Trong bài viết Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi, Nguyễn Huy Thiệp đã đi vào khám phá thơ Đồng Đức Bốn trên cơ sở khái quát để đi đến một sự khẳng định: Từ thời đại lục bát trong Truyện Kiề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam
HÀ NỘI, 2013
Trang 3
Hà Nội ngày 10 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Hoàng Lan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội ngày 10 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Hoàng Lan
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc luận văn 9
7 Đóng góp của luận văn 9
8 Cấu trúc của luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1: Hình tượng người phụ nữ trong thơ Việt Nam và hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 11
1.1 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Việt Nam 11
1.1.1 Thờì kỳ phong kiến 11
1.1.2 Giai đoạn đầu thế kỷ XX 11
1.1.3 Thời kỳ kháng chiến 1945 – 1975 12
1.1.4 Văn học sau đổi mới 13
1.2 Hành trình sáng tạo thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 14
1.2.1 Hành trình sáng tạo thơ Nguyễn Duy 14
1.2.2 Hành trình sáng tạo thơ Đồng Đức Bốn 26
Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 32
2.1 Hình tượng người bà, người mẹ 32
2.1.1 Hình tượng người bà 33
2.1.2 Hình tượng người mẹ 39
Trang 62.2 Hình tượng người vợ, người em 59
2.2.1 Hình tượng người em 59
2.2.2 Hình tượng người yêu 67
2.2.3 Hình tượng người vợ 78
Chương 3: Đôi nét về hình thức biểu hiện 86
3.1 Thể thơ 86
3.2 Không gian - thời gian nghệ thuật 92
3.2.1 Thời gian nghệ thuật 93
3.2.2 Không gian nghệ thuật 99
3.3 Ngôn ngữ 105
3.3.1 Ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ 106
3.3.2 Ngôn ngữ giàu tính tạo hình 107
3.3.3 Ngôn ngữ giàu tính nhạc 109
3.4 Một số biện pháp tu từ 112
PHẦN KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
1.1 Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam in đậm dấu ấn trong thơ ca,
nhạc họa, điêu khắc và mãi bất tử với thời gian Họ đã góp phần làm nên vẻ đẹp của văn hóa dân tộc
Phụ nữ Việt Nam từ xưa tới nay vốn mang vẻ đẹp thầm lặng, thoang thoảng như hương quế giữa rừng xa:
“Em như cây quế giữa rừng Ngát thơm ai biết, lẫy lừng ai hay”
Đó là vẻ đẹp chân quê, giản dị và đáng yêu, họ không phải lúc nào
cũng liễu yếu đào tơ, là cái bóng của người đàn ông mà luôn tiềm ẩn một sức
mạnh chẳng kém gì nam giới Họ là một nửa của thế giới, một nửa cuộc sống
của nhân loại Nhà văn M.Gorky (người Nga) đã từng nói: “Không có mặt trời thì hoa không nở/ Không có mẹ hiền, anh hùng, thi sĩ còn đâu?”
Từ xưa phụ nữ Việt Nam đã có truyền thống chống giặc ngoại xâm:
“Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Trong công cuộc dựng nước và giữ nước
đã có nhiều người phụ nữ nổi tiếng như: Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan đã từng làm cho quân giặc nhiều phen bạt vía kinh hồn Bà Trưng đã từng:
“Hồng quần nhẹ bước chinh nguyên Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thùy”
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu hi sinh anh dũng của các chị Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, chi Út Tịch, mẹ Tơm, mẹ Suốt
Trên lĩnh vưc văn học nghệ thuât, giáo dục, khoa học nhiều phụ nữ là nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, kĩ sư, bác sĩ, tiến sĩ tài năng như: Diệu Nhân (người Phú Thọ) - một thiền sư, nữ sĩ thời Lý, bà Huyện Thanh Quan - một nhà thơ
Trang 8tài hoa thế kỷ XIX và các nhà thơ như: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm cho tới Anh Thơ, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ
Trên bất kỳ lĩnh vực nào, ở giai đoạn lịch sử nào ta cũng đều bắt gặp tên tuổi của những phụ nữ nổi tiếng, làm vẻ vang dân tộc.Cả thế giới đều tôn vinh phụ nữ Phụ nữ Việt Nam ở giai đoạn nào cũng luôn mang trong mình sự hài hòa cả về vẻ đẹp bên ngoài lẫn phẩm chất bên trong, truyền thống và hiện đại Tất cả những điều đó đã đi vào thơ văn một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, để người phụ nữ đã, đang và sẽ mãi là nguồn cảm hứng vô tận cho các nghệ sĩ
1.2 Nguyễn Duy là một nhà thơ tiêu biểu, một gương mặt thơ xuất sắc
trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam Xuất hiện trên thi đàn từ những năm 70 của thế kỷ hai mươi, trong chặng đường hơn 30 năm sáng tác, ông đã có những đóng góp đáng kể cho nền thơ ca dân tộc: 12 tập thơ, 3 tập bút ký, 1 tiểu thuyết Ông đã từng được nhận giải nhất tuần báo văn nghệ 1973, được tặng giải thưởng A về thơ ca của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1985 Nhận giải thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật nam 2007
Thơ Nguyễn Duy gắn bó máu thịt với đất nước, với cội nguồn, những dòng thơ ông như chắt ra từ đời sống nhân dân Trong chiến tranh, ông viết những vần thơ bên chiến hào,những vần thơ sinh ra từ lửa đạn, mang theo hơi thở của một trái tim người lính giàu nhiệt huyết Sau 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, thơ ca lắng lại, thơ có nhiều ngã rẽ, một số người tìm đến những phong cách thơ hiện đại, tượng trưng, siêu thực nhưng Nguyễn Duy vẫn con đường của mình, vẫn viết
về chiến tranh, quê hương, đất nước, con người: Ánh Trăng (1984), Mẹ và Em (1987), Đường xa, Tình tang, Vợ ơi (1985) với nhiều tìm tòi, đổi mới
Nguyễn Duy đã định hình được phong cách với một cá tính sáng tạo độc đáo
1.3 Đồng Đức Bốn - một thi nhân sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng,
mảnh đất của địa linh nhân kiệt - nó gắn với tên tuổi các nhà văn lớn của dân
Trang 9tộc như Nguyễn Bỉnh Khiêm và trở lại gần đây là những tên tuổi như Nguyên Hồng Chính từ nôi văn hóa ấy đã đem lại những gì tinh túy nhất cho thơ Đồng Đức Bốn Sinh năm 1948 và vội vã ra đi vào ngày 14/2/2006, ở cái tuổi
mà hồn thơ vẫn dào dạt và đầy tham vọng Song có lẽ những gì mà người nghệ
sĩ dân gian ấy để lại không hề bé nhỏ - một gia tài thơ “giàu hơn cả gió”
Đến với thơ muộn nhưng thi phẩm mà Đồng Đức Bốn để lại không hề
ít Từ năm 1992 đến 2002 ông đã in riêng 6 tập thơ: Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992), Chăn trâu đốt lửa (1993), Trở về với mẹ ta thôi (2000), Cuối cùng vẫn là dòng sông (2000), Gửi Tân Cương (2000), Chuông chùa kêu trong mưa (2000) Ngoài ra còn một số tác phẩm in chung trong các tuyển tập: Trúc Viên thi quán (1995), Đừng nhìn em như thế (1995)
Không phải một thần đồng thi ca sớm nở rộ như Trần Đăng Khoa, hay gặt hái được thành quả nghệ thuật sớm như Phạm Tiến Duật ở cái tuổi ngoại
tứ tuần mới bắt đầu làm thơ nhưng Đồng Đức Bốn đã nhanh chóng chiếm được tình cảm của đông đảo bạn đọc và nổi lên từ các giải thưởng thơ hay trên các báo, tạp chí: giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1995), giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1998 - 2000), giải thưởng cuộc thi thơ tạp
chí Văn nghệ quân đội (1998- 2000), giải thưởng cuộc thi thơ Tầm nhìn thế kỷ
báo Tiền Phong, đặc biệt là tặng thưởng thơ hay nhất của tạp chí văn nghệ quân đội 1998 - 2000
Người ta bắt đầu biết đến cái tên Đồng Đức Bốn từ dạo ấy Vườn hoa của nghệ thuật rộng lớn không cùng, nó không có sự giới hạn về đẳng cấp,
giới tính và độ tuổi mà sẵn sàng đón nhận mọi rung động “tinh diệu” nhất
của tâm hồn Bởi một niềm đam mê với thi ca và cũng bởi trót duyên nợ với đời nhiều lắm nên chẳng ngạc nhiên khi người ta gọi Đồng Đức Bốn là một
kiểu “thần đồng muộn” trong thơ
Trang 101.4 Có thể thấy được rằng cả Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đều là
những nhà thơ nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới phê bình và sự mến
mộ của độc giả Cả hai nhà thơ đều giành khá nhiều trang viết nhất định, những tình cảm chân thành, bình dị mà vô cùng sâu sắc cho những người phụ
nữ, những người bà, người mẹ, người em trong sáng tác của mình Nhưng trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về thơ của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn ta thấy chủ yếu bàn về những khía cạnh như: thơ lục bát, phong cách nghệ thuật, bản sắc thơ còn về hình tượng người phụ nữ chưa thực sự được nghiên cứu thành một chuyên luận cụ thể, nó chỉ được đan xen trong quá trình tìm hiểu những vấn đề liên quan khác Tiếp cận thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn từ đề tài hình tượng người phụ nữ chúng tôi mong muốn góp thêm những hiểu biết nhất định, những điều lý thú và bổ ích tới bạn đọc
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về thơ Nguyễn Duy, ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn, Nguyễn
Duy đã được giới nghiên cứu phê bình quan tâm và được khẳng định như một nhà thơ tiêu biểu của thơ ca chống Mỹ Vì vậy đã có không ít bài viết dưới
dạng bài báo, phỏng vấn, tiểu luận, luận văn về thơ Nguyễn Duy
Hoài Thanh là người đầu tiên viết lời bình cho thơ Nguyễn Duy qua
bài: Đọc một số bài thơ Nguyễn Duy (Báo Văn nghệ số ra 442 - 14/4/1972) đã khẳng định thơ Nguyễn Duy trong quá trình định hình một cá tính thơ: “Thơ Nguyễn Duy đưa ta trở về với một thế giới quen thuộc, một gốc sim, một bụi tre, một ổ rơm nhưng trong thế giới ấy thơ Nguyễn Duy không nhàm Nói sim, rơm, tre là để nói đến người Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của con người, của những cuộc đời cần cù không tuổi, không tên” Hoài Thanh đã phát hiện ra cái đẹp trong thơ Nguyễn Duy chính là cái bình dị hiền hậu “một cái gì rất Việt Nam” mà chúng ta “giữ nguyên trong thử lửa”, với “một giọng thơ chân chất, tình thơ chác, ý thơ sâu”
Trang 11Đỗ Ngọc Thạch khi viết về người vợ trong thơ Nguyễn Duy đã nhìn
thấy trong câu thơ Nguyễn Duy “Đó là những câu thơ nặng trĩu hồn quê lay động trong sâu thẳm đưa ta về với bản ngã với những gì con người thứ nhất”
Hoàng Nhuận Cầm trong trang Dành cho các bạn trẻ yêu thơ của báo Tuổi trẻ có bài Tiếc thay áo trắng má hồng, đã phân tích cái hấp dẫn của bài thơ Áo trắng má hồng: “Trước hết nó mang âm điệu của một bài hát ru, hát
ru cái áo trắng” Tác giả nhận ra cái vẻ “tinh quái”, “hóm hỉnh” của Nguyễn Duy trong một cái nhìn tinh tế “có gì mà như không có”
Trong các bài viết nghiên cứu, phê bình về thơ Nguyễn Duy công phu hơn cả là bài của Nguyễn Quang Sáng và Chu Văn Sơn, hai nhà nghiên cứu
đã có cái nhìn sâu sắc hơn về thơ Nguyễn Duy, với những nhận định tương đối sắc sảo
Trong bài viết Đi tìm tiềm lực thơ Nguyễn Duy - Phụ lục cho tập Mẹ và
em, Nguyễn Quang Sáng đã khẳng định bước tiến của Nguyễn Duy, tìm ra nét
độc đáo, những nét khác biệt trong thơ anh Có những nết khác biệt ấy là do
“có sự chuyển động trog nội tâm mà ứa ra câu chữ” Nhờ đó mà Nguyễn Duy
“Dù ở xứ lạ vẫn bắt được cái hồn của con người và hồn của cây cỏ” Ông nhấn mạnh Nguyễn Duy có ưu thế trội hơn hẳn trong thể lục bát “Thơ Nguyễn Duy không rơi vào tình trạng quen tay, mà có sự biến đổi, chuyển động trong câu chữ”, thành công của thơ lục bát Nguyễn Duy là nhờ vào thế giới nội tâm
phong phú và năng động của chính nhà thơ
Qua phân tích một số bài thơ cụ thể, Nguyễn Quang Sáng đi tới nhận
xét: “Nguyễn Duy vẫn sáng tác với bản sắc riêng của mình, không biến dạng, không pha tạp ở hoàn cảnh sống, dù ở đề tài chiến trận hay đề tài tình yêu con người, quê hương thì cũng cùng chung cái gốc nhân bản và tâm hồn nhân hậu ”, “Nguyễn Duy viết đều và có chất lượng về quá khứ, hiện tại, về chiến
Trang 12tranh và tình yêu, về quê hương gốc gác và những người thân đều thống nhất
từ trong tâm tưởng, trong mối giao lưu giữa hiện thực với văn hóa cội nguồn”
Chu Văn Sơn trong bài viết Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân, tạp chí Nhà
văn số 3 năm 2003 đã nói nhiều hơn đến vấ đề tư duy thơ Nguyễn Duy, anh đi
từ quan niệm nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy “tôi là dân vậy tôi tồn tại” Và
có thể thấy “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân ngay từ quan niệm nhân sinh và nghệ thuật” và quan niệm ấy đi suốt chặng đường thơ anh càng về sau càng
sắc nét Theo Chu Văn Sơn, Nguyễn Duy coi chân thành là cứu cánh, cứu tinh
của mình Những vần thơ của anh là “tâm tình ở đằng sau tâm tình” Những vần thơ đánh thức lương tri, dám nói thẳng nói thật không hề né tránh Đánh thức tiềm lực, Nhìn từ xa tổ quốc, Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ Cái tôi tự
họa chân thành đến mức không hề làm duyên làm dáng, không nề hà những nhếch nhác bụi bặm
Thơ Nguyễn Duy cũng được chọn làm đề tài nghiên cứu trong một số
luận văn thạc sĩ: tác giả Dương Tú Anh với đề tài Phong cách thơ Nguyễn Duy, tác giả Nguyễn Thị Đỗ Quyên với đề tài Thơ lục bát Nguyễn Duy, tác giả Mai Thị Nguyệt với đề tài Tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Duy, tác giả Phạm Thị Phương với đề tài Thơ Nguyễn Duy nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật
2.2 Viết về thơ Đồng Đức Bốn chưa thực sự có một chuyên luận hay
một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu mà chủ yếu chỉ là những bài viết nghiên cứu trên bình diện khái quát hoặc một phương diện thể loại xuất
hiện lẻ tẻ trên báo và tạp chí như: Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi (Nguyễn Huy Thiệp), Đi tìm những câu thơ lạ (Vương Trí Nhàn), Đồng Đức Bốn - kẻ mượn bút của trời (Đỗ Minh Tuấn) Hay như Nguyễn Khoa Điềm dù không nghiên cứu sâu hay phê bình sâu vào thơ nhưng chỉ với một bài thơ rất ngắn Bạn thơ đã
Trang 13thâu tóm được cái “thần” trong thơ Đồng Đức Bốn Ngoài ra Bàng Việt, Nguyễn
Bao cũng có những nhận xét rất tinh tế về ngôn ngữ thơ Đồng Đức Bốn
Trong bài viết Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi, Nguyễn Huy Thiệp đã đi
vào khám phá thơ Đồng Đức Bốn trên cơ sở khái quát để đi đến một sự khẳng
định: Từ thời đại lục bát trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đến Tản Đà,
Nguyễn Bính, Nguyễn Duy và phải chăng đây là thời đại của những người làm thơ lục bát như Đồng Đức Bốn
Đỗ Minh Tuấn trong bài phê bình Đồng Đức Bốn - kẻ mƣợn bút của trời đã đánh giá rất cao sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn: “đem lại cho thơ lục bát, thơ truyền thống một niềm tự tin đáng kể” Thơ Đồng Đức Bốn giản dị nhưng “đó là tiếng lòng hóa thân thăng hoa từ những xô bồ trải nghiệm, cuộc hôn phối của bùn đất chông gai và khói lửa thánh linh” Thơ Đồng Đức Bốn
sâu sắc và mang thần thái riêng rõ rệt - đó cũng chính là cốt lõi tạo nên một phong cách
Đáng chú ý hơn cả là bài viết của Nguyễn Đăng Điệp Đồng Đức Bốn phiêu du vào lục bát Dẫu chưa đi sâu một cách toàn cục nhưng Nguyễn Đăng
Điệp đã chú trọng vào thể loại thành công nhất trong thơ Đồng Đức Bốn - thể loại lục bát, để từ đó tìm hiểu bí quyết tồn tại của thể loại truyền thống này trong thơ ca hiện đại, qua đó đánh giá cao tài năng cũng như sự kỳ công của thi nhân trên hành trình ghi dấu ấn riêng cho tho mình Những tìm tòi về nội dung và hình thức nghệ thuật trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn cũng đặc biệt được Nguyễn Đăng Điệp chú ý Nội dung không mới nhưng nó lại được biểu đạt bằng một phong cách hiện đại, chất trí tuệ triết lý, cách sử dụng ngôn từ
tinh quái, lối nói dân gian, những phi lý ngẫu nhiên mang tính chất “thần hứng” đã tạo nên dư âm riêng trong phong cách thơ của Đồng Đức Bốn Và
dường như Nguyễn Đăng Điệp và Nguyễn Huy Thiệp đã gặp nhau ở sự tán
Trang 14đồng khi cho rằng đây là thời đại của những người làm thơ lục bát như Đồng Đức Bốn
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, qua đó làm rõ cảm hứng sáng tác của 2 tác giả về người phụ nữ Việt Nam và những đặc điểm nổi bật của họ được đề cập dến trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, góp phần khiến độc giả có thêm những hiểu biết nhất định về nội dung thơ của 2 tác giả
Qua việc nghiên cứu, đề tài mong muốn bồi đắp thêm tình yêu mến, tự hào về vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, sự cảm thông và thấu hiểu những vất vả, nhọc nhằn mà họ phải trải qua trong cuộc sống
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của đề tài là phải phân tích, làm rõ được cảm hứng chủ đạo
về hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn
Làm nổi bật được những giá trị, vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện trong thơ của 2 tác giả
Chỉ ra được những hi sinh, vất vả, những bất hạnh mà người phụ nữ phải trải qua
Thấy được những nghệ thuật tiêu biểu mà Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đã sử dụng để góp phần thể hiện thành công hình tượng người phụ nữ trong thơ của mình
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các sáng tác của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, trong đó tập trung nhiều đến các sáng tác viết về hình tượng người phụ nữ
Khi nghiên cứu luân văn đi sâu vào khai thác những khía cạnh như giá trị, vẻ đẹp của người phụ nữ, những vất vả, bất hạnh của họ va một số nét chính về nghệ thuật thơ
Trang 156 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp
Dùng phương pháp phân tích tổng hợp, trên cơ sở những số liệu thống
kê, chúng tôi khảo sát các tập thơ của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn,từ đó phân tích và khái quát những khía cạnh, biểu hiện khác nhau trong cảm hứng
về người phụ nữ của 2 tác giả
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trong quá trình nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, chúng tôi cũng tiến hành đối chiếu thơ của 2 tác giả với một số bài thơ viết về phụ nữ của các tác giả khác cùng thời để phần nào thấy được những cảm hứng chung khi viết về người phụ nữ và những nét riêng ở 2 nhà thơ này
Ngoài các phương pháp trên chúng tôi còn kết hợp một số phương pháp khác như: phương pháp cấu trúc, phương pháp ký hiệu học, phương pháp liên văn bản, phương pháp nghiên cứu văn hóa
7 Những đóng góp mới của luận văn
Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn được coi là những nhà thơ khá tiêu biểu ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn Thơ của 2 tác giả này cũng đã được nghiên cứu từ nhiều khía cạnh: phong cách nghệ thuật, thơ lục bát, bản sắc thơ chủ yếu là tiếp cận từ hướng thi pháp, tư duy nghệ thuật, còn phương diện nội dung đặc biệt là hình tượng người phụ nữ trong thơ của họ thi chưa được nghiên cứu sâu Bởi vậy luận văn của chúng tôi hy vọng góp thêm một hướng nghiên cứu mới, khai thác từ phương diện nội dung thơ của
2 tác giả này
Trong những năm trở lại đây, đã có khá nhiều sáng tác của Nguyễn Duy được đưa vào giảng dạy trong nhà trường trong đó cũng có những tác phẩm viết về hình tượng người phụ nữ Chính vì thế mà nhu cầu tìm hiểu về
Trang 16thơ Nguyễn Duy và các tác giả cùng thời với ông như Đồng Đức Bốn một cách sâu sắc là điều rất cần thiết Để đáp ứng nhu cầu này, luận văn của chúng tôi cố gắng tìm ra những nét đặc sắc trong cảm hứng về người phụ nữ của thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn dự kiến sẽ triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Hình tượng người phụ nữ trong thơ Việt Nam và hành trình
sáng tạo của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn
Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức
Bốn
Chương 3: Đôi nét về hình thức biểu hiện
Trang 17
PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1:
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ VIỆT NAM VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN DUY, ĐỒNG ĐỨC BỐN
1 1 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Việt Nam
1.1.1 Thời kỳ phong kiến
Cả nước Việt Nam chìm trong những ràng buộc, lễ giáo phong kiến khắc nghiệt, tối tăm và vô hình chung số phận của người phụ nữ cũng không thể nào vượt ra khỏi ranh giới của hoàn cảnh xã hội Trong thơ ca, họ hiện lên là những kiếp người nhỏ nhoi, bất hạnh Một nàng Kiều tài sắc ven toàn mà cuộc đời lênh đênh trong suốt 15 năm lưu lạc, một Hồ Xuân Hương khát khao hạnh
phúc mãnh liệt mà trọn đời ngao ngán bởi thân phận "làm lẽ", "kiếp chồng chung" Rồi trên thi đàn Việt nam lúc ấy còn biết bao người phụ nữ có số phận
như vậy khiến Nguyễn Du - đại thi hào dân tộc phải đau đớn mà thốt lên:
"Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Hai câu thơ cất lên trong hoàn cảnh mà con người bị cương tỏa bởi
"vòng kim cô" của lễ giáo phong kiến, của những "tam tòng tứ đức" Người phụ nữ càng đẹp, càng tài thì càng lắm bất hạnh, khổ đau "chữ tài kia với chữ tai một vần” Nguyên nhân vì đâu thì vào cái thời đại ấy chưa có câu trả lời
Và do đó thì câu thơ của Nguyễn Du chính là "khúc bạc mệnh" tấu lên cho
"mọi kiếp hồng nhan"
1.1.2 Giai đoạn đầu thế kỷ xx
Hơn 100 năm sau, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong văn học dưới ngòi bút của các nhà thơ có cách nhìn nhận khác, không còn thấy những tiếng than thân trách phận, những lời thơ đau buồn Người phụ nữ Việt Nam trong
Trang 18văn học hiện đại trở về với nét đẹp giản dị đời thường và những công việc lo toan thường nhật Hẳn trong mỗi chúng ta không ai quên được hình ảnh người
mẹ với:
" Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa"
(Lưu Trọng Lư)
Ta lại càng không thể quên được nét đằm thắm, dịu dàng của người mẹ
"khuyên vành áo thắm, áo the nâu" trong Đường về quê mẹ - Đoàn văn Cừ
Và tiêu biểu hơn cả, chúng ta thấy hình ảnh người mẹ thôn quê được hiện lên rất chân thực trong thơ Nguyễn Bính với nét đẹp của người mẹ Việt Nam truyền thống tảo tần, đảm đang, giàu lòng yêu thương và đức hi sinh Ai như
mẹ trong ngày tết biết lo toan và vun vén như thế này?
" Giết lợn, đồ xôi lại giết gà
Cỗ bàn xong cả từ hôm qua
Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức
Lẩm nhẩm cầu kinh Đức Chúa Ba"
những cô thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn:
" Em đứng bên đường như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường"
(Lá đỏ- Nguyễn Đình Thi)
Trang 19Hoặc họ có thể là những cô gái "dịu dàng như những nàng tiên", là những "cô du kích, giao liên" của chốn quê hương gian khổ mà anh dũng trong Trở về quê nội của Lê Anh Xuân Tất cả đều hiện lên đẹp đẽ bởi họ
mang trong mình hồn thiêng của sông núi Khác hẳn với Nguyễn Du đã từng
treo lơ lửng một câu hỏi lớn: "Đau đớn thay phận đàn bà/ Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?” Nay, là người đại diện cho dân tộc, nhà thơ Huy Cận trong bài Ca ngợi người phụ nữ Việt Nam (1966) viết:
"Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ"
Nhà thơ như hóa thân vào người phụ nữ để tự hào mà nhủ thầm rằng: trong cuộc sống hiện nay người phụ nữ cũng là một phần của lịch sử, họ tạo nắng cho nhân gian và tạo nắng cho thơ - nghĩa là họ làm đẹp cho cuộc đời,
họ cũng là nguồn cảm hứng vô tận của các thi sĩ
1.1.4 Văn học sau đổi mới
Văn học thời kỳ này vẫn không ngừng khám phá, thể hiện hình tượng người phụ nữ Nhưng sau cuộc chiến tranh, đất nước hòa bình trở lại họ đã
khác nhiều về tâm tư, tình cảm và những khát vọng yêu thương Nếu coi "thơ
ca là tiếng nói của tâm hồn" thì hơn bao giờ hết thời đại tự do đã cho phép
người phụ nữ nói rõ những cung bậc của lòng mình Họ hiện lên trong thơ như con người giữa đời thường tâm sự với ta về cuộc đời, tình yêu, về sự sống, tiêu biểu là thơ Xuân Quỳnh:
"Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thê
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”
(Sóng)
Trang 20hay
"Em trở về đúng nghĩa tái tim em
Là máu thịt đời thường ai cũng có
Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi"
(Tự hát)
Và đặc biệt chưa bao giờ ta thấy nhu cầu hạnh phúc, nhu cầu tự do, tình yêu lại hiện lên rõ nét như thời kỳ này khi đến với thơ của Phan Huyền Thư hay Vi Thùy Linh Nếu xưa kia, Hồ Xuân Hương đã từng tung hê, nhạo báng tất cả mà rốt cụ vẫn không khỏi ngậm ngùi, ngao ngán vì muốn vùng vẫy, muốn bứt phá mà không được thì ngày hôm nay, người phụ nữ có quyền sống đuungs với cảm xúc và bản năng yêu đương của chính mình Địa hạt tự do ấy
đã cho phép Vi Thùy Linh viết những câu thơ kiểu như:
"Trong dữ dội và khao khát bình yên
Em muốn ngủ trong anh như rễ cây trong đất
Em trổ nhịp mong từ căn phòng trống Hằn nơi em, cả mảng trời bầm tím
Em ép mình trong tiếng khóc khô”
Quả là một hơi thở khoáng đạt và một tấc lòng cháy bỏng xiết bao! Có
ai đó nói rằng: "Người phụ nữ là một nửa thế giới" Và quả thật, họ đã đi vào
những trang viết chảy suốt trong văn học từ trước đến nay, để rồi không chỉ làm nên một nửa mà là trọn ven tấm hình trong sâu thẳm tâm hồn thế hệ người đọc hôm nay và cả mai sau
1.2 Hành trình sáng tạo thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn
1.2.1 Hành trình sáng tạo thơ Nguyễn Duy
1.2.1.1 Giai đoạn trước 1975
Nguyễn Duy làm thơ rất sớm Tác phẩm đầu tay Trên sân trường sáng
tác khi nhà thơ mới học lớp 2 Song phải chờ đến sự ra đời của hàng loạt các
Trang 21tác phẩm như Trận địa tím (1969), Khẩu súng trên tay ta (1970), Khúc hát dân ca (1970), Tiếng hát mùa gặt (1971)… Đặc biệt là tác phẩm: Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm (chùm tác phẩm đoạt giải nhất trong
cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ 1972 - 1973 ) Nguyễn Duy mới bộc lộ rõ một thế giới nội tâm có bản sắc để từ đó định hình một phong cách thơ
Cát trắng là tập thơ đầu tay của Nguyễn Duy Ở tập thơ đầu tay này, Nguyễn Duy đã khẳng định được diện mạo riêng Với Cát trắng Nguyễn Duy
được chú ý đến như một gương mặt thơ có tiềm năng Hoài Thanh đã nhận
xét:“Thơ anh thường hay cảm xúc và suy nghĩ trước những chuyện lớn nhỏ quanh mình Cái điều ở người khác có thể chỉ là thoáng qua thì ở anh nó lắng sâu và dường như dừng lại…Dẫu sao cũng chỉ là bước khơi đầu, thơ anh có thể còn nhiều hứa hẹn” Trong tập Cát trắng, chiếm số lượng lớn là những
bài thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường
chiến tranh: Hầm chữ A, Chiều khẩu đội, Bầu trời vuông, Cát trắng, …Còn lại
là những bài thơ viết về tình yêu và lẽ sống ở đời: Nhớ, Xó bếp, Hơi ấm ổ rơm,… Những năm chiến đấu trong chiến trường cũng là thời gian Nguyễn
Duy lăn lộn trong cuộc sống, mở rộng tầm mắt, căng phồng ngực để đón nhận vào tâm hồn mình những sắc màu, hương thơm, mật ngọt và cả những đắng
cay của cuộc sống Thơ viết ra vừa là để trang trải “món nợ” với đời, vừa là
những bước chân trên chặng đường dài tự tìm và tự khẳng định mình Tập thơ chưa thật đặc sắc, nhưng ta cũng đã có thể tìm được nhiều tứ thơ hay:
Tôi say sắc chiều ươm chín đỏ cánh đồng
Chiều bồn chồn chảy tím dòng sông
Chiều dát bình minh theo đường viền núi
Ráng chiều nung nấu màu chờ đợi
Ơi chiều khẩu đội tôi say
(Chiều khẩu đội)
Trang 22Cong cong võng bạt anh nằm Khuyên lên nền lá vành trăng lưỡi liềm (Võng trăng)
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã khơi dậy nguồn cảm hứng lớn lao cho văn học nói chung và cho thơ ca chống
Mỹ nói riêng Tập thơ Cát trắng ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt như thế nên
nó cũng mang âm hưởng chung của dân tộc và thời đại:
Thắng rồi trận đánh thọc sâu
Lại về với mái tăng bầu trời vuông
(Bầu trời vuông)
Trong Cát trắng, ta thấy tác giả còn thể hiện một tình yêu nước sâu
sắc Tình yêu ấy được cụ thể hoá qua tình yêu với quê hương, với từng căn hầm lánh nạn mà tác giả thấy trên đường hành quân, với mỗi mảnh đất, mỗi con người mà tác giả đã đi qua…
Cần chi ở tháng ở năm Trú chân một lát hay nằm một đêm Một đời không thể nào quên Lòng dân - chiếc mộc vững bền che ta
(Hầm chữ A)
Trong tập thơ Cát trắng ta thấy nhiều bài có sự khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sự khẳng định sức mạnh dân tộc, nhân dân như: Tre Việt Nam, Giọt nước mắt và nụ cười, Cát trắng…Ở bài Tre Việt Nam, sức mạnh
phẩm chất, tâm hồn con người Việt Nam được hình tượng hoá qua hình ảnh cây tre:
Thân gầy guộc lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Trang 23Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu?
… Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
(Tre Việt Nam)
Qua ngòi bút của Nguyễn Duy, những đặc điểm ngoại hình và phẩm chất bên trong của cây tre Việt Nam đã thể hiện một cách sâu sắc đặc điểm, phẩm chất của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam Đó chính là ý chí kiên cường, bảo vệ thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm hung dữ, siêng năng, lạc quan, giàu lòng nhân ái, giàu đức hi sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước Bài thơ được viết trong những ngày chống Mỹ cứu nước sôi động như một tiếng nói bình tĩnh lạc quan, khẳng định tư thế chiến thắng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trước mọi thử thách của kẻ thù
Trong tâp thơ này, Cát trắng là một trong những bài thơ tiêu biểu, được
tác giả lấy tên đặt cho cả tập thơ:
Chiều nay tôi về biển Gio Linh Vốc nắm cát soi
Cát trắng ánh lên màu đỏ
(Cát trắng)
Bài thơ đã diễn tả được nỗi đau khôn tả của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đồng thời nó cũng khẳng định ý chí quật cuờng, quyết tâm đứng lên đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và tinh thần sống bất diệt của cả dân tộc Việt Nam
Bên cạnh việc khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khẳng định
sức mạnh dân tộc nhân dân, tập thơ Cát trắng còn khẳng định sự gắn bó cá nhân và cộng đồng, tình quân dân, tình đồng chí: Hơi ấm ổ rơm, Bát nước
Trang 24ngô của người mẹ Việt ở Cam Lộ, Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh,… Đây
cũng là một trong những nội dung quan trọng biểu hiện cảm hứng sử thi của thơ ca Nguyễn Duy thời kỳ này nói riêng và thơ ca chống Mỹ nói chung
Bài Hơi ấm ổ rơm là một trong những bài thơ hay về tình quân dân
trong thời kỳ chống Mỹ Bài thơ là dòng tâm sự chân tình, nhỏ nhẹ, sâu lắng nhưng tầm tư tưởng lại vút lên xen lẫn niềm tự hào của anh bộ đội Tình cảm của nhân dân đối với anh bộ đội thật đặc biệt, sẵn sàng che chở cho bộ đội trong mọi hoàn cảnh Nhà thơ - người chiến sĩ cảm thấy hạnh phúc, tự hào Nhà thơ kết thúc tác phẩm bằng một triết lý:
Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no Riêng cái ấm nồng nàn như lủa Cái mộc mạc lên hương của lúa Đâu dễ chia cho tất cả mọi người
(Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh)
Như vậy cùng với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh dân tộc nhân dân và nhất là sự gắn bó cá nhân với cộng đồng, tình quân dân, tình đồng chí mà nhân ta đã đánh thắng rất nhiều kẻ thù xâm lược, trong đó có đế quốc Mỹ Đồng thời nó cũng làm thành cảm hứng sử thi trong văn học chống
Mỹ nói chung và trong tập thơ Cát Trắng của Nguyễn Duy nói riêng
Trang 25Thơ Nguyễn Duy thời kỳ này đã đậm giọng điệu triết lý Để thể hiện giọng điệu triết lý ấy, nhà thơ thường dùng ngôn ngữ giàu hình tượng với từ ngữ gợi cảm, liên tưởng Cách sử dụng ngôn ngữ kiểu như thế ta bắt gặp ở rất
nhiều các bài thơ khác như: Tre Việt Nam, Khúc dân ca, Võng trăng, Hơi ấm
ổ rơm, Tiếng chim bạn bè…
Tóm lại, trước năm 1975, thơ trữ tình Nguyễn Duy mang nặng ý thức trách nhiệm của thế hệ trước vận mệnh của tổ quốc Những vần thơ được sinh
ra từ lửa đạn, mang theo hơi thở của chiến trường, mang theo nhịp đập của một tâm hồn trẻ trung sôi nổi Cái tôi ấy cũng trăn trở, suy ngẫm nhưng vẫn mang nhiều màu sắc sử thi Để chuyển tải nội dung thơ mang cảm hứng sử thi, tác giả đã sử dụng bút pháp lãng mạng cách mạng Trong đó điểm nhấn là lớp ngôn ngữ giản dị nhưng vẫn bay bổng, giàu tính nhạc, tính biểu cảm
1.2.1.2 Giai đoạn sau 1975
Xu hướng chung của quá trình vận động thơ ca Việt Nam từ sau 1975
là đi từ cảm hứng sử thi đến cảm hứng thế sự, đời tư Giai đoạn thơ trữ tình sau 1975 đã bớt đi ít nhiều chất mượt mà, ngôn ngữ hoa mĩ trau chuốt, thêm vào đó là sự xuất hiện của chất đời thường trước tác động của hiện thực cuộc sống Nguyễn Duy cũng không là ngoại lệ
Lời “tiên đoán” của Hoài Thanh đã không nhầm: với tập Ánh Trăng, sự
nghiệp thi ca của Nguyễn Duy thêm một lần toả sáng Đó là giải A cùng với
Hoa trên đá của Chế Lan Viên trong giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Tập thơ Ánh trăng chỉ có khoảng 30 bài nhưng diện đề tài khá rộng Ánh trăng đã bao quát được hầu khắp các vùng của đất nước Cùng chung một cái
gốc nhân bản và một tâm hồn nhân hậu, thế mà ở thơ Nguyễn Duy, mỗi khu vực địa lý vẫn có những nét khác nhau Đồng bằng Bắc bộ hiện ra sau một khúc dân ca, hoặc một luỹ tre Hàm súc và gợi cảm biết bao, là những câu thơ
về ruộng đồng miền bắc:
Trang 26Vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải
Bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua
(Đi qua thành nội)
Rồi Hà Nội, sông Thao, Nha Trang, Đà Lạt… với nơi nào thì Nguyễn Duy cũng gây được ấn tượng tâm hồn người nơi đó Với đồng bằng sông Cửu Long cũng vậy:
Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng
Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu
Nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía
Nón áo khỏi lo nhưng phải nhậu đều đều
Ai nghèo đói qua nhường cơm xẻ áo
Bụng người sôi cũng giống bụng ta
Ki cóp một thân làm chi cho cực
Việc mở mang vùng đề tài ấy gắn liền với sự phong phú hơn trong cách cảm, lối nghĩ đã tạo điều kiện cho ông đa dạng thêm trong cách dựng tứ
Trang 27Trong Ánh trăng, có chùm thơ kỷ niệm với nhiều bài thơ giàu xúc động như Tuổi thơ, Cầu Bố, Đò Lèn, Nghe tiếng tắc kè kêu trong thành phố, có kiểu thơ chân dung như Ông già sông Hậu, có truyện thơ ngắn Trở lại khúc hát ru có những câu thơ gần văn xuôi, cũng có bài thơ liên hoàn Lời của cây…Và lời của quả lại có những bài thơ ghi lại một thoáng tâm trạng bàng bạc, buâng
quơ, dường như chẳng có gì nhưng lại để lại dư âm sâu lắng trong lòng người
đọc như Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng…
Bài Ánh trăng là một bài thơ hay, có phát hiện Trong bài thơ ông đã
miêu tả lại khoảnh khắc tâm trạng của người lính sau chiến tranh vào sống ở một đô thị ồn ào, náo nhiệt Do không khí sôi động của thành phố nên người
lính đã vô tình không để ý đến cái vầng trăng vẫn hằng đêm thường đi qua ngõ Rồi một đêm vầng trăng bỗng xuất hiện đột ngột trước khung cửa sổ, nó
như một chứng nhân của lịch sử cho sự hội ngộ giữa quá khứ và hiện tại của
cuộc đời nhà thơ Từ Hồi nhỏ sống với đồng - Với sông rồi với bể đến Hồi chiến tranh ở rừng - Vầng trăng thành tri kỷ quyện với Từ hồi về thành phố - Quen ánh điện ánh gương - Vầng trăng đi qua ngõ – Như người dưng qua đường Nhà thơ ngầm trách mình trước sự đổi thay của cuộc sống đã vô tình
với một vẻ đẹp vẫn diễn ra hằng đêm, một vẻ đẹp đã từng ăn sâu vào tiềm thức, đã từng trở thành tri âm tri kỷ:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng Như là đồng là bể Như là sông là rừng Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình
(Ánh trăng)
Trang 28Cũng trong năm 1978, Nguyễn Duy viết bài Nghe tắc kè kêu trong thành phố Đây cũng là một bài thơ khi ra đời và cho đến hiện nay gây ấn
tượng rất mạnh đối với bạn đọc đặc biệt là bạn đọc cùng thời với tác giả Những người đã đi qua chiến tranh, giành độc lập cho tổ quốc:
Tắc kè Tắc kè Tôi giật mình…
Cái âm thanh của rừng lạc về phố…
Từ nghe tiếng tắc kè, những âm thanh bi tráng của thời chống Mỹ mà tác giả và đồng đội đã từng nếm trải lại hiện về Những âm thanh đau thương
mà tự hào vang vọng gây xúc động trong lòng ngưòi đọc:
Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia Dưới lá là hầm là tăng là võng
Là cơn sốt rét rừng vàng bủng
Là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn…
Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn Ngủ ôm súng suốt một thời trai trẻ Như thế, ký ức về chiến tranh trong thơ Nguyễn Duy ở tập Ánh trăng
hiện về qua các hình tượng thơ bắt đầu từ cuộc sống bình thường của dân tộc
Vẻ đẹp của hình tượng thơ Nguyễn Duy lúc này là sự quyện se giữa cái bình thường trong đời sống với cái cao cả cho nên hình tượng thơ chân thật, sâu sắc, giàu ý nghĩa nhân sinh
Tuy nhiên chất hiện thực chỉ thực sự thể hiện rõ trong sáng tác của Nguyễn Duy từ sau những năm 1986
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần xã hội Văn học nghệ thuật cũng vì thế mà nhập vào dòng chuyển động ấy Thơ trữ tình giai đoạn này chuyển hướng mạnh mẽ
Trang 29vào các chủ đề chính là các vấn đề xã hội, nhân thế Nhà thơ đặt lên hàng đầu những suy nghĩ cá nhân và bộc lộ những chính kiến của mình Cũng vì vậy, thời kỳ này, ta thấy Nguyễn Duy có nhiều bài thơ mang tính chất thời sự, được dư luận chú ý Đặc biệt, Nguyễn Duy đã cho ra đời nhiều tập thơ như:
Mẹ và em (1987), Đãi cát tìm vàng (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990), Sáu và tám (1994), Về (1994), Tình tang (1995), Vợ ơi (1995), Bụi (1997)…
Tập thơ Mẹ và em (1987) là tập thơ đặc sắc nhất Hầu hết những bài thơ hay nhất trong đời thơ Nguyễn Duy đều nằm trọn trong tập thơ ấy: Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Ánh trăng, Đò Lèn, Cầu Bố, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng…Các tập thơ còn lại tuy không phải bài nào
cũng đặc sắc nhưng chúng đã góp phần quan trọng làm nên sự nghiệp, phong cách thơ ông Chủ đề chính trong thơ lúc này số phận của con người, là công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Cảm hứng chính của tập thơ này là cảm hứng thế sự, đời tư
Viết về số phận con người, Nguyễn Duy gây xúc động cho người đọc bởi tấm lòng trăn trở, chia sẻ của tác giả:
Cái sang xúc phạm cái nghèo Cái ngay xúc phạm cái khèo bẩm sinh
(Xẩm ngọng)
Hậu hoa hậu còn gập nghềnh lắm Thắng cũng thương mà thua cũng thương
(Hoa hậu vườn nhà ta)
Những bài thơ viết về làng quê nghèo của Nguyễn Duy trong thời kỳ này mang vẻ đẹp chân thật, đậm chất suy tư Tác giả thể hiện sự thiêng liêng
và tôn kính đối với những người nông dân cần cù, nhẫn nại, giàu lòng nhân ái,
Trang 30dù trong khó khăn gian khổ vẫn trong sáng, đẹp đẽ cao thượng, hình tượng làng quê:
Làng ta ở tận làng ta Mấy năm một bận con xa về làng Gốc cây hòn đá cũ càng
Trâu bò đủng đỉnh nhƣ ngàn năm nay
(Dân ơi)
Những bài viết của Nguyễn Duy viết về thực tại của đất nước, con người trong thời đại kinh tế thị trường không khỏi gợi cho chúng ta những suy nghĩ:
Công nghiệp hoá là thế đó em ạ Còn dời non, còn lấp bể dài dài Liệu con chữ có xoay ra và đóng hộp
Bài thơ tình đông lạnh gửi cho ai?
(Ở nơi mặt trời lặn xuống bể)
Qua khái quát trên ta thấy, nếu trước năm 1975, Nguyễn Duy sáng tác chủ yếu bằng cảm hứng sử thi thì sau năm 1975, ông lại sáng tác chủ yếu bằng cảm hứng thế sự, đời tư.Và để chuyển tải nội dung thơ mang cảm hứng thế sự, đời tư ông đã lựa chọn một hình thức thơ tương ứng Về thể thơ, Nguyễn Duy đã chọn hình thức nghệ thuật truyền thống là thơ lục bát và thơ
Trang 31tự do làm phương tiện nhận thức, biểu hiện và sáng tạo Vì vậy, thơ ông có sự thống nhất cao độ về nội dung và hình thức Ngôn ngữ thơ Nguyễn duy là sự kết hợp giữa ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ bác học Trong đó, ngôn ngữ đời thường là chủ đạo, tạo nên giọng điệu thơ mang âm hưởng đằm thắm trữ tình pha lẫn sự suy tư, hài hước, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại
Như Chu Văn Sơn đã từng nhận xét: hành trình thơ Nguyễn Duy là hành trình của những con chữ và vần điệu, không được đánh dấu bằng mốc thời gian mà bởi những chặng đường: Đường làng - Đường nước - Đường xa
- Đường về Những chặng đường ấy dường như cũng “trùng khớp” với những chặng đường đời của một nhà thơ Nếu như Đường làng đưa người đọc
về với những kí ức tuổi thơ “mang dấu ấn ruộng vườn” với cánh đồng, cỏ lúa và hoa; bờ ruộng lấm tấm dấu chân cua, những cọng rơm xơ xác gầy gò, con cá kho dưa, quả cà kho tép, cơm nếp thơm, canh cua ngọt, khoai sắn nướng lùi…, thì Đường nước hằn in dấu chân người lính trên mỗi bước
đường hành quân dọc chiều dài đất nước, thấm đẫm nghĩa tình quân dân,
nghĩa tình đồng đội Đường xa giống như cuốn băng đậm chất du ký với
những thước phim thơ trải dài từ Á sang Âu, sang Mỹ, từ vùng đất cổ kính này sang thành phố hiện đại khác, từ miền hồi ức sang thế giới hiện tại, đầy
ắp sự trải nghiệm Đường về - quay trở lại với mảnh đất quê hương, phần
nhiều là trở về với hương đồng gió nội, để tìm ra cái quý nhất còn đọng lại, bởi cuối cùng:
Đâu biết những gì chờ ta đằng kia Chỉ biết ta khởi đầu từ nơi ấy
(Đường 9, Nam Lào, 1971)
Sau hơn ba mươi năm với hơn mười tập thơ trong đó có nhiều bài hơ nổi tiếng, Nguyễn Duy tuyên bố không làm thơ nữa Sự thực không phải vậy,
Nguyễn Duy chân thành: “thơ bỏ tôi chứ tôi không bỏ thơ” Thơ bỏ Nguyễn
Duy vì bản thân ông nhận ra rằng mình cứ lặp đi lặp lại mình nên không làm
Trang 32thơ nữa Tuy vậy, cái nghĩa vụ của một người công dân yêu nước vẫn theo đuổi ông Những năm gần đây, mỗi dịp tết đến, xuân về, Nguyễn Duy lại làm lịch bằng thơ, làm thơ bằng lịch với những minh hoạ ngộ nghĩnh của gồng gánh, thúng mủng, nong nia, giành mẹt, rổ rá, dần sàng, chum vại, cái nồi đất, cái điếu cày… như để trình bày cái tông tích, cái cội rễ của thơ mình Có lẽ ông
là người đầu tiên đưa thơ đi triển lãm Bởi thế, khi Nguyễn Duy tuyên bố gác thơ, ngừng thơ thì chúng ta chỉ nên hiểu là ngừng làm thơ chứ không ngừng sống với thơ Với ông ngừng làm thơ tức là ngừng thở Năm 2010, ông còn cho
ra đời tuyển tập thơ Nguyễn Duy
Tuổi thơ của Đồng Đức Bốn là những buổi chiều lang thang trên đồng
cỏ vàng hoe đuổi bắt châu chấu về nướng ăn hay những buổi chiều tát cá mang ra chợ bán Có lẽ kỉ niệm tuổi thơ ấy đã là dấu ấn không thể phai mờ trong tâm hồn nhà thơ vì thế mà tiếng thơ của anh luôn có một nỗi buồn giăng mắc
Tiễn biệt tuổi thơ lắm bùn đất nhiều khó nhọc, anh bước vào thời trai trẻ cống hiến sức mình để xây dựng Tổ quốc Trở thành người lính, qua nhiều sóng gió cuộc đời, người trai miền biển với ước vọng mạnh mẽ, tâm hồn thơ luôn khát khao được cất tiếng Những tiếng thơ đầu tiên của chàng thanh niên
Trang 33quê mùa ấy vừa cất lên không đủ độ vang, sự quyến rũ nên đã vội đi vào quên lãng Phận nghèo quấn riết lấy anh khiến anh không thể để hồn ràng buộc với thiên nhiên hoa lá cỏ cây được mãi, anh phải lo vật lộn với cuộc sống làm đủ thứ nghề từ thợ gò, sửa chữa ôtô và cả kí kết những hợp đồng kinh tế
Nếu thơ là tiếng nói thân phận thì thơ Đồng Đức Bốn, trước tiên, là phát ngôn cho thân phận của một kẻ tự thấy mình:
Đời tôi chỉ những xót xa đi tìm (Đời Tôi)
Câu thơ trên dường như đúng với chân dung thơ Đồng Đức Bốn
Chùm thơ Đời Tôi của Đồng Đức Bốn theo thời gian cứ đầy thêm mãi Cho đến tập thơ gần đây nhất củ: Chuông chùa kêu trong mưa, cuộc tìm
mình ấy dường như vẫn là một hành trình chưa có điểm dừng:
Thương mình lặn lội đường xa Vào rừng tìm mãi một hoa cải ngồng Thế rồi phải quay ra không Tìm mình ở phía cánh đồng đang mưa (Thương mình lặn lội đường xa)
Dẫu thế, theo tôi, trong tập thơ này, hành trình tìm mình của Đồng Đức Bốn đã có được một sự lắng kết đáng kể khinhà thơ tự xác định được mình:
Tôi là hạt bụi xa xôi của người
(Em là lục bát của tôi)
Cái chân lý giản dị này Đồng Đức Bốn chỉ ngộ ra từ sau rất nhiều những giả tưởng, lầm lạc Con người là một sinh vật thường rất hay sa bẫy bởi những giả tưởng, ảo tưởng Mà điều đó thì đầy ắp trong cuộc đời này Đồng Đức Bốn nhận ra giả tưởng đến với con người ngay từ buổi lọt lòng
trong lời hát ru ngọt ngào (Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi) Phải sau rất nhiều
những trải nghiệm, con người mới nhận ra được chính mình
Trang 34Bảo rằng phía trước là son Tôi đi đến hết đường mòn lại không .Bảo rằng khổ trước sướng sau
Mà trăm năm vẫn thấy nhau bọt bèo‟
(Đường đi)
Thơ Đồng Đức Bốn muốn nói với ta một điều: cát bụi thì vẫn là cát bụi Đồng Đức Bốn không muốn mạ vàng cát bụi Không muốn to tát hoá cát bụi Tác giả muốn cảm nhận cát bụi như là chính nó Điều này giải thích vì sao thơ Đồng Đức Bốn có rất nhiều nét tự thuật về mình khá thật thà, điều này được thể hiện như một nguyên tắc trong thơ Đồng Đức Bốn: Đồng Đức Bốn muốn nói mọi điều từ những xót chua của một thân phận cát bụi, từ chính mình Đã
là cát bụi thì phải long đong:
Chuông chùa tiếng đục tiếng trong Thảo nào cát bụi long đong thân cò (Bờ sông)
Là cát bụi thì suốt đời là vô định, mịt mờ:
Nghìn năm đi giữa mịt mờ Cái gì cũng thấy ngờ ngờ lo lo
(Chín xu đổi lấy một hào)
Thân phận cát bụi ấy,Đồng Đức Bốn nhìn thấy rõ nhất qua cuộc đời của
mẹ - người đã sống trọn vẹn một đời cát bụi Sống kiếp cát bụi nên phải chịu gió mưa:
Còng lưng gánh chịu gió mưa Nát chân tìm cái chửa chưa có gì (Trở về với mẹ ta thôi)
Sống kiếp cát bụi thì nói gì đến chuyện giữ ngọc gìn vàng:
Trang 35Cầm lòng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng
Cả trong cái chết cùng lấm đầy cát bụi:
Giữa khi cát bụi đầy trời Sao mẹ lại bỏ kiếp người lầm than (Trở về với mẹ ta thôi)
Thơ Đồng Đức Bốn là thơ: Sự đời cát bụi soi gương Là tiếng chuông
tỉnh thức của thân phận cát bụi lận đận, nổi chìm
Nhận ra thân phận cát bụi của mình, Đồng Đức Bốn không cầu bình yên Hạt cát ấy muốn sống thật đủ đầy, thật trọn vẹn những nổi chìm của phận mình Đây là những câu thơ rất Đồng Đức Bốn:
Chốc nữa thế nào cũng giông Sang đò tôi đến giữa đồng là mưa (Đi đò)
Tựa như bão để làm người Tôi tựa vào những nỗi buồn (Tựa bão để sống làm người)
Đứng trong cơn bão mà trông
Duyên mình chả bén trầu cau
Ta hiểu vì sao trong những lặn lội đường đời, Đồng Đức Bốn muốn đi
chân trần trên gai nhọn của cuộc đời:
Gót chân đỏ cả đường làng Bởi quen ngang tàng dẫm đạp lên gai
(Tôi là vua không có ngai) Lấy gai tôi bắc thành cầu
(Cây bồ kết lắm gai)
Trang 36Tôi đi trên dòng sông gai (Sông Thương ngày không em)
Và đây nữa:
Vua ngồi chễm chệ trong ngai Còn ta ta đứng trên gai nguyện cầu (Nguyện Cầu)
Có thể nói hành trình lục bát của Đồng Đức Bốn chưa dừng lại Ở phía trước vẫn là những kiếm tìm và vì thế hứa hẹn một chiều sâu và tầm vóc mới
Hơn 10 năm sáng tác, liên tục không ngừng nghỉ, khi tên tuổi của mình
đã được khẳng định trong làng thi ca Việt Nam thì cũng là lúc nhà thơ phát hiện ra mình bị ung thư phổi Dù đau đớn vì bệnh tật hành hạ, nhưng Đồng Đức Bốn luôn gắng gượng dành trọn vẹn những giây phút cuối cùng của cuộc
đời mình cho thơ ca Ông luôn động viên mình "Mệt thì mình làm thơ, mỗi bài thơ để giải một độc tố ra khỏi cơ thể"
Khi tuyển tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc ra đời (1/2006) cũng là lúc
Đồng Đức Bốn không thể chống cự được nữa Nhà thơ từ trần tại nhà riêng thôn Song Mai - An Hồng - An Hải - Hải Phòng vào 10h30' ngày 14/2/2006
Có thể thấy rằng trong dòng chảy thi ca Việt Nam hình tượng người phụ nữ đã trở thành một trong những hình tượng tiêu biểu, đẹp đẽ với đầy đủ những đức tính của người phụ nữ Á Đông Trải qua một hành trình dài với nhiều thay đổi cả về văn hóa, chính trị, tư tưởng và cách nhìn nhận, hình tượng người phụ nữ cũng được cảm nhận trong sự biến đổi, từ những thân phận bị phụ thuộc trong chế độ phong kiến, những người phụ nữ đảm đang giàu đức hi sinh của thế kỷ XX, những con người dũng cảm, có công lao to lớn trong bảo vệ tổ quốc đến những người phụ nữ đầy tự tin, chủ động và mạnh mẽ trong thơ ca hiện đại Có thể nói đó là cả một hành trình dài phản ánh chân thực hình tượng người phụ nữ trong thơ Việt Nam
Trang 37Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn là một cuộc hành trình dài và cũng đầy gian khổ trên con đường hoàn thiện sự nghiệp thi ca của mình Có người thành công từ khá sớm, lại có người tài năng thi ca nở rộ muộn song họ đều có một điểm chung là không ngừng nỗ lực hoàn thiện mình, gọt giũa bản thân từ những thô ráp, sần sùi của những tập thơ đầu tay
để đạt tới thành công nhất định trong sự nghiệp, để mỗi tác phẩm ra đời là sự kết tinh của tài năng, cá tính và sự lao động miệt mài
Trang 38CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ NGUYỄN DUY,
ĐỒNG ĐỨC BỐN
2.1 Hình tượng người bà, người mẹ
Bêlinxki, nhà phê bình Nga nổi tiếng thế kỷ XIX khi viết về hình tượng
văn học đã nói: "Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng các hình tượng và bức tranh Nhà kinh tế- chính trị được vũ trang bằng các số liệu thống kê, dùng chứng minh để tác động tới trí tuệ của người đọc, người nghe Nhà thơ được vũ trang bằng sự miêu tả sống động, rõ nét, tác động tới trí tưởng tượng của bạn đọc bằng cách trình bày hiện thực trong một bức tranh chân thực Một người chứng minh, một người trình bày và cả hai đều thuyết phục, chỉ có khác là một đằng bằng các kết luận logic, một đằng bằng các bức tranh" Nhìn vào một bức tranh có hồn, ta sẽ thấy cuộc sống
đang cựa quậy, đang vận động Ở đâu có cuộc sống, ở đó có thơ ca mà thi ca cũng chỉ thực sự sống khi nó phản ánh cuộc sống Tuy nhiên chất liệu và hình ảnh của đời sống chỉ có giá trị khi nó có tính chất tiêu biểu, điển hình và có khả năng gây xúc cảm
Khi phản ánh đời sống bằng hình tượng văn học, các nhà thơ muốn làm sống lại một cách cụ thể gợi cảm những sự việc, những hiện tượng, những con người làm ta suy nghĩ về tính cách, số phận, về tình đời, tình người, bên cạnh đó họ cũng biểu hiện trong đó một thái độ, một cảm xúc riêng
Hình tượng không chỉ là bản thân đời sống mà còn là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ Vậy nên chỉ khi nào người nghệ sĩ thật sự xúc động sâu sắc thì mới có thể truyền tình cảm, tư tưởng của mình đến với người đọc Mặt khác, nó cũng chỉ có thể thấm sâu vào ý thức của người tiếp nhận khi họ cảm nhận được tính chất trực tiếp, cụ thể, toàn vẹn độc đáo như những thực thể đời
Trang 39sống Sự tác động trực tiếp, cụ thể ấy sẽ đến với người đọc thông qua những chi tiết tạo hình, những sự kiện, những mối quan hệ giàu cảm xúc, thông qua ngôn từ, không gian, thời gian Lĩnh vực thơ ca là lĩnh vực giàu cảm xúc, tình cảm, thông qua những nét họa bằng ngôn từ, những chi tiết biết nói, gợi liên tưởng, gợi tư duy, nhà thơ đã tìm về với đối tượng phản ánh mà mình lựa chọn.
Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ có rất nhiều đề tài được phản
ánh trong thi ca Đề tài nào cũng hướng tới xây dựng con người Việt Nam, những con người nghèo khổ mà kiên cường, dũng cảm Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn với hành trình sáng tác thơ ca dài luôn xúc động trước số phận của nhân dân đặc biệt là những người phụ nữ, những người bà, người vợ, người
mẹ, người em Dù trong cuộc sống đời thường bình dị hay trong lao động sản xuất chiến đấu đều có một sức sống phi thường, một cố gắng, một tình yêu lớn Họ đã viết về những người phụ nữ với tấm lòng cảm phục, trân trọng và xúc động sâu sắc Tuy vậy mỗi người cũng có những nguồn cảm hứng riêng trong việc khai thác hình tượng thơ của mình Nếu như ở Nguyễn Duy ta bắt gặp hình ảnh người phụ nữ rất phong phú từ người bà, người mẹ đến người
vợ, người em thì trong thơ Đồng Đức Bốn hình tượng tiêu biểu được nhà thơ quan tâm lại là hình tượng người mẹ và người yêu
2.1.1 Hình tượng người bà
Viết về đất nước, Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn tìm đến những gì thân thiết, gần gũi, cụ thể tạc nên dáng hình đất nước Trong đó hình tượng người bà đã trở nên vô cùng quen thuộc trong mỗi sáng tác của họ Trong thơ Nguyễn Duy, hình tượng người bà ám ảnh bởi nỗi vất vả, lòng biết ơn chân thành cùng những tình cảm day dứt tiếc thương
Thơ viết về bà, Nguyễn Duy có 3 bài (Dòng sông mẹ, Xó bếp, Đò lèn) Bằng Việt, nhà thơ cùng thời với Nguyễn Duy có 2 bài (Bếp lửa, Đôi dòng
Trang 40tiễn đưa bà nội) Mặc dù số lượng thơ Nguyễn Duy viết về bà không nhiều
nhưng chất lượng, nội dung phản ánh sâu sắc, để lại những ấn tượng khó phai
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán cháo, Đồng giao thập thững những đêm hàn”
(Đò Lèn)
"Đò lèn" là một địa danh neo đậu con thuyền tình quê, tình bà cháu
Hình tượng người bà hiện lên qua những từ ngữ thật giản dị mà cũng rất đỗi
xót xa, biết bao là nghĩa tình trong cái từ "thập thững" ấy Bà đã vất vả, tảo
tần, mò cua xúc tép, gánh chè, lặn lội bước thấp bước cao vì gánh nặng, vì đêm tối, tuổi già Những bước chân nặng trĩu trong đêm đông giá lạnh thật sự làm lòng ta quặn thắt Đọc những câu thơ này của Nguyễn Duy ta lại liên
tưởng tới hình ảnh người mẹ của Hoàng Cầm trong "Bên kia sông Đuống”
"Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Chưa bán được một đồng, mẹ già lại quảy gánh hàng rong Bước cao thấp bên bờ tre hun hút