huyết sống hết mình vì lý tưởng Đồng thời ông thể hiện

sự ca ngợi những người mẹ hi sinh vì con cái, ca ngợi thiên chức làm mẹ thiêng liêng của người phụ nữ Tạo hóa ban cho người phụ nữ nguồn sữa để nuôi dưỡng mầm sống của con người, đó là thứ cao cả nhất mà cả nhân loại đều quý trọng Báu vật của đời đó

là Phong nhũ phì đồn, ca ngợi sự sinh nở của người mẹ để duy trì nòi giống cho nhân

loại Chúng ta sẽ khai thác vấn đề này sâu hơn trong những phần trình bày tiếp theo dưới đây

3.2 Báu vật của đời nhìn từ nhan đề

Báu vật của đời có tên nguyên tác tiếng hoa là Phong nhũ phì đồn Phong nhũ phì đồn dịch trên bề mặt câu chữ có nghĩa là bầu vú căng tròn và cặp mông núng

ních Nhà văn đã không ngần ngại khi đặt tiêu đề cho tiểu thuyết của mình mang một thân hình lõa lồ của người phụ nữ Khi tác phẩm này đến công chúng, nhà văn đã nhận được sự phản hồi từ hai phía đối lập nhau Một số đã rất ủng hộ tác phẩm của ông vì

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w