1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển dịch vụ y tế thành phố Đà Nẵng

78 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 581,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cải thiện tiếp cận, vùng phủ sóng và chất lượngdịch vụ phụ thuộc vào các nguồn lực này chính là có sẵn, về những cách dịch vụđược tổ chức và quản lý, và ưu đãi ảnh hưởng đến các nhà cung

Trang 1

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ Y TẾ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ

1.1 Dịch vụ y tế

1.1.1 Khái niệm dịch vụ

Theo lý thuyết kinh tế học, dịch vụ là một loại sản phẩm kinh tế không phải

là vật phẩm mà công việc của con người dưới hình thái lao động thể lực, kiến thức

và kỹ năng chuyên nghiệp, kinh nghiệm tổ chức và thương mại

Có nhiều ngành dịch vụ khác nhau và mỗi ngành có một đặc điểm riêng, tuynhiên, dịch vụ được các nhà nghiên cứu định nghĩa như sau:

Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bênkia chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu của một cái gì đó Dịch vụcủa nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất

Như vậy, dịch vụ cũng là một sản phẩm và phải được gắn liền với các hoạtđộng để tạo ra nó tùy theo đặc điểm và mục tiêu của từng loại hình dịch vụ đó Dịch

vụ không tồn tại dưới dạng hiện vật và không có các yếu tố cấu thành giống như sảnphẩm vật chất, do đó, dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với sản phẩm vậtchất, nên dịch vụ là sản phẩm có tính vô hình Con người không thể nhìn thấy dịch

vụ và không thể đánh giá, nhận xét như sản phẩm vật chất thông thường

1.1.2 Dịch vụ y tế

1.1.2.1 Khái niệm dịch vụ y tế

Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa ngườicung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ như: Khám chữabệnh, phòng bệnh, giáo dục sức khoẻ, tư vấn sức khoẻ do các cơ sở y tế Nhà nước(trạm y tế xã/phường, trung tâm y tế quận/huyện, các cơ sở y tế tuyến tỉnh, thànhphố và trung ương) và các cơ sở y tế tư nhân (phòng khám, bệnh viện tư, hiệuthuốc) cung cấp

Dịch vụ y tế là các chức năng dễ thấy nhất của bất kỳ hệ thống y tế, cả haicho người dùng và công chúng nói chung Dịch vụ cung cấp đề cập đến các đầu vàonhư tiền bạc, trang thiết bị, nhân viên và các loại thuốc được kết hợp để cho phép

Trang 2

việc cung cấp các can thiệp y tế Cải thiện tiếp cận, vùng phủ sóng và chất lượngdịch vụ phụ thuộc vào các nguồn lực này chính là có sẵn, về những cách dịch vụđược tổ chức và quản lý, và ưu đãi ảnh hưởng đến các nhà cung cấp và người sửdụng.

Có quan niệm cho rằng, dịch vụ y tế là hàng hoá y tế song không được sửdụng vì dễ bị lợi dụng để biện minh cho hoạt động y tế kiếm lời, trái đạo đức củathầy thuốc, nhưng trên thực tế các dịch vụ y tế vẫn ít nhiều mang tính chất của hànghoá: có nhu cầu, có người cung cấp và có người sử dụng thì phải trả tiền (có thểngười trả tiền là cá nhân, tập thể, Nhà nước)

Trong cơ chế thị trường, nhà sản xuất để có lợi nhuận tối đa sẽ căn cứ vàonhu cầu và giá cả thị trường để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào vàsản xuất cho ai Thông qua cơ chế thị trường, các nguồn lực của nền kinh tế tự độngphân bổ một cách tối ưu Tuy nhiên, để cơ chế thị trường thực hiện tốt được chứcnăng của mình, thị trường phải có môi trường cạnh tranh hoàn hảo, thông tin đầy đủ

và không bị ảnh hưởng bởi các tác động ngoại lai Trong lĩnh vực y tế, cơ chế thịtrường không thể vận hành một cách hiệu quả Các nhà phân tích kinh tế đã thừanhận trong thị trường y tế luôn tồn tại các yếu tố “thất bại thị trường”, cụ thể:

- Thị trường y tế không phải là thị trường tự do Trong thị trường tự do, giácủa một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa người mua

và người bán Trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ

do người bán quyết định

- Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhấtđịnh đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế Cụ thể, muốncung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo nhữngđiều kiện nhất định về cơ sở vật chất Nói một cách khác, trong thị trường dịch vụ y

tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo

- Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ.Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các chỉđịnh điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyết định của

Trang 3

thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung quyết định) Nếu vấn

đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng dịch vụ từ phía cungứng, đẩy cao chi phí y tế

- Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng” và mang tínhchất “ngoại lai” Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích không chỉ giớihạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những người không trả tiền(Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe) Chính điều này, không tạo rađược động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm việc cung ứng các dịch vụ đó thấp.Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của Nhànước trong cung ứng các dịch vụ y tế mang tính công cộng Chẳng hạn: Khu vực tưnhân tham gia vào nhiều dịch vụ chủ chốt, bao gồm cả kiểm soát bệnh tật và chămsóc sức khỏe trẻ em và sức khỏe sinh sản Tuy nhiên, tiêm chủng, kế hoạch hóa giađình và chăm sóc sức khỏe có chuyên môn, thường là lĩnh vực do khu vực côngcung cấp nhiều hơn Thậm chí ở Ấn Độ, những người chủ yếu chuyển sang nhàcung cấp dịch vụ tư để chữa bệnh, vẫn phải phụ thuộc vào khu vực công để tiêmchủng (93%) và chăm sóc tiền sinh sản (74%)

Do tính chất đặc thù của dịch vụ y tế và thị trường dịch vụ y tế, Nhà nướcđóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ Nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các dịch vụ y tế “công cộng” vàdịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên, còn để tư nhân cung ứng các dịch vụ y

tế tư Đồng thời, với sự tạo điều kiện thuận lợi phát triển các loại hình dịch vụ y tế

tư, vai trò quản lý của Nhà nước rất cần thiết trong việc kiểm soát giá cả và chấtlượng dịch vụ, tăng cường thông tin, thẩm định điều kiện hành nghề như đã nêu ởtrên Công cụ hữu hiệu nhất trong kiểm soát giá cả và dịch vụ cung ứng chính làphương thức chi trả phù hợp Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy rất khó kiểm soátcác yếu tố thất bại thị trường trong thị trường bảo hiểm y tế tư nhân Mục tiêu baophủ bảo hiểm y tế và tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản cho mọi người dân chỉ có thể đạtđược thông qua con đường bảo hiểm y tế toàn dân với sự hỗ trợ của Nhà nước chocác đối tượng như người nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số, người già…và sự thamgia tự giác của cộng đồng

Trang 4

Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sửdụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ

1.1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ y tế

Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở cácmức độ khác nhau Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thườngngười ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được

Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh) thường không

tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định Nóimột cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định cung” trong dịch vụ y tế

“Cung quyết định cầu” Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng điềutrị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định Như vậy,người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trịchứ không được chủ động lựa phương pháp điều trị

Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con người nênkhông giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưng người ta vẫn phảimua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt không giống các loại hàng hóa khác

Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trongtình trạng cấp cứu: Không thể chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ bằng mọi giá

Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức hay cũng có thể là một cá nhân

Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề theo quy địnhcủa Nhà nước

1.1.2.3 Phân loại dịch vụ y tế

* Phân loại theo đối tượng phục vụ: Có ba loại dịch vụ y tế: dịch vụ y tế

công cộng (public good), dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên (meritgood) và dịch vụ y tế cá nhân (private good)

- Dịch vụ y tế công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ nàykhông chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) cho người

sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ phòng bệnh,giáo dục y tế

Trang 5

- Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên: sẽ được dành cho một

số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ - trẻ em, người có công với cáchmạng

- Dịch vụ y tế cá nhân là các dịch vụ y tế chỉ cung ứng trực tiếp cho người sửdụng dịch vụ

* Phân theo từng loại hình dịch vụ y tế:

- Các dịch vụ nha khoa và y tế: Các dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích dựphòng, chẩn đoán và chữa bệnh qua tham vấn với các bệnh nhân mà không có chămsóc tại bệnh viện

- Các dịch vụ do hộ sinh, y tá, vật lý trị liệu và nhân viên kỹ thuật y tế cungcấp: Các dịch vụ như giám sát trong thai kỳ và sinh con chăm sóc (không nhậpviện), tư vấn và dự phòng cho bệnh nhân tại gia

- Các dịch vụ bệnh viện: Các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của bác sĩchủ yếu đối với các bệnh nhân nội trú nhằm mục đích chữa trị, phục hồi và/hoặcduy trì tình trạng sức khoẻ

- Các dịch vụ y tế con người khác: Các dịch vụ ngoại trú, các dịch vụ y tếkèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện

1.1.2.4 Tổ chức hoạt động dịch vụ y tế

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các hoạt động dịch vụ

y tế để đạt được tính công bằng và hiệu quả trong nền kinh tế xã hội Các chính sáchcủa Nhà nước nhằm đảm bảo kiểm soát các dịch bệnh lây lan, khuyến khích sự pháttriển của khoa học Bảo vệ người tiêu dùng tránh mua phải những dịch vụ khôngcần thiết, chất lượng kém hoặc chi phí cao

Sức khoẻ tốt đang ngày càng được xem như một quyền cơ bản của con ngườitrong xã hội Đảm bảo sức khoẻ tốt cho mọi người là việc rất cần thiết của chínhphủ Hiện nay, ở Việt Nam đang lấy dịch vụ y tế Nhà nước làm chủ đạo và pháttriển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân Nhà nước nắm trong tay nguồn nhânlực y tế, đặc biệt là y tế cơ sở tuyến quận/huyện, tuyến xã/phường và thôn bản Nhànước lấy nguồn NSNN làm nguồn tài chính chủ yếu cho y tế để chủ động điều

Trang 6

chỉnh kinh phí cho vùng nghèo và các đối tượng nghèo cũng như các đối tượnghưởng chính sách (những người có công với nước), thực hiện công bằng xã hộitrong chăm sóc sức khoẻ và giải quyết những việc bức bách, cấp thiết của các vụdịch hoặc những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra Trong giai đoạn hiện nay,nhiệm vụ của khu vực y tế công là đảm bảo ba mục tiêu lớn:

+ Tăng cường sức khoẻ nhân dân,

+ Thực hiện công bằng xã hội trong CSSK,

+ Tăng cường hiệu quả và chất lượng trong chăm sóc sức khoẻ

Tuy lấy dịch vụ y tế Nhà nước là chủ đạo nhưng hiện nay chúng ta vẫn kếthợp phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân vì dịch vụ y tế Nhà nước tuy

có các ưu điểm nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ thiếu tính cạnh tranh Trong hoàncảnh nền kinh tế nước ta hiện nay nguồn ngân sách Nhà nước có hạn và tốc độ tăngtrưởng kinh tế chưa cao, sự phát triển không đồng đều giữa nông thôn và thành thị,giữa đồng bằng và miền núi, có bộ phận dân cư giàu lên nhưng đại bộ phận vẫn ởmức nghèo Vì vậy, việc huy động tài chính từ một bộ phận dân cư giàu lên để đỡmột phần gánh nặng NSNN, đó là việc làm cần thiết

Xã hội hoá y tế là một chiến lược quan trọng nhưng muốn đảm bảo được sựcông bằng theo hướng XHCN thì không thể lấy việc giải quyết khó khăn của nguồnNSNN cung cấp cho ngành y tế và làm giảm gánh nặng cho NSNN là mục đích đầutiên của XHH, mà phải lấy việc giải quyết nhu cầu của công tác CSSK trong khinền y tế công chưa thể thoả mãn được nhu cầu này làm mục đích chính

Hệ thống y tế tư nhân ở Việt Nam bao gồm các phòng khám, bệnh viện của

tư nhân, các hiệu thuốc tư nhân hoạt động vì lợi nhuận cũng như không vì lợinhuận, các tổ chức phi Chính phủ YTTN hoạt động theo luật HNYDTN năm 1993,chủ yếu cung cấp các dịch vụ KCB ngoại trú và một số dịch vụ chẩn đoán

1.1.2.5 Kiểm tra đánh giá hoạt động dịch vụ y tế

Với một nguồn lực nhất định, chúng ta đều muốn đạt được nhiều lợi ích hơnkhi sử dụng nó Trong thực tế nguồn lực luôn hạn hẹp, do vậy phải lựa chọn biệnpháp tốt nhất để sử dụng Để đạt được mục tiêu của mình, các cơ sở y tế và cả cơ

Trang 7

quan bảo hiểm đều phải đối mặt với sự lựa chọn để tìm ra những giải pháp tốt nhấtcho việc sử dụng các nguồn lực Bất kể quốc gia nào, nguồn lực dành cho y tế luônhạn hẹp và luôn phải cạnh tranh với lĩnh vực khác Với mục đích như vậy, kiểm tra

và đánh giá hoạt động dịch vụ y tế là vấn đề không thể thiếu trong hoạt động dịch

vụ y tế, song các phương pháp kiểm tra và đánh giá trở nên phức tạp vì dịch vụ y tế

là hàng hoá công cộng được cung cấp cho tất cả mọi người trong xã hội nên không

có giá cả trong thị trường

* Các phương pháp đánh giá dịch vụ y tế:

- Phân tích giảm thiểu chi phí (Cost Minimization Anlysisa – CMA) dựa trên

các phát hiện dịch tễ học, kỹ thuật này dùng để xác định các chi phí can thiệp nhỏnhất

- Phân tích chi phí hiệu quả (Cost Effectiveness Analysis - CEA) Phát hiện

phương pháp tốt nhất để hoàn thành một mục tiêu đơn bằng cách so sánh chi phí vớihiệu quả:

+ Loại can thiệp nào trong một số can thiệp sẽ hoàn thành với chi phí nhỏnhất

+ Với một ngân sách cố định, loại can thiệp nào sẽ tối đa hoá hiệu quả củachi phí

+ Các kết quả đánh giá sẽ được biểu hiện bằng chi phí, hoặc hiệu quả tínhbằng đơn vị tiền tệ

- Phân tích chi phí lợi ích (Cost Bebefit Analysis – CBA) Đó là việc định giá

cả chi phí và lợi ích thành tiền, so sánh chúng, lượng giá xem đề án, chương trình

có phải là điều mong muốn không, qua cách sử dụng các tiêu chuẩn để ra quyếtđịnh: Nếu tỷ số Lợi ích/Chi phí >1 là khả thi

- Phân tích chi phí hữu dụng (Cost Unitity Analysis - CUA) là một dạng của

CEA nhưng nó đo lường hiệu quả của một dự án, chương trình bằng tính hữu dụng,

có thể hướng vào việc tối thiểu hoá chi phí hoặc tối đa hoá hiệu quả

1.2 Vai trò của phát triển dịch vụ y tế trong việc phát triển kinh tế - xã hội

Dịch vụ y tế bao gồm các nhà dưỡng lão, bệnh viện, bác sĩ, nha sĩ, hiệu

Trang 8

thuốc, dịch vụ cấp cứu y tế… Một câu hỏi quan trọng là tại sao dịch vụ chăm sócsức khỏe ngày càng tăng nhanh đến vậy?.

Vai trò chăm sóc sức khỏe như là một ngành công nghiệp cơ bản, xuất khẩuchỉ là một phần ảnh hưởng của một nền kinh tế Chăm sóc y tế sử dụng lao động vàngười lao động được người mua quan trọng của hàng hóa và dịch vụ hỗ trợ cơ sởkinh doanh nhiều địa phương Các nghề nghiệp và nhân viên trong công tác chămsóc sức khỏe, chẳng hạn như công nhân nhà bệnh viện và y tá, bác sĩ, nha sĩ, dượcsĩ; là một nguồn thu nhập quan trọng trong cộng đồng hỗ trợ các dịch vụ như nhà ở

và xây dựng, cơ sở bán lẻ, nhà hàng và dịch vụ địa phương khác Các bệnh viện và

cơ sở y tế khác cũng được mua đầu vào quan trọng của địa phương như dịch vụ giặt

là, quản lý chất thải và các nguồn lực khác

Sự tồn tại của một mạng lưới chăm sóc sức khỏe mạnh có thể giảm chi phíchăm sóc sức khỏe cho các công ty và nhân viên của họ và cung cấp các dịch vụ giátrị gia tăng cho các công ty như sức khỏe nghề nghiệp Ngoài ra, người về hưu vàcông nhân sẽ có nhiều khả năng lựa chọn các dich vụ chăm sóc sức khỏe chấtlượng

Như vậy, có 3 vai trò quan trọng cho việc chăm sóc y tế trong phát triển kinhtế: (1) là một ngành công nghiệp cơ sở kinh tế thu hút USD từ bên ngoài, (2) cónhân viên và các tổ chức được mua hàng hóa tại địa phương và các dịch vụ và (3) làmột yếu tố để các doanh nghiệp tuyển dụng và người lao động

1.3 Nội dung của phát triển dịch vụ y tế

1.3.1 Khái niệm phát triển dịch vụ y tế

Phát triển dịch vụ y tế không chỉ là sự gia tăng thuần túy về mặt lượng củacác chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: viện phí, công suất sử dụng giường bệnh… mà nó còn

là những biến đổi về mặt chất của ngành y tế, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấungành theo hướng CNH – HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao chấtlượng các loại hình dịch vụ thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: tuổi thọ trung bình, tỷ

lệ chết của trẻ sơ sinh và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vàophát triển kinh tế - xã hội…

Trang 9

1.3.2 Nội dung của phát triển dịch vụ y tế

1.3.2.1 Về quy mô mạng lưới cơ sở y tế

Thực hiện phân bổ ngân sách dựa trên mức thu nhập và nhu cầu chăm sócsức khoẻ, mức độ bao phủ của bảo hiểm y tế và khả năng chi trả viện phí của ngườidân tại mỗi vùng Ngân sách Nhà nuớc ưu tiên đầu tư cho vùng nghèo, vùng núi vàcác hoạt động y tế dự phòng, y học cổ truyền, các hoạt động chăm sóc sức khoẻ banđầu tại y tế cơ sở, khám chữa bệnh cho người nghèo và các đối tượng chính sách

Nhà nước cần phải đầu tư cho các mục tiêu chương trình y tế quốc gia vàmột số chương trình sức khoẻ ưu tiên để chủ động giải quyết các vấn đề sức khoẻ.Ngân sách Nhà nước tập trung cho những chương trình có tác động rộng rãi đến sứckhoẻ và đời sống kinh tế - văn hoá xã hội của cộng đồng Bố trí, cân đối lại tỷ trọngđầu tư từ ngân sách Nhà nước, vay vốn hoặc viện trợ để đảm bảo tính bền vững củacác chương trình

Thực hiện cơ chế chính sách tài chính mới tại một số bệnh viện ở các thànhphố lớn tiến tới tự cân đối thu chi thường xuyên dựa trên BHYT và viện phí Nhànước sẽ hỗ trợ cho đầu tư phát triển và thực hiện các chính sách của Nhà nước trongkhám chữa bệnh

- Về hệ thống mạng lưới y tế:

Đầu tư nâng cấp hệ thống khám chữa bệnh một cách đồng bộ, phù hợp vớinhu cầu từng vùng và khả năng kinh tế xã hội Tập trung nguồn lực cho việc nângcấp các cơ sở khám chữa bệnh ở trung tâm y tế chuyên sâu Phân tuyến chuyên môn

kỹ thuật và có quy định chuyển tuyến chặt chẽ hơn để giảm bớt tình trạng quá tải ở

Trang 10

các bệnh viện tuyến trên Sớm hoàn thành quy hoạch mạng lưới khám chữa bệnh,chuẩn hoá các phương tiện và kỹ thuật thường quy, sử dụng có hiệu quả và khaithác hết công suất các thiết bị trong chuẩn đoán và điều trị Xây dựng danh mụcthuốc điều trị phù hợp với nhu cầu của bệnh viện

Tập trung triển khai tốt quy chế bệnh viện, cải cách các thủ tục hành chínhtrong khám chữa bệnh để tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân Đảm bảo điều kiệnphục vụ các bệnh nhân tại cơ sở khám chữa bệnh như ăn, ở và sinh hoạt Tiếp tụcgiáo dục cán bộ toàn ngành y tế thấm nhuần y đức xoá bỏ tiêu cực trong bệnh viện,đổi mới cơ chế quản lý các dịch vụ y tế

Đa dạng hoá các cơ sở khám chữa bệnh bao gồm các cơ sở của Nhà nước, y

tế các ngành, cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài, bán công và tư nhân

Theo Nghị định về hành nghề y dược tư nhân, có 10 loại cơ sở y tế tư nhântrong đó 4 loại thuộc về các cơ sở y học cổ truyền tư nhân và có 4 loại thuộc các cơ

sở dược tư nhân, đó là:

+ Các bệnh viện, các nhà hộ sinh, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyênkhoa, phòng khám chữa răng, phòng xét nghiệm và thăm dò chức năng, phòng Xquang, các trung tâm phẫu thuật thẩm mỹ, các trung tâm phục hồi chức năng, các trungtâm điều dưỡng, cơ sở làm dịch vụ kế hoạch hóa gia đình hay dịch vụ tiêm, truyền

+ Các bệnh viện y học cổ truyền, các phòng khám y học cổ truyền, các trungtâm phục hồi chức năng bằng y học cổ truyền và các trung tâm điều dưỡng, các cơ

sở châm cứu y học cổ truyền, các cơ sở tắm hơi, xoa bóp

+ Các nhà thuốc tư, đại lý của các công ty dược phẩm, các xí nghiệp dượcphẩm, công ty trách nhiệm hữu hạn, và những người bán thảo dược

Trang 11

- Kiện toàn về tổ chức và xây dựng các trung tâm dịch vụ kỹ thuật trang thiết

bị y tế, hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp quy về trang thiết bị y tế Đầu tư trangthiết bị y tế theo phân tuyến kỹ thuật của hệ thống phòng bệnh và khám chữa bệnh

- Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong lĩnhvực trang thiết bị y tế với các nước và các ngành, nhằm phát triển nền công nghiệptrang thiết bị y tế ở Việt Nam

Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, kỹ thuật cao vàquy trình tự động hoá cao đòi hỏi phải đổi mới cơ chế quản lý nhân lực y tế, tiêuchuẩn hoá việc đào tạo các loại hình cán bộ cho từng tuyến Cải cách chương trìnhgiảng dạy, đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng đào tạo hướng vào việc hìnhthành các năng lực và phẩm chất đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cộng đồng,thực hiện các chương trình y tế và sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật y họchiện đại

Phân bổ lực lượng cán bộ y tế phù hợp giữa các vùng theo nhu cầu chăm sócsức khoẻ của nhân dân Sắp xếp lại nhân lực ở các cơ sở y tế tuyến tỉnh/thành phố,tuyến quận/huyện để có thể điều động luân phiên các bác sĩ về tăng cường cho y tế

cơ sở Nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường kỷ luật lao động và y đức của cán

bộ y tế

1.3.2.2 Chủng loại dịch vụ y tế

Một nhiệm vụ ít nhiều dễ thực hiện hơn là hỗ trợ cho việc tự chăm sóc sứckhỏe từ gia đình và cộng đồng, ví dụ như thông tin nhằm hỗ trợ sự thay đổi hành vidinh dưỡng và tình dục Dịch vụ này là hoàn toàn tùy quyết bởi vì nó phải phù hợpvới môi trường xã hội của từng gia đình, song lại đòi hỏi ít các giao dịch chuyênmôn hơn so với các dịch vụ chữa bệnh cá nhân

Trang 12

Một số dịch vụ chuyên nghiệp, mặc dù mang tính chuyên môn cao và gồmnhiều giao dịch, cũng được chuẩn hóa tốt và bớt tính tùy quyết hơn Những dịch vụloại này bao gồm các dịch vụ đáp ứng nhu cầu đồng nhất của công chúng - ví dụnhư kiểm soát truyền nhiễm, tiêm chủng, bổ sung vitamin A, hoặc tuyên truyền vềbệnh đái đường.

Các xét nghiệm chuẩn đoán và khám sức khỏe chung có tính chất phòngngừa, ở mức thường xuyên theo yêu cầu của bệnh nhân, vượt quá điểm mà chúngđược cung cấp như chăm sóc cơ bản

Các dịch vụ bảo vệ sức khỏe nhằm duy trì hay tăng cường thể lực, ví dụ nhưthể dục, xoa bóp, điều trị bằng tắm hay xông

Trong trường hợp các bệnh cấp tính, việc đảm bảo điều kiện thoải mái hơn

so với đảm bảo y tế cơ bản Nếu việc vào viện là không thể tránh khỏi, thì chỗ nằmtiện nghi hơn mức đảm bảo y tế cơ bản cung cấp (nằm phòng riêng, thiết bị tốt hơn,phòng có máy lạnh, tivi, radio, ăn uống khá hơn…) Sự tiện nghi, thoải mái hơn này

có thể có nhiều cấp độ với các mức phí khác nhau

Điều trị tại gia, yêu cầu thêm chăm sóc của bác sĩ hay y tá

Trong các loại thuốc có thể thay thế nhau về mặt y học, và bệnh nhân chọnthuốc đắt hơn thay cho thuốc rẻ hơn

Phẫu thuật thẩm mỹ và phẫu thuật chỉnh hình vì mục đích thẩm mỹ…

1.3.2.3 Về chất lượng dịch vụ y tế

Được thể hiện thông qua những chỉ tiêu y tế đạt được như: giảm số ca tửvong, giảm tỷ lệ mắc, giảm mức độ thương tật… hay là sự thỏa mãn của bệnh nhân,thời gian chờ đợi, mức độ sẵn có của thuốc men, thái độ phục vụ của bác sĩ và ytá…

* Dịch vụ y tế dự phòng

Vì qui mô của các bệnh mà nước ta đang đối phó rất lớn, chúng ta không thể

kì vọng rằng xây thêm bệnh viện hay nhập thiết bị y khoa hiện đại sẽ giải quyếtđược vấn đề Nhu cầu tăng cường cơ sở vật chất y tế hiện đại là cần thiết nhưngmang tính cấp thiết, bởi vì một nhu cầu khác lâu dài hơn và quan trọng hơn là xây

Trang 13

dựng một mạng lưới y tế cộng đồng hay y tế dự phòng Tại sao cần phải xây dựngmạng lưới y tế dự phòng? Câu trả lời đơn giản là tại vì chúng ta muốn phòng bệnhhơn là chữa bệnh.

Y tế dự phòng không chỉ quan tâm đến các bệnh truyền nhiễm hay suy dinhdưỡng, mà còn liên quan trực tiếp đến các bệnh mãn tính như tim mạch, viêm khớpxương, đái tháo đường, cao huyết áp, tai biến, loãng xương, ung thư,… Y tế dựphòng quan niệm rằng sự phát sinh các bệnh mãn tính là hệ quả của một quá trìnhtích lũy những rối loạn sinh lí qua phơi nhiễm các yếu tố nguy cơ Do đó, can thiệpvào các yếu tố nguy cơ sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh ở qui mô cộng đồng

Các yếu tố nguy cơ này có thể chia thành 2 nhóm: nhóm có thể can thiệpđược và nhóm không thể can thiệp được Các yếu tố không có thể can thiệp đượcnhư tuổi tác và di truyền Nhưng các yếu tố có thể can thiệp được như dinh dưỡng,vận động thể lực, lối sống (hút thuốc lá, thói quen rượu bia), môi trường sống (nhưnước, không khí, phương tiện đi lại),… Từ đó, các chiến lược y tế dự phòng là làmthay đổi các yếu tố có thể can thiệp được để nâng cao chất lượng sống cho cộngđồng Tình trạng sức khỏe có thể được thể hiện qua hai nhóm chỉ số:

- Các chỉ số tiêu cực: Sức khỏe được thể hiện qua các chỉ số đo lường quy

mô của các tình trạng sức khỏe không mong muốn hoặc gánh nặng do chăm sóc sứckhỏe: tần suất mắc bệnh, các yếu tố nguy cơ, gánh nặng bệnh tật… Mục tiêu củacác chương trình y tế là nhằm giảm quy mô của các tình trạng không mong muốn,giảm gánh nặng bệnh tật

- Các chỉ số tích cực: Sức khỏe được thể hiện qua các chỉ số đo lường chất

lượng cuộc sống và khả năng thực hiện các chức năng khác nhau: chức năng chămsóc, chức năng xã hội, chức năng tình dục, chức năng gia đình… Mục tiêu của cácchương trình y tế là làm tăng các chỉ số sức khỏe tích cực Cụ thể như sau:

Thực hiện các mục tiêu Chương trình Quốc gia thanh toán một số bệnh xãhội và dịch bệnh nguy hiểm

Chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra.Củng cố hệ thống báo cáo, giám sát dịch tễ, hiện đại hoá hệ thống quản lý số liệu để

Trang 14

có các thông tin kịp thời cho việc xử lý các vụ dịch Lãnh đạo chính quyền tỉnh,thành phố có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, cung cấp nguồn lực, huy động các banngành, đoàn thể và nhân dân tham gia phòng chống dịch và các chương trình nhưcung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường

Triển khai thực hiện rộng rãi các chương trình phòng chống các bệnh khôngnhiễm trùng như: tim mạch, ung thư, đái tháo đường

Tham gia tích cực trong việc phòng chống tai nạn thương tích, nhất là tai nạngiao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Tăng cường quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển độingũ thanh tra và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại tất cả các tuyến

Triển khai mạnh mẽ chương trình sức khoẻ sinh sản, làm mẹ an toàn, chămsóc sản khoa thiết yếu và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình

Thực hiện các chương trình chăm sóc sức khoẻ trẻ em như: Phòng chống suydinh dưỡng, sức khoẻ vị thành niên Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao nângcao sức khoẻ

* Dịch vụ khám chữa bệnh được thể hiện qua một số chỉ tiêu sau (theo Quyết

định số 40/2006/QĐ-BYT ngày 25 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế vềviệc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành y tế):

- Số lượt khám bệnh: Chỉ tiêu này đánh giá tình hình sức khỏe và kết quảhoạt động khám chữa bệnh của các cơ sở y tế, các tuyến và các địa phương Đồngthời, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch cung cấp dịch vụ y tế như nhân lực,trang thiết bị, thuốc men

Tổng số lượt điều trị nội trú = ∑ lượt bệnh nhân điều trị nội trú trong 1 năm

Dân số trung bình trong cùng năm

- Tổng số ngày điều trị của người bệnh nội trú: đánh giá tình hình hoạt động

và năng lực chuyên môn của các cơ sở khám chữa bệnh tại các tuyến và các vùng

Trang 15

Số ngày điều trị nội trú

trung bình 1 người bệnh =

∑ ngày điều trị nội trú trong 1 năm

∑ lượt người điều trị nội trú trong cùng năm

- Tổng số lần phẫu thuật: đánh giá năng lực cán bộ y tế, mô hình dịch vụ

Tỷ lệ phẫu

thuật (%) =

 lượt bệnh nhân điều trị nội trú trong 1 năm

× 100

 lượt người điều trị nội trú trong cùng năm

- Tổng số xét nghiệm: phản ánh chất lượng và khả năng cung cấp dịch vụ của

cơ sở y tế

Số xét nghiệm/người/năm =

 xét nghiệm của người bệnh trong 1 năm xác định

 lượt khám bệnh

- Tổng số lượt chụp X quang: đánh giá chất lượng chẩn đoán và năng lực cán

bộ y tế trong các cơ sở khám chữa bệnh

= ∑ lượt người mắc/chết theo bệnh

trong 1 năm xác định

Trang 16

Tỷ suất mắc/chết bệnh trên

100.000 dân Dân số trung bình trong cùng năm

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ y tế

1.4.1 Nhân tố khách quan

1.4.1.1 Dân số

Yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ chăm sóc y tế.Nhờ những tiến bộ y khoa thời gian qua mà tuổi thọ trung bình của con người trênthế giới đã tăng nhanh và số người già cần được trợ giúp và chăm sóc thường xuyên

đã gia tăng đều đặn, đặc biệt là tại các nước phát triển, kéo theo chi phí chăm sóc y

tế cũng tăng mạnh

Đối với các nước đang phát triển, xu hướng dễ nhận thấy là dân số trẻ, tỷ lệtrẻ em dưới 16 tuổi rất lớn và yếu tố này có tác động lớn đến sự phát triển của dịch

vụ y tế học đường…

1.4.1.2 Ô nhiễm môi trường

Với tốc độ đô thị hoá nhanh, nhiều khu dân cư được quy hoạch mở rộng, hạtầng cơ sở được chỉnh trang, nhiều khu công nghiệp, khu du lịch được mở ra Đồngthời, đi cùng với quá trình đô thị hoá này sẽ dẫn đến vệ sinh môi trường phức tạpnhưng chưa được chú ý đầu tư giải quyết, tình trạng ô nhiễm môi trường do ảnhhưởng của quá trình phát triển và các chất thải công nghiệp làm ảnh hưởng không ítđến sức khỏe nhân dân, vì vậy, đi kèm với nó phải có hệ thống mạng lưới y tế cầnthiết để phục vụ

1.4.1.3 Thiên tai, lũ lụt

Thiên tai, lũ lụt dễ gây ra dịch bệnh cũng như ảnh hưởng xấu đến sức khoẻcủa nhân dân, vì vậy, ngành y tế phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, phương tiệntham gia phục vụ nhân dân khi có tình huống xấu xảy ra

1.4.1.4 Khoa học công nghệ

Sự thay đổi công nghệ - ở dạng các loại thuốc mới, các quy trình mới, và cácthiết bị mới – đã cách mạng hóa việc điều trị đối với nhiều điều kiện sức khỏe, làmtăng cả sự sử dụng lẫn chi phí của một mức sử dụng cho trước

Trang 17

Hiện nay, kỹ thuật điện tử và công nghệ tin học đã được ứng dụng trong việcnghiên cứu chế tạo hàng loạt các thiết bị y tế hiện đại nhằm thực hiện mục tiêu pháthiện bệnh sớm, chẩn đoán chính xác để kịp thời phòng và chữa bệnh cho nhân dân.

Ngoài ra, phát triển dịch vụ y tế còn phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước,môi trường đầu tư, giá đầu vào…

1.4.2 Nhân tố chủ quan

1.4.2.1 Thu nhập

Khi người dân có thu nhập cao hơn sẽ có khả năng sử dụng nhiều dịch vụchăm sóc sức khỏe hơn và có điều kiện sử dụng dịch vụ với giá cả cao hơn Mứcthu nhập cao đáp ứng dịch vụ y tế tuyến 2, tuyến 3 và các dịch vụ y tế tư nhân cũng

có nghĩa là sự chênh lệch trong sử dụng dịch vụ y tế giữa các nhóm giàu và nhómnghèo sẽ gia tăng trong một hệ thống y tế định hướng thị trường

1.4.2.2 Giá cả dịch vụ

Giá dịch vụ y tế càng cao thì yêu cầu đối với các dịch vụ đó càng thấp Điều

đó lý giải tại sao tỷ lệ sử dụng dịch vụ của người nghèo lại thấp hơn người giàu – vìgiá những dịch vụ mà họ phải chi trả là cao so với thu nhập Chất lượng chấp nhậnđược của dịch vụ cũng phần nào ảnh hưởng đến yêu cầu Cùng một giá cả dịch vụ,

sự cải thiện về chất lượng dịch vụ bị người dân đánh giá là kém thì tỷ lệ sử dụngdịch vụ sẽ thấp Yếu tố này đi ngược lại lợi ích của người nghèo, vì ở hầu hết cácnước, so với người giàu thì người nghèo chỉ có đủ điều kiện tiếp cận những dịch vụ

có chất lượng thấp hơn Điều đó cũng có nghĩa là cần căn cứ vào chất lượng dịch vụ

để định giá cho những dịch vụ y tế mà người nghèo sử dụng

Ví dụ: Nhu cầu về sử dụng dịch vụ y tế của một người có thể thấy thông qua

số lần khám của anh ta tại trung tâm y tế trong một năm Nếu giá cả 1 lần khám là1.000đ, anh ta sẽ đến trung tâm y tế 3 lần, nhưng nếu giá là 2.000đ thì anh ta sẽ chỉđến 2 lần Tại mức giá 2.000đ, anh ta sẽ không đến TTYT nếu anh ta có vấn đề vềsức khỏe mà anh ta cho là ít nghiêm trọng Anh ta đã đi theo triết lý “Mọi thứ kháckhông thay đổi” Mặc dù việc anh ta đến TTYT phụ thuộc rất nhiều vào giá cả dịch

Trang 18

vụ y tế, nhưng cùng một lúc nó cũng phụ thuộc vào những nhân tố khác như là tìnhtrạng sức khỏe của anh ta Nếu anh ta không hay bị ốm, nhu cầu về dịch vụ y tế củaanh ta sẽ thấp ngay cả khi giá cả của dịch vụ này thấp.

1.4.2.3 Trình độ học vấn

Bằng chứng thực tế cho thấy, những người có học vấn cao hơn thì sử dụngdịch vụ y tế nhiều hơn so với những người không có học vấn Điều này, đặc biệtđúng đối với việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ em; những đứa trẻ mà mẹ có họcvấn cao hơn thì khi ốm đau thường có điều kiện để được điều trị hơn là những đứatrẻ mà mẹ học vấn thấp hoặc không có học vấn Người nghèo điển hình là có trình

độ học vấn thấp hơn và thực tế này giúp giải thích tại sao họ có mức sử dụng dịch

vụ y tế thấp hơn người giàu

1.5 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ y tế trong và ngoài nước

1.5.1 Phát triển dịch vụ y tế ở thành phố Hồ Chí Minh

Với quyết tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thành phố Hồ Chí Minh trongnhững năm qua luôn duy trì khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 12%/năm Để đạt được mức tăng trưởng như vậy, thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra một

số nhiệm vụ cụ thể về phát triển các dịch vụ y tế

Đó là xây dựng 5 khu điều trị kỹ thuật cao, gồm 1 khu trung tâm là các bệnhviện hiện nay, và 4 khu cửa ngõ vào thành phố: 1- Bình Chánh, Bình Tân, quận 8;2- Thủ Đức, quận 9, quận 2; 3 - Củ Chi, Hóc Môn, quận 12; 4- Cần Giờ, Nhà Bè,quận 7 Xây dựng khu xét nghiệm kỹ thuật cao, trung y học cổ truyền thành phố hòanhập với các quốc gia khu vực và thế giới Xây dựng viện trường ở Củ Chi (quy mô

100 ha, vốn đầu tư khoảng 85 triệu euro) phục vụ lâu dài cho công tác đào tạo cán

Trang 19

nhân sự để đạt chuẩn quốc tế bằng việc thực hiện các chính sách:

- Thu hút đầu tư từ mọi nguồn lực trong xã hội nhằm thực hiện tốt công tác

xã hội hoá y tế

- Về nhân lực: Cơ sở y tế được phép mời chuyên gia về hội chẩn, mờichuyên gia của đơn vị khác, chuyên gia đến khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnhviện, mổ các trường hợp khó… tại đơn vị mình;

- Cho phép tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ theo hợp đồng và đượcthanh toán từ NSNN, như dịch vụ vệ sinh, giặt là, duy tu, bảo dưỡng thiết bị máymóc công nghệ cao, cung cấp thực phẩm để ban lãnh đạo bệnh viện tập trung vàovấn đề quan trọng hơn của các dịch vụ y tế

- Cho phép cùng tổ chức một bộ phận cung cấp dịch vụ y tế, cùng hạch toántrong cơ sở y tế công

- Bộ phận khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnh viện công được phép giaocho một tổ chức y tế tư nhân phụ trách

- Liên doanh góp vốn mở một khoa KCB theo yêu cầu với nước ngoài

- Dịch vụ cung cấp thuốc ngoài danh mục thuốc thiết yếu trong bệnh viện

- Công tư phối hợp trong tạo nguồn tài chính cho các hoạt động CSSK.+ Tư nhân bỏ vốn mua thiết bị y tế đặt tại các cơ sở y tế công, tự lo cả kinhphí bảo dưỡng, được thu hồi vốn thông qua việc thu phí dịch vụ Bệnh viện có thiết

bị phục vụ khám chữa bệnh, trả tiền sử dụng máy thông qua cơ chế trích một tỷ lệ

cố định trên số phí dịch vụ thu được

+ Công tư góp vốn bằng hình thức cổ phần để xây dựng bộ phận bán côngtrong cơ sở y tế công hoặc hoạt động độc lập như một vệ tinh của cơ sở công lập đó

+ Tư nhân cho cơ sở y tế công lập vay tiền để đầu tư mua sắm trang thiết bị,nhà, cơ sở hạ tầng Đơn vị vay trả dần bằng ngân sách hàng năm hoặc trả bằngnguồn viện phí thu được từ hoạt động chuyên môn

Chính cơ chế này đã và đang thúc đẩy sự phát triển dịch vụ y tế của thànhphố Hồ Chí Minh thành trung tâm cung cấp dịch vụ y tế lớn nhất trong cả nước

Trang 20

Đánh dấu sự chuyển mình của ngành y tế Việt Nam phù hợp với nền kinh tế thịtrường hiện nay.

Ví dụ: Hai trung tâm cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao ở thành phố Hồ

Chí Minh là Trung tâm Medic Bình Tân, bệnh viện Chợ Rẫy đang được đầu tư dự

án PET-CT có chức năng sản xuất chất đồng vị phóng xạ dùng chẩn đoán ung thư.Chi phí cho hệ thống trị giá 5 triệu USD So với những kỹ thuật chẩn đoán khác,PET-CT có độ chính xác cao hơn, lên đến 93% trong xác định tính chất lành hay áccủa khối u phổi, 92% trong phát hiện di căn gan Trong bệnh lý thần kinh trungương, PET - CT đánh giá được những tổn thương u còn sót lại sau điều trị bằng tia

xạ hoặc hoá chất Ngoài ra, PET - CT đánh giá tốt tiến triển điều trị bệnh mạchvành, xác định vùng cơ tim bị tổn thương có thể điều trị được hay không

Hiện ở khu vực ASEAN, chỉ Singapore và Philippines có PET - CT Như thếViệt Nam là nước thứ ba trong khu vực trang bị được kỹ thuật tiên tiến này Chi phíchụp PET - CT tại Singapore khoảng 3.500 USD, nếu tính cả chi phí đi lại cũng mất5.000 USD Trong khi với PET - CT trong nước, người dân chỉ mất khoảng 1.000USD Dịch vụ y tế chất lượng cao này sẽ được thành phố HCM đưa vào danh mục

kỹ thuật dùng trong BHYT nên nó đáp ứng không chỉ người có tiền, mà ngườinghèo cũng có thể tiếp cận được với kỹ thuật cao này

Trong kế hoạch lâu dài chủ trương của ngành y tế thành phố HCM, một sốbệnh viện như: Medic Bình Tân, bệnh viện Chợ rẫy, bệnh viện Tù Dũ đã được đầu

tư để đạt chuẩn quốc tế sẽ là nơi tiếp nhận các bác sĩ nước ngoài thực tập và điều trịbệnh nhân nước ngoài, biến y tế trở thành một dịch vụ kinh tế thu ngoại tệ Đây là

mô hình mà các quốc gia Ấn Độ, Singapore, Thái Lan đã áp dụng thành công

1.5.2 Phát triển dịch vụ y tế ở Singapore

Có người nói, y học Singapore với tay sang những nước chung quanh vìngười dân của họ được chăm sóc y tế quá tốt, nên không còn mấy người ốm đau,bệnh tật Vì thế, để tồn tại, các cơ sở y tế nước này buộc phải đi kiếm bệnh nhân từbên ngoài Cách lý giải đó phần nào đúng, nhưng đúng hơn là trước sau như mộtngười Singapore vẫn trung thành với chiến lược phát triển đất nước bằng việc cung

Trang 21

cấp dịch vụ chất lượng cao, trong đó y tế là mảnh đất phì nhiêu.

Là một quốc đảo nhỏ bé với hơn bốn triệu dân, không có tài nguyên thiênnhiên, đến nước sinh hoạt còn phải nhập khẩu, Singapore chỉ dựa vào nguồn tàinguyên duy nhất là con người Từ lâu Singapore đã xác định muốn tồn tại phát triển

và phồn thịnh, họ phải tập trung mạnh vào công nghệ và dịch vụ chất lượng caotrong đó công nghệ sinh y học và dịch vụ y tế

Trong chiến lược phát triển kinh tế từ nay và trong tương lai, công nghệ sinh

y học và dịch vụ y tế được coi là một trong những trụ cột chính của nền kinh tếSingapore Nói đi đôi với làm, trong những năm vừa qua, chính phủ Singapore đãđầu tư rất mạnh cho công nghệ sinh y học, tăng cường hơn nữa việc “nhập khẩuchất xám” đầu tư cơ sở hạ tầng và đào tạo, quyết tâm biến Singapore thành trungtâm hàng đầu thế giới về công nghệ sinh y học

Dịch vụ y tế cũng được đẩy mạnh tạo điều kiện tốt hơn nữa cho bệnh nhânnước ngoài Trong rất nhiều hội nghị, các vị bộ trưởng trong chính phủ Singaporeluôn nhắc đến cụm từ: “bán kính 5 giờ bay” (5 hour flight radius) ý nói chỉ trong 5giờ bay Singapore đã có một thị trường khổng lồ với hơn 2,7 tỷ dân trong đó có 560triệu dân ASEAN, và hơn hai tỷ dân Ấn Độ và Trung Quốc với tiềm năng kinh tếlớn Và đương nhiên Việt Nam được coi là một điểm sáng trong “bán kính 5 giờ”này

Các tập đoàn y tế nhà nước và tư nhân của Singapore đã mở văn phòng đạidiện ở khắp mọi nơi trên thế giới nhưng thị trường trọng điểm của họ vẫn là cácnước ASEAN Ở Việt Nam có các văn phòng như: Singhealth, NHG, Parkway,Raffles Tạo thuận lợi cho người bệnh nước ngoài, tập đoàn Raffles mở cả vănphòng tại sân bay quốc tế Changi, để đón tiếp bệnh nhân sau khi hạ cánh

Tại các bệnh viện Singapore, người ta thấy chung một công thức, đó là uytín, trọng thị và rõ ràng Các chuyên gia tâm lý đã khẳng định, yếu tố tâm lý tácđộng rất nhiều đến sự chuyển biến của bệnh tật Trong quá trình chữa bệnh, điều trị

về tinh thần là vô cùng quan trọng Có những người mắc bệnh nan y như ung thư,nếu được sống trong một môi trường thân thiện, thoải mái, tâm lý tốt, có thể kéo dài

Trang 22

cuộc sống thêm vài năm, thậm chí là vài chục năm Chính điều này, đã được các bác

sĩ tại Singapore áp dụng rất thành công và cũng chính như vậy đã làm cho đất nướcSigapore trở thành nước xuất khẩu dịch vụ y tế đứng đầu ASEAN “Bệnh viện ởSingapore lộng lẫy như khách sạn, nó giống chỗ nghỉ ngơi du lịch hơn là nơi chữabệnh Bác sĩ nơi đây thân thiện như người trong gia đình, và đặc biệt là không hề cómùi của thuốc tẩy Tôi không có cảm giác là mình đang bị bệnh ” Đó là tâm sựcủa một bệnh nhân Việt Nam đã từng đi chữa bệnh tại Singapore

Trang 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

GIAI ĐOẠN 2001 – 2009 2.1 Tổng quan thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Vị trí của thành phố

Đà Nẵng nằm ở trung độ của đất nước, là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên vàcác nước: Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước Đông Bắc Á quatuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây; nằm ngay trên một trong những tuyến đườngbiển, đường hàng không quốc tế

Ngoài ra, Đà Nẵng còn ở gần các di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới như:Phong Nha - Kẽ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn

2.1.2 Dân số

Dân số của Đà Nẵng năm 2000 là 716,28 nghìn người, đến năm 2009 là890,49 nghìn người và đạt tốc độ tăng dân số bình quân 2,45%/năm, cao hơn mứctăng của cả nước (1,15%/năm)

Trong 10 năm qua (giai đoạn 1999 - 2009), tốc độ tăng dân số bình quânhàng năm cao nhất là Liên Chiểu với tốc độ tăng 7,4%/năm Tiếp theo là Cẩm Lệ vàNgũ Hành Sơn Đây là những quận không nằm tại trung tâm thành phố Quận HảiChâu - là quận trung tâm - có tốc độ tăng trưởng chậm nhất, chỉ 0,7%/ năm

Tốc độ đô thị hoá nhanh nên tỷ lệ tăng dân số cao và mật độ dân số Đà Nẵngcũng tăng theo, từ 570 người/km2 năm 2000 lên 694 người/km2 năm 2009 (mật độdân số toàn miền Trung đạt 197 người/km2 và cả nước là 260 người/km2)

2.1.3 Kinh tế, xã hội và môi trường

2.1.3.1 Kinh tế - xã hội

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Đà Nẵng cao liên tục qua các năm, tăng bìnhquân giai đoạn 2001 - 2009 đạt mức 11,73%/năm Trong đó, công nghiệp tăng12,47%/năm, dịch vụ tăng 12,30%/năm, nông nghiệp tăng 0,95%/năm

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và ngànhcông nghiệp, giảm ngành nông nghiệp Năm 2009, ngành dịch vụ 51,5%, ngànhcông nghiệp - xây dựng 44,58%, ngành nông nghiệp 3,9%

Trang 24

Thu nhập bình quân đầu người của nhân dân thành phố liên tục tăng trưởngqua các năm, từ 7 triệu đồng/người năm 2000 lên 27,696 triệu đồng/người năm

2009 (gấp 3,43 lần)

2.1.3.2 Môi trường

Trong những năm qua, với nỗ lực toàn diện trong việc chú trọng phát triểnkinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và đảm bảo yếu tố phát triển bền vững, côngtác bảo vệ môi trường của Đà Nẵng có những chuyển biến tích cực Thành phố đãtriển khai dự án điều tra và đánh giá hiện trạng, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụcông tác quản lý nước ngầm; ban hành các quy định về bảo đảm trật tự an toàn và

vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng, thi công trong các khu công nghiệp;thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp; ban hành Chỉ thị vềphong trào ngày Chủ nhật xanh - sạch - đẹp Nhiều đề án, dự án về môi trường đượctập trung cao độ như: xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọngthuộc 05 ngành ưu tiên (sắt thép, giấy, vật liệu xây dựng, dệt nhuộm, chế biến thủysản) Đặc biệt, thành phố đã triển khai dự án thoát nước và vệ sinh, hệ thống thugom chất thải rắn và nước thải đưa về trạm xử lý tập trung, góp phần giải quyết cơbản tình trạng ngập úng và ô nhiễm môi trường

Tóm lại, 1 trong năm hướng đột phá chiến lược về phát triển kinh tế - xã hộicủa Đà Nẵng là phát triển các ngành dịch vụ trong đó phát triển dịch vụ y tế thànhmột thế mạnh của thành phố (theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ XX Đảng bộ

TP Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2010 - 2015) Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu CSSK ngày càngcao của nhân dân, hệ thống y tế thành phố Đà Nẵng cần tiếp tục đổi mới và có địnhhướng phát triển từng lĩnh vực … để phát triển ngành một cách ổn định, hiệu quả,bền vững

2.2 Thực trạng sức khỏe nhân dân và mô hình bệnh tật

2.2.1 Tình hình bệnh tật

Theo tổ chức y tế thế giới, các bệnh gây tử vong hàng đầu trên thế giới như bệnhtim mạch, ung thư, bệnh đường hô hấp dưới mạn tính, tai nạn (liên quan đến rượu), đáitháo đường, cảm cúm và viêm phổi, bệnh Alzheimer, bệnh thận, nhiễm trùng

Trang 25

Có nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến sức khỏe như môi trường sống, lối sống

có hại như uống nhiều bia rượu, hút thuốc lá, lười vận động, ăn uống vô độ… Nếucác yếu tố này được điều chỉnh sớm thì có thể ngăn ngừa bệnh không xảy ra

Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2001 – 2009 thường hay xuấthiện các bệnh với số người mắc bệnh cao như: bệnh lỵ trùng; lỵ a mip; hội chứnglỵ; ỉa chảy; sốt xuất huyết; thủy đậu; quai bị; ARI (<5); viêm phế quản; viêm phổi;cúm; tai nạn, ngộ độc, chấn thương các loại Trong đó, các bệnh gây tử vong là ỉachảy; sốt xuất huyết; viêm phổi; tai nạn, ngộ độc, chấn thương các loại (như Hình

2.1)

Hình 2.1: Các bệnh lây và bệnh quan trọng hay mắc và gây chết ở Đà Nẵng

(Nguồn: Báo cáo thống kê y tế các năm của Sở Y tế Đà Nẵng)

Trang 26

Bảng 2.1: Những nguyên nhân mắc bệnh và tử vong tại bệnh viện, 2006

Nguyên nhân nhập viện % so với

tổng số

Nguyên nhân tử vong trong bệnh viện

% so với tổng số

ARI (<5) 22,84 Tai nạn, ngộ độc, chấn

Tai nạn, ngộ độc, chấn

(Nguồn: Báo cáo thống kê y tế năm 2006 của Sở Y tế Đà Nẵng)

Tỷ lệ mắc và diễn biến của một số bệnh phổ biến ở Đà Nẵng được trình bàynhư sau:

Tiêu chảy: tỷ lệ mắc đã giảm rất nhiều trong giai đoạn 2001 – 2009, hiện tiêuchảy không còn là nguyên nhân gây tử vong nữa (Sở y tế Đà Nẵng, 2009).Những yếu tố làm giảm tỷ lệ chết do tiêu chảy gồm có sự cải thiện trong việccung cấp nước sạch, dinh dưỡng chung của trẻ em được nâng cao, tăngcường sử dụng bồi phụ nước qua đường ống và các bà mẹ được giáo dục tốthơn về cách xử trí khi trẻ bị tiêu chảy

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT): là một trong những nguyên nhânmắc bệnh hàng đầu ở Đà Nẵng năm 2006 Khác với tiêu chảy, NKHHCT – đặc biệt

là viêm phổi và viêm phế quản – là những nguyên nhân gây tử vong chính (chiếm30,67% so với tổng số năm 2006) Nguyên nhân là do ảnh hưởng trực tiếp của ônhiễm không khí và điều kiện nhà ở khó khăn ở những khu vực nghèo Ngoài ra,tình hình kháng thuốc gia tăng – hậu quả của việc sử dụng kháng sinh không hợp lý– cũng làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị NKHHCT

Tai nạn, chấn thương và ngộ độc: thuộc những nguyên nhân chính dẫn đến tửvong tại các bệnh viện (như Hình 2.1) Đây là xu hướng thường gặp ở cáctỉnh/thành phố đang có quá trình đô thị hóa tăng nhanh

Trang 27

- Các chấn thương do tai nạn giao thông, lao động.

- Bệnh của người lớn tuổi (bệnh tim mạch)

- Nhóm bệnh về nội tiết

Tốc độ gia tăng dân số cơ học và tự nhiên ở một số khu dân cư tập trungcũng như điều kiện vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm chưa đảm bảo nên cómột số bệnh truyền nhiễm như: bệnh sốt xuất huyết, tả lỵ, thương hàn…

Từ mô hình bệnh tật, chúng ta sẽ có những định hướng rõ ràng hơn trongviệc phát triển dịch vụ y tế nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám, chữa bệnh củanhân dân trên địa bàn Đà Nẵng và các địa phương lân cận

2.3 Tình hình phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.3.1 Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ y tế trên địa bàn Đà Nẵng

2.3.1.1 Phân theo cấp quản lý:

- Các cơ sở do Trung ương và các Bộ ngành trên địa bàn thành phố quản lý:gồm 5 đơn vị là:

+ Bệnh viện C Đà Nẵng (thuộc Bộ Y tế) có diện tích đất 25.000m2, quy mô

850 giường, đạt bệnh viện hạng I vào năm 2002

+ Bệnh viện Quân Y 17 (thuộc quân khu V- Bộ quốc phòng) có qui mô 230giường bệnh, đã bổ sung trang thiết bị y tế chuyên ngành

+ Bệnh viện Giao thông vận tải (thuộc Bộ giao thông vận tải) có diện tích đất10.000 m2, qui mô 100 giường bệnh

+ Bệnh viện 199 (thuộc Bộ công an) có diện tích xây dựng 18.000 m2, qui

mô 150 giường bệnh, là bệnh viện hạng II

+ Bệnh viện Chỉnh hình – PHCN Đà Nẵng (thuộc Bộ Lao động – TB & XH)được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Chỉnh hình - PHCN Đà Nẵng trướcđây, với quy mô 320 giường bệnh

Trang 28

- Các cơ sở do địa phương quản lý: gồm 87 cơ sở.

2.3.1.2 Phân theo hệ y tế:

- Hệ dự phòng: gồm 9 đơn vị

+ Trung tâm Y tế dự phòng: có diện tích khoảng 1.000 m2, được xếp hạng Itrong các đơn vị dự phòng của thành phố Trung tâm có chức năng tổ chức thựchiện công tác y tế dự phòng trên địa bàn thành phố nhằm chủ động tích cực phòngchống dịch bệnh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về bảo vệ, chăm sóc và nâng caosức khoẻ người dân

+ Trung tâm Kiểm nghiệm: có diện tích khoảng 500m2 Trung tâm có chứcnăng tổ chức thực hiện trong việc kiểm tra, giám sát và quản lý chất lượng các loạithuốc, mỹ phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người được sản xuất, lưuhành trên địa bàn

+ Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ sinh sản: có diện tích mặt bằng 602,73m2

(tòa nhà 3 tầng và tòa nhà 2 tầng) Trung tâm có chức năng tham mưu, chỉ đạo, quản

lý và thực hiện công tác bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em trên địa bàn thành phố

+ Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ: có diện tích đất sử dụng 100

m2 Trung tâm thực hiện đa dạng hóa các loại hình truyền thông như truyền hình,đài phát thanh địa phương, sách báo, tờ rơi hay những buổi tư vấn trực tiếp… nhằmđem lại cho người dân sự thuận lợi nhất trong việc đón tiếp những thông tin cầnthiết về chăm sóc sức khỏe ban đầu

+ Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế: có diện tích sử dụng là 292 m2 Côngtác kiểm dịch y tế quốc tế được tăng cường tại các sân bay, bến cảng, 100% cácphương tiện xuất nhập cảnh được giám sát Tất cả thủy thủ, phi hành đoàn và hànhkhách đến và đi đều được khai báo xuất nhập theo qui định của Luật Kiểm dịch Y tếquốc tế

+ Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS: hiện đang làm việc chung trụ sở vớitrung tâm Y tế Dự phòng Việc thành lập trung tâm nhằm tập trung các đầu mốiphòng chống HIV/AIDS của thành phố, đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp canthiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV theo quy định

Trang 29

+ Chi cục Dân số - KHHGĐ: có cơ sở hạ tầng khá rộng so với tổ chức bộmáy của chi cục nhưng cũng đã xuống cấp Chi cục có nhiệm vụ tổ chức triển khaithực hiện hệ thống chỉ tiêu, chỉ báo thuộc lĩnh vực dân số - KHHGĐ, quy trìnhchuyên môn và nghiệp vụ về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản – KHHGĐtrên địa bàn thành phố

+ Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm: thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về vệ sinh an toàn thực phẩm; thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ vàthanh tra chuyên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Đà Nẵng

+ Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế: có diện tích 400 m2 (nhà 3tầng).Trung tâm có nhiệm vụ đào tạo lại cho cán bộ y tế tuyến quận/huyện,xã/phường Ngoài ra, trung tâm còn phối hợp với trường Đại học Y Dược Huế vàcác cơ sở đào tạo khác để đào tạo cán bộ đại học, trên đại học và chuyên khoa sâu

- Hệ điều trị: gồm 83 đơn vị (năm 2009) trong đó:

+ Tuyến thành phố có 1 bệnh viện đa khoa, 6 bệnh viện chuyên khoa, với1.440 giường bệnh; 4 đơn vị không có giường bệnh

+ 5 bệnh viện đa khoa Bộ, ngành với 1.300 giường bệnh

+ Quận/ huyện có 6 bệnh viện, với 760 giường bệnh

+ 56 trạm y tế xã/ phường với 392 giường bệnh

+ Tư nhân có 676 cơ sở hành nghề y: gồm 05 bệnh viện tư nhân (thêm 1bệnh viện chuyên khoa sản: bệnh viện Phụ nữ) 296 giường; 22 phòng khám đakhoa, 480 phòng khám chuyên khoa, 168 cơ sở dịch vụ y tế (hiện có 5 dự án bệnhviện tư nhân đã được các cấp phê duyệt và đang tiến hành đầu tư xây dựng: bệnhviện Mắt, bệnh viện đa khoa Hòa Xuân, bệnh viện Bình dân II, bệnh viện phòngkhám Gia đình, bệnh viện Ung thư)

Cụ thể như sau:

+ Đơn vị có giường bệnh: có 7 đơn vị

Bệnh viện Đà Nẵng: được xếp là bệnh viện hạng I, diện tích đất sử dụng là24.373 m2, diện tích xây dựng 12.543 m2 Qui mô 1.100 giường bệnh (từ năm2009) Bệnh viện Đà Nẵng là đơn vị duy nhất có khoa ung bướu với 10 giường, 10

Trang 30

bác sĩ, hiện luôn trong tình trạng quá tải, chưa đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh chobệnh nhân.

Bệnh viện Da Liễu: được công nhận là bệnh viện hạng II, có 70 giườngbệnh Bệnh viện đã đáp ứng yêu cầu khám và điều trị chuyên sâu về bệnh da liễucho nhân dân thành phố Đà Nẵng và các tỉnh lân cận Ngoài ra, bệnh viện còn phụtrách công tác chỉ đạo tuyến chương trình phòng chống bệnh phong và các bệnh lâytruyền qua đường tình dục trên địa bàn Đà Nẵng

Bệnh viện Mắt: hiện có 100 giường bệnh Việc đưa vào sử dụng Trung tâmchăm sóc bệnh nhân đa chức năng với tổng diện tích 5.500m2 do tổ chức AtlanticPhilanthropies tài trợ đã nâng tầm Bệnh viện Mắt Đà Nẵng ngang hàng với cácbệnh viện nhãn khoa đầu ngành

Bệnh viện Tâm Thần: có 180 giường bệnh, được công nhận là bệnh việnhạng II Bệnh viện có chức năng khám phát hiện, thu dung và điều trị bệnh nhântâm thần trên địa bàn thành phố Ngoài ra, bệnh viện còn phụ trách công tác quản lý

dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng

Bệnh viện Y học cổ truyền: có 100 giường bệnh, đóng vai trò quan trọngtrong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân bằng phương pháp cổtruyền

Bệnh viện Điều dưỡng – Phục hồi chức năng: có 70 giường bệnh, là bệnhviện hạng III

Bệnh viện Lao và bệnh Phổi: có 70 giường bệnh, có chức năng khám vàđiều trị bệnh lao phổi Ngoài ra, còn chỉ đạo tuyến chương trình mục tiêu Quốc giaphòng chống bệnh lao trong cộng đồng trên địa bàn Đà Nẵng

+ Đơn vị không có giường bệnh: có 4 đơn vị

Trung tâm Răng Hàm Mặt: diện tích sử dụng của trung tâm có quy mô nhỏ(gần 200 m2), thiếu không gian để lắp đặt trang thiết bị y tế hiện đại, chưa thể đápứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân Ngoài ra, trung tâm còn có nhiệm vụchỉ đạo tuyến về công tác nha học đường

Trung tâm Pháp y: có chức năng giám định, phục vụ gián tiếp sức khỏe conngười Đồng thời, hỗ trợ các cơ quan tố tụng định khung hình phạt

Trang 31

Trung tâm Giám định y khoa: sử dụng chung với trung tâm Pháp y, nằmtrong khuôn viên bệnh viện Đà Nẵng Trung tâm có chức năng giải quyết các trườnghợp tai nạn lao động, mất sức lao động và các bệnh nghề nghiệp theo yêu cầu của

xã hội

Trung tâm Cấp cứu Đà Nẵng: diện tích sử dụng tăng nhanh trong thời gianqua, cụ thể, năm 2000 chỉ có 200 m2, đến nay là 11.000 m2 Trong thời gian qua,trung tâm đã phục vụ kịp thời công tác cấp cứu người bị nạn trên địa bàn thành phố

Để mở rộng phạm vi cấp cứu, giải quyết có hiệu quả các trường hợp cấp cứu tai nạncũng như cấp cứu bệnh tật, UBND thành phố đã cho đầu tư xây dựng 03 trạm cấpcứu trung chuyển phân bố trên địa bàn các quận, huyện

2.3.1.3 Phân theo quy mô:

- Bệnh viện gồm 18 bệnh viện trong đó: 5 bệnh viện Trung ương, 7 bệnhviện địa phương và 6 bệnh viện quận/huyện

- Trung tâm: gồm 11 trung tâm

- Trạm y tế xã/phường có 56 trạm

2.3.1.4 Phân theo tuyến:

- Tuyến thành phố: gồm có các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, có khả năngđáp ứng hầu hết các yêu cầu về điều trị bệnh ở mức độ chuyên khoa Gồm có 30 cơ

sở (kể cả Trung ương; Bộ, ngành; tư nhân) với 3.036 giường bệnh và 2.951 cán bộ ytế

- Tuyến quận, huyện: gồm phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện

quận/huyện Là nơi điều trị ban đầu với những kỹ thuật đơn giản, giải quyết cáctrường hợp cấp cứu và bệnh tật thông thường Có 6 trung tâm y tế quận/ huyện vớiquy mô là 760 giường bệnh và 786 cán bộ y tế

- Tuyến xã, phường: gồm trạm y tế xã/ phường, trạm y tế cơ quan xí nghiệp

làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu Có 56 trạm y tế xã/ phường với 392giường bệnh và 308 lao động

Trang 32

Hình 2.2: Mô hình mạng lưới y tế trên địa bàn Đà Nẵng năm 2009

Với mô hình như trên, hệ thống y tế công lập được quản lý chặt chẽ, xuyênsuốt từ tuyến thành phố đến tuyến xã/phường nên có sự đồng bộ, thống nhất về kỹthuật chuyên môn, cũng như việc nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ y tế ởtuyến dưới Tuy nhiên, cũng gặp nhiều hạn chế trong việc phân cấp ngân sách, huyđộng nguồn lực của địa phương Hệ thống y tế tư nhân phát triển ngày càng mạnh

mẽ, phù hợp với chủ trương xã hội hóa công tác y tế của thành phố Đà Nẵng, chịu

sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước

Hệ thống mạng lưới y tế trên địa bàn Đà Nẵng

Hệ thống mạng lưới y

tế công lập

Hệ thống y

tế tư nhân

Các đơn vị y tế địa phương

Đơn vị y tế Trung ương

và các Bộ ngành trên địa bàn thành phố: 5 đơn vị

Tuyến

xã phường:

56 trạm

y tế

Trang 33

Tỷ trọng bệnh viện công lập trong

(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng).

Bảng 2.2 cho ta thấy được hệ thống các bệnh viện công lập trên địa bànthành phố luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số (> 70%), mặc dù có sự biến độngqua các năm nhưng bệnh viện công lập vẫn chứng tỏ vai trò chủ đạo trong ngành y

tế thành phố

Năm 2000 bệnh viện công lập chiếm tỷ trọng 87,5% trong tổng số, nhưngđến năm 2009 tỷ trọng này giảm xuống còn 78,26% (xem Hình 2.3) Chứng tỏ, xuhướng xã hội hóa y tế Đà Nẵng đang ngày càng được đẩy mạnh, phù hợp với chủtrương phát triển của ngành trong tương lai

Hình 2.3: Tỷ trọng bệnh viện công lập trong tổng số

Trang 34

Hệ thống y tế ngoài công lập tại thành phố Đà Nẵng tiếp tục phát triển mạnh,nhiều cơ sở y tế tư nhân được thành lập dưới nhiều hình thức khác nhau như trungtâm bác sĩ gia đình, bệnh viện tư nhân, các cơ sở hành nghề y dược… nhằm giảmtình trạng quá tải ở hệ thống y tế công lập (xem Hình 2.4).

Hình 2.4: Cơ sở y tế tư nhân trên địa bàn Đà Nẵng qua các năm

2.3.2 Quy mô các cơ sở y tế

2.3.2.1 Cơ sở vật chất

* Tình hình đầu tư cho ngành y tế:

- Tỷ lệ ngân sách chi cho y tế so với tổng chi ngân sách địa phương và y tếphí bình quân hàng năm cho một người dân qua các năm như sau:

Y tế phí bình quân hàng năm cho một người dân ở mức thấp hơn so với toànquốc nhưng tăng nhanh từ năm 2006 trở đi Điều này chứng tỏ, sau năm 2006, ngườidân thành phố mới thực sự được quan tâm bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ đúng mức

Về con số tuyệt đối, ngân sách chi cho y tế tăng theo hàng năm Tuy nhiên,

về tỷ lệ chi cho y tế so với tổng chi ngân sách địa phương giảm dần trong giai đoạn

2001 - 2009, nguyên nhân là do trong giai đoạn này tốc độ tăng tổng chi ngân sáchđịa phương tăng nhanh hơn tốc độ tăng ngân sách chi cho y tế (xem Bảng 2.3) Có

Trang 35

thể nói ở tất cả các lĩnh vực, các hoạt động đều bị hạn chế do thiếu kinh phí nhưnâng cấp cơ sở, trang thiết bị và khoa học công nghệ…

Bảng 2.3: Ngân sách chi cho ngành y tế Đà Nẵng qua các năm

(Nguồn: Các báo cáo hàng năm của sở Y tế)

Nhìn chung, công tác tài chính đã có những chuyển biến tốt, việc quản lý tàichính tại các đơn vị trong ngành ngày càng đi vào nề nếp, đảm bảo qui định theoLuật ngân sách Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn như ngân sách Nhà nước giaocho ngành Y tế còn thấp, chủ yếu chi cho con người (80%), ngân sách không bổsung cho các nhiệm vụ giao thêm hoặc cho việc giải quyết quá tải của các đơn vị

- Về nguồn vốn đầu tư, trong giai đoạn 2001 – 2009, ngành y tế chủ yếu tậptrung vốn đầu tư xây lắp và trang thiết bị y tế cho hệ điều trị có giường bệnh Trong

đó, bệnh viện đa khoa 600 giường (Trung tâm phụ sản – nhi) được đầu tư mạnhnhất (chiếm tới 55,88% tổng số vốn đầu tư cho tuyến thành phố); các trung tâmchuyên khoa chưa được đầu tư đúng mức (hầu hết chiếm dưới 1% tổng số vốn) Cơ

sở hạ tầng của các trung tâm còn chật hẹp, trang thiết bị y tế chưa tiếp cận với côngnghệ tiên tiến và hiện đại, đa số các trung tâm đang thực hiện việc cổ phần hoá vềtrang thiết bị

Các TTYT tuyến quận/huyện cũng được nâng cấp, mở rộng quy mô, dần dầntách ra thành các bệnh viện đa khoa quận/huyện trong những năm tới Giai đoạn

2001 – 2009, đầu tư vốn nhiều nhất ở quận Sơn Trà (chiếm 33,42% tổng vốn đầutư) và quận Hải Châu (chiếm 18,85% tổng số vốn) Trong khi đó, 56 trạm y tế/56

Trang 36

xã, phường ở 8 quận/huyện đều được đầu tư xây dựng, nâng cấp từ nhiều nguồnkinh phí (ngân sách Nhà nước, viện trợ nước ngoài…) với tổng số vốn đầu tư là36.795 triệu đồng (chiếm 10,67% tổng số vốn) (Phụ lục 5).

Bên cạnh đó, Sở Y tế đã tích cực vận động viện trợ đạt hiệu quả cao, giảiquyết nhu cầu cấp thiết của đơn vị và toàn ngành, với tổng giá trị viện trợ là254,553 tỷ đồng trong giai đoạn 2001 - 2009 Một số tổ chức có thể kể đến nhưJICA - Nhật Bản, Đông tây hội ngộ - Mỹ, UNFPA, AOGWR - Úc, CounterpartInternational Mỹ, AFRF - Pháp, Atlantic Philanthropies - Mỹ, Vets with A Mission -Mĩ… Các hình thức viện trợ phát triển cũng hết sức đa dạng và phong phú bao gồmcác khoản viện trợ không hoàn lại; nguồn vốn vay ưu đãi; hợp tác về khoa học kỹthuật: trao đổi kinh nghiệm, cử chuyên gia giảng dạy, đào tạo cán bộ, chuyển giaocông nghệ

Đa số các dự án, chương trình tài trợ của các tổ chức quốc tế đều tập trungvào đầu tư TTBYT, đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ nhân viên y

tế cơ sở; tài trợ xây dựng mới, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật cũng không ngừngđược đẩy mạnh nhằm nâng cao chất lượng KCB, chăm sóc sức khoẻ cộng đồngngày càng cao

* Về vấn đề xử lý rác thải:

Nhìn chung, phần lớn các đơn vị đã thực hiện quy chế rác thải y tế theo chỉđạo chung của Bộ Y tế, có phân công bộ phận chịu trách nhiệm kiểm tra giám sátviệc thực hiện việc phân loại, thu gom vận chuyển rác 100 % đơn vị đều cử cán bộtham dự các lớp tập huấn về quản lý chất thải y tế, nhất là việc phân loại thu gomvận chuyển do Sở Y tế mở hàng năm Hầu hết tại các đơn vị, cán bộ y tế có ý thức

về quản lý rác thải Đã sử dụng bao chứa rác 3 màu phân biệt đen, vàng, xanh tạicác khoa, phòng làm việc

Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại và bất cập Đó là, hợp đồng thu gom, vậnchuyển, xử lý rác với công ty Môi trường đô thị chưa rõ ràng về trách nhiệm; rácthải nguy hại tại bệnh viện chưa được tiền xử lý một cách triệt Việc triển khai quychế quản lý chất thải y tế chưa đồng bộ; việc phân loại rác tại nguồn chưa thực hiện

Trang 37

nghiêm ngặt Dụng cụ trang bị thu gom rác chưa đúng quy định, nhất là qui định vềnhãn, chất lượng bao bì, thùng đựng rác; chưa có nhà lưu giữ rác tại hầu hết các cơ

sở Phương tiện vận chuyển rác trong khuôn viên bệnh viện không đảm bảo vệ sinh

và an toàn (hầu hết là xách tay); 100% đơn vị chưa lập hồ sơ xử lý rác thải y tế đúngqui định…

Tỷ số giường bệnh /10.000 dân Giường 40,91 42,16 41,98 42,97 42,89

Công suất sử dụng giường bệnh % 62,90 82,04 85,08 97,37 96,04

(Nguồn: Báo cáo thống kê y tế các năm của Sở Y tế Đà Nẵng)

Ta thấy rằng, với số lượt khám bệnh/người/năm liên tục tăng qua các năm(năm 2000 có 1,4 lượt nhưng đến năm 2009 có 2,78 lượt) và tốc độ tăng số lầnkhám ở cơ sở tư nhân cao hơn nhiều so với ở cơ sở công Điều này, chứng tỏ nhucầu khám chữa bệnh của người dân rất cao, chủ yếu ở tư nhân Vì vậy, số giườngbệnh trên địa bàn cũng gia tăng nhanh chóng để đáp ứng kịp nhu cầu của nhân dân,được thể hiện qua tỷ số giường bệnh/10.000 dân và công suất sử dụng giường bệnhliên tục tăng qua các năm (Bảng 2.4)

Số giường bệnh công lập cũng có xu hướng ngày càng tăng nhanh và đạt tốc

độ tăng bình quân giai đoạn 2001- 2009 là 2,99%/năm Nhưng tỷ số giường bệnh

Trang 38

công lập/10.000 dân có xu hướng tăng nhẹ (xem Bảng 2.5) Điều này chứng tỏ, y tếthành phố Đà Nẵng đã cố gắng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc sức khoẻcủa nhân dân.

Bảng 2.5: Tỷ số giường bệnh công lập/10.000 dân

(Nguồn: Các báo cáo hằng năm của sở Y tế)

Giai đoạn 2001 - 2006, công suất sử dụng giường bệnh ở các tuyến trên địabàn thành phố đều có xu hướng gia tăng, cao nhất vẫn ở tuyến thành phố Chứng tỏ,nhu cầu nhập viện điều trị của người dân rất lớn nhưng lại tập trung chủ yếu ở tuyếntrên, gây nên tình trạng quá tải Điều này, làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc vàphục hồi sức khoẻ của người bệnh Nguyên nhân dẫn đến sự quá tải có thể kể đến:

+ Chưa có sự phân tuyến rõ ràng trong kỹ thuật điều trị

+ Do tình trạng xuống cấp các cơ sở khám chữa bệnh tuyến quận, huyện.+ Giao thông thuận tiện, bệnh nhân có thể vượt tuyến lên bệnh viện tuyến trên.+ Khả năng chi trả trong dân cao hơn trước

+ Nhu cầu KCB với chất lượng cao và đa dạng của người dân tăng

Nhưng đến giai đoạn 2007 – 2009, con số này đã có sự thay đổi theo địnhhướng của ngành y tế Cụ thể, tuyến thành phố có xu hướng giảm (chủ yếu làmnhiệm vụ chỉ đạo xuống tuyến dưới theo Quyết định 1816/2008/QĐ-BYT ngày26/5/2008 của Bộ Y tế về đề án cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện

Năm Giường bệnh Tỷ số giường bệnh công lập/10.000 dân

Trang 39

tuyến trên về hỗ trợ tuyến dưới), tuyến quận/huyện có xu hướng gia tăng, còn tuyếnxã/phường có xu hướng giảm mạnh (điều này càng khẳng định, trong tương laituyến xã/ phường chỉ làm nhiệm vụ dự phòng) ( xem Hình 2.5).

Hình 2.5: Công suất sử dụng giường bệnh ở các tuyến trên địa bàn.

Hiện nay, khi mức sống của người dân tăng lên thì điều trị ngoại trú cũng có

xu hướng tăng nhanh, bệnh nhân đủ điều kiện có thể mời bác sĩ về chăm sóc tại nhà.Điều này, giải thích lý do số người điều trị ngoại trú gia tăng trong giai đoạn 2001 –

2008, nhưng đến năm 2009 lại giảm Trong khi đó, số bệnh nhân điều trị nội trútăng qua các năm (xem Hình 2.6)

Ngày đăng: 28/03/2018, 19:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w