Những tâm hồn tưởng chừng như chai sạn ấy sẽ thức tỉnh, sẽ đấu tranh tìm lại chính mình để thoát khỏi bao cạm bẫy xấu xa, tàn độc Cũng trong công trình nghiên cứu này, Nguyễn Văn Hạnh đã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
HUỲNH THỊ VÂN ANH
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn
CBHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
Cần Thơ, 2013
Trang 21.1.2 Đặc điểm của truyện ngắn
1.2.Tác giả Nam Cao
1.2.1.Cuộc đời
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
1.2.2.1 Thời kì trước cách mạng tháng tám
1.2.2.2 Thời kì sau cách mạng tháng tám
1.3 Hình tượng người nông dân trong tác phẩm văn học
CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
2.1 Những kiếp người thấp cổ bé họng bị xã hội áp bức
2.2 Những kiếp người bất hạnh bị xã hội cự tuyệt
2.3 Những con người bị tha hóa dẫn đến bi kịch
2.4 Vẻ đẹp tâm hồn của những kiếp người nghèo khổ
2.4.1 Ý thức được giá trị của bản thân
2.4.2 Luôn ước mơ, khát khao hướng đến cuộc sống tốt đẹp
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI NÔNG DÂN
3.1 Ngoại hình nhân vật
Trang 33.2 Ngôn ngữ nhân vật
3.3 Hành động của nhân vật 3.4.Tâm lý nhân vật
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tồn tại và phát triển trên dưới 15 năm (1930 - 1945), trào lưu văn học hiện thực phê phán đã để lại những dấu ấn quan trọng cho nền văn học hiện đại Việt Nam Dòng văn học hiện thực như lưỡi cày sâu lật lên những mặt trái xấu xa của xã hội với những cây bút lực lưỡng như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…Và một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc nhất giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nền văn học giai đoạn này chính là Nam Cao Tuy không là người
có công đầu trong việc khai phá trên mảnh đất hiện thực nhưng tên tuổi của Nam
Cao không vì thế mà bị lu mờ Là “người thư kí trung thành của thời đại”, Nam
Cao đã thể hiện trên những trang viết của mình biết bao cảnh đời éo le, chua chát với những bi kịch đau đớn, vật vã thấm đẫm nước mắt Ông không chỉ thể hiện nỗi đau của con người trong xã hội hiện tại mà ông còn bộc lộ nỗi đau của mình trước
sự tha hóa của con người Nam Cao luôn băn khoăn, trăn trở tìm kiếm lối thoát cho những số phận luôn bị dằn vặt bởi cái nghèo, cái đói Bằng sự quan sát nhạy bén và cảm nhận tinh tế, Nam Cao đã hướng ngòi bút của mình vào những góc khuất trong tâm hồn, vào những ngõ ngách trong cuộc sống của người nông dân nghèo khổ Ông đã phản ánh cái xã hội cặn bã, bất lương một cách sâu sắc Nam Cao là nhân chứng cho nỗi thống khổ của thời đại, là một tấm lòng nhân hậu giữa những tấm lòng, là lương tri tỉnh táo giữa cuộc đời lẫn lộn trắng đen Tác phẩm của ông đặt được những vấn đề sâu sắc, quy tụ được nhiều giá trị nhân văn của thời đại
Đến với đề tài Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của Nam cao,
chúng tôi như thấy mình được sống lại trong thời kì đau thương đến cùng cực ấy Đọc những tác phẩm của ông, người viết đã cảm nhận được thế nào là nỗi đau không thể thốt nên lời, là những mất mát, hi sinh mà họ phải gánh chịu Vì thế người viết muốn tìm hiểu họ sâu hơn thông qua những trang viết chân thực của Nam Cao Bên cạnh đó những trang viết của Nam Cao đã thu hút rất nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu văn học Họ nghiên cứu về đời sống nhà văn, về tư tưởng, phong cách và về bút pháp nghệ thuật Vì thế, chúng tôi mong muốn được khám phá thêm một phương diện khác về mặt nội dung trong sáng tác của nhà văn Đó là
“Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao”
Trang 52 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Viết về người nông dân là một đề tài quen thuộc trong sáng tác của các nhà
văn thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán Đến với đề tài Hình tượng
người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao, đề tài này đã có rất nhiều nhà
nghiên cứu với những trang viết hay, sâu sắc và độc đáo Những bài nghiên cứu đó thường xoáy sâu vào hai bình diện đó là nội dung và hình thức nghệ thuật Hai mảng đề tài khơi nguồn bất tận cho biết bao thế hệ độc giả muốn tìm tòi, nghiên cứu
đó là đề tài trí thức tiểu tư sản và đề tài người nông dân Mỗi nhà nghiên cứu có một cách nhìn nhận riêng khi nghiên cứu những vấn đề này Ở đây, người viết sẽ điểm qua một số ý kiến về đề tài người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao
Trước tiên người viết xin được tìm hiểu những bài nghiên cứu về đề tài người nông dân ở phương diện nội dung Đau xót và thương cảm trước nỗi đau bị tước đoạt nhân phẩm của người nông dân, Vũ Dương Quỹ đã đi vào nghiên cứu về
những quá trình đi tìm lại nhân cách bị đánh mất, theo ông: “Chí Phèo – Con đường
tìm nhân cách của người thanh niên Chí Phèo là đi tìm lại cuộc đời” [24, tr 185]
Trước cảnh đói nghèo, người nông dân đã không giữ được nhân phẩm của mình mà rơi vào bi kịch của sự tha hoá Vũ Dương Quỹ đã cho ta thấy được bản chất của những kiếp người cùng cực, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù phạm phải sai lầm nhưng ngọn lửa lương thiện vẫn âm ỉ cháy trong những tâm hồn cằn cõi ấy Những tâm hồn tưởng chừng như chai sạn ấy sẽ thức tỉnh, sẽ đấu tranh tìm lại chính mình
để thoát khỏi bao cạm bẫy xấu xa, tàn độc
Cũng trong công trình nghiên cứu này, Nguyễn Văn Hạnh đã bày tỏ ý kiến khi nghiên cứu về đời sống của người nông dân thông qua những sáng tác của Nam
Cao, ông đưa ra nhận xét: “Họ thuộc thế giới của những người cùng khổ ở “dưới
đáy” của xã hội, những con người bị tha hoá, bị què quặt, cả về thể xác lẫn tinh thần, bị áp bức, bị hành hạ vì tối tăm mặt mũi lo chạy ăn từng bữa, vì sự bế tắc mục ruỗng của xã hội, vì sự hèn nhát, sợ hãi của chính mỗi người” [5, tr 179] Nhận
định trên đã khái quát lên những nỗi thống khổ của những kiếp người bị vùi dập, họ đều là nạn nhân dưới chế độ xã hội bất lương Những con người lương thiện ấy chỉ biết cam chịu, nhẫn nhịn để rồi cuộc đời họ là một bi kịch đau đớn
Trang 6Hoàng Ngọc Hiến cũng đi vào nghiên cứu những tác phẩm viết về người
nông dân của Nam Cao trong quyển Văn học và học văn Theo Hoàng Ngọc Hiến:
“Trong “Chí Phèo” qua cuộc sống của làng Vũ Đại, tác giả đã làm nổi bật một số nét cơ bản trong hoàn cảnh lớn của nông dân Việt Nam thời bấy giờ Bọn thống trị cũng như người lao động bị tha hoá, những chất độc ở ngay trong sự sống thấm vào máu từng người, vùi dập những gì tốt đẹp và kích thích những gì nhỏ nhen, xấu
xa trong con người” [6, tr 196] Làng Vũ Đại là nơi tập trung những ung nhọt,
những thứ xấu xa đó là những cạm bẫy khiến họ không thể làm chủ bản thân khi
xung quanh luôn đầy rẫy cái ác “Những chất độc” đó không phân biệt một ai, nó
cứ không ngừng âm ỉ hủy hoại con người Hoàng Ngọc Hiến đã cho ta thấy được nguyên nhân của sự tha hóa, của sự bào mòn nhân cách
Nghiên cứu về đề tài người nông dân thì đa số những bài nghiên cứu đều xoáy sâu vào hai nội dung chính đó là vấn đề nghèo khổ và vấn đề về nhân phẩm
Viết về miếng ăn và cái đói, Nguyễn Đăng Mạnh trong quyển Nhà văn hiện đại:
chân dung và phong cách, đã nêu lên nhận định ở cuối bài viết: “Tác phẩm của Nam Cao là tiếng kêu cứu lấy nhân phẩm, nhân tính của con người đang bị cái đói
và miếng ăn làm tiêu mòn đi, thui chột đi, huỷ diệt đi” [17, tr 247 – 248] Nguyễn
Đăng Mạnh đã khẳng định chính miếng ăn và cái đói là hai vấn đề quan trọng ảnh hưởng nghiêm trọng đến người nông dân Cũng vì miếng ăn và sự nghèo đói đã khiến họ lâm vào tình trạng bế tắc không lối thoát, nhân phẩm, đạo đức của họ bị tước đoạt và bị huỷ diệt hoàn toàn, khiến họ rơi vào bi kịch
Tiếp theo, người viết sẽ đi vào tìm hiểu những ý kiến và những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về phương diện nghệ thuật trong những truyện
ngắn viết về người nông dân của Nam Cao Trong quyển Văn học Việt Nam hành
trình của thế kỉ XX, Phong Lê cũng tìm tòi và nghiên cứu về giá trị tố cáo xã hội qua
những tác phẩm của Nam Cao Phong Lê không đi vào hai mảng đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao mà ở đây, Phong Lê đi sâu vào nghiên cứu những cái nghịch
dị trong sáng tác của Nam Cao Ông đi sâu vào nghiên cứu tác phẩm Chí Phèo và
Sống mòn Qua việc tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật người
nông dân của Nam Cao thì Phong Lê đã phát hiện được những nét mới trong những
sáng tác của nhà văn Theo ông: “Nam cao và Sê Khốp đều tìm về một chủ nghĩa
Trang 7hiện thực của đời thường, soi quát các giá trị phổ quát của đời sống vào “những chuyện không muốn viết”, vào những điều tưởng như chi li vặt vãnh” [10, tr 252]
Tuy nhiên, từ những chi tiết vụn vặt, đời thường mang những nét rất riêng đã có
một ý nghĩa khái quát thật sâu sắc: “Vũ Đại – không chỉ một đơn vị làng với những
ao chuôm, những lũy tre, những vườn chuối, giàn trầu quen thuộc mà còn là sự biểu hiện chung cho sự phong bế, trì trệ, nhếch nhác của bất cứ một quần thể dân cư nào
đó, cả nông thôn và thành thị” [10, tr 255] Từ những hình ảnh của người nông dân
trên những trang viết của Nam Cao, ta như thấy được cả một xã hội đang ngột ngạt, quằn quại trong đêm trường nô lệ dưới sự thống trị của bọn thực dân nửa phong kiến Cuộc sống của những người nông dân vô cùng đói khổ, đầy nước mắt và tủi nhục Nam Cao đã thấy được cảnh nghèo túng, bần cùng ấy, vì thế ông đã dành cho
họ biết bao sự cảm thông, trân trọng xen lẫn xót xa
Và trong quyển Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, NXB khoa học xã hội năm
2008 của Trần Đăng Suyền, ông đã đi vào khám phá thế giới nghệ thuật trong
những sáng tác của Nam Cao, ông đưa ra ý kiến: “Với một sức mạnh nghệ thuật đặc
biệt, Nam cao đã làm sống dậy thật cụ thể, sinh động, đầy ám ảnh những cuộc đời
và số phận, những nét tâm lí và tính cách của nhân vật Chủ nghĩa tâm lí của sự trần thuật đã chi phối mạnh mẽ và sâu sắc đến toàn bộ tổ chức của tác phẩm, từ cốt truyện, kết cấu, xung đột đến không gian và thời gian nghệ thuật” [23, tr 41]
Những nhận định trên cho ta thấy Nam Cao là một bậc thầy trong việc vận dụng các phương diện nghệ thuật vào trong tác phẩm của mình Với sự quan sát tài tình và cảm nhận tinh tế, từ việc sử dụng ngôn ngữ, góc nhìn trần thuật cho đến sự độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, Nam Cao đã cho người đọc đã khám phá ra được những điều mới lạ, ẩn sâu trong những kiếp người đáng thương, nhỏ bé, cũng như những cái hay, cái độc đáo toát lên từ tác phẩm
Nhìn chung, các bài nghiên cứu trên của các nhà nghiên cứu đều có một điểm chung là đều nói về cái đói, cái khổ về cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của người nông dân lương thiện trên các trang viết của Nam Cao Đồng thời, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra được những thủ pháp nghệ thuật trong truyện ngắn của Nam Cao Đó là những nguồn tài liệu ích góp phần định hướng cho việc nghiên cứu của chúng tôi
Trang 83 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của Nam
cao, người viết muốn đi sâu vào phân tích hình ảnh nhân vật người nông dân trong
truyện ngắn của Nam Cao Từ đó, chúng tôi có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về một thời đại gắn liền với những số phận bất hạnh qua những trang viết chân thực của Nam Cao Đồng thời đến với đề tài này, người viết còn muốn khẳng định những đóng góp vô cùng đáng quý và to lớn của nhà văn Nam Cao đối với nền văn học hiện đại Việt Nam, đặc biệt là trong trào lưu văn học hiện thực phê phán Từ đó thấy được những giá trị hiện thực, đặc biệt là giá trị nhân đạo mà nhà văn đã gửi gắm vào tác phẩm của mình
Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu sẽ giúp người viết cũng cố được những kiến thức đã học, đồng thời sẽ bổ sung được những kiến thức mới cho mình Đề tài này còn là một công trình nghiên cứu giúp người viết làm quen với phương pháp làm việc khoa học một cách độc lập và sáng tạo, điều đó rất hữu ích cho việc vận dụng kĩ năng này vào trong cuộc sống lẫn công việc mai sau
4 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của Nam
Cao, người viết sẽ lựa chọn và tập trung vào những truyện ngắn tiêu biểu viết về
người nông dân như: Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no, Một đám cưới, Tư cách
mõ, Lang Rận, Trẻ con không được ăn thịt chó, Trẻ con không biết đói, Đòn Chồng, Nghèo, Một đám cưới, Dì Hảo, Rửa hờn, Mua Danh, Nửa Đêm, Ở hiền, Điếu văn, Đôi móng giò…Đó là tất cả những hoàn cảnh điển hình cho những số
phận nghèo khổ bị chèn ép, áp bức, bóc lột dưới chế độ xã hội cũ; Dựa trên những tác phẩm đó, người viết sẽ nghiên cứu trong phạm vi tìm hiểu hoàn cảnh, cuộc đời cũng như số phận của từng nhân vật, đồng thời khảo sát trên hai bình diện đó là nội dung và nghệ thuật để thấy được những giá trị độc đáo trong truyện ngắn của Nam Cao
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của Nam
Cao, người viết vận dụng các phương pháp sau:
Trang 9Thứ nhất: Người viết sẽ sử dụng thao tác thống kê, phân loại, chủ yếu là ở từng hoàn cảnh, số phận của nhân vật để từ đó thấy được sự quan sát tinh tế, cái nhìn nhạy bén, sắc sảo và linh hoạt của Nam Cao khi viết về người nông dân
Thứ hai: Người viết sẽ vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đi sâu vào khai thác từng khía cạnh của vấn đề, làm nổi bật lên nỗi thống khổ của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội cũ Đồng thời đúc kết ra được những giá trị sâu sắc của tác phẩm
Thứ ba: Người viết sẽ vận dụng thao tác chứng minh, giải thích để bài nghiên cứu mang tính thuyết phục hơn
Cuối cùng, người viết sẽ vận dụng thao tác so sánh, đối chiếu để làm nổi bật lên vấn đề mà mình đang đề cập đến Bên cạnh đó, thao tác này còn nhằm mục đích cho thấy được sự khác biệt trong việc tái hiện hiện thực giữa Nam Cao và các nhà văn cùng thời khác
Trang 10NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Giới thuyết về truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm
Truyện ngắn là một hình thức sáng tác văn học đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền văn chương thế giới Khi xác định khái niệm của truyện ngắn, không ít nhà nghiên cứu đã dựa vào những tiêu chí khác nhau để nhìn nhận, đánh giá và đưa ra những kết luận cho thể loại này
Trong sách Lí luận văn học, Phương Lựu đưa ra khái niệm về truyện ngắn
như sau: “Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm
cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần với những bài kí ngắn Nhưng thực ra không phải
Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự, hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời” [13, tr 397]
Tác giả quyển sách 150 thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm khác như sau:
“Truyện ngắn là một thể tài tác phẩm tự sự loại nhỏ, thường được viết bằng văn
xuôi, đề cập đến hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng, truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghĩ” [19, tr 345]
Còn Bùi Hiển thì cho rằng: “Truyện ngắn lấy từ một khoảnh khắc trong cuộc
đời một con người mà dựng lên Có khi nhân vật đặt trước một vấn đề phải băn khoăn suy nghĩ, lựa chọn quyết định Có khi chỉ là một cảnh sống, làm việc bình thường, trong đó nhân vật biểu lộ ý chí, tình cảm của mình Có khi những hành động mãnh liệt, những tình cảm éo le Có khi chỉ là một tâm trạng, một nỗi vui buồn, một ý chí chớm nở Nhưng phải chọn khoảnh khắc mà nhân vật thể hiện đầy
Trang 11đủ nhất” [14, tr 98] Có thể nói do dung lượng ngắn nên nhân vật trong truyện ngắn
không nhiều và cuộc đời của nhân vật cũng thường chỉ được miêu tả như một khoảnh khắc, mảnh nhỏ nhưng lại có ý nghĩa trong cả cuộc đời nhân vật nên nhịp điệu truyện ngắn khẩn trương, gấp rút, có nhiều yếu tố bất ngờ, chuyển đoạn đột
ngột trong giới thiệu, bố cục, kết thúc câu chuyện
Qua các nhận định về truyện ngắn trên, ta thấy tác giả sách Lí luận văn học
đã đưa ra khái niệm truyện ngắn một cách khái quát, sát thực và đầy đủ nhất Nó đã cho ta nắm bắt được thể loại cũng như nội dung của truyện ngắn Khái niệm này đã giải thích được, đã lí giải được nguồn gốc ra đời của truyện ngắn một cách cụ thể Đây là một khái niệm ngắn gọn, súc tích nhưng đã khái quát lên tất cả, người đọc có thể nghiền ngẫm và hiểu một cách sâu sắc hơn về vấn đề này
1.1.2 Đặc điểm của truyện ngắn
Như đã giới thiệu ở trên, truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ ngắn Tác giả thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong đời
sống tâm hồn con người, vì thế truyện ngắn có một số đặc điểm cơ bản sau
Về dung lượng: Truyện ngắn có dung lượng nhỏ, ngắn gọn mà cô đúc nên
có sức ám ảnh lớn Nó tập trung vào một hoặc một vài biến cố trong một không gian, thời gian nhất định, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ và liên tưởng cho người đọc
Về đề tài: Truyện ngắn đề cập đến mọi đề tài phong phú, đa dạng, chạm đến
mọi ngóc ngách trong đời sống con người Trên cùng một đề tài, mỗi nhà văn lại có
cách khai thác khác nhau, đem lại sắc thái riêng cho tác phẩm của mình
Về kết cấu: Kết cấu của truyện ngắn thường là một sự tương phản, liên
tưởng Tuy có dung lượng nhỏ nhưng truyện ngắn có thể có những kết cấu linh hoạt Kết cấu truyện ngắn không gồm không gian, thời gian nhiều tầng bậc, nhiều tuyến, được tổ chức theo kiểu tương phản, liên tưởng Truyện ngắn có các kiểu kết
cấu sau đây: Kết cấu vòng tròn (đầu cuối tương ứng); Kết cấu theo trục thời
gian: Truyện được kể theo thời gian, theo diễn biến của dòng sự kiện; Kết cấu tâm lý: Truyện được kể men theo dòng tâm lý nhân vật, làm sáng rõ nội tâm nhân vật và
tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện; Kết cấu đồng hiện: Nhà văn miêu tả sự kiện, quan
sát tình huống ở các địa điểm khác nhau trong cùng một thời điểm Kiểu kết cấu này
đem lại khả năng mở rộng dung lượng cho tác phẩm; Kết cấu trùng phức (kết cấu
Trang 12truyện lồng trong truyện): Người kể chuyện đứng ra ngoài, đóng vai trò là đạo diễn
để tổ chức diễn biến câu chuyện qua lời kể, qua đó hoàn thiện chân dung nhân vật
và kết cấu mở: Truyện kết thúc nhưng cái kết còn để ngỏ, mở ra những khả năng
liên tưởng rộng lớn
Về cốt truyện: Cốt truyện là một đặc trưng của thi pháp truyện ngắn vì nó là
kết quả của sự sáng tạo của nhà văn, là một phương thức khắc họa số phận và tính cách nhân vật, qua đó thể hiện đời sống một cách chân thực Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn, nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì Cái chính của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và
tình người Dựa vào cốt truyện có thể chia làm hai truyện: thứ nhất là truyện ngắn
không có cốt truyện (hay cốt truyện rất mờ nhạt): Do chủ ý nghệ thuật của nhà văn
chỉ nhằm thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật trong mối liên hệ với hoàn cảnh Truyện chỉ có những ý tưởng, không có sự kiện gay cấn, không có thời gian cụ thể,
thậm chí không có đầu đuôi Thứ hai là truyện ngắn có cốt truyện: Chú ý xây
dựng những tình tiết, sự kiện bộc lộ tính cách của nhân vật và thúc đẩy hướng phát triển, vận động của mạch truyện Bản thân cốt truyện là hệ thống các sự kiện, được chia theo lớp từ đầu đến cuối truyện Các sự kiện càng gay cấn, nổ bật càng tạo kịch
tính, sức hấp dẫn cho truyện
Về nhân vật: Nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là người phát ngôn cho tư
tưởng của nhà văn Do đó xây dựng nhân vật là điểm quan trọng của truyện ngắn
Nhân vật truyện ngắn ít hơn tiểu thuyết và thường bắt buộc phải được xây dựng theo nguyên tắc điển hình hoá Nhân vật phải được đặt trong một hoàn cảnh cụ thể, vừa mang tính chung phổ quát vừa mang tính riêng độc đáo Trong truyện ngắn, nhân vật là một mảnh nhỏ của thế giới, là hiện thân cho một quan hệ trạng thái xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người, phát ngôn trực tiếp hoặc
gián tiếp cho tư tưởng nhà văn
Về Điểm nhìn : Điểm nhìn là cái vị trí không gian mà từ lúc đó các sự kiện
diễn ra trong truyện được quan sát và kể lại cho người đọc Có ba loại điểm nhìn:
Điểm nhìn bên trong: khi người kể chuyện là nhân vật Điểm nhìn bên trong
thường thể hiện qua độc thoại nội tâm của nhân vật; Điểm nhìn bên ngoài: đây là
Trang 13điểm nhìn của người kể chuyện khi họ đứng ngoài, chỉ kể “chuyện” chứ không hiểu
rõ tâm lí nhân vật Đây cũng là điểm nhìn từ các nhân vật khác; Điểm nhìn toàn
tri: người kể chuyện và tự do đi sâu vào đời sống tâm tư nhân vật cũng như bình
phẩm thoải mái về nhân vật
Về người kể chuyện thì có hai ngôi kể: Thứ nhất là người kể chuyện tường minh (xưng Tôi), nghĩa là kể ở ngôi thứ nhất Thứ hai là người kể chuyện hàm ẩn,
nghĩa là người kể ở ngôi thứ ba Tuy nhiên, cách phân chia này bộc lộ rõ nhiều bất cập Bởi lẽ, người kể ẩn mình ở ngôi thứ ba có thể lộ diện ở ngôi thứ nhất và xưng
“tôi” để đối thoại với người đọc
Về Phương thức kể chuyện thì trong truyện ngắn, người ta thường dùng
nhiều cách kể chuyện Các nhà văn thường thay đổi cách kể và có thể có các hình thức kể hỗn hợp Có hai phương thức phổ biến là: Tường thuật lại quá trình diễn
biến sự việc và miêu tả lại diễn biến sự việc
Để nhận thức phương thức kể chuyện, người ta căn cứ vào các tình huống kể chuyện: Tình huống khách quan (tác giả đứng bên ngoài kể lại điều xảy ra) và tình huống chủ quan (tác giả hoặc người kể chuyện tự đóng vai trò là nhân vật chính của tác phẩm; kể lại những sự kiện, hành động, việc làm, ý nghĩa hoặc mối quan hệ người – người, hoặc phân tích, bình luận chung)
Về cách xây dựng tình huống: Tình huống là thời điểm, khoảnh khắc nhất
định trong tác phẩm, ở đó tập trung điểm nút chủ đạo trong tác phẩm của nhà văn Tạo tình huống là một đặc điểm thi pháp truyện ngắn Do dung lượng nhỏ, truyện ngắn buộc phải tìm đến một tình huống – tức là một khoảnh khắc đặc biệt trong đời sống để thể hiện tập trung mối quan hệ con người, bật sáng tư tưởng của bản thân
tác giả Truyện ngắn có thể có một hay nhiều tình huống tạo thành một hệ thống
Các kiểu tình huống truyện tiêu biểu là: Tình huống nhận thức, tình huống tâm lí, tình huống lựa chọn…Tình huống truyện ngắn thường rất độc đáo, ấn tượng, gây
hiệu quả thẩm mĩ cao
Về chi tiết nghệ thuật: Đây là một yếu tố giữ vai trò trọng yếu trong tác
phẩm tự sự Truyện ngắn có thể thiếu cốt truyện nhưng không thể thiếu chi tiết nghệ thuật Chi tiết trong truyện ngắn hay tiểu thuyết đều nhằm bộc lộ tính cách, tâm tư
Trang 14nhân vật, đan dệt nên các tình huống truyện, đều cùng có hai loại chi tiết: Chi tiết trung tâm và chi tiết phụ trợ Nhưng chi tiết ở truyện ngắn thường ẩn chứa dung lượng phản ánh rất lớn Cũng có nghĩa tính cô đọng, hàm súc và tượng trưng của chi tiết cao Một chi tiết nổi bật có thể gợi cho người đọc liên tưởng đến cả một trạng
thái nhân sinh xã hội, suy rộng ra bề sâu, bề xa của nội dung phản ánh
Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ truyện ngắn rất chọn lọc, cô đúc Ngôn ngữ truyện
ngắn hiện đại còn có các tính chất: Tính biểu cảm, tính chính xác, tính hình tượng,
tính hệ thống, tính đa thanh, tính hội thoại Đặc điểm trần thuật của truyện ngắn:
Tính chấm phá Do không phản ánh cả một quá trình cuộc sống trong không gian rộng, thời gian dài như ở tiểu thuyết nên truyện ngắn thiên về lối hành văn khơi gợi hơn là miêu tả tỉ mỉ, câu văn nhiều ẩn ý, tạo chiều sâu cho tác phẩm
1.2.Tác giả Nam Cao
1.2.1.Cuộc đời
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Vì sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó, nên trong các anh chị em, chỉ có Nam Cao là được đi học Đói nghèo và bệnh tật luôn đeo đuổi và giày vò Nam Cao ngay từ những năm còn nhỏ
Ngày 02/10/1935 Nam Cao lập gia đình với bà Trần Thị Sen Khi vừa cưới
vợ xong được khoảng một tháng thì Nam Cao vào Sài Gòn sống và làm việc cho một người cậu là ông Ba Lễ, chủ một cơ sở may đồ Tây cho Pháp Trong những năm sống ở sài Gòn, Nam Cao làm nhiều nghề như chích thuốc ở nhà thương, sống chung với phu phen, thợ thuyền…Chính những năm tháng vất vả này đã giúp Nam Cao nhìn thấy và hiểu rõ đời sống cùng cực của những người lao động Sau một thời gian, khi không thể chống chọi lại bệnh tật, Nam Cao đã quay về quê nhà nhưng lúc này gia đình ông cũng đang lâm vào tình trạng túng quẫn
Năm 1938, Nam Cao thi lại và đậu thành chung Ông được một người quen mời lên dạy học cho trường tư thục Công Thanh ở Thụy Khê, Hà Nội Năm 1941, Phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, trường bị đóng cửa, Nam Cao phải sống chật vật bằng nghề viết văn, có khi thất nghiệp phải về quê nhờ gia đình Vào thời gian này, vợ ông hạ sinh một người con trai tên là Mai Thiên
Trang 15Năm 1943, Nam Cao gia nhập nhóm văn hoá cứu quốc bí mật cùng một số nhà văn như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…Khi
cơ sở văn hoá cứu quốc và phong trào cách mạng bị đàn áp mạnh, Nam cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương
Năm 1945, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, và được bầu làm chủ tịch xã Một thời gian sau, ông lên làm báo ở tỉnh Hà Nam Sau đó Nam Cao được điều lên Hà Nội và công tác ở đội văn hoá cứu quốc
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947 Nam Cao lên Việt Bắc Trong những năm tháng chống Pháp đầy gian khổ, Nam Cao đã sống và chiến đấu hết mình vì quê hương, tổ quốc Ông đã để lại những tác phẩm có giá trị hiện thực phản ánh đúng bản chất cuộc chiến mà dân tộc Việt Nam đang đấu tranh chống thực dân
pháp Thời kì này, Nam Cao vừa làm tập biên cho các báo Cứu quốc Việt Bắc, Cứu
quốc Trung Ương, vừa làm mọi công việc của một cán bộ thông tin tuyên truyền:
viết tin, viết tài liệu giải thích các chính sách, làm ca dao tuyên truyền đơn địch vận…Năm 1948, Nam Cao được vinh dự gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương
Sau chiến dịch biên giới năm 1950, Nam Cao về công tác ở Hội Văn nghệ
Và cũng trong thời gian này, vợ ông hạ sinh thêm được một gái, một trai
Tháng 11 năm 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu liên khu ba, Nam Cao bị địch phục kích và bắn chết gần bốt Hoàng Đan (Ninh Bình) Nam Cao ngã xuống giữa lúc ông đang ấp ủ cuốn tiểu thuyết lớn về quê hương
Nam Cao luôn chất chứa trong lòng tâm sự của người nghệ sĩ “Tài cao phận
thấp chí khí uất” (Tản Đà), nhưng con người có vẻ bề ngoài lạnh lùng ấy lại có một
tâm hồn chứa chan yêu thương đồng loại Tác phẩm của ông luôn hiện lên cái làng Đại Hoàng thân thiết Hình ảnh quê hương đã nâng đỡ nhà văn những lúc bi quan,
bế tắc và tuyệt vọng
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Những ngày sôi nổi của tuổi trẻ, cũng như buổi đầu đến với văn học, Nam Cao làm một số bài thơ có yếu tố lãng mạn và viết những truyện tình thơ mộng Ở thời kì này ngòi bút của Nam Cao dò dẫm tìm một lối đi, tâm hồn Nam Cao dần dần đổi thay, có một cái nhìn đúng đắn về cuộc sống Những áng mây xốp bồng bềnh trôi nổi, ánh trăng xanh huyền ảo, ngọn gió mát lành thơm tho thoảng qua từ những
Trang 16mái tóc tà áo thiếu nữ, những cuộc hẹn hò trang sức…Tất cả chất liệu ấy có lần đến với ngòi bút Nam Cao, mang theo nhiều mơ ước xa xôi và những nỗi buồn vẩn vơ của lứa tuổi học sinh chịu ảnh hưởng của sách báo lãng mạn Tuổi trẻ của Nam Cao không khỏi có lúc:
“Tâm hồn tan tác thành trăm mảnh Vương vấn theo ai bốn góc trời”
Nhưng rồi Nam Cao chóng trở về với cuộc đời thực Cái buồn thường sớm nhường chỗ cho những nỗi lo về cơm áo, công ăn việc làm, Nam Cao không thích
sự mơn trớn, vuốt ve: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên
là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”(Đôi mắt) Nam Cao tìm đến sự thật với tấm lòng yêu thương cuộc
sống, những lớp người và những cảnh người đau khổ Với những rung động xót xa đến cháy lòng trước bao ngang trái, bất công của chế độ cũ, Nam Cao muốn phơi bày sự thật của cuộc đời và của lòng người
Nam Cao gần gũi và quen thuộc những cảnh đời lầm than, đau khổ ở chốn đồng quê, và chính chốn đồng quê ấy đã đi vào những trang viết rất chân thật, sinh động của ông Nam Cao hi sinh giữa lúc ngòi bút đang ở giai đoạn trưởng thành và chín muồi để chuyển hướng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán sang chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Ông đã để lại khoảng 100 tác phẩm, trong đó có 60 truyện
ngắn và 2 tập truyện dài là Sống mòn và Truyện người hàng xóm Nam Cao sáng tác
ở cả hai thời kì trước và sau cách mạng tháng Tám 1945
1.2.2.1 Thời kì trước cách mạng tháng Tám
Năm 1936, Nam Cao bắt đầu bước vào văn đàn hiện thực phê phán, đây là khoảng thời gian ông băn khoăn lựa chọn quan điểm, khuynh hướng sáng tác cho mình Đây cũng là thời kì mà nhà văn đang phiêu bạt nơi đất khách quê người Ở Sài Gòn, Nam Cao làm đủ nghề để kiếm sống: viết báo cho Kịch Bóng ở Sài Gòn, Ích Hữu, Tiểu thuyết thứ bảy, Ngày nay Nội dung của những tác phẩm thời kì này xoáy sâu vào cuộc đời của những con người sống bằng nghề mua vui cho người
khác (Hai cái xác) Nhìn chung, những tác phẩm thời kì này chưa được đánh giá
cao vì những tác phẩm này chưa đạt đến độ đặc sắc về nội dung và nghệ thuật Lúc này Nam Cao lấy bút danh là Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê
Trang 17Năm 1937, Nam Cao gửi in các truyện ngắn trên Tiểu thuyết thứ bảy: Nghèo,
Đui mù Trên báo Hữu Ích thì có hai tác phẩm: Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp Thông qua nội dung của các tác phẩm này, ngòi bút Nam Cao đang đi vào
khai thác bản chất cuộc sống và phản ánh hiện thực cuộc sống Đây là dấu hiệu chuyển mình về khuynh hướng sáng tác trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao
Năm 1940, Khi phát xít Nhật tràn vào xâm chiếm Đông Dương, trường tư thục mà Nam Cao đang dạy học bị chiếm đóng Nam Cao buộc thôi học và trở về
quê nhà Trong thời gian này ông cho ra đời truyện ngắn Cái chết của con mực,
truyện được gửi cho báo Hà Nội Tân Văn với bút danh là Xuân Du
Năm 1941, tập truyện ngắn Đôi lứa xứng đôi ra đời Lúc đầu tác phẩm có tên
là Cái lò gạch cũ và sau đó được đổi tên lại là Chí Phèo Tác phẩm ra đời đã nhận
được sự hoan nghênh, nhiệt liệt của công chúng, nó đã khẳng định tên tuổi của một nhà văn hiện thực phê phán với những thành công vang dội
Nam Cao đã viết tiếp hai truyện ngắn: Dì Hảo và Nửa đêm trong thời gian
dạy học ở tư thục Kỳ Giang – Thái Bình khi chứng kiến người nông dân phải sống trong lầm than, cơ cực vì đói nghèo dưới một chế độ phong kiến khắc khe, tàn bạo
Năm 1942, Nam Cao trở về làng và sáng tác hàng loạt các truyện ngắn như:
Cái mặt không chơi được, Nhỏ nhen, Con mèo, Những truyện không muốn viết, Nhìn người ta sung sướng, Đòn chồng, Trăng sáng, Đôi móng giò, Trẻ con
của ông cũng lần lượt ra đời: Những kẻ khốn nạn, Người thợ rèn, Nụ cười, Con
mèo mắt ngọc, Ba người bạn
Tháng 4/1943, Nam Cao gia nhập vào Hội văn hoá cứu quốc và cho ra đời
các tác phẩm: Mua nhà, Quái dị, Từ ngày mẹ chết, Làm tổ, Thôi đi về, Truyện
tình, Mua danh, Một truyện Xuvonia, Sao lại như thế này, Mong mưa, Tư cách
mõ, Bài học quét nhà, Chuyện buồn giữa đêm vui, Điếu văn, Cười, Quên điều độ, Xem bói, Một bữa no, Ở hiền, Rửa hờn, Rình trộm, Nước mắt, Đời thừa
Năm 1944, Nam Cao cho in trên tờ Trung Bắc chủ nhật các truyện ngắn:
Lang Rận, Một đám cưới và một truyện dài đó là Truyện người hàng xóm Các tác
phẩm này nói lên số phận bi thảm của người nông dân khốn khổ, họ bị đẩy vào tình cảnh bế tắc của sự bần cùng hoá, bị tha hoá về nhân cách
Trang 18Tháng 10/1944, Nam Cao cho ra đời tiểu thuyết Chết mòn, về sau được đổi tên lại là Sống mòn Nội dung của tiểu thuyết là cả một quá trình “Chết mòn” của người trí thức tiểu tư sản luôn bị “áo cơm ghì sát đất”, sống trong những mối quan
hệ tốt xấu giữa con người với con người, vì thế tác phẩm mang một giá trị tố cáo xã hội rất cao
Tháng 8/1945, Cách mạng thánh Tám thành công, Nam Cao tham gia cướp
chính quyền phủ Lý Nhân và cho in truyện Mò sâm banh trên tạp chí Tiền phong
1.2.2.2 Thời kì sau cách mạng tháng Tám
Trong thời gian này, Nam Cao vừa tham gia hoạt động Cách mạng vừa sáng tác Năm 1946, Nam Cao tham gia vào đoàn quân tiến và tiếp tục viết những truyện
như: Nỗi truân chuyên của khách má hồng, Đường vô Nam, Cười
Năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc và viết Nhật kí Ở Cuối 1947, trong thời gian này ông cũng cho ra đời tác phẩm Đôi mắt
Tháng 7/1948, Nam Cao có bài viết về vấn đề Vài ý nghĩ về văn nghệ được
đăng trên báo Cứu quốc
Năm 1948 – 1949, Nam Cao đi thực tế ở vùng đồng bằng, sáng tác truyện
ngắn Bốn cây số cách một căn cứ địch
Tháng 5/1950, ông nhận công tác và làm việc ở Tạp chí văn nghệ Việt Nam,
lúc này ông viết tiểu thuyết Trận đầu về du kích đồng bằng nhưng chưa hoàn thành
đã bỏ dở dang vì ông chưa thu thập đủ tài liệu thực tế Sau đó, Nam Cao đi chiến
dịch và viết truyện Chuyện biên giới
Năm 1951, Nam Cao cho in tập truyện kí Chuyện biên giới Ngày 23/9/1951,
Ông cùng Nguyễn Huy Tưởng đi dự hội nghị liên khu Ba Nam Cao có dự định trong chuyến đi này sẽ tìm thêm tài liệu để hoàn thành cuốn tiểu thuyết, nhưng chưa thực hiện được điều đó thì ông đã bị địch phục kích bắn chết vào ngày 30/11/1951
Nhìn chung ở cả hai thời kì trước và sau cách mạng, Nam Cao đã để lại những trang viết mang nhiều giá trị độc đáo Tuy ở thời kì đầu, quá trình sáng tác chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn nhưng sau đó Nam cao đã nhanh chóng chuyển ngòi bút của mình sang chủ nghĩa hiện thực Đến với mảnh đất hiện thực này, Nam Cao đã gặt hái được nhiều thành công rực rỡ, Vì thế ông được xem là nhà văn hiện thực xuất sắc nhất trong trào lưu văn học phê phán
Trang 191.3 Hình tượng người nông dân trong tác phẩm văn học
Hình tượng người nông dân từ xưa đến nay đã tồn tại và xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm văn học Đây là một đề tài quen thuộc được các nhà văn khai thác khá nhiều trên những trang viết của mình Hình ảnh những người dân quê, lam lũ, những con người hiền lành, chất phác ấy đã khiến không ít người cầm bút phải băn khoăn, thương cảm, chính vì điều đó mà họ đã trở thành hình tượng nghệ thuật độc đáo xuyên suốt các chặng đường văn học
Trước tiên, hình tượng người nông dân đã bắt đầu xuất hiện trong dòng văn học trung đại, tuy ở giai đoạn này họ chưa phải là trọng tâm trên những mảng sáng tác của những nhà cầm bút, nhưng nhìn chung họ cũng đã được quan tâm và chú ý đến rất nhiều Người nông dân trong văn học trung đại luôn gắn với chiến tranh Đó
là hình ảnh người nông dân đánh Tây dũng cảm trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”
(Nguyễn Đình Chiểu) Trước đây, vai trò của người nông dân chưa được đề cao
trong văn chương Giai đoạn trước Nguyễn Đình Chiểu, người dân cũng giữ vai trò quan trọng nhưng chưa quyết định như giai đoạn này Người nông dân chỉ là lực lượng phục tùng, số phận họ được định đoạt dựa vào nhà nước phong kiến Nhưng
đến với thơ văn Nguyễn Đình Chiểu họ trở thành “người dân mộ nghĩa”, thành
“trang dẹp loạn”, thành nhân vật chính mà sử sách gọi là người nghĩa sĩ nông dân
và Nguyễn Đình Chiểu đã viết về họ như những người anh hùng của thời đại
Người nông dân trong giai đoạn này còn là những nỗi thống khổ điêu linh, vì chiến tranh loạn lạc Đó là hình ảnh đau thương, tan tác đến rơi nước mắt trong bài
thơ “Chạy Tây” (Nguyễn Đình Chiểu)
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng tây Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bầy chim dáo dác bay…”
Bên cạnh đó, người nông dân ở giai đoạn này luôn bị bọn quan lại ức hiếp, đàn áp dã man, bị đánh đập tàn nhẫn, đau đớn:
“Quan huyện là cha mẹ của dân đã chẳng xét cho Nha còn đánh đập dân như chém tre”
(Phúc Lâm lão – Cao Bá Quát)
Trang 20Đó còn là những mảnh đời, những người nông dân nghèo đói trong “Thái
bình mại ca giá” (Nguyễn Du) Ông đã thể hiện sự thương cảm sâu sắc đối những
kiếp ngưới bất hạnh Nhà thơ đã tái hiện lại cảnh bốn mẹ con đi ăn xin, sắp chết đói:
“Một mẹ cùng ba con
Lê la bên đường nọ Đứa bé ôm trong lòng Đứa lớn tay mang giỏ…”
Hay cảnh chợ tết mất mùa, đói khổ của người nông dân trong bài thơ “Chợ
Đồng” (Nguyễn Khuyến):
“Dở trời mưa bụi còn hơi rét Nến rượu tường đình được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xao xác
Nợ nần năm trước hỏi lung tung”
Sự đói kém dai dẳng, khắc nghiệt đã đẩy người nông dân lâm vào tình cảnh
khốn cùng, nợ nần luôn bủa vây qua bài thơ “Than nghèo” (Tú xương):
“Van nợ lắm khi trào nước mắt Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”
Nhìn chung, dòng văn học trung đại đã khái quát lên hình tượng người nông dân một cách khá cụ thể Đa số họ là nạn nhân của chiến tranh tàn khốc, sống một cuộc sống khổ cực, đói khát Số phận của họ luôn gắn liền với chiến tranh, với vận mệnh dân tộc Họ bước vào văn học với những hình ảnh giản dị, bé nhỏ Chiến tranh tàn khốc đã cướp đi biết bao mạng sống của những con người vô tội, người nông dân luôn phải gánh chịu những hậu quả khôn lường đó, cái chết luôn cận kề trong gang tấc Họ bị hành hạ, đánh đập một cách dã man, luôn sống trong đói khát
và bệnh tật
Tiếp nối dòng văn học trung đại, đến dòng văn học hiện đại, hình ảnh người nông dân chiếm vai trò vô cùng quan trọng Chiến tranh qua đi để lại những đau thương mất mát, để lại những tàn dư khắc nghiệt của chế độ phong kiến Họ phải sống trong một xã hội lạc hậu, hà khắc dưới sự cai trị độc đoán của nhà nước phong kiến Người nông dân lâm vào tình cảnh khốn cùng, bị quan lại, địa chủ chèn ép, bóc lột sức lao động cùng cực Trước hiện thực đầy nước mắt như thế, những nhà
Trang 21cầm bút đã không nén nổi lòng, họ đã xót thương cho những kiếp người nhỏ bé, vì thế người nông dân bước vào trang viết của họ với tất cả sự cảm thông, thấu hiểu sâu sắc Đặc biệt trong trào lưu văn học hiện thực phê phán, hình ảnh người nông dân xuất hiện dày đặc Đề tài nông dân là một đề tài lớn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 khi trào lưu văn học phê phán đang trên đà phát triển Đến giai đoạn này, người nông dân đã được các nhà văn quan tâm một cách sâu sắc, và
đó cũng chính là trọng tâm sáng tác của các nhà văn trong giai đoạn này
Những nhà văn đã thành công trên mảng hiện thực khi viết về đề tài người nông dân đó là Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ trọng Phụng…Dưới ngòi bút của các nhà văn, hình ảnh người nông dân hiện lên một cách chân thực và
cụ thể Tắt Đèn ngay từ khi mới ra đời đã được sự hoan ngênh nhiệt liệt từ dư luận
vì nó đáp ứng được vấn đề về người nông dân, đặc biệt là vấn đề sưu thuế Tắt Đèn
tập trung tố cáo cái thứ thuế bất nhân của bọn thực dân, đã đẩy những người bần cố
nông phải bán con, đi ăn mày rồi chết đường, chết chợ! “Tắt Đèn” không phải chỉ
ở sức mạnh tố cáo, đập phá xã hội cũ mà còn thấm đẫm một tinh thần nhân đạo chủ nghĩa cao quý Nó là một bản tố khổ chân thật, sâu sắc, chan hoà nước mắt và căm phẫn của hàng triệu nông dân nghèo bị bóc lột
Cũng xuất phát từ ý nghĩa tố cáo xã hội và tấm lòng cảm thông sâu sắc đối với người nông dân mà Nguyễn Công Hoan đã làm rúng động xã hội thông qua tác
phẩm “Bước đường cùng” “Bước đường cùng” đã đánh dấu đỉnh cao tư tưởng
Nguyễn Công Hoan trước cách mạng và là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán đương thời Tác phẩm đã trực tiếp phản ánh nông thôn Việt Nam trước cách mạng trên bình diện xung đột giai cấp, đã làm nổi bật bộ mặt
tàn bạo thối nát của giai cấp địa chủ phong kiến cùng toàn bộ “chế độ chế độ thối
nát chống hương thôn” và đời sống cùng khổ của người nông dân bị áp bức bóc lột
Viết về đề tài người nông dân Vũ Trọng Phụng cũng có những thành công
không kém Qua nạn “Vỡ đê” với biết bao tình cảnh khốn khổ, thê thảm của người
nông dân được phơi bày, nhà văn đã làm nổi bật lên mối mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp thống trị với nhân dân lao động bị áp bức Nhà văn muốn lên tiếng tố khổ cho người nông dân lao động bị áp bức, bóc lột thậm tệ
Trang 22Bên cạnh đó hình tượng người nông dân còn được thể hiện một cách chân thực, sâu sắc qua ngòi bút độc đáo của Nam Cao Viết về người nông dân Nam Cao
tỏ thái độ trân trọng, xót thương đối với những người nông dân nghèo khổ Nam Cao là thế hệ nối tiếp của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng nên ông nêu cao tinh thần chủ nghĩa hiện thực Nam Cao luôn đòi hỏi văn chương nghệ thuật phải trở về đời sống hiện thực, và khi lần giở những trang viết về nông thôn Việt Nam của dòng văn học hiện thực ta không khỏi xót xa trước những cảnh đời,
số phận của người nông dân trong sáng tác của Nam Cao Ông đi vào miêu tả cuộc sống thường nhật đang diễn ra ở làng quê Việt Nam, những nỗi khổ vụn vặt, những
lo toan tủn mủn đang gặm nhấm và làm băng hoại nhân cách con người Đó là
những tên cố cùng như Chí Phèo, Binh Chức (Chí Phèo) vác dao đi giật lấy miếng
ăn khi cái đói thôi thúc; Đó là một bà lão khốn nạn (Một bữa no) đánh đổi cả danh
dự của mình chỉ vì một bữa cơm để rồi ôm một cái “chết no” đầy nhục nhã; Đó còn
là những tên tham ăn tục uống, bạc đãi vợ con (Trẻ con không biết ăn thịt chó, Trẻ
con không biết đói, Đòn chồng…) Khi viết về đề tài người nông dân, Nam Cao đã
lấy tư liệu từ hiện thực cuộc sống của Làng Vũ Đại – Nơi khái quát những cảnh tủi nhục, bần cùng, tha hóa của những kiếp người bất hạnh Đó là cả một quá trình vật lộn với cái đói, cái nghèo trong cuộc sống khốn khổ của người nông dân Đó là những cái chết đầy máu và nước mắt của những con người đã đến bước đường
cùng, một lão Hạc lương thiện quyết lấy cái chết để giữ vững nhân cách; một Lang
Rận khao khát sự yêu thương cũng tìm sự giải thoát vì bị xua đuổi; Một Chí phèo tha hóa cũng tự kết liễu đời mình vì bị cự tuyệt, không còn quyền trở lại làm người
Nhìn lại những tác phẩm văn học viết về người nông dân với các tác giả như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… Có thể nói một cách không quá rằng,
với mỗi nhà văn, tác phẩm “để đời” được độc giả nhớ đến nhất cũng như đóng góp
cho nền văn học nước nhà đều là tác phẩm viết về người nông dân đói khổ Nhiều nhà văn, nhà thơ tâm sự rằng, viết về người nghèo, người nông dân như một lẽ tự nhiên, thân thuộc từ bản thân mình, bởi cuộc sống nghèo khổ của người nông dân
đã ăn sâu vào máu của họ Ngòi bút đứng về phía người nghèo, người nông dân là
đứng về lương tri Bởi họ là những người “thấp cổ bé họng”cần được bênh vực,
cảm thông và thấu hiểu
Trang 23CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO 2.1 Những kiếp người thấp cổ bé họng bị xã hội áp bức
Là một nhà văn tôn trọng sự thật và có ham muốn thiết tha nhất là nói lên được sự thật về cuộc đời, Nam cao đã không tìm kiếm sự thật ở những cuộc đời quyền quý hoặc ở những chốn đặc biệt nào mà là ở giữa những cuộc sống đời thường, ở những điều gần gũi và thân thuộc nhất Bằng ngòi bút hiện thực xuất sắc
và độc đáo của mình, ông đã phác họa lại bức tranh xã hội nông thôn Việt Nam trước 1945 một cách chân thực và đầy xúc động Trên những trang viết thấm đẫm giá trị nhân văn của mình, Nam Cao đã đồng cảm, xót thương cho những kiếp người nghèo khổ bị xã hội áp bức đến cùng kiệt
Phần lớn những truyện ngắn viết về đề tài nông dân của Nam Cao ra đời vào những năm 1940 – 1945 Dấu ấn của một thời kì đen tối để lại khá sâu đậm trong truyện ngắn của ông, người nông dân bị áp bức, bóc lột đến mức không thể ngoi lên được, cái đói cái nghèo luôn vây lấy và đeo bám từng ngày Trang viết của ông vẫn
là những chủ đề quen thuộc như nhiều nhà văn hiện thực khác: Đời sống khó khăn, thóc cao gạo kém, con người phải vật lộn để kiếm sống… Nhưng trong tác phẩm của Nam Cao, sự áp bức, bóc lột của bọn cường hào ác bá đã gây nên sự đói khát thê thảm, đó như một sức mạnh vô hình thít chặt các số phận của nhân vật Họ là
những người dân “chân lấm tay bùn”, quanh năm “một nắng hai sương” nhưng vẫn
bị cái nghèo đeo bám, đã vậy, họ còn bị bóc lột, áp bức đến tận cùng Đã nghèo, đã khổ, làm việc đến cật lực, vất vả vẫn không đủ ăn mà hàng năm họ còn phải chịu hàng trăm thứ thuế, phải chịu những hủ tục lạc hậu dưới sự cai trị hà khắc, bất nhân của chế độ phong kiến Người nông dân lâm vào tình cảnh túng quẫn, đói rách, thảm thương Vì thế số phận người nông dân trong nhiều truyện ngắn của Nam Cao luôn được đặt ở những thử thách khốc liệt của cảnh nghèo Và không ít nhân vật đã
bị xô đẩy đến cái chết đau đớn, xót xa: bà cái Tý (Một bữa no), anh Đĩ Chuột
(Nghèo), lão Hạc (Lão Hạc), anh Phúc (Điếu Văn)…Mỗi người một hoàn cảnh,
Trang 24nhưng chung quy lại họ đều chịu sự áp bức dưới bàn tay cay nghiệt của chế độ phong kiến
Viết về nông thôn, Nam Cao ít đi vào những xung đột giai cấp gay gắt và miêu tả trên một bình diện rộng Ông tập trung vào những cuộc đời cụ thể, và cũng chỉ lấy ra một chặng đường ngắn của nhân vật để miêu tả Bao giờ ông cũng biết vươn tới phản ánh cho được cái bản chất, cái có tính phổ biến, quy luật Miêu tả quá trình người nông dân bị phá sản, Nam Cao cố gắng lí giải đến ngọn nguồn Họ bị tước đoạt hết ruộng đất, nhiều người phải rời bỏ làng quê đi tha hương cầu thực: Kẻ phiêu dạt ra thành phố tìm đến trú ngụ trong những căn nhà ẩm thấp, tăm tối (mẹ
con Hiền trong Truyện người hàng xóm), kẻ phẫn chí bỏ làng đi làm thuê ở đồn điền cao su (con lão Hạc trong Lão Hạc) Chưa bao giờ người nông dân bị đặt trong
hoàn cảnh ly tán đến như vậy Nam Cao chú ý đến những người bị áp bức bất công
nhiều nhất, chịu số phận đen đủi, hẩm hiu Những kẻ cố cùng như Binh Chức (Chí
Phèo) “làm thì cật lực mà quanh năm vẫn nghèo rớt mùng tơi, chỉ vì một miếng ăn
mà cũng không giữ được mà ăn, đứa nào vớ được nó cũng xoay mà đứa nào xoay cũng chịu”, như Chí Phèo (Chí Phèo) bị cả xã hội bỏ rơi ngay từ khi mới ra đời Ðó
là Thị Nở một người đàn bà ế chồng, sinh ra từ một gia đình có mả hủi, bị loài người xa lánh Ðó là một mụ Lợi, Cu Lộ, Lang Rận, những người không được loài người coi là người Ðó là thân phận trâu ngựa của những đứa ở cho nhà giàu, những cái Tí, cái Dần, anh Cu Phúc ăn thì chẳng bao giờ đủ no mà công việc và những lời chửi rủa thì thừa bứa Đi vào cuộc đời của những con người bị áp bức, họ càng hiền lành thì càng bị vùi xuống bùn đen, Nam cao đã làm nổi bật lên tình trạng bất công
ghê gớm trong xã hội: “tại sao trên đời này nhiều sự bất công đến thế?” Câu hỏi không lời giải đáp đó trong “Ở hiền” – một truyện ngắn có tính chất luận đề nghi vấn cái đạo lý “ở hiền gặp lành”, đó cũng là vấn đề mà Nam Cao đặt ra trong hầu
hết tác phẩm của mình
Đến với những trang viết chân thực và độc đáo của Nam Cao, mỗi nhân vật hiện lên một cách rõ nét và cụ thể Đó là những mảnh đời, những hoàn cảnh đáng thương khác nhau, mỗi người ai cũng mang trong mình một nỗi khổ về vật chất lẫn tinh thần nhưng ở họ có cùng chung số phận là nghèo và bị xã hội áp bức, bóc lột đến dã man, tàn nhẫn Là những người nông dân lương thiện, hiền lành nhưng suốt
Trang 25đời họ bị giam cầm trong cái ngục tù đầy rẫy tội ác Những kiếp người luôn phải gánh chịu biết bao đọa đày dưới một bộ máy cai trị hà khắc, đó là những con người tội nghiệp và đáng thương biết nhường nào Lao động cật lực, vất vả quanh năm
nhưng “chén cơm manh áo” luôn đeo bám họ Cũng như những gia đình bần cố nông khác, cái đói, cái nghèo luôn vây lấy gia đình anh đĩ Chuột (Nghèo), họ phải
chạy từng bữa ăn, sống dật dờ vô định trong đói khát Một mình vợ anh phải nuôi đến những bốn miệng ăn, kiếm được miếng ăn đã là khó thế mà chị còn phải chạy ngược, chạy xuôi vay mượn tiền để lo thang thuốc cho chồng vì anh lâm bệnh nặng
Nợ nần chồng chất, đói khổ triền miên, chị và một đàn con nheo nhóc phải ăn cám thay cơm để sống qua ngày Gánh nặng cuộc đời hòa chung với những giọt nước mắt uất ức, nghẹn ngào, vị cám đắng chát nhưng vẫn phải ăn, vẫn phải nuốt vào để
sống “ Thằng cu chừng đói quá không chịu được, lại há mồm ra Mẹ nó đút cho nó
một xêu nhỏ nữa Nó nhắm mắt, duỗi cổ, cố nuốt cho trôi”.[2, tr 54] Vì không
muốn trở thành gánh nặng, vì không sống nổi trong đói nghèo, bệnh tật nên anh đã tìm cách giải thoát cho mình, cũng như giảm bớt phần nào nỗi khổ cho vợ con Nhưng tồn tại dưới một xã hội mà tội ác luôn lộng hành, sự chèn ép, áp bức thì
không bao giờ dứt Bà Huyện lại đến xiết nợ và “Ở ngoài ngõ, mẹ con chị Chuột
vừa kêu khóc vừa van lạy Bà Huyện nhất định bắt mẻ gạo mới đong để trừ sáu hào
nợ chị Chuột vay từ hai tháng trước cho chồng uống thuốc”[2, tr 59] Không chịu
nỗi sự bòn rút của chúng nhưng đành bất lực “Anh đĩ Chuột rít hai hàm răng lại
Hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất Cái tròng rút mạnh lại Cái
bộ xương bọc trong da giẫy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi thừng lủng lẳng”[2, tr 58] Cái chết thảm thương đã chấm
dứt hết tất cả, chấm dứt cảnh đói nghèo với bao lo toan đầy rẫy Chính cái xã hội vô tâm đã gián tiếp đẩy họ vào con đường bế tắc, không còn cách nào khác họ phải tìm đến cái chết để giải thoát, để kết thúc những tháng ngày đau khổ của mình
Cũng là thân phận tôi đòi nên người nông dân trong “Rửa hờn” cũng bị chèn
ép, bóc lột một cách oan uổng Chỉ vì quá nghèo mà vợ chồng nhà kia lúc lấy nhau
chẳng có tiền cưới nên “họ ăn ở với nhau theo kiểu vợ chồng theo” Đến lúc có con
họ muốn làm khai sinh cho đứa trẻ thì bị những kẻ bề trên chèn ép, bóc lột “Ông Lý
nhà ta biết thóp anh hồng đến non mặt, nên đến lòe anh ta đủ thứ” Không còn cách
Trang 26nào khác “Anh chồng đành chạy ngược, chạy xuôi, biện cho ông lý hai chục bạc để
ông làm ngơ cho chuyện ấy Rồi ngày một, ngày hai, khi nào xoay được vài, ba chục bạc nữa lại đến ông, ông sẽ liệu cách nào giá thú cho vợ chồng anh và khai sinh cho đứa con anh giúp”[2, tr 370] Chúng ngang nhiên bóc lột một cách trắng trợn,
chúng ăn trên đầu, trên cổ những người nông dân tội nghiệp Cuộc sống của họ đã khó khăn nay lại gặp phải lũ ác nhân hoành hành thì không cách nào tránh khỏi cái
đói “Vợ nó đẻ, cơm đã chẳng có mà ăn, da trông bấm ra nước được, chồng thì cái
khố chẳng có mà đeo; thế mà ông nỡ xoay của nó”[2, tr 371] Thế mới biết sống
trong xã hội thời buổi này, người nông dân bị chèn ép đến mức nào? Họ không còn
gì để hi vọng khi xung quanh luôn đầy rẫy những xấu xa, bất công và tội ác
Hay đôi vợ chồng trong “Mua Danh” cũng bị bọn cường hào ác bá trong
làng áp bức, bóc lột cùng cực Vợ chồng Bịch rất nghèo, nhà lại đông con nên quanh năm họ phải lao động vất vả Nhờ giàn trầu xanh tốt, gia cảnh vừa khá lên một tí thì đã bị kẻ khác nhòm ngó rồi lập mưu bòn rút hết tiền bằng cách bắt đi phu
Ai cũng biết đó chính là “Một khóe làm tiền của bọn hương lí Họ thấy bở nên đào
mãi”[2, tr 340] Muốn thoát thân thì phải bỏ tiền ra mua chức hương trưởng thì mới
xong việc Bịch định liều thân đi phu nhưng khổ nỗi vợ con không ai lo “Ở làng
này khó lắm Không có người đàn ông ở nhà, làm được một miếng, chúng nó cũng chẳng để cho mà ăn đâu…”[2, tr 341] Vì thế, anh phải lấy hết số tiền dành dụm
được và phải đi vay thêm mới có đủ tiền đưa cho chúng Anh đâu biết rằng đằng sau
sự “giúp đỡ” như lời họ nói đó là cả một sự toan tính, trục lợi Cuối cùng tiền thì
mất hết, nợ nần thì bủa vây nhưng Bịch chỉ có mỗi nhiệm vụ là giải tán bọn trẻ trong làng Thật đáng lên án cho những hành vi đê hèn đó, chúng ngang nhiên lợi
dụng chức trách của mình tìm ra những chức vụ “hữu danh vô thực” để nhằm bòn
rút tiền bạc của người nông dân nghèo đói, chúng đánh trúng vào điểm yếu của họ
là “nhẹ dạ cả tin” và sợ sệt trước quyền lực của chúng để hoành hành tội ác
Các đối tượng bị xã hội áp bức trong truyện ngắn của Nam Cao cũng đa dạng với mọi lứa tuổi Người nông dân già yếu bị xã hội ức hiếp cũng xuất hiện khá
nhiều trên những trang viết của ông Họ “nghèo từ trong trứng nghèo ra”, đến lúc
về già nhưng vẫn không có lấy được một ngày no đủ So với những hoàn cảnh khốc
liệt trên thì Bà lão trong “Một bữa no” cũng có một số phận thảm thương không
Trang 27kém Ở cái tuổi “gần đất xa trời”, đáng lẽ ra phải được con cái phụng dưỡng thì
đằng này bà phải bươn tấm thân già đi kiếm ăn từng bữa, dù tuổi cao sức yếu nhưng vẫn phải đi ở cho người ta để vất vưởng sống qua ngày Lúc đầu họ còn chấp nhận
“Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán” và “ấy thế là người ta lại tìm
cớ tống bà đi” Nhưng để chống chọi lại cái đói “Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác”, nhưng cũng chẳng ai “chịu” bà được lâu Trong cái đói quay quắt ấy, người
ta không suy nghĩ được nhiều và làm tất cả những gì có thể Bà tìm đến nhà bà phó Thụ - nơi cái đĩ cháu bà đi ở để xin một bữa cơm để rồi phải nghe những lời mắng
nhiếc “Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó! Nhà tôi không có cơm cho nó
ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi” [2, tr 281] Bà lão nghẹn ngào nhưng không dám
nói một lời nào, bà đành im lặng nghe người ta xỉ vả, đay nghiến Cuối cùng chúng cũng “cho” bà một bữa cơm, một bữa cơm chan đầy nước mắt và nhục nhã Cũng
chính vì quá đói, bà ăn cho đến no, và hậu quả là bà đã chết một cách thảm hại Một
cái chết quằn quại trong đau đớn “Vào khoảng nữa đêm, bà thấy hơi đau bụng Cơn
đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng Rồi bà thổ Rồi bà tả Ôi chao! Bà tối tăm mặt mũi Đến khi bệnh tả dứt thì
bà lại sinh chứng đi lỵ Ruột bà đau quằn quằn Ăn một tí gì cũng đau không chịu được Luôn nửa tháng trời như vậy Rồi bà chết” [2, tr 288] Thật là một sự trớ
trêu, người ta thường chết vì quá đói thì đằng này bà lại chết vì quá no Cái chết nhục nhã phá hủy đi nhân cách một con người nhưng xét cho cùng thì đó là nỗi khổ của những kiếp người bần cùng vì đói khát
Đó cũng là nỗi đau đớn tột cùng của Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao Vợ lão mất sớm, cả đời lão làm lụng vất vả nhưng cũng chỉ có được trong tay một mảnh vườn nhỏ và một con chó Cũng vì quá nghèo đói, không đủ tiền cưới vợ mà đứa con trai duy nhất của lão cũng bỏ lão mà đi Những ngày tháng
xa con, lão sống bơ vơ trong căn nhà xơ xác, trong nỗi lo âu, phiền muộn vì thương nhớ con, vì chưa làm tròn bổn phận và trách nhiệm của một người cha Phải chăng con người sinh ra là để chịu khổ, hết cái khổ này đến cái khổ khác cứ dồn dập kéo
đến, bao nhiêu tiền dành dụm được lão đã tiêu hết sạch vì bệnh tật “Ấy thế thôi mà
bây giờ hế nhẵn, ông giáo ạ! Tôi chỉ ốm có một trận đấy thôi Một trận đúng hai tháng, mười tám ngày, ông giáo ạ!” [2, tr 199] Vì quá túng thiếu lão đành nén
Trang 28lòng mà bán cậu vàng đi, con chó mà lão yêu thương, quí mến như một người bạn
Vì quá đói khổ nhưng lại không muốn tiêu xài thêm vào số tiền dành dụm để cưới
vợ cho con, lão đành chọn cái chết để kết thúc tất cả Cái chết đau đớn, quằn quại
của một kiếp người khốn khổ phải chịu biết bao đọa đày, tủi nhục “Lão Hạc đang
vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nẩy lên Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết Cái chết thật là dữ dội” [2, tr 207] Sống dưới một xã hội mà
cái ác, cái xấu luôn ngự trị, người nông dân luôn phải đối mặt với cảnh nghèo quay quắt và bệnh tật Anh đĩ Chuột, Lão Hạc, và bà cái Đĩ đều chết trong nghèo đói Người nông dân bị áp bức, bị dồn ép đến tận cùng để rồi họ phải tước bỏ đi mạng sống của mình khi đã hoàn toàn rơi vào bế tắc, tuyệt vọng
Viết về người nông dân bị áp bức thì tầng lớp thanh thiếu niên là một sự điển hình cụ thể, họ bị bóc lột sức lao động đến tận cùng Để có được miếng ăn, họ phải
làm thân trâu ngựa, phải nai lưng ra làm việc cật lực cho bọn “lắm tiền nhiều của” nhưng ác nhân, thất đức Như anh Phúc trong “Điếu văn” phải sống một cuộc đời
đầy tủi cực Thân hình yếu ớt vì bệnh tật nhưng anh phải làm việc quần quật suốt
ngày không một phút nghỉ tay “Anh thức dậy trước gà và ngủ có lẽ còn sau bọn
tuần sương Biết mình chậm chạp vụng về, lại yếu ớt quá không thể xốc vác như người ta, anh chỉ chăm chăm chúi chúi làm suốt ngày, không một phút nào dám nghỉ ngơi [2, tr 432] Làm việc vất vả là thế nhưng anh luôn bị chủ coi thường và
bạc đãi “Bà bác tôi coi anh không bằng một con trâu anh thường dắt đi chăn” Làm
việc như con ngựa, con trâu như thế mà vẫn chưa vừa lòng chủ, họ đã xem anh
không phải là con người thì việc đối xử với anh còn tệ hơn gấp trăm ngàn lần “Sáng
ngày ra, anh uống nước lã cầm hơi Bữa trưa anh được ba lùm lùm bát cơn ngô hoặc cơm khoai Bữa tối, người ta lại cho anh vài nắm ngô rang hoặc vài củ khoai,
củ ráy Kể ra thì bữa nào cũng thòm thèm cả Chỉ có công việc và những lời chửi rủa thì bao giờ cũng thừa bứa tứa tát” [2, tr 432] Cuộc sống của họ chỉ là một
gam màu ảm đảm gắn liền với chuỗi ngày dài u ám, họ chỉ biết chấp nhận nó như một thói quen, như một lẽ tất yếu không cách nào có thể thay đổi được
Trang 29Hay trong truyện ngắn “Chí Phèo”, tầng lớp thanh niên bị xã hội áp bức được thể hiện rõ qua những nhân vật như Chí Phèo, Binh Chức…Chí Phèo làm canh
điền cho Bá Kiến, tuy nghèo đói nhưng anh sống lương thiện bằng sức lao động chân chính của mình Cuộc sống cứ thế trôi đi, nhưng giá như nó cứ trôi đi bình lặng như thế thì đã cứu vớt được một con người lương thiện Cuộc đời Chí dần
chuyển sang một hướng khác khi “ông Lý ghen” và thế là hắn bị Bá Kiến đẩy vào
tù Cũng vì những lý do vớ vẩn, vì lộng hành quyền thế mà chính tay chúng đã trực tiếp giết chết nhân phẩm của một con người Chí phải mang tiếng xấu cả một đời và
từ đây cuộc đời anh bắt đầu rơi vào bi kịch Cũng như Chí Phèo, Binh chức (Chí
Phèo) cũng là nạn nhân dưới bàn tay tàn độc của bọn ác nhân Anh làm việc chăm
chỉ, cật lực “mà quanh năm vẫn nghèo rớt mồng tơi”, “chỉ vì một miếng cũng
không giữ được mà ăn; đứa nào nó vớ nó cũng xoay, mà đứa nào xoay cũng chịu”
[2, tr 90] Phẫn chí, anh bỏ ra đi lính và từ đây gia đình anh bị đảo lộn tất cả và anh cũng dần dấn thân vào con đường tha hóa Cái nghèo, cái khổ đã làm họ đánh mất gia đình Họ bị áp bức, bóc lột đến mức không thể ngóc đầu lên được
Những đứa trẻ thơ trên trang viết của Nam Cao cũng có chung số phận bị xã hội áp bức Là những đứa trẻ ăn chưa no, lo chưa tới mà từ bé đã phải đi ở cho người ta để kiếm miếng cơm, manh áo sống qua ngày Gia đình túng thiếu, cha mẹ
không lo nổi cho chúng bữa ăn nên chúng phải tự đi tìm lấy Như cái Tý trong “Một
bữa no” mười hai tuổi đã phải đi ở cho bà Phó Thụ Làm lụng không một phút được
nghỉ ngơi, ăn thì không đủ no “mà phải ăn nhanh để còn làm”, công việc cứ thế mà dồn dập Hay Dần trong “Một đám cưới”, vì gia cảnh nghèo khó nên Dần phải đi ở
từ khi còn bé Cái sự nghèo đeo bám người ta đến nỗi một đứa trẻ đáng thương bị bóc lột sức lao động đến cùng kiệt Lao động cực nhọc, vất vả là thế nhưng cơm thì
vẫn không đủ ăn, chỉ có dư thừa những lời mắng nhiếc“Cơm nhà giàu khó nuốt Ăn
của họ làm cho đến khi mửa ra giả họ” [2, tr 218] Biết phận nên Dần đành cắn răn
mà chịu đựng, chịu cái kiếp nô đày của một con ở bị người ta chà đạp, ức hiếp “Lâu
dần rồi nó cũng quen đi Cái sự khổ thì bao giờ cũng thế thôi Nhưng khi người ta
đã nhất định chịu, thì khổ thế nào mà không chịu được” [2, tr 220]
Đáng thương nhất có lẽ là người phụ nữ trong xã hội thực dân nửa phong
kiến bấy giờ Đó là mụ Lợi (Lang Rận), cũng chỉ vì miếng cơm, manh áo mà phải
Trang 30suốt đời đi ở cho người ta Lúc đầu, mụ cũng hay cười, hay nói nhưng về sau mụ trở nên trầm tính hẳn Vì nhà chủ không cho phép nói nhiều như thế Từ đó mụ sống trầm mặc như một cái bóng, sống trong im lặng như một cỗ máy chỉ biết làm và
làm Ai bảo đâu thì nghe đó nếu không sẽ bị mắng chửi thậm tệ “Nhưng hồi mới
đến, mụ cũng phải cái tật nói leo Bà Cựu mắng như băm, như bổ vào mặt cho, không còn biết mấy mươi lần Bây giờ thì mụ chừa rồi Ai cười, ai nói mặc! Suốt ngày mụ chỉ im như thóc” [2, tr 419] Người nông dân mất đi quyền tự do của
mình, chỉ biết nhẫn nhục cam chịu, dù uất ức lắm nhưng không dám hé nửa lời
Trong xã hội ấy, thân phận người phụ nữ là thân phận nô lệ, luôn bị chà đạp thô bạo Có khi họ còn là nạn nhân khốn khổ của những thằng chồng vũ phu, tham
ăn tục uống, hành hạ vợ một cách dã man ( Ở hiền, Đòn chồng, Trẻ con không biết
của một người phụ nữ bị chồng hành hạ dã man, người phụ nữ ấy phải làm việc suốt
ngày để nuôi một người chồng vô tích sự, thị “đi dệt cửi thuê cho người ta hàng
ngày được một hào thì chồng lấy cả một hào, thiếu một đồng xèng nó đánh cho gãy gối”[2, tr 237] Hắn thì no say còn thị luôn đói khát, thị bị người chồng bất lương
ấy tra tấn như một tù nhân khi thị ăn gian của người ta một tấm bánh vì quá đói
“Hắn cởi cái thắt lưng của y; trói ngang lưng y vào cái cột Như để tha hồ vững chãi Nhưng hắn còn muốn vững chãi hơn nhiều nữa Hắn đặt ngay cái đòn gánh ở bên ngoài cột, dang hai tay vợ dang ra, lấy sợi dây thừng quấn…”[2, tr 241] Hắn
“cầm cái roi mây, chạy lại, nghiến răng vụt đen đét vào mông y”[2, tr 241] Người
vợ tội nghiệp ấy phải hứng chịu tất cả đòn roi mà thằng chồng vũ phu ấy giáng
xuống “Y đau quắn đít Y nhăn mặt lại Y van lạy Y gào”[2, tr 241] Nỗi đau đớn
làm thị phải thét lên, nhưng hắn vẫn không buông tha, vừa uống rượu hắn vừa tiếp tục đánh, vẫn tiếp tục hành hạ cái thân tàn của thị Hắn đánh đến nỗi thị tê dại đi,
đến nỗi thị “không còn thấy đau”, không còn cảm giác nữa
Thân phận người phụ nữ hẩm hiu còn được Nam cao lột tả một cách sâu sắc
qua truyện ngắn “Dì Hảo” Cũng giống như những người phụ nữ trên, dì cũng lấy phải một tên vô dụng “Hắn lấy vợ để cho vợ nó nuôi” Rồi dì có con, nhưng thật không may “đứa con chết, mà dì thì tê liệt” Khi dì không còn khả năng cung phụng cho hắn nữa thì con người vô tâm ấy đã bỏ lại người vợ ốm yếu mà đi “Khi
Trang 31hắn chán chửi, bỏ nhà mà đi, bỏ dì bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu Trách làm gì hắn, cái con người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy?” [2, tr 180] Rồi hắn về nhưng lại
đèo bòng thêm một cô vợ bé về sống trước mặt dì, hắn cưng chiều người đàn bà đó làm dì xót xa tủi phận
Hay trong tác phẩm “Ở Hiền” người phụ nữ cũng bị chồng đối xử một cách
tàn nhẫn như vậy Nhu là một cô gái hiền lành, nhưng sự đời lắm nỗi éo le khi hiền lành quá đó cũng là một cái tội Gần ba mươi Nhu mới có người hỏi cưới, hắn chịu lấy Nhu là vì nhà Nhu có của Thời gian đầu cuộc sống của Nhu cũng khá hạnh
phúc nhưng một thời gian, nó đã bắt đầu có sự rạn nứt khi “Người chồng Nhu nghĩ
ra rằng: hắn lấy phải vợ già là một sự thiệt thòi ,tất cũng phải dùng tiền của vợ ,chơi bời cho thỏa, để bù đắp lại Hắn chơi bời thả cửa” [2, tr 367] Rồi hắn ngang
nhiên lấy vợ hai, nhưng“Nhu chẳng làm gì, chẳng hé răng nói một lời gì! Nhu
ngoan ngoãn in ngón tay Nhu vào tờ giấy hôn thú Nhu bằng lòng cho đem vợ lẽ về nhà” [2, tr 368] Không còn sức chịu đựng, Nhu phải “bỏ nhà chồng mà về nhà mẹ”, thế nhưng thật oan nghiệt thay những người trong gia đình cũng ghét bỏ cô
Nhu lại chấp nhận và tiếp tục cam chịu trở về cái địa ngục trần gian đó “Nhu trở về
với chồng với vợ hai, và sống như một con vú trong nhà chúng, trong cái cơ nghiệp
mà chính tay Nhu đã dùng tiền của mẹ mình mà tạo ra…” [2, tr 369] Phải chăng
hiền lành nhẫn nhục quá cũng không phải là một điều tốt, vì một người như Nhu “ở
hiền mà chẳng gặp lành”, trái lại cô phải sống trong đau khổ và những đọa đày
không đáng có Những số phận hẩm hiu ấy dường như đã hoàn toàn bất lực trước cuộc đời, bị hành hạ một cách dã man tàn nhẫn như thế nhưng những con người hẩm phận ấy chỉ biết cúi đầu nhẫn nhịn và cam chịu
Một khía cạnh khác trong “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Trẻ con
không biết đói”, người phụ nữ cũng gặp nhiều bất hạnh Những người chồng của họ
chẳng những không làm tròn trách nhiệm của một người chồng mà còn không làm
tròn bổn phận của một người cha Như trong “Trẻ con không biết ăn thịt chó”,
người phụ nữ và những đứa con của họ đã chịu biết bao tủi cực, ấm ức Đã nghèo túng mà chồng thị suốt ngày rượu chè be bét, đã vậy hắn còn tham ăn lắm, chỉ biết chăm lo cho bản thân mình Hắn đã thịt luôn con chó mà vợ hắn định bán để lo toan bữa ăn cho lũ con đói nheo nhóc vì cơn thèm rượu Lũ trẻ nhoi lên vì đói Chúng
Trang 32thèm khát được một miếng ăn, nhưng người cha xua đuổi như sợ chúng ăn hết mất
“Những thằng này hỗn! Chỗ chúng mày ngồi đấy à?” Chồng thị như một tên bất
nhân thống trị cái gia đình mà nạn nhân không ai khác chính là vợ con hắn, hắn thà cho người dưng ăn còn hơn là nhìn thấy vợ con mình chết đói Những đứa trẻ đáng
thương dắt díu nhau xuống bếp để chờ đợi miếng ăn nhưng cuối cùng“trong mâm
chỉ còn bát không”, “thằng cu con òa khóc lên Nó lăn ra, chân đập như một người giẫy chết, tay cào xé mẹ Người mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đi, rưng rức khóc” [2,
tr 261] Thân phận người phụ nữ thật là nhỏ nhoi, hèn mọn Họ đã bị chính người
chồng của mình đẩy hoàn cảnh thật sự bế tắc
Hay người phụ nữ trong “Trẻ con không biết đói” cũng phải chịu một số
kiếp tương tự Chồng thị suốt ngày cũng chỉ biết ăn, đã thế hắn lại còn bài bạc Hắn dùng những đồng tiền mà vợ hắn vất vả mới kiếm được để tiếp tục đâm đầu vào
rượu chè, để trả những khoản nợ mà hắn đã tiêu sài phung phí “Hắn cầm đồng bạc
cho vào túi Rồi hắn đi Bao giờ chẳng vậy, cứ có tiền là hắn đi Hắn vừa đi vừa nhẩm tính…” [2, tr 322] Nam Cao đã phơi bày một hiện thực thảm thương trong
nỗi đau của những người phụ nữ bất hạnh Họ là những con người cam chịu, sống hết lòng vì chồng vì con nhưng đổi lại họ chỉ nhận được toàn đắng cay và tủi nhục Nam Cao không chỉ lên án xã hội đương thời mà nhà văn còn lên án sự xuống cấp trong đạo đức, nhân cách của con người trong việc đối xử giữa người với người
Sống trong một xã hội bất công, người nông dân không bao giờ ngoi mình lên được Họ thoi thóp vùng vẫy giữa một vũng lầy sặc mùi tanh của tội ác Chúng dồn ép, bóc lột và tước đoạt đi biết bao điều tốt đẹp của họ Họ nhịn nhục và cố gắng vươn lên để thoát khỏi cái đói, cái nghèo nhưng luôn bị lũ ác nhân dìm xuống Nỗi đau đó, cay đắng đó vẫn luôn âm ỉ cháy và biết đến bao giờ mới có thể dập tắt được ngọn lửa áp bức kia? Đó cũng như là một tiếng kêu cứu mà nhà văn Nam cao thốt lên giữa một xã hội quá ư là nham hiểm, cái xã hội bất lương ấy lúc nào cũng đầy cạm bẫy, lúc nào cũng là mối đe dọa đáng sợ của những người nông dân lương thiện Nam Cao đã đi sâu vào từng ngõ ngách thống khổ của người nông dân dưới chế độ áp bức, bóc lột, đó là cả một quá trình vật lộn, giằng co với cái đói, cái nghèo đầy đau đớn Và đây cũng chính là hiện thực xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng tám 1945
Trang 332.2 Những kiếp người bất hạnh bị xã hội cự tuyệt
Viết về số phận những kiếp người bị xã hội cự tuyệt, ngòi bút Nam Cao đôi khi đã nhỏ những giọt nước mắt thương xót cho những con người hẩm phận ấy, và dường như Nam Cao cũng đã hoàn toàn bất lực khi tìm kiếm sự sống cho những
nhân vật của mình Nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo), Lang Rận (Lang Rận)…đều
chọn cho mình một cái chết thê thảm khi đã đến bước đường cùng, khi cái xã hội đã sinh ra họ không đón nhận họ nữa Bên cạnh đó những con người xấu xí ấy còn bị
xã hội cự tuyệt cả quyền mưu cầu hạnh phúc, họ đến với nhau bằng sự đồng cảm, chân thành nhưng vẫn không được chấp nhận, và rồi những số kiếp bạc bẽo ấy hoàn
toàn rơi vào bi kịch đau đớn Chí Phèo – Thị Nở (Chí Phèo) là hai nhân vật điển
hình cho nỗi thống khổ ấy, nhưng ở đây Chí Phèo còn đáng thương hơn vì bị toàn
xã hội cự tuyệt cả quyền làm người Nam Cao đã phơi bày tất cả nỗi thống khổ ghê gớm của nhân vật Chí Phèo, Chí sinh ra trong đói nghèo, cô độc, tủi nhục và chết đi cũng trong tủi nhục, cô độc và đói nghèo Trong làng Vũ Đại ấy, Chí là một thằng cùng hơn cả dân cùng: Không cha, không mẹ, không nhà cửa, không họ hàng thân thích, nhưng lớn nhất đó là Chí bị xã hội vằm nát cả một mặt người, cướp đi linh hồn người, phải sống kiếp sống tối tăm của con vật lạ Chí Phèo là một cuộc đời rất riêng ngay từ khi sinh ra, lớn lên cho đến lúc chết đi Bước vào tác phẩm ta bắt gặp
ngay Chí Phèo ngật ngưỡng vừa đi vừa chửi “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là
hắn chửi…” Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao để Chí Phèo xuất hiện đầu tiên
với tiếng chửi, mà ở đây Nam Cao muốn khẳng định một thân phận cô độc đến tuyệt đối Chí Phèo chửi ai? Hắn chửi trời, chửi đời rồi chuyển sang chửi tất cả làng
Vũ Đại, cuối cùng hắn chửi đứa nào đẻ ra cái thằng Chí Phèo Hắn chửi trời, chửi đời nghĩa là đối lập với tạo hóa, với xã hội Hắn chửi cả làng Vũ Đại nghĩa là y đối lập với quê hương Hắn chửi người nào không chửi nhau với hắn nghĩa là y đối lập
với tất cả Đau đớn hơn, Chí “nghiến răng vào mà chửi cái đứa chết mẹ nào đẻ ra
hắn” để hắn ra nông nỗi thế này, nghĩa là hắn tự đối lập lại nguồn gốc, sự tồn tại
của mình Hắn chửi như để tìm sợi dây liên kết với xã hội, để được mọi người chú ý
nhưng chẳng một ai quan tâm “Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chặt, rồi mặc
thây cha nó, nó có chửi thì tai liền miệng đấy, chửi rồi lại nghe!” [2, tr 83], đau
đớn thay đáp lại tiếng chửi đó chỉ là tiếng chó sủa vang trời “Thành thử chỉ có ba
Trang 34con chó dữ với một thằng say rượu! ” [2, tr 83] Trong tiếng chửi ấy hiện lên một
con người cô độc tuyệt đối, giữa lúc đó chỉ có tiếng chó sủa xuất hiện, dường như Chí chỉ còn mối liên hệ với loài vật Và rồi như một phép lạ ban cho kẻ cùng đường, Chí cũng đã tìm thấy tia hy vọng cho cuộc đời mình, đó là thị Nở - một người đàn
bà xấu “ma chê quỷ hờn” trong làng Vũ Đại Thị sở hữu một dáng vẻ có thể gọi là
sự “mỉa mai” của tạo hóa “Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công:
nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài, thế mà hai má lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu hai má nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng trên cổ người Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành…” [2, tr 107] Với một
ngoại hình như thế đã là quá khổ, đằng này “thị lại dở hơi” và là “một người ngẩn
ngơ như những người đần trong cổ tích”[2, tr 107], thị lại xuất thân trong “dòng giống của một nhà có mả hủi”, tất cả những điều đó khiến thị bị xua đuổi, người ta
tránh thị như tránh “một con vật rất tởm” Như một sự tình cờ hay do duyên số kì lạ
dưới bàn tay sắp đặt khéo léo của Nam Cao, Chí Phèo và Thị Nở tìm đến nhau với tất cả sự cảm thông của hai con người đồng cảnh ngộ Đối với Chí, thị đâu chỉ là người yêu mà còn là con đường sống, là chiếc cầu dẫn Chí Phèo trở lại cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của loài người Nhưng chút tình yêu thương mong manh của Thị không đủ mạnh để cứu Chí, hắn bạc phận đến nỗi ước mong được chung sống
với người đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn” cũng không được chấp nhận Cái xã hội
bất công kia luôn là một rào cản cách li những con người tội nghiệp mà bà cô thị Nở
là điển hình cho sức mạnh tàn độc đó Năm ngày chung sống cùng thị Nở như tia sáng lóe lên trong cuộc đời tối tăm của Chí Phèo để rồi bỗng dưng vụt tắt đưa anh ta dần vào cõi chết Chí đã tìm đến sự giải thoát khi không muốn quay về làm quỹ dữ,
đó là hành trình của một kẻ đã được thức tỉnhNhư không còn gì để mất, con dao mà hắn mang theo đến nhà Bá Kiến đã kết thúc đi tất cả, như để giải thoát cho cuộc đời
đáng thương đã quá nhiều lầm lỗi “Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế
nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa Biết không! Chỉ có một cách…biết không! Chỉ có một cách là…Cái này biết không!” [2, tr 124 - 125] Hành động quyết liệt ấy cho thấy một
khi phần người đã sống dậy thì Chí không thể chấp nhận trở lại kiếp thú hoang Đôi
Trang 35mắt Nam Cao vẫn nhìn thấy mầm sáng lương thiện còn le lói và chính tình yêu thương của con người là liều thuốc kì diệu giúp con người hồi sinh, đó là khát khao của một kiếp người đã thực sự thức tỉnh
Cũng cùng chung số phận bị xã hội cự tuyệt, tác phẩm “Lang Rận” như một
tiếng kêu cứu lương tâm xã hội Những con người khốn khổ luôn bị xã hội khinh rẻ,
cách li một cách tuyệt đối Nhân vật trong truyện có cái tên nghe thật “bẩn”, đó là
Lang Rận Nam Cao đã miêu tả nhân vật này là một con người có ngoại hình lập dị,
cá biệt, xấu xí đến mức không thể tưởng nổi: “Anh chàng có cái mặt trông dơ dáng
thật Mặt gì mà nặng chình chĩnh như mặt người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm những tàn nhang Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngùn, lại gồ lên Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề Môi rất nở cong lên, bật gần kín hai cái lỗ mũi con con, khiến anh ta thở khò khè…” [2, tr 415] Đã thế anh ta ăn ở lại vô cùng dơ bẩn
“quần áo thì gố ghỉnh, thì đầy dỉ, đứng cách ba thước còn ngửi thấy mùi chua, mà rách rưới, mà mất cúc, mà sứt chỉ, mà lôi thôi lếch thếch” [2, tr 416] Chính vì thế
nên ai cũng “ghê tởm” anh, không ai dám lại gần và xem anh như một con vật bẩn
thỉu Từ khi đến nhà ông Cựu Đẩu làm thầy Lang, anh đã phải chịu biết bao tủi nhục Hàng ngày anh phải nhận lấy những cái nhìn khó chịu, gay go từ phía bà Cựu
và “Một cô con gái chưa chồng có tiếng là đỏm dáng, gọn gàng như cô Đính em
ông Cựu” Chúng thấy chướng mắt và tỏ thái độ khó chịu khi tình cờ bắt gặp anh đi
qua, chúng chế nhạo anh, nhìn anh bằng ánh mắt xỉa xói và dò xét đủ điều “Ông bị
họ khinh bỉ, lườm nguýt, phỉ nhổ, nhạo cười, chế giễu, đủ trăm hình, trăm cấp Ông hơi hơi nhếch môi cười là họ khoặm ngay mặt lại, nhổ bọt đến phì một cái” [2, tr
418] Hành động khiếm nhã đó như từ chối anh xuất hiện trên cõi đời này, anh bị cô lập giữa một xã hội loài người lạnh lẽo sự cảm thông của tình yêu thương đồng loại
Cũng như Lang Rận, mụ Lợi (Lang rận) cũng có hoàn cảnh đáng thương như thế
Mụ là một người đàn bà xấu xí “Không còn một người đàn bà nào có thể xấu hơn
Mụ béo trục, béo tròn, mặt mũi như tổ ong bầu, mắt trắng môi thâm, mà đen như thằng quỷ” [2, tr 419] Vì thế ai cũng xa lánh mụ, ai cũng sợ cái con người thô
thiển, xấu xí đó Là phận tôi tớ nên chẳng bao giờ mụ Lợi được mở mồm ra nói một
câu nào, mụ sống trong cô độc, suốt ngày chỉ biết làm việc trong câm lặng“Hồi mới
đến, mụ cũng phải cái tật nói leo Bà Cựu mắng như băm, như bổ vào mặt cho,
Trang 36không còn biết mấy mươi lần Bây giờ thì mụ chừa rồi Ai cười, ai nói mặc! Suốt ngày, mụ chỉ im như thóc” [2, tr 419] Thật đáng thương cho những thân phận hẩm
hiu ấy, biết bao giờ họ mới được sống trong một xã hội trọn vẹn tình người? Cũng như bao người khác, họ khát khao được đối xử công bằng, thế nhưng cái xã hội ác nhân lại không cho phép điều đó, chúng bắt họ phải sống trong cô độc, trong sự ghẻ lạnh thiếu thốn tình thương Và rồi như một sự đồng cảm, những con người khốn khổ tìm đến với nhau như một lẽ tự nhiên, Lang Rận và mụ Lợi đã thật sự hiểu được nhau bằng tiếng nói của tâm hồn Họ đến với nhau bằng một tình yêu với sự cảm thông mà trước hết đó là tình yêu thương đồng loại, nhưng cuộc đời cứ như một vòng lẩn quẩn mà có lẽ suốt đời họ không bao giờ thoát ra được Đón nhận niềm vui chưa được bao lâu thì bi kịch bắt đầu ập xuống mà thủ phạm không ai khác chính là những kẻ ăn không ngồi rồi trong gia đình ấy Bị bắt quả tang, vì quá xấu hổ và thế rồi bi kịch đã thật sự xảy ra khi họ không còn sức chịu đựng và đối
mặt với hiện tại nữa Kết thúc sự đau đớn, tủi hổ và đày đọa ấy là “Một đôi chân
tím bầm lủng lẳng trên không khí Đó là ông Lang Rận Ông thắt cổ! Ông thắt cổ bằng cái ruột tượng gốc của mụ Lợi” [2, tr 427] Phải chăng xấu cũng là một cái
tội? Xấu thì không có quyền mưu cầu hạnh phúc ư? Chính sự khắc khe, chính sự phân biệt đối xử ấy đã đẩy họ rơi vào tuyệt vọng, rơi vào bi kịch và không thể ngẩng cao đầu để làm con người bình thường được Họ đành bất lực trước hoàn cảnh, phải từ bỏ điều mà họ luôn khao khát Chính vì bị xã hội từ chối, chính sự phân chia giai cấp đã hủy diệt đi mạng sống, tương lai và cả ước mơ của biết bao con người
Nhân vật Đức trong “Nửa đêm” cũng phải sống trong tủi nhục và chịu nhiều
đọa đày khi bị xã hội cự tuyệt, từ chối như thế Ngay từ khi mới sinh ra còn đỏ hỏn, một đứa trẻ vô tội đã bị mọi người hắt hủi, bị xã hội loại bỏ ngay lập tức vì là con
của một “thằng thiên lôi” Mẹ Đức vô tâm bỏ nhà theo người khác, Bà Đức phải
“Ngày ngày bế cháu ra đường xin sữa những người mẹ trẻ vú mẫm và đầy căng”
nhưng khổ nỗi người ta sợ anh lắm, ghê tởm anh đến mức chẳng ai muốn liên quan tới con của một thằng ăn cướp Rồi cứ thế Đức lớn lên trong sự ghẻ lạnh của mọi người Cũng như những đứa trẻ khác, Đức cũng muốn hòa nhập, muốn được đùa vui với những đứa trẻ trong làng nhưng bọn trẻ đó cứ dần tránh xa và không cho
Trang 37Đức cái quyền tự do đó“Hồi lên mười, nó mon men đi ra, nó đến cửa nhà thờ hội
họp với bọn trẻ con cùng xóm, nhưng chẳng bao lâu bạn nó lảng dần”[2, tr 470]
Vì lớn lên trong sự cô độc, thiếu thốn tình người nên lúc nào Đức cũng ngu ngơ, đờ
đẫn “Nó nhớn bằng con người ta mười chín hay hai mươi tuổi nhưng chậm chạp,
mà không hay nói”[2, tr 469] Những con người vô tâm kia đối xử với anh quá ư là
tệ bạc, chính họ tạo cho anh một cái vỏ bọc quá dày khiến anh phải thu mình lại trong đó, Đức mơ màng, tiếc nuối như mình vừa mất đi một thứ gì quan trọng của cuộc đời, Đức ngờ nghệch nhưng vẫn ý thức được rằng mình bị cô lập giữa một xã hội quá ư là rộng lớn Cái xã hội tàn nhẫn kia đã cướp đi của Đức cả một tuổi thơ tốt đẹp, để giờ đây khi đến lúc trưởng thành Đức vẫn chưa biết, chưa từng được nếm trải thế nào là tình thương, thế nào là sự quan tâm, chia sẻ của tình người Rồi cũng như Chí Phèo, Lang Rận, anh cũng biết yêu thương và rung động, tình cảm sâu kín trong lòng bỗng nhiên trỗi dậy một cách mạnh mẽ từ lúc gặp Nhi – người
con gái “chẳng lấy gì làm đẹp, có thể nói thẳng ngay vô cùng xấu”, nhưng Nhi đẹp,
đẹp ở tấm lòng, đó là sự đồng cảm thương yêu giữa con người với con người Nhưng cũng như những số phận oan nghiệt trên, mối tình tốt đẹp này cũng bị mọi người phản đối quyết liệt Lời ra tiếng vào ngày một tăng thêm, tất cả những điều
đó làm Đức tuyệt vọng và ngày càng đau khổ Xã hội với những con người thích
chạm vào nỗi đau của người khác để cười cợt, mỉa mai“Cái thiên hạ rỗi mồm, và cứ
hay rúc đầu vào những việc chẳng liên can gì tới họ” Bị phản đối quyết liệt nhất là
ông bà Cửu Hòa – bố mẹ nuôi của Nhi, mang tiếng bố mẹ nuôi nhưng Nhi cũng
phải chịu phận không khác gì một con ở Ông Cửu vô cùng giận dữ “Ông đứng
phắt dậy, tát cho không biết bao nhiêu chiếc Nó giúi về bên này, rồi lại giúi về bên kia”[2, tr 479] Bà Cựu còn ghê gớm hơn nhiều, bà khinh bỉ cho mối tình oan
nghiệt ấy, rồi bà mắng, rồi bà chửi, rồi bà “Nẩy hẳn người lên như cái lò xo Bà xỉa
xói vào mặt nó Bà nhảy chồm lên nó Tóc nó đã sổ ra từ lúc nãy Bà xoắn lấy Bà cào, bà cấu, bà tát, mồm bà gào lên như chính bà bị đánh” [2, tr 480] Vì sự tàn
độc của chúng mà những con người tội nghiệp ấy phải từ bỏ hạnh phúc của mình
Và cuộc đời họ hoàn toàn rơi vào bế tắc
Một khía cạnh khác về những kiếp người bị xã hội cự tuyệt trong truyện ngắn của Nam Cao mà nguyên nhân đó là sự toan tính nhỏ nhen, ích kỉ của con
Trang 38người Chỉ vì ganh đua thiệt hơn mà họ đẩy những người nông dân hiền lành, lương thiện ra khỏi cộng đồng, họ bị cự tuyệt quyền được hòa nhập, chung sống bình
đẳng Anh Cu Lộ (Tư cách mõ) là nạn nhân của sự ích kỉ và toan tính đó Cuộc sống
của gia đình anh đã khá hơn nhiều khi anh nhận lời đi làm mõ cho Họ đạo Lưu An
và mọi mâu thuẫn từ đây cũng bắt đầu được khơi dậy Thấy anh ăn nên làm ra, họ
bắt đầu ghen ghét và tìm đủ mọi cách ức hiếp “Họ thấy Lộ làm ngon ăn quá Họ
ngấm ngầm ghen với hắn và chẳng người nào bảo người nào, họ vô tình về hùa với nhau để báo thù” [2, tr 351] Họ bắt đầu xa lánh, khinh khi, coi thường anh “Trong những cuộc hội họp, nếu hắn có vui miệng nói chõ vào một vài câu, nhiều người đã
ra vẻ khinh khỉnh, không thèm bắt chuyện…” [2, tr 351] Khi đi ăn cỗ, anh định
ngồi chung bàn với họ nhưng“Lộ vừa chực ngồi cỗ, thì ba người ngồi trước đứng
cả lên, Lộ ngồi trơ lại một mình” Người ta ác lắm, cay nghiệt và lắm điều toan
tính, họ vẫn không buông tha vì “Người ta nhất định bêu xấu hắn” Tất cả những
thói đời ích kỉ, nhỏ nhen đầy toan tính trên như gián tiếp đẩy anh ra khỏi cộng đồng
và bị cách li một cách tuyệt đối Chính họ đã tước đoạt đi ở anh quyền được tự do, được hòa nhập, được chia sẻ của một con người
Qua số phận khốn cùng, thê thảm của người nông dân bần cố nông bị vùi dập, bị hắt hủi dưới bàn tay cay nghiệt, tàn độc của chế độ phong kiến, Nam Cao đã phanh phui, đã phơi bày, đã nhìn thẳng vào sự bất công, tàn nhẫn của những cuộc
đời không may mắn Ngòi bút Nam Cao xót thương, thấu hiểu cho những “đứa con
tinh thần” của mình, một hiện thực chua chát đến mức không còn đất dung thân cho
những con người lương thiện Họ bị xã hội thẳng tay từ chối, cự tuyệt họ một cách đau đớn Những số phận đó, cuộc đời đó cứ thế mà rơi dần vào bế tắc, vào sự tuyệt vọng, nhưng đâu đó đôi mắt Nam Cao vẫn nhìn thấy mầm sáng của hi vọng vẫn còn
le lói trong tâm hồn gần như mất đi tất cả niềm tin ấy và chính tình thương, tình yêu của con người là liều thuốc kì diệu giúp con người hồi sinh Đồng thời đó còn là một tiếng kêu cứu, lên án xã hội bất công đã vô tình đẩy người nông dân rơi vào thảm kịch, nó mang giá trị tố cáo rất lớn cái xã hội thực dân nửa phong kiến vô nhân đạo, đồng thời nó còn có sức thức tỉnh, lay động mạnh mẽ, làm cho tâm hồn người đọc day dứt khôn nguôi
Trang 392.3 Những con người bị tha hóa dẫn đến bi kịch
Viết về “cái hàng ngày”, hiện thực trong truyện ngắn Nam Cao là những
kiếp người luôn bị cái đói đeo bám Viết về người nông dân, Nam Cao đặc biệt chú
ý đến bi kịch của những kiếp người cùng khổ, ông viết lên những hoàn cảnh, những cuộc đời, những số phận hẩm hiu ấy với tấm lòng thương cảm sâu sắc Những con người bị xã hội ức hiếp, bị hắt hủi, bị đè nén, bị xúc phạm…xuất hiện hầu hết trên các trang viết của Nam Cao khi viết về đề tài người nông dân Vấn đề này, hầu hết
đã được các nhà văn khác đề cập đến, Ngô Tất Tố viết về Chị Dậu trong 3 ngày sưu thuế với tình cảnh hết sức ngặt nghèo: bán khoai, bán chó, bán con, bán sức…vẫn không đủ tiền đóng thuế Nguyễn Công Hoan miêu tả sự khốn cùng của người nông dân trước những tên quan lại mọt dân, ăn bớt từng đồng xu đến bần tiện và bủn xỉn Nhưng khác với họ, Nam Cao còn phản ánh một hiện thực ở người nông dân mà
chưa ai đào tới đó là “sự tha hóa” Người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao
bị hủy diệt trầm trọng khi họ bị đẩy vào cuộc sống khốn cùng không lối thoát, đến mức họ phải đánh mất đi nhân cách, bản tính tốt đẹp của mình như anh cu Lộ trong
“Tư cách mõ”, thậm chí mất cả phần người để trở thành quỷ dữ như Chí Phèo (Chí Phèo) Trong khi đó dù ở tình cảnh éo le, bế tắc như thế nào thì Ngô Tất Tố vẫn để
cho Chị Dậu giữ được vẻ đẹp nhân hậu của một người vợ yêu thương chồng con, tháo vát siêng năng và có sức phản kháng mạnh mẽ Chị vẫn được sống trong quan
hệ với những người xung quanh, vẫn được làm một con người chân chính Nhưng còn với những nhân vật bị dồn đến mức đường cùng trong truyện ngắn Nam Cao thì sao? Đây là một câu hỏi làm không ít người phải xót xa, phẫn uất Cái xã hội vốn
mang tiếng là “bằng phẳng” kia đã sinh ra họ, nuôi dưỡng họ rồi cũng chính cái xã
hội ấy đã vô tâm từ chối họ, cự tuyệt họ và loại trừ họ ra khỏi cái xã hội loài người
Để rồi những cuộc đời đó cứ mãi chìm ngập trong cái vòng lẫn quẫn đầy cám dỗ và hoàn toàn bất lực, bế tắc trước chính bản thân mình
Sự tha hóa trong truyện ngắn của Nam Cao trước hết đó là sự tha hóa về nhân cách, đánh mất đi lòng tự trọng, đạo đức lối sống của một con người Nguyên nhân dẫn đến sự biến chất trầm trọng đó không ai khác ngoài cái xã hội thiếu thốn tình người kia, chính nó đã áp bức, đã chèn ép, con người đến nỗi họ luôn phải sống trong đói khát, để rồi chính miếng ăn đã biến họ trở thành nô lệ, họ phải khuất phục,
Trang 40phải cúi đầu trước những cám dỗ tầm thường nhưng không hề đơn giản ấy Bà lão
trong tác phẩm “Một bữa no” là hình ảnh điển hình cho sự tha hóa ấy - tha hóa về
nhân cách, vì miếng ăn mà bà đánh mất đi danh dự, và lòng tự trọng của mình Đó
là nỗi đau làm Nam Cao không khỏi nhức nhói, không phải ngẫu nhiên mà ngòi bút lạnh lùng của ông cứ bình thản tự nhiên miêu tả cái quá trình biến chất của một con người, mà ở đây ông muốn nhấn mạnh cái nguyên nhân sâu xa đẩy con người vào tình cảnh lầm than như vậy Đứng trước cái sống mỏng manh và cái chết chỉ trong
gang tấc, như bản năng tồn tại thôi thúc một kẻ cùng đường “những lúc đói trí
người ta sáng suốt”, và đáng thương thay chính cái “sáng suốt” đó đã làm bà đánh
mất đi những phẩm chất tốt đẹp nhất để rồi phải nhận lấy một cái chết nhục nhã đó
là“chết no” Từ một người phụ nữ đảm đang, tháo vát, một người mẹ, người bà với bao đức tính tốt đẹp: thờ chồng, nuôi con, nuôi cháu “chạy xạc cả gấu váy, hết chợ
gần đến chợ xa” để kiếm từng đồng xu bà cháu sống qua ngày thì giờ đây bà trở
thành kẻ lang thang, đói rách, phải dò dẫm đin xin một bữa ăn trước con mắt khinh
rẻ của mọi người Nam Cao đã diễn tả cái quá trình ăn uống của bà một cách đầy thảm hại, bà ăn một cách cuống cuồng như sợ người ta ăn hết mất, vì ăn quá nhanh
nên “Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm Lập
cập quá bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát” [2, tr 286] Cái đói đã làm bà quên mất
đi giá trị của một con người, bà vẫn cặm cụi “kiên nhẫn” ngồi ăn, ăn lấy ăn để như
ngày mai bà không còn cơ hội ăn nữa, phải chăng sức mạnh của cái đói ghê gớm kia
đã chi phối, đã ám ảnh con người đến mức hủy hoại, thế nên bà đã cố ăn một cách
dồn nén như sợ ngày mai bà sẽ lại đói “Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột
Bà trộn mắm Bà rấm nốt” [2, tr 287] Ngòi bút Nam Cao cứ lạnh lùng, thản nhiên
miêu tả bi kịch của một con người tàn tạ, vì miếng ăn mà đánh mất đi lòng tự trọng đáng kiêu hãnh của một con người Sự tha hóa về nhân cách đã bắt đầu ăn mòn từ
khi bà đến lạy lục kẻ giàu sang xin ăn “nhờ” một bữa cơm để kéo dài sự sống Sự
tha hóa đó còn bắt đầu được hình thành khi Nam Cao đã cố tình đặc tả quá trình ăn
uống khốn khổ đến thảm hại của bà Để rồi kết thúc của cái ý nghĩ “sáng suốt” ấy
là một cái chết nhục nhã đầy đau đớn “Vào khoảng nữa đêm, bà thấy hơi đau bụng
Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng Rồi bà thổ Rồi bà tả Ôi chao! Ăn thật không bỏ mửa Bà tối tăm mặt