1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển dịch vụ y tế chăm sóc người HIVAIDS ở thành phố hà nội

93 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 563,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá và đa dạng hoá Ngành Y tế Việt Nam, với việc coi “Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của cộng đồng và của mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp

Trang 1

HOÀNG TUYẾT ANH

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ CHĂM SÓC NGƯỜI HIV/AIDS

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

Acquired Immune Deficiency Syndrome AIDS

Chỉ số 1 loại tế bào phát hiện HIV CD4

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh CDC

Chỉ số đánh giá hạnh phúc của con người HPI

Giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi HSS+

Cơ quan Hợp tác Quốc Tế Nhật Bản JICA

Chương trình phát triển liên hợp quốc UNDP

MỤC LỤC

Tran g

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT

TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ HIV/AIDS

12

1.1 Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết phát triển dịch vụ y

tế chăm sóc người có HIV/AIDS

12

1.2 Nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ Y

tế chăm sóc người có HIV/AIDS

201.3 Kinh nghiệm của một số thành phố về phát phát huy vai 26

Trang 4

trò của dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS vàbài học rút ra đối với Thành phố Hà Nội

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ

CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ HIV/AIDS Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

37

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thành phố Hà

Nội ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ Y tế chăm sócngười có HIV/AIDS

37

2.2 Thành tựu, hạn chế phát triển các dịch vụ Y tế chăm sóc

người có HIV/AIDS tại Thành phố Hà Nội thời gian qua

40

2.3 Đánh giá chung về phát triển các dịch vụ y tế chăm sóc

người có HIV/AIDS tại Thành phố Hà Nội thời gian qua

50

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NHẰM ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ HIV/AIDS Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

65

3.1 Phương hướng phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có

HIV/AIDS ở Thành phố Hà Nội

65

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát huy vai

trò của dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS ởThành phố Hà Nội

69

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự phát triển ngày nay, khoa học - kỹ thuật ngày một hiện đạicũng là điều kiện để phát triển lĩnh vực y tế theo kịp và đáp ứng nhu cầu đadạng của con người Không chỉ khi mắc bệnh thì con người mới có nhu cầuđược chạy chữa mà chăm sóc sức khoẻ ban đầu lại là hết sức quan trọng Khinhu cầu của con người tăng lên, theo đó thì vai trò của dịch vụ Y tế cũng ngàycàng quan trọng

Chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá và đa dạng hoá Ngành Y tế Việt Nam,

với việc coi “Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của cộng đồng và của mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng và chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành Y tế giữ vai trò nòng cốt” (Nghị quyết 04/NQ-TW năm 2003) đã trở thành một điều kiện tiền đề

quan trọng trong quá trình đổi mới hoạt động cung ứng dịch vụ Y tế ở ViệtNam Mục tiêu của chủ trương xã hội hoá dịch vụ Y tế là nhằm huy động các

nguồn lực (vốn, tài sản, sức lao động, trí tuệ,…) trong toàn xã hội tham gia

đóng góp, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân, đặc biệt là đốitượng chính sách và người nghèo, tiếp cận được với các dịch vụ Y tế cơ bản và

có chất lượng, đẩy mạnh phát triển dịch vụ y tế theo hướng hiện đại, bền vững

Trên thực tế, dịch vụ Y tế ở Việt Nam đã có những đóng góp đáng kểvào việc cải thiện sức khoẻ cho mọi người, nâng cao chất lượng phục vụ, đápứng một phần nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Tuy nhiên, dịch vụ Y

tế ở Việt Nam cũng có những hạn chế nhất định, đặc biệt là dịch vụ Y tế chămsóc người có HIV/AIDS

Tính đến nay, tại Việt Nam đã phát hiện 213.413 người nhiễm HIV cònsống, trong đó có 63.373 người đang ở trong giai đoạn AIDS; lũy tích tử vong

do HIV/AIDS là 65.133 người Tại riêng thành phố Hà Nội, số người bị bệnh

Trang 6

HIV là 13.280 người và dự tính con số này sẽ càng gia tăng trong thời giantới Việc phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc bệnh nhân HIV là điều cấp thiết,tuy nhiên, dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS lại còn nhiều khó khăn.

Mặc dù Thành phố Hà Nội có nhiều cố gắng đầu tư phát triển các dịch vụ

Y tế với chăm sóc sức khỏe những người nhiễm HIV/AIDS đã thu được nhữngkết quả nhất định Tuy nhiên, đánh giá khách quan phải thấy rằng, dịch vụ y tếchăm sóc người có HIV/AIDS còn khá hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầuthực tiễn Với mong muốn đưa ra những giải pháp góp phần phát huy hơn nữanhững vai trò của các dịch vụ Y tế, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe chongười nhễm HIV/AIDS và giảm tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS ở Thành phố Hà Nội

trong thời gian tới, học viên lựa chọn chủ đề: “Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người HIV/AIDS ở Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển dịch vụ y tế nóichung, phát triển dịch vụ y tế chăm sóc người có HIV/AIDS nói riêng Trong

đó, nổi bật là những công trình sau đây:

- Hoàng Hà Trang (2010), Phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng.

Luận văn đã phân tích thực trạng dịch vụ Y tế trên địa bàn Hải Dươnggiai đoạn 2008-2010, từ đó đưa ra có những ưu điểm, nhược điểm và đề xuấtcác giải pháp nhằm nâng cao dịch vụ Y tế tại tỉnh Hải Dương Tuy nhiên, luậnvăn này chỉ tập trung vào phân tích thực trạng phát triển dịch vụ y tế nóichung trên địa bàn tỉnh Hải Dương mà chưa đi sâu vào từng loại, nhóm dịch

vụ y tế cụ thể

- Đào Thị Xuân Mỹ (2011), Phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, luân văn thạc sỹ kinh tế phát triển, Đại Học Đà Nẵng.

Trang 7

Luận văn đã phân tích thực trạng dịch vụ Y tế trong điều kiện khó khăn

về cơ sở vật chất, văn hóa, địa hình tại các tại các huyện miền núi QuảngNgãi, đồng thời đề xuất và kiến nghị để nâng cao đầu tư, phát triển dịch vụ tạicác huyện miền núi Luận văn cũng chỉ đề cập tới thực trạng phát triển dịch

vụ y tế nói chung, chưa phân tích, đánh giá tới dịch vụ y tế công cộng mộtcách riêng biệt

- Chiến lược quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 của Chính phủ.

Chiến lược quốc gia đã nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ trong phòng chốngHIV/AIDS Phòng, chống HIV/AIDS phải được coi là một nhiệm vụ quantrọng, lâu dài, cần có sự phối hợp liên ngành của tất cả các cấp ủy Đảng, các

Bộ, ngành, chính quyền các cấp và là bổn phận, trách nhiệm của mỗi ngườidân, mỗi gia đình và mỗi cộng đồng Phòng, chống HIV/AIDS phải dựa trênnguyên tắc bảo đảm quyền con người, chống kỳ thị, phân biệt đối xử vớingười nhiễm HIV; chú trọng đến phụ nữ, trẻ em, các nhóm đối tượng dễ bịlây nhiễm HIV, đồng bào dân tộc ít người và người dân sống ở vùng sâu,vùng xa, khu vực biên giới, hải đảo Bảo đảm thực hiện cam kết của ViệtNam với cộng đồng quốc tế về phòng, chống HIV/AIDS Muốn thực hiệnđược các mục tiêu này, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp Tăng cường sựlãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền đối với công tác phòng, chốngHIV/AIDS Tăng cường hơn nữa của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấpđối với công tác phòng, chống HIV/AIDS Chú trọng việc lồng ghép, phốihợp với các chương trình phòng, chống tội phạm, phòng, chống tệ nạn xã hội,xóa đói giảm nghèo, giới thiệu việc làm; tăng cường việc ký kết và nâng caohiệu quả thực hiện kế hoạch liên tịch giữa cơ quan nhà nước các cấp với các

tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn vềphòng, chống HIV/AIDS,

Trang 8

- Hội thảo (2013), "Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS" được tổ

chức ngày 24/9/2013 tại Hà Nội

Hội thảo đưa ra vai trò của các tổ chức xã hội và thực tế về việc đónggóp, ủng hộ và chiến đấu của các tổ chức trong xã hội trên mặt trận phòngchống căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS Trong đó, một trong những vấn đề quantrọng là tăng cường sự tham gia của tổ chức xã hội trong việc nâng cao chấtlượng dịch vụ y tế trong việc thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chốngHIV/AIDS Tuy nhiên, hội thảo chưa làm rõ thực trạng dịch vụ y tế trongchăm sóc người có HIV/AIDS một cách cụ thể

- Văn Khôi (2011), Việt Nam tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc nhiễm HIV/AIDS, Báo cáo khoa học tại Hội nghị Điều trị

và chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV/AIDS, 2011

Bài cáo cáo viết tổng quan về thực trạng và xu hướng phát triển điều trị

và chăm sóc bệnh nhân HIV tại Việt Nam và các đề xuất để nâng cao chấtlượng công tác trị bệnh cho người HIV/AIDS

- Lam Hồng (2013), Nhân rộng mô hình chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại gia đình và cộng đồng, Báo Nam Định, số 234, 2013.

Bài viết khái quát lên mô hình và cách chăm sóc người bệnhHIV/AIDS, những khó khăn và thuận lợi, cũng như những kiến nghị để nhânrộng mô hình trong toàn xã hội

- Hữu Thủy (2012), Bảo hiểm y tế - Giải pháp bền vững trong chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV/AIDS.

Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đề xuất giải pháp nhằm pháthuy vai trò của bảo hiểm y tế trong chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV/AIDS Để tăng cường sự tham gia và sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữabệnh cho người nhiễm HIV đòi hỏi một giải pháp đồng bộ bao gồm việc

Trang 9

truyền thông để người nhiễm HIV hiểu được tầm quan trọng của bảo hiểm y

tế, quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm y tế

- Bác sỹ Huỳnh Ngọc Thu, Đẩy mạnh chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS

Trong nghiên cứu của mình, tác giả đi sâu vào đề cuất những giải phápnhằm phát triển công tác chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS Trungtâm Phòng, chống HIV/AIDS đã từng bước nâng cao hiệu quả trong việc chămsóc, hỗ trợ và điều trị người nhiễm bằng cách chú trọng tập huấn, đào tạo trình

độ chuyên môn, kỹ năng tư vấn, đặc biệt là việc tiếp cận và quản lý người nhiễmHIV cho đội ngũ cán bộ y tế từ tỉnh đến cơ sở; tăng cường hoạt động truyềnthông giới thiệu các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm như điều trị dựphòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng vi-rút ARV, điều trị dự phòng HIV do rủi ro tai nạn nghề nghiệp; đẩy mạnh côngtác giám sát, rà soát và tiếp cận, quản lý bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS

- Hải Ly, Những khó khăn thách thức của công tác chăm sóc điều trị người nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Cao Bằng

Bài báo của tác giả đã đánh giá tình hình dịch bệnh HIV/AIDS tại tỉnhCao Bằng trong năm 2011 Đồng thời, tác giả cũng đánh giá, phân tích nhữngnhận định khó khăn, thách thức trong công tác chăm sóc điều trị người nhiễmHIV/AIDS trên địa bàn thời gian qua

- Phạm Thị Cẩm Giang, Đỗ Mai Hoa (2011), Chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh

Chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS đóng vai tròquan trọng trong việc nâng cao chât lượng cuộc sống của người nhiễm HIV

và góp phần giảm hậu quả do HIV/AIDS gây ra Để tìm hiểu thực trạng côngtác chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS tại Tiên Du, BắcNinh, nghiên cứu đã sử dụng số liệu hồi cứu và phương pháp nghiên cứu định

Trang 10

tính với các cán bộ y tế tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS và ngườinhiễm HIV Kết quả cho thấy, với nguồn lực hạn chế, Tiên Du đã cung cấpcác dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ cấp thiết cho người nhiễm HIV/AIDS, chủ yếuthông qua y tế tuyến xã Tuy nhiên các dịch vụ này vẫn còn nhiều bất cập, tồntại như: Cơ chế phối hợp chuyển gửi giữa các dịch vụ có liên quan chưa chặtchẽ; Không có sự kết nối với phòng khám ngoại trú - nơi duy nhất thực hiệnđiều trị thuốc kháng virrut (ARV) tại Bắc Ninh; Chất lượng hoạt động tạituyến xã chưa đồng đều và chưa đi vào chiều sâu; Dịch vụ chăm sóc, hỗ trợcho người nhiễm chưa tận dụng nguồn lực từ cộng đồng và người nhiễm HIV;Công tác chăm sóc, hỗ trợ điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS chưa đượcchính quyền và các ban ngành quan tâm Kết quả trên cho thấy Tiên Du cầnxây dựng kế hoạch cụ thể cho chương trình chăm sóc và điều trị HIV/AIDStrong thời gian tới nhằm huy động thêm các nguồn lực cho việc chăm sóc hỗtrợ cho người nhiễm Việc thiết lập mạng lưới chăm sóc của những người cóH+ là việc nên sớm được thực hiện Sự gắn kết giữa các dịch vụ không chỉtrong phạm vi huyện mà với cả những huyện lân cận và tuyến tỉnh sẽ tạothuận lợi cho người nhiễm HIV tiếp cận với những dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ

và điêu trị HIV/AIDS phù hợp và cần thiết

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề “Phát triển d ịch

vụ y tế chăm sóc người HIV/AIDS ở Thành phố Hà Nội ” dưới góc độ khoa

học Kinh tế chính trị như một công trình nghiên cứu chuyên ngành

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu và làm rõ hơn cơ sơ lý luận thực tiễn về dịch vụ

Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS; đánh giá đúng thực trạng trong phát triểndịch vụ Y tế chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS luận văn đề xuất giải pháp chủyếu nhằm phát huy vai trò dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS ởThành phố Hà Nội trong thời gian tới

Trang 11

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ Y tếchăm sóc sức khỏe người HIV/AIDS bao gồm: Khái niệm, vai trò, đặc điểmnội dung và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS

- Tìm hiểu kinh nghiệm của một số Thành phố lớn trực thuộc Trung ương

về dịch vụ Y tế chăm sóc sức khỏe người HIV/AIDS và rút ra bài học đối vớiThành phố Hà Nội

- Phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS, bao gồm những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển dịch vụ

Y tế chăm sóc người HIV/AIDS ở Thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS dưới góc độ kinh tế chính trị, trong đó đi sâu vào nghiên cứu vềviệc phát huy vai trò của các dịch vụ tư vấn, xét nghiệm, điều trị đối vớingười nhiễm HIV/AIDS Đối tượng được luận văn nghiên cứu, khảo sát, điềutra là những người có nguy cơ cao lây nhiễm HIV/AIDS, những người đãnhiễm HIV/AIDS, có hộ khẩu thường trú trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Trang 12

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn sử dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, quyết địnhđường lối của Đảng và Nhà nước, nghị quyết, quyết định của thành phố HàNội về chăm sóc sức khỏe Y tế cộng đồng, trong đó có các nội dung liên quanđến dịch vụ Y tế trong chăm sóc người có HIV/AIDS và chất lượng dịch vụ y

tế trong chăm sóc người có HIV/AIDS

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, chủ yếu làcác phương pháp như sau:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn sử dụng nhiều các số liệu

thống kê của các ban ngành có liên quan Trên cơ sở các số liệu được thu thập

và tổng hợp, luận văn phân tích, xử lý và làm rõ vấn đề HIV/AIDS, xu hướngphát triển của vấn đề, thực trạng chăm sóc và chất lượng chăm sóc người cóHIV/AIDS, phân tích các tác động của chính sách đối với chăm sócngười HIV/AIDS

Phương pháp thống kê, so sánh: Nhiều tài liệu, báo cáo, sách, tạp chí

chuyên ngành trên tư liệu sách báo và Internet liên quan đến chăm sóc, chấtlượng chăm sóc người có HIV/AIDS và các chính sách về người HIV/AIDSđược tác giả thu thập và từ đó phân tích, so sánh đưa ra thực trạng

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Phương pháp trừu tượng hóa

khoa học đòi hỏi gạt bỏ khỏi quá trình và hiện tượng được nghiên cứu nhữngyếu tố đơn nhất, ngẫu nhiên, tạm thời để tách ra những cái điển hình, bềnvững, ổn định trên cơ sở ấy nắm được bản chấtcủa hiện tượng, hình thànhnhững phạm trù và những quy luật phản ánh những bản chất đó

Phương pháp logic - lịch sử: Phương pháp là căn cứ để luận văn kế thừa

kết quả của các công trình nghiên cứu trước về vấn đề dịch vụ Y tế Đồng thờiphương pháp là cơ sở để luận văn có sự liên kết trong toàn bộ bố cục của luận văn

Trang 13

Thu thập thông tin: Tác giả thu thập thông tin từ các nguồn thông tin

như: Số liệu thống kê; Số liệu dự báo; Số liệu của các cuộc điều tra và cácnghiên cứu về người HIV/AIDS tại các cấp; Sách, báo, tạp chí trong và ngoàinước; Thông tin từ mạng Internet; Các văn bản và định hướng của Nhà nướctrong các lĩnh vực liên quan đến đề tài

Phương pháp chuyên gia: Tác giả tham vấn ý kiến của các chuyên gia

là các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định và thực hiện chính sách, các nhàquản lý và chuyên gia chăm sóc người có HIV/AIDS tại các mô hình chămsóc người có HIV/AIDS tại cộng đồng

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn đã góp phần xây dựng, làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận về pháttriển dịch vụ y tế chăm sóc người có HIV/AIDS, dưới góc độ kinh tế chính trị,bao gồm: khái niệm, đặc điểm về dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS,khái niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển dịch vụ Y tếchăm sóc người có HIV/AIDS

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống về thựctrạng phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS trên địa bàn Thànhphố Hà Nội từ năm 2006 tới nay Trên cơ sở đánh giá thực trạng và tìm hiểunguyên nhân, luận văn đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển dịch vụ Y

tế chăm sóc người có HIV/AIDS trên địa bàn Thành phố tới năm 2020

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ công tác nghiên cứugiảng dạy môn Kinh tế chính trị và đồng thời góp phần vào việc hoạch định chínhsách phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS của Thành phố Hà Nội

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, 3 chương (8 tiết), kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ

CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ HIV/AIDS 1.1 Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết phát triển dịch vụ y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

1.1.1 Khái niệm

Khái niệm về dịch vụ

Dịch vụ là hoạt động lao động xã hội, tạo ra sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng vật chất (sản phẩm vô hình) nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống thuận lợi và hiệu quả hơn.

Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp chonhững nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [24, tr256].Theo quan niệm của Mác thì nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi conngười trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và phát triển củamình C Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hànghóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thôngsuốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con ngườithì dịch vụ ngày càng phát triển" [10, tr.576 - 577]

Như vậy, với định nghĩa trên, C Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sựphát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng pháttriển mạnh C Mác cũng chỉ rõ một đặc tính của dịch vụ, đó là: "Trong nhữngtrường hợp mà tiền được trực tiếp trao đổi lấy một lao động không sản xuất

ra tư bản, tức là trao đổi lấy một lao động không sản xuất, thì lao động đóđược mua với tư cách là một sự phục vụ lao động đó cung cấp những sựphục vụ không phải với tư cách là một đồ vật, mà với tư cách là một sự hoạtđộng” [10, tr.576 - 577]

Trang 15

Như vậy, ta có thể hiểu dịch vụ theo nghĩa rộng là khái niệm chỉ toàn bộcác hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật thể Hoạtđộng dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớnđến quá trình phát triển Kinh tế - Xã hội, môi trường của từng quốc gia, khuvực nói riêng và toàn thế giới nói chung Ở đây dịch vụ không chỉ bao gồmnhững ngành truyền thống như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thươngmại, bao hiểm, bưu chính viễn thông mà còn lan toả đến các lĩnh vực rất mớinhư: dịch vụ văn hoá, hành chính, bảo vệ môi trường, dịch vụ tư vấn Như vậy,dịch vụ là những dạng hoạt động thuộc lĩnh vực, một ngành kinh tế.

Dịch vụ là một lĩnh vực rộng lớn, xuất hiện ở mọi mặt của đời sốngKinh tế - Xã hội, trong đó có lĩnh vực Y tế, bởi vì:

Sức khỏe là nhân tố đặc biệt quan trọng hình thành thể chất của conngười Theo WHO, sức khoẻ là một tình trạng hoàn toàn thoải mái cả về thểchất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh Sức khỏe vừa làphương tiện, vừa là mục tiêu của mọi quá trình phát triển Đã từ lâu CSSK làmột trong số các yếu tố cấu thành cơ bản của hai chỉ tiêu quan trọng phản ánh

sự phát triển của quốc gia: chỉ số phát triển con người HDI và chỉ số nghèo khổHPI HDI được UNDP sử dụng để đo lường chất lượng sống của con người ởcác quốc gia Chỉ số này dựa trên 3chỉ tiêu: (1) tuổi thọ mong đợi; (2) trình độhọc vấn; (3) và điều kiện kinh tế (thu nhập bình quân đầu người)

Khái niệm dịch vụ y tế

Dịch vụ y tế là hoạt động lao động tương tác giữa người cung cấp dịch

vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ như: khám chữa bệnh, phòng bệnh, giáo dục sức khoẻ, tư vấn sức khoẻ

Dịch vụ y tế là tất cả các loại hình dịch vụ chăm sóc, tư vấn liên quanđến sức khoẻ con người Các loại hình dịch vụ y tế phổ biến như là: Dịch vụkhám, phòng chống và chữa bệnh, dịch vụ bảo hiểm y tế, hệ thống hành nghềdược, y học cổ tuyền…

Trang 16

Các dịch vụ y tế mang tính chất của hàng hoá vì có nhu cầu, có ngườicung cấp và có người sử dụng thì phải trả tiền (có thể người trả tiền là cánhân, có thể là tập thể, Nhà nước) Dịch vụ y tế mang tính chuyên môn caonên người tiêu dùng hoàn toàn bất lợi về mặt thông tin so với người bán (bệnhnhân và bác sỹ) Với một số hàng hoá khác, người tiêu dùng có thể có hiểubiết nhất định về sản phẩm hoặc có được thông tin về sản phẩm bằng kinhnghiệm Nhưng đối với Dịch vụ Y tế, người bệnh biết rất ít về hiệu quả haycác hậu quả của điều trị, thậm chí người ta còn không biết mình bị ốm Chính

vì thế, dịch vụ Y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh) thườngkhông tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyếtđịnh Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “cầu quyết định cung”, trongdịch vụ Y tế “cung quyết định cầu” Người bệnh có nhu cầu KCB nhưng điềutrị bằng phương pháp nào, dùng loại thuốc hay dịch vụ gì và với thời gianbao lâu lại do bác sĩ quyết định Như vậy, người bệnh, chỉ có thể lựa chọn nơiđiều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ độngchọn lựa phương pháp điều trị

Tuy nhiên, cũng giống như các loại hình dịch vụ khác, thì dịch vụ Y tế

là một ngành kinh tế Nhưng ngành dịch vụ này có điều kiện, tức là có sự hạnchế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ Y

tế Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ Y tế cần được cấp giấy phép hành nghề vàcần đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất Nói một cách khác,trong thị trường dịch vụ Y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo Dịch vụ Y tế

là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan hệ vớinhau thông qua giá dịch vụ

Khái niệm dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS là hoạt động lao động, cung cấp dịch vụ để đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ liên quan tới đại dịch HIV/AIDS như: khám chữa bệnh, phòng bệnh, giáo dục sức khoẻ, tư vấn sức khoẻ

Trang 17

Như vây, dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS tiếp cận và hỗ trợ,giúp cho người nhiễm hiểu rõ về bệnh tật và đấu tranh chống lại bệnh tật,đồng thời tránh được lây nhiễm cho người khác Dịch vụ Y tế với chăm sócngười có HIV/AIDS là cung cấp cho cả người bị nhiễm và người chưa bịnhiễm cơ hội để đề phòng lây nhiễm HIV và hình thành nên mối quan hệ tốtgiữa bệnh nhân - thầy thuốc - người chăm sóc Do vậy, rất cần có một mạnglưới chăm sóc Mạng lưới này sẽ có nhiều người tham gia vào công tác chămsóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS Nếu lấy việc chăm sóc người nhiễm

là trung tâm, thì những người tham gia chăm sóc có thể là bản thân ngườinhiễm, người thân trong gia đình, họ hàng, láng giềng, các tổ chức dựa vàocộng đồng, nhân viên y tế trong đó các cơ sở y tế sẽ đóng vai trò nòng cốttrong việc hướng dẫn chăm sóc và tư vấn Các cơ sở bệnh viện các tuyến sẽ làmạng lưới trung chuyển hoặc điều trị cho những trường hợp nặng

Khái niệm phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Phát triển dịch vụ Y tế

Sự phát triển nói chung được coi là quá trình vận động theo khuynhhướng đi lên từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn Đó là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng của sự vật theohướng ngày càng hoàn thiện ở trình độ cao hơn Dịch vụ Y tế là một loại dịch

vụ cơ bản, quan trọng đối với con người trong xã hội văn minh Như vậy, pháttriển dịch vụ Y tế có thể được hiểu là sự gia tăng cả về lượng và về chất trongcác dịch vụ Y tế, chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống củangười dân Sự phát triển về lượng là sự tăng lên về số lượng, quy mô, khảnăng tiếp cận các dịch vụ Y tế của người dân, trong khi đó sự phát triển vềchất là sự tăng lên của chất lượng dịch vụ Y tế cung cấp

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS là sự tác động của Nhà nước, cán bộ y tế, gia đình, người bệnh và cả xã hội nhằm tạo ra sự

Trang 18

gia tăng cả về số lượng và chất lượng và cơ cấu của các dịch vụ Y tế trong lĩnh vực chăm sóc người có HIV/AIDS nhằm giúp người bệnh ổn định và bảo đảm sức khỏe.

Nội hàm khái niệm phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS thể hiện rõ :

Một là, phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS là sự giatăng về mặt số lượng các loại dịch vụ trong đó quan trọng nhất là phát triểncác dịch vụ: Dịch vụ tư vấn về HIV/AIDS, dịch vụ xét nghiệm HIV/AIDS vàdịch vụ điều trị HIV/AIDS

Hai là, phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS phải đặcbiệt về mặt chất lượng Người bị nhiễm HIV/AIDS được thoải mái về tinhthần, yên tâm với sự tư vấn, xét nghiệm, điều trị của Bác sĩ, của cơ sở Y tế,các dịch vụ đó dẫn đến người bệnh được khỏi bệnh, hòa nhập với cộng đồng

1.1.2 Đặc điểm của phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Một là, một loại dịch vụ công cộng liên quan tới sức khỏe cộng đồng.

Dịch vụ Y tế với chăm sóc người có HIV/AIDS là một loại dịch vụcông cộng liên quan tới sức khỏe cộng đồng Do đó, phát triển dịch vụ Y tếvới chăm sóc người có HIV/AIDS chính là phát triển hệ thống Y tế mà dịch

vụ Y tế là loại dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, trong đó có người bịnhiễm HIV/AIDS

Y tế công cộng hay còn gọi là sức khỏe công cộng (Public Health) đềcập đến những vấn đề sức khỏe của một quần thể, tình trạng sức khỏe của tậpthể, những dịch vụ vệ sinh môi trường, những dịch vụ Y tế tổng quát và quản

lý các dịch vụ chăm sóc Từ công cộng ở đây nói lên tính chất chung cho sốđông, ngược với tính chất chăm sóc riêng lẻ cho từng bệnh nhân

Theo WHO (11/1995) "Y tế công cộng là việc tổ chức các nỗ lực của

Trang 19

xã hội đến phát triển các chính sách sức khỏe công cộng, để tăng cường sứckhoẻ, để phòng bệnh và để nâng cao công bằng trong xã hội, trong khuôn khổ

sự phát triển bền vững"

Hai là, một loại dịch vụ chăm sóc những người cần có sự giúp đỡ của

người khác bao gồm: người có bệnh và người cần kiểm tra sức khỏe, ngườithân và xã hội

Người nhiễm HIV/AIDS là người nhiễm căn bệnh thế kỷ cho đến naychưa có các loại thuốc đặc trị, đảm bảo sức khỏe và sự sống cho người bệnh.Chính vì vậy, các dịch vụ chăm sóc người có HIV/AIDS luôn tiềm ẩn nguy cơngười bệnh không chữa khỏi Do đó, phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc sứckhỏe người nhiễm HIV/AIDS phải có sứ giúp đỡ của người khác Đó là nhânviên y tế, người thân và cộng đồng xã hội

Để phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS hiệu quả cần sựquyết tâm cao của bản thân người bệnh và chính sách của Đảng và Nhà nước

Để dịch vụ Y tế với chăm sóc người có HIV/AIDS đạt hiệu quả cao cầnhuy động sức mạnh của cả cộng đồng và cần sự quyết tâm cao của bản thânngười bệnh và chính sách của Đảng và Nhà nước Mặt khác, muốn điều trị tốtcho những bệnh nhân này, cần có sự cố gắng, nỗ lực, quyết tâm cao của chínhbản thân người bệnh

Ba là, một loại dịch vụ không hoàn toàn vì mục tiêu lợi nhuận

Dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS là dịch vụ y tế dành chongười liên quan tới đại dịch HIV/AIDS Để có nguồn kinh phí phát triển dịch

vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS thông thường được Nhà nước trang trảicùng với nguồn kinh phí được tài trợ từ quốc tế và các nguồn kinh phí hỗ trợkhác Người bệnh và các đối tượng khác được điều trị và tư vấn miễn phí màkhông phải trả tiền Do đó có thể nói đây là loại dịch vụ không hoàn toàn vì

Trang 20

mục tiêu lợi nhuận.

1.1.3 Sự cần thiết phải phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Giữa phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS có mối quan

hệ biện chứng với phát triển kinh tế và ổn định xã hội Điều đó thể hiện ở chỗ

Thứ nhất, tính thống nhất giữa phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS với phát triển kinh tế và ổn định xã hội.

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS hiệu quả, bềnvững sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định xã hội bởi vì:

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS đặc biệt là chongười bị nhiễm HIV/AIDS nhằm đảm bảo nâng cao sức khỏe cho người bệnh

và cho cả cộng đồng, góp phần ổn định kinh tế, xã hội

HIV/AIDS là căn bệnh thế kỷ, cho tới nay vẫn còn chưa có thuốc đặctrị đảm bảo chữa khỏi bệnh và duy trì sự sống cho người nhiễm căn bệnh này.Ngoài ra, thời gian ủ bệnh của căn bệnh này rất dài, với những triệu trứng khóchuẩn đoán Người ta chỉ có thể làm xét nghiệm máu mới có thể chuẩn đoánngười nhiễm HIV Trong khi đó, nếu không có phát hiện bệnh kịp thời, bệnh

có thể diễn biến nhanh và có khả năng lây bệnh cho cộng đồng Chính bởivậy, việc phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS nhằm pháthiện sớm người nhiễm HIV/AIDS nhằm ổn định sức khỏe cho người bệnh,đồng thời giảm và tránh lây lan cho cộng đồng

Mặt khác, HIV/AIDS có con đường lây truyền bệnh thường gắn với các

tệ nạn xã hội là ma túy, mại dâm Do vậy, việc phát triển dịch vụ Y tế chămsóc người có HIV/AIDS nhằm phát hiện sớm người nhiễm HIV/AIDS cũnggóp phần ổn định kinh tế, xã hội

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS có thể đa dạnghóa trong huy động các nguồn lực từ nhiều nguồn, nhiều tổ chức xã hội và các

cá nhân chăm sóc sức khỏe cho đối tượng bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân bịnhiễm HIV/AIDS

Trang 21

HIV/AIDS được thế giới ví là căn bệnh thế kỷ, chính vì vậy công tácphòng chống HIV/AIDS nói chung và công tác chăm sóc người có HIV/AIDSđược rất nhiều tổ chức xã hội, cá nhân trong nước và nước ngoài quan tâmphát triển Hơn thế nữa, chi phí cho việc phòng tránh, điều trị người nhiễmHIV/AIDS rất lớn, các đối tượng mắc bệnh thường gắn liền với các tệ nạn xãhội, có hoàn cảnh khó khăn Chính bởi vậy, để phát triển dịch vụ Y tế chămsóc người có HIV/AIDS cần phải huy động các nguồn lực từ nhiều nguồn.

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS giảm tải các bệnhviện lớn, người bệnh được thuận tiện cho việc chăm sóc

Với số lượng người nhiễm căn bệnh thế kỷ các năm qua khá lớn, thờigian bệnh diễn biến lâu dài Do vậy, nếu không có dịch vụ Y tế chăm sócngười có HIV/AIDS sẽ gây ra quá tải cho các bệnh viện Hơn thế nữa, chămsóc sức khỏe cho người bệnh còn cần có sự chung tay góp sức của cả cộngđồng để tránh miệt thị người bệnh, giúp cho người bệnh được yêu thương,chăm sóc và chia sẻ, tác động tích cực tới quá trình chữa trị căn bệnh này.Điều này cần có sự tham gia tuyên truyền, phổ biến các kiến thức về chămsóc người có HIV/AIDS và cách phòng tránh cho cộng đồng xã hội

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS sẽ thu một phầnphí tái tạo và đầu tư trở lại cơ sở vật chất, trang thiết bị Y tế, đặc biệt chămsóc cho người HIV/AIDS

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS tạo nên khả năngcạnh tranh giữa các cơ sở chăm sóc người có HIV/AIDS Nhà nước với nhau,giữa các cơ sở của Nhà nước với tư nhân Từ đó đem lại lợi ích (giá rẻ hơn)cho người cần được cung cấp dịch vụ này

Như vậy, việc phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc sức khỏe người nhiễmHIV/AIDS tốt sẽ thúc đẩy chăm sóc sức khỏe bệnh nhân Người bệnh lànhbệnh hoặc có sức khỏe khá ổn định xã hội không phải dành nguồn lực chochữa bệnh, nguồn lực để phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS Nguồn lực đó dành để phát triển kinh tế Mặt khác, người bệnh

Trang 22

được chữa khỏi hoặc ổn định sẽ tham gia vào quá trình phát triển Kinh tế - Xãhội; góp phần và tạo ra giá trị cho xã hội; Xã hội ổn định, giảm hoặc khôngcòn tệ nạn xã hội nảy sinh từ căn bệnh HIV/AIDS ( ma túy, mại dâm, trộmcắp ) Từ đó, nền kinh tế phát triển, xã hội phát triển văn minh, hiện đại.

Thứ hai, sự mâu thuẫn giữa phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS với phát triển kinh tế, xã hội

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS sẽ phải giànhnguồn lực để phát triển các dịch vụ tư vấn, xét nghiệm, điều trị một căn bệnhcủa thế kỷ Do đó, các nguồn lực giành để đầu tư phát triển kinh tế và cácdịch vụ khác nhằm phát triển con người như: Giáo dục, hạ tầng kỹ thuật bịhạn chế dẫn đến xã hội khó phát triển

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS đảm bảo côngbằng xã hội cho người mắc bệnh, nhưng đối với nước nghèo, nước đang pháttriển là rất khó đảm bảo

Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS là chính sáchđúng đắn của Đảng, Nhà nước, nhưng chính sách luôn bị lạc hậu Nếu khôngtiếp tục đổi mới thì phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS sẽkhông hiệu quả, tác động tiêu cực đến người bệnh nói riêng, phát triển kinh tế

và ổn định xã hội nói chung

1.2 Nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

1.2.1 Nội dung phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Một là, phát triển về số lượng các dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/ AIDS

Phát triển về số lượng là phát triển về quy mô, số lượng dịch vụ Y tếchăm sóc người nhiễm HIV/AIDS Số lượng người nhiễm HIV/AIDS đang cónguy cơ ngày một gia tăng Ngoài ra những người có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn, xét nghiệm ngày càng tăng do sức

ép của gia tăng của dân số, của đô thị hóa, phát triển kinh tế kéo theo những

Trang 23

hệ lụy về tệ nạn xã hội Do đó, yêu cầu về phát triển về mặt lượng của dịch vụ

Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS rất cấp thiết

Phát triển về số lượng dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS đượcđánh giá thông qua các tiêu chí sau:

Sự gia tăng về số lượng người được tiếp cận với dịch vụ Y tế chăm sócngười có HIV/AIDS Đó cũng là sự gia tăng về số lượng người được cụ thếhóa đối với dịch vụ loại dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS, bao gồmdịch vụ tư vấn, xét nghiệm, chữa trị

Sự gia tăng về số lượng cơ sở cung ứng dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS

Hai là, phát triển về chất lượng các dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Nâng cao chất lượng các dịch vụ Y tế chăm sóc sức khỏe ngườiHIV/AIDS là yêu cầu khách quan, tất yếu Chất lượng các dịch vụ Y tế chămsóc sức khỏe người HIV/AIDS thể hiện trên nhiều mặt, song chủ yếu là:

Chất lượng của dịch vụ tư vấn: Chất lượng của dịch vụ tư vấn thể hiện ởchỗ cán bộ y tế tư vấn đúng, đủ và hiệu quả cho người nhiễm HIV/AIDS hiểu,năm bắt được những nhiệm vụ của bản thân họ phải thực hiện để chữa bệnh,bảo đảm cho người bệnh yên tâm chưa trị, biết cách giữ gìn sức khỏe và phòngtránh lây lan cho cộng đồng, Nói chung, chất lượng dịch vụ tư vấn cho ngườiHIV/AIDS là ổn định về tinh thần, sẵn sàng chữa bệnh và điều trị bệnh

Chất lượng của dịch vụ xét nghiệm: Chất lượng của dịch vụ xét nghiệmđược thể hiện thông qua hiệu quả của việc xét nghiệm HIV/AIDS được thựchiện bởi cán bộ y tế có đủ năng lực, chuyên môn dưới sự hỗ trợ của máy móc,thiết bị y tế hiện đại nhằm có kết quả xét nghiệm nhanh chóng và chính xác

Chất lượng dịch vụ điều trị cho người HIV/AIDS: Đối với dịch vụ điềutrị bệnh có chất lượng cao tức là người bệnh phải khỏi bệnh hoàn toàn Tuynhiên, với người HIV/AIDS thì cho tới nay vẫn chưa có phương thức điều trị

Trang 24

nào có thể chữa khỏi căn bệnh thế kỷ này Chính vì vậy, chất lượng dịch vụđiều trị cho người HIV/AIDS được thể hiện ở chỗ người bệnh có thể ổn địnhđược sức khỏe, để họ có thể tiếp tục hòa nhập vào cộng đồng, xã hội, thamgia hoạt động sản xuất nếu có thể.

Kết quả của công tác phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS thông qua số lượng người bệnh, số người tử vong qua các năm

Ba là, phát triển về cơ cấu các dịch vụ Y tế chăm sóc Y tế đối với người HIV/AIDS

* Đa dạng hóa các dịch vụ Y tế chăm sóc Y tế đối với ngườiHIV/AIDS

Dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS không chỉ chú trọng tớidịch vụ chữa trị mà còn phải phát triển các dịch vụ Y tế khác liên quan nhưdịch vụ tư vấn, dịch vụ xét nghiệm theo hướng đa dạng hóa Cụ thể là pháttriển các loại dịch vụ:

* Phát triển các dịch vụ tư vấn

Để phát huy được vai trò của dịch vụ Y tế với chăm sóc người có HIV/AIDS, các chính sách phát triển cần tập trung vào các nội dung sau:

- Dịch vụ xét nghiệm và tư vấn HIV miễn phí

- Tư vấn cách phòng tránh lây nhiễm

- Tư vấn và giới thiệu các dịch vụ hỗ trợ

Có thể nói, Dịch vụ xét nghiệm và tư vấn HIV miễn phí là một dịch vụmang tính nhân văn cao và giúp những người bị nhiễm vi rút HIV sớm pháthiện ra bệnh và có những biện pháp nhất định để điều trị cũng như phòngchống cho người xung quanh Đối với những người đã bị nhiễm HIV, xétnghiệm và tư vấn sẽ giúp họ bảo vệ sức khoẻ cho chính mình và gia đình.Điều đó giúp người bị nhiễm HIV có thể:

Hiểu biết hơn về sự lây nhiễm của HIV/AIDS để phòng lan truyền HIVcho gia đình và cộng đồng

Trang 25

Bắt đầu với việc điều trị để giảm sự nhân lên của HIV trong cơ thể, làmchậm quá trình tiến triển thành AIDS và giảm sự phát triển của các bệnhnhiễm trùng cơ hội, đặc biệt là bệnh phổi.

Thay đổi lối sống, nề nếp (chế độ ăn, tập thể dục, tránh sự căng thẳng,không hút thuốc lá, không sử dụng ma tuý, không mua bán dâm…) nhằm làmtăng sức đề kháng chống lại bệnh tật

Biết tự chăm sóc bản thân để kéo dài cuộc sống và sống an toàn , hữu ích

Có quyết định sáng suốt về các mối quan hệ với gia đình, cộng đồng xãhội và các kế hoạch lâu dài khác…

* Phát triển dịch vụ xét nghiệm nhiễm HIV/AIDS

Phát triển dịch vụ xét nghiệm nhiễm HIV/AIDS thông qua các xétnghiệm như:

Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS (phát hiện kháng thể HIV) đốivới người lớn và trẻ em 18 tháng tuổi

Xét nghiệm cho người có nguy cơ cao (Có vợ/chồng đã bị nhiễmHIV/IDS)

Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV ở trẻ dưới 18 tháng tuổi

Xét nghiệm cho phụ nữ mang thai

Người bị nhiễm HIV có thể sống khoẻ mạnh một thời gian dài từ 5 - 10năm hoặc lâu hơn, sau đó mới chuyển sang giai đoạn AIDS Trong khoảng thờigian đó, vẻ bề ngoài của người nhiễm HIV chẳng khác gì người chưa nhiễm,nhưng họ có thể làm lây lan HIV nếu không có biện pháp bảo vệ Chính vì sựlây lan âm thầm đó mà HIV đã gây ra đại dịch AIDS Hơn nữa, tất cả mọingười đều có thể bị nhiễm HIV nếu không biết cách tự phòng tránh Do vậyviệc phát triển dịch vụ xét nghiệm nhiễm HIV/AIDS được xem mang tính vôcùng cấp thiết đối với toàn xã hội

* Điều trị người nhiễm HIV/AIDS

Điều trị người nhiễm HIV/AIDS được chia ra thành các điều trị sau:

Trang 26

Điều trị nhiễm HIV/AIDS

Điều trị kháng vi rút

Điều trị nhiễm trùng cơ hội

Điều trị dự phòng cho người bị phơi nhiễm với HIV trong nghề nghiệp

* Đa dạng hóa cơ cấu dịch vụ Y tế đối với người HIV/AIDS theo địa bàn

Đa dạng hóa cơ cấu dịch vụ Y tế đối với người HIV/AIDS theo địa bàntức là mở rộng phạm vi của dịch vụ Y tế đối với người HIV/AIDS theo từngQuận, phường, xã trên địa bàn nhằm đảm bảo người bệnh đều được tiếp cậnvới dịch vụ Y tế đối với người HIV/AIDS

Điều này được biểu hiện thông qua cơ cấu người bệnh được tiếp cậndịch vụ Y tế đối với người HIV/AIDS theo từng địa phương, cơ cấu cơ sởcung ứng dịch vụ Y tế đối với người HIV/AIDS

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS, song tập trung ở các nhân tố sau đây:

Năng lực, nhận thức của các chủ thể trong xã hội, nhất là những chủ thểtham gia trực tiếp vào hoạt động chăm sóc y tế cho người HIV/AIDS

Chủ thể tham gia vào hoạt động chăm sóc y tế cho người HIV/AIDS rất

đa dạng:

Nhà nước: Đóng vai trò quan trọng định hướng cho phát triển dịch vụ

Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS thông qua việc Nhà nước ban hành các cơchế, chính sách liên quan tới dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS.Đồng thời, Nhà nước cũng là chủ thể hỗ trợ phần lớn kinh phí trang trải chohoạt động chăm sóc y tế người HIV/AIDS

Doanh nghiệp, cơ sở hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc Y tế cho ngườiHIV/AIDS Đây chính là chủ thể trực tiếp cung ứng dịch vụ chăm sóc Y tế

Trang 27

cho người HIV/AIDS Muốn phát triển dịch vụ Y tế cho người HIV/AIDS thì

cơ sở hoạt động trong lĩnh vực này phải có đủ đội ngũ cán bộ chuyên môn cótrình độ cao, trang thiết bị y tế hiện đại

Cộng đồng dân cư: Cộng đồng dân cư đóng vai trò quan trọng trongviệc tạo môi trường tốt cho người điều trị HIV để tránh sự kỳ thị của xã hội.Đồng thời, nâng cao nhận thức của người của người dân cũng góp phần giảmthiểu và phòng tránh lây nhiễm HIV trong cộng đồng

Người thân của người HIV/AIDS: đây là chủ thể quan trọng trong việcđộng viên người bệnh tích cực tham gia điều trị

Bản thân người HIV/AIDS: Nâng cao nhận thức của người HIV/AIDS

để họ yên tâm, hợp tác điều trị nhằm ổn định sức khỏe cho bản thân và phòngtránh lây nhiễm cho cộng đồng

Các chủ thể nhận thức tốt sẽ thúc đẩy phát triển dịch vụ Y tế chăm sócngười có HIV/AIDS tốt và ngược lại Trên cở sở nhận thức được tầm quantrọng của phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS, Nhà nước cóthể ban hành những chính sách, quy định pháp lý thúc đẩy phát triển dịch vụ

Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS Đồng thời, các cơ sở cung ứng dịch vụ Y

tế chăm sóc người có HIV/AIDS cũng chú trọng, ý thức đầu tư trang thiết bị,nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, chất lượng của dịch vụ Y tếchăm sóc người có HIV/AIDS lại cũng phụ thuộc lớn vào cộng đồng và ýthức của bản thân người bệnh

Các nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu tư vấn, điều trị người nhiễmHIV/AIDS Để phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS cầnnguồn tài chính lớn vì chi phí xét nghiệm, điều trị căn bệnh này khá cao.Chính vì vậy, để phát triển được dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDScần huy động đa dạng các nguồn lực trong nước và ngoài nước để hiện đại

Trang 28

hóa thiết bị y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thuốc đặc trị Cácnguồn lực tài chính có thể huy động từ:

Nguồn lực trong nước: bao gồm nguồn tài chính từ Nhà nước, các tổchức, cá nhân đóng góp, biếu tặng

Nguồn lực ngoài nước: bao gồm nguồn tài chính từ Chính phủ các quốcgia khác, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức khác và cá nhân tài trợ

Với nhu cầu nguồn tài chính lớn đáp ứng nhu cầu dịch vụ Y tế chăm sócngười có HIV/AIDS, nguồn tài chính cần được huy động theo hướng xã hội hóa

Trình độ phát triển khoa học - kỹ thuật, trang thiết bị y tế đáp ứng yêucầu tư vấn, xét nghiệm, điều trị Với khoa học - kỹ thuật, trang thiết bị y tếtiên tiến hiện đại sẽ góp phần giảm thiểu người mắc bệnh và ngược lại

Số lượng và năng lực của đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực dịch

vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS tốt sẽ đảm bảo phát triển dịch vụ tưvấn, xét nghiệm, điều trị tốt và ngược lại Vì đây chính là chủ thể tham giatrực tiếp vào quá trình chăm sóc người có HIV/AIDS

Sự đổi mới, hoàn thiện của cơ chế, chính sách đối với phát triển dịch vụ

Y tế chăm sóc người HIV/ AIDS nói riêng và y tế nói chung Cơ chế, chínhsách thông thoáng, hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ Y tế chăm sócngười có HIV/AIDS phát triển

Năng lực hội nhập quốc tế trong phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người

có HIV/AIDS Trong chăm sóc y tế cho người HIV/AIDS, cần nguồn lực tàichính lớn và khoa học kỹ thuật tiên tiến, năng lực y tế hiện đại Điều này, các

cơ sở y tế trong nước khó có thể đáp ứng được Do vậy, để nâng cao chấtlượng dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS các quốc gia phải tăngcường liên kết, tranh thủ sự giúp đỡ của các quốc gia phát triển và tổ chức y

tế, tổ chức xã hội quốc tế,…

Trang 29

1.3 Kinh nghiệm của một số thành phố về phát phát huy vai trò của dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS và bài học rút ra đối với Thành phố Hà Nội

1.3.1 Kinh nghiệm của một số thành phố về phát huy vai trò của dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

* Kinh nghiệm của TP Hồ Chí Minh

Với quyết tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Thành phố Hồ chí minhtrong những năm qua luôn duy trì khu vực dịch vụ đạt tốc tăng trưởng bìnhquân 12%/ năm Để đạt được mức tăng trưởng như vậy, Thành phố Hồ ChíMinh đã đưa ra một số nhiệm vụ cụ thể về phát triển các dịch vụ y tế nóichung và phát huy vai trò của các dịch vụ y tế với chăm sóc người cóHIV/AIDS nói riêng

Một là, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Đó là xây dựng 5 khu điều trị kỹ thuật cao, gồm 1 khu trung tâm là cácbệnh viện hiện nay, và 4 khu cửa ngõ vào TP: 1- Bình Chánh, Bình Tân, quận 8;2- Thủ Đức, quận 9, quận 2; 3 - Củ Chi, Hóc Môn, quận 12; 4- Cần Giờ, Nhà

Bè, quận 7 Thành lập công ty mẹ - con ngành dược Xây dựng khu xét nghiệm

kỹ thuật cao, trung tâm y học cổ truyền TP hòa nhập với các quốc gia khu vực vàthế giới Xây dựng viện trường ở Củ Chi (quy mô 100 ha, vốn đầu tư khoảng 85triệu euro) phục vụ lâu dài cho công tác đào tạo cán bộ y tế của TP

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, ca nhiễm HIV được công nhận đầu tiênvào cuối năm 1990 Số người mắc bệnh tăng nhanh, số bệnh nhân nhiễm HIVđược phát hiện tại Việt Nam tính đến tháng 9/1999 là 15.600 người, 70%trường hợp là người tiêm chích ma túy mà không dùng kim vô trùng Tỷ lệ phụ

nữ nhiễm HIV càng lúc càng tăng, năm 1997 chiếm khoảng 20% ca nhiễm.Những bệnh nhân này thiếu sự chăm sóc hay hỗ trợ của gia đình và cộng đồng

Trang 30

vì vậy họ bị lạc lõng ngay giữa những thành phố lớn hay sống với những mặccảm tội lỗi của mình Trong 9 tháng đầu năm 2012, TPHCM có 1.775 trườnghợp nhiễm HIV mới được phát hiện, 1.626 trường hợp chuyển sang AIDS, 358trường hợp tử vong do HIV/AIDS: giảm 137 ca nhiễm HIV, giảm 122 trườnghợp chuyển sang AIDS, giảm 79 trường hợp tử vong so với cùng kỳ năm trước.

Hai là, đa dạng hóa các dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Chương trình tham vấn xét nghiệm HIV đã thực hiện tham vấn cho hơn150.000 trường hợp, nhiều hơn 10.000 trường hợp so với cùng kỳ năm 2011,với tỷ lệ dương tính 2,2%, xấp xỉ năm 2011

Chương trình điều trị nghiện bằng thuốc thay thế Methadone đang điềutrị cho 1.318 bệnh nhân, trong đó có 1.155 bệnh nhân đang điều trị liều duy trì

Tỷ lệ phát hiện dương tính heroin trong nước tiểu ở những bệnh nhân duy trìđến cuối tháng 9/2012 trung bình ở mức 7,2%, giảm nhẹ so với các năm trước

Chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con có 56 cơ sở thamvấn xét nghiệm HIV, trong đó có 18 cơ sở cung cấp dịch vụ dự phòng lâytruyền mẹ con trọn gói Trong 9 tháng đầu năm 2012, chương trình đã thamvấn xét nghiệm HIV cho hơn 101.000 phụ nữ mang thai (PNMT), tương đươngcùng kỳ năm 2011

Về chăm sóc điều trị, TP.HCM có 31 phòng khám ngoại trú chăm sócđiều trị người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS tại các bệnh viện, Khoa Thamvấn hỗ trợ cộng đồng quận huyện, các Trung tâm 05,06, Trại tạm giam

Trong 9 tháng đầu năm 2012, có gần 4.000 bệnh nhân mới đăng ký vàođiều trị ở các phòng khám ngoại trù, hơn 2.850 bệnh nhân mới tham gia điều trịbằng thuốc đặc hiệu ARV, tương đương với các tháng cùng kỳ năm 2011 Đếnnay, TPHCM đang điều trị cho hơn 25.500 bệnh nhân, trong đó hơn 21.500bệnh nhân đang được điều trị ARV

Chương trình thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi được thực

Trang 31

hiện thường xuyên và liên tục trên các phương tiện truyền thông đại chúng(truyền hình, trang điện tử…) Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông cũng đượctriển khai thực hiện qua mạng lưới các ban ngành, đoàn thể, quận huyện,phường xã và lồng ghép vào các chương trình khác, phù hợp với từng đốitượng cụ thể Để thực hiện hoạt động truyền thông có hiệu quả trong điều kiệnnguồn lực giảm, thành phố tập trung vào các hoạt động truyền thông đại chúng,tiếp cận truyền thông thay đổi hành vi cho các đối tượng nguy cơ cao, giảm cáchoạt động truyền thông trực tiếp tại cộng đồng dân cư Trong 5 tháng đầu năm

2012, có 233.000 đối tượng đã được truyền thông, có giảm so với 300.000 đốitượng ở cùng kỳ năm 2011

Sau một giai đoạn sốt ngắn lúc mới nhiễm, bệnh im lặng trong một thờigian dài, có khi đến 10 năm nhưng dần dần tình trạng nhiễm trùng nặng tănglên (khi CD4 giảm), cần được điều trị mạnh mẽ và liên tục, do đó có thể bị tácdụng phụ khó chịu Càng lúc, bệnh càng tiến triển, bệnh nhân phải trải qua thờigian trong trạng thái lo âu, tình trạng nhiễm trùng khó chịu với các phươngpháp điều trị khác nhau Nhiều loại thuốc có tác dụng trong thời kỳ ủ bệnh và

có thể điều trị kéo dài trong nhiều năm

Ba là, hoạch định và xây dựng các chương trình, dự án về phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS.

Uỷ ban phòng chống AIDS thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng tổchức Sức khoẻ gia đình quốc tế (FHI360) tổ chức khoá tập huấn về cách tiếpcận mới chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV tại nhiều địa điểm trênTP.HCM Học viên tham gia khoá tập huấn là các nhân viên đang làm côngtác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV tại thành phố Hồ Chí Minh, An Giang

và Cần Thơ

Nhằm xây dựng mhịp cầu đồng cảm giữa những người nhiễm HIV/AIDSvới nhau, Trung tâm Y tế dự phòng đã xây dựng được mạng lưới "Bạn giúp bạn"

Trang 32

Những nhóm đồng đẳng này được huấn luyện kỹ năng chăm sóc bệnh nhân AIDStại nhà Không chỉ cảm thông và chia sẻ với người bệnh "gần đất xa trời", nhómđẳng này còn tuyên truyền, tư vấn để gia đình hiểu rõ căn bệnh và biết cách chămsóc người thân của mình sao cho khỏi bị lây nhiễm.

Trung tâm trọng điểm cai nghiện ma tuý (Sở Lao động – Thương binh

và Xã hội) thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều cố gắng tổ chức việc chữa trị vàchăm sóc cho người nghiện ma tuý nhiễm HIV/AIDS chuyển sang giai đoạncuối Trung tâm được thành phố đầu tư xây dựng khu chăm sóc bệnh nhânAIDS giai đoạn cuối hơn 8,5 tỷ đồng, với các trang thiết bị y tế hiện đại banđầu gần 3 tỷ đồng, Trung tâm đã chủ động tuyển dụng đội ngũ chuyên tráchphục vụ cho khu chăm sóc này với gần 30 bác sĩ, y tá điều dưỡng và hộ lý cónhiệt tình không ngại gian khổ và nguy cơ lây nhiễm Đặc biệt có 23 tu sĩ thuộccác dòng tu và 25 học viên sau cai nghiện đã tình nguyện tham gia lớp đào tạonhân viên chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân AIDS Ngay từ khi mới nhập trại,các học viên được khám, phân loại sức khoẻ nhằm nâng cao thể trạng và khảnăng đề kháng của người nghiện ma tuý trong qúa trình điều trị vì họ thườngxuyên bị các loại bệnh nhiễm trùng cơ hội kết hợp với chăm sóc, nâng cao thểtrạng là biện pháp chủ yếu nhằm giúp bệnh nhân kéo dài thời gian sống Bêncạnh đó, Trung tâm hết sức chú trọng công tác thôn tin – giáo dục - truyềnthông phòng chống các bệnh lây nhiễm như HIV, lao, da liễu… cho học viên.Ngoài ra Trung tâm còn tổ chức các lớp tập huấn cho 100 học viên là đội ngũtuyên truyền viên, giáo dục viên nòng cốt và 70 người thuộc nhóm “Bạn giúpbạn” Hiện nay Trung tâm đang kiến nghị thành phố hỗ trợ thuốc điều trị khángHIV miễn phí cho bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối nhằm giảm tỷ lệ tử vong vàgiảm thiểu sự lây lan trong cộng đồng Trung tâm còn tổ chức cho học viêntham gia các loại hình lao động sản xuất như trồng rừng, điều, tiêu, các loại cây

ăn trái, rau xanh và chăn nuôi, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và gia công các

Trang 33

mặt hàng vừa là biện pháp trị liệu vừa tạo nguồn thu nhập để cải thiện bữa ăn

và tạo công ăn việc làm cho học viên

* Kinh nghiệm của TP Đà Nẵng

Theo thống kê đến ngày 28/2/2013, Đà Nẵng phát hiện 1.583 ngườinhiễm HIV Trong đó, 686 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 400người đã tử vong do AIDS Hiện nay, 7/8 quận, huyện với 55/56 xã, phường

đã phát hiện có người nhiễm HIV Riêng năm 2012, có 120 trường hợp nhiễmmới HIV, giảm 11,1% so với năm 2011

Một là, tăng cường sự phối hợp của các cơ quan trong phát triển dịch

vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Đạt được kết quả trên là do trong những năm qua, thành phố đã khôngngừng nỗ lực triển khai đồng bộ các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trênđịa bàn thành phố Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS thành phố đã phốihợp với các ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai tuyên truyền dướinhiều hình thức phong phú như: phân phối các tài liệu truyền thông; tổ chứccác lớp tuyên truyền cho công nhân lao động tại nơi làm việc và các đối tượng

có nguy cơ cao nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, giảm nguy cơ lâynhiễm HIV/AIDS cho người dân Chỉ tính từ đầu năm 2012 đến nay, Trungtâm Phòng chống HIV/AIDS đã truyền thông trực tiếp tới hàng chục buổitruyền thông với hàng nghìn lượt người tham dự Trong đó, có gần 700 thànhviên Ban chỉ đạo và các nhóm nòng cốt trong phong trào toàn dân tham giaphòng chống HIV/AIDS tại cụm dân cư; 1250 công nhân - lao động đang làmviệc tại khu công nghiệp Hoà Cầm và khu công nghiệp Hoà Khánh Đặc biệtcòn có hàng trăm phạm nhân của Trại giam Hoà Sơn được tuyên truyền;chương trình phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc cũng đã thu hút sựtham gia của 30 Doanh nghiệp…Bên cạnh đó, còn có hàng trăm cuộc tư vấnqua điện thoại và trang thông tin điện tử của trung tâm được kết nối với

Trang 34

những người quan tâm về dự phòng lây nhiễm HIV Kênh truyền thông giántiếp cũng được triển khai rộng khắp trên địa bàn thành phố và đã có 5200trang thông tin nội bộ, gần 700 cuốn Tạp chí AIDS và cộng đồng, 47.150 sáchnhỏ, 53.780 tờ rơi và 800 poster, băng đĩa… tuyên truyền về HIV/AIDS đượcphân phối Ngoài ra, tại tuyến xã, phường đã có hàng trăm buổi tuyên truyền

về phòng chống HIV/AIDS được tổ chức với sự tham dự của hàng chục ngànngười dân trong khu vực

Hai là, đa dạng hóa và mở rộng các loại hình dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV được đẩymạnh và triển khai đồng bộ đã góp phần hết sức quan trọng làm kiềm chế lâynhiễm HIV Chương trình 100% bao cao su đã bao phủ khắp các quận, huyệntrên địa bàn thành phố Thông qua mạng lưới cộng tác viên, đồng đẳng viên,các cơ sở y tế và hoạt động của các ban ngành, đoàn thể đã cung cấp miễn phí162.000 bao cao su và tiếp thị xã hội 835.632 bao cao su đến khách hàng Cóthể khẳng định: việc triển khai các chương trình hành động phòng chống HIV/AIDS trong những năm qua đã mang lại những hiệu quả tích cực Với sự quantâm, vào cuộc mạnh mẽ của các cấp, các ngành, các địa phương trong việcđẩy mạnh tuyên truyền, thông tin, phòng chống HIV/AIDS, Đà Nẵng đã đạtđược mục tiêu khống chế tỷ lệ người nhiễm HIV dưới 0,15% dân số

Bên cạnh đó, chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con,được triển khai tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi thành phố đã mang lại hiệu quảtích cực Tại đây, các hoạt động tư vấn, xét nghiệm sàng lọc HIV cho phụ nữđến khám thai; cung cấp thuốc điều trị dự phòng cho phụ nữ mang thai có xétnghiệm HIV dương tính và con của họ; tư vấn; cung cấp sữa thay thế cho trẻsinh ra từ mẹ nhiễm HIV đến 18 tháng tuổi; giới thiệu mẹ và trẻ đến các cơ sởđiều trị HIV/AIDS để tiếp tục chăm sóc và điều trị được đẩy mạnh Kết quả,

Trang 35

đã có 10/11 phụ nữ mang thai có kết quả khẳng định HIV dương tính đã đượcđiều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con và 100% số trẻ sinh ra đềuđược điều trị dự phòng lây truyền HIV.

Công tác chăm sóc điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS được mở rộng.Hiện thành phố có 276 bệnh nhân đang được quản lý sức khoẻ tại phòngkhám ngoại trú người lớn, trong đó có 171 bệnh nhân đang điều trị ARV;100% cán bộ y tế khi bị tai nạn rủi ro nghề nghiệp được điều trị phơi nhiễm.Trung tâm cũng đã thành lập nhóm chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm tại nhà vàtại cộng đồng Hoạt động của nhóm không chỉ là chỗ dựa tinh thần cho nhữngngười có H, mà là địa chỉ tích cực trong các hoạt động tuyên truyền phòng,tránh lây truyền HIV, khẳng định với cộng đồng về sự hòa nhập tích cực củanhững người có HIV Nhờ thực hiện tốt công tác khám, điều trị, tư vấn đãgiúp cho nhiều người có H từ chỗ tình trạng sức khoẻ rất nguy kịch, sau khituân thủ điều trị đã khỏe mạnh, tăng cân và có thể lao động trở lại Bác sĩ CKIHuỳnh Đình Đồng - Trưởng khoa Tư vấn, chăm sóc và điều trị HIV/AIDScho biết: “Chúng tôi luôn tạo mọi điều kiện để người nhiễm HIV/AIDS đượcthuận tiện trong khám, điều trị và tiếp cận thuốc kháng vi rút (ARV) khi đủtiêu chuẩn điều trị Đồng thời, nhóm chăm sóc tại nhà cũng thường xuyêngiúp đỡ, hỗ trợ những người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ biết thêm thôngtin cũng như cách chăm sóc người bệnh AIDS để không bị lây nhiễm và sống

Trang 36

tiêu khống chế tỉ lệ nhiễm HIV dưới 0,15% trong cộng đồng dân cư và hướngđến thực hiện mục tiêu ba không mà Đà Nẵng và Cần thơ đang thí điểm triểnkhai thực hiện.

1.3.2 Bài học kinh nghiệm về phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người

có HIV/AIDS rút ra đối với Thành phố Hà Nội

Như vậy, bài học về phát huy vai trò của dịch vụ Y tế với chăm sócngười có HIV/AIDS rút ra đối với Thành phố Hà Nội đó là:

Một là, hoạch định và xây dựng các chương trình, dự án về phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS.

Trong hoạt động chăm sóc y tế cho người HIV/AIDS thì công tác hoạchđịnh, xây dựng các chương trình, dự án về phát triển dịch vụ Y tế chăm sócngười có HIV/AIDS rất quan trọng Trên cơ sở xây dựng các chương trình dự

án phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS, thành phố Hà Nộimới có thể hoạch định những điều kiện cần thiết nhằm thực hiện thắng lợi mụctiêu, chương trình đã đề ra Các điều kiện cần bao gồm: nguồn nhân lực, nguồnlực tài chính, nguồn nhân lực, nguồn lực khoa học công nghệ,

Việc xây dựng này được thành phố Hồ Chí Minh thực hiện rất tốt và khoahọc bằng cách đưa ra nhiệm vụ cụ thể về phát triển các dịch vụ y tế nói chung vàphát huy vai trò của các dịch vụ y tế với chăm sóc người có HIV/AIDS nóiriêng Đối với thành phố Đà Nẵng, thành phố cũng đã thực hiện tốt công tác xâydựng các chương trình nâng cao chất lượng dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS Trên cơ sở đó, Đà nẵng đã triển khai đồng bộ các chương trình nàynhư: tư vấn qua điện thoại, dự phòng lây nhiễm mẹ sang con,…

Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS có vai trò quan trọng, quyết định tới sự phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS Điều này được biểu hiện trên

các khía cạnh sau:

Đây là là lực lượng xung kích trên mặt trận công tác phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt là nhân lực y tế Vì đây chính là lực lượng lãnh đạo tổ chức,

Trang 37

quản lý lại vừa làm công tác truyền thông thay đổi hành vi và tổ chức các sựkiện phòng, chống HIV/AIDS và chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễmHIV/AIDS và gia đình họ.

Nguồn nhân lực quyết định tới chất lượng phòng chống HIV/AIDS vì

họ chính là người thực hiện tư vấn, xét nghiệm, điều trị cho bệnh nhânHIV/AIDS, nâng cao sức khỏe cộng đồng

Thành phố Hồ Chí Minh và Đã Nẵng đều đã chú trọng tới công tác pháttriển nguồn nhân lực này Các địa phương này đã chú trọng tới công tác đàotạo kỹ năng, nâng cao trình độ chuyên môn cho nguồn nhân lực bằng cáckhóa đào tạo ngắn hạn

Ba là, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới vào phát triển dịch

vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS.

Việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới vào dịch vụ Y tếchăm sóc chăm sóc người có HIV/AIDS có vai trò quan trọng, tác động trựctiếp tới hiệu quả và chất lượng của dịch vụ Y tế này Thành phố Hồ Chí Minh

đã xây dựng những khu điều trị kỹ thuật cao, khu xét nghiệm kỹ thuật cao,trung tâm y học cổ truyền,… Hay thành phố Đà Nẵng tích cực sử dụng côngnghệ thông tin trong tuyên truyền và kết nối những người có HIV/AIDS

Bốn là, huy động nguồn lực ngoài nước trong phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS.

Để phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS đòi hỏi mộtnguồn lực tài chính lớn với công nghệ tiên tiến và hiện đại của y học và côngnghệ phụ trợ khác cũng như trình độ chuyên môn nhất định đối với nhân lực y

tế Tuy nhiên, năng lực tài chính, trình độ nhân lực và công nghệ của các địaphương cũng như của Việt nam còn nhiều hạn chế Chính vì vậy, việc huyđộng nguồn lực ngoài nước trong triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS là rất cần thiết Ví dụ như thành phố Hồ Chí Minh đã tranh thủ hợp tácvới các tổ chức quốc tế phòng chống HIV để tổ chức các khóa đào tạo chuyên

Trang 38

môn cho nhân lực, hay Đà nẵng tranh thủ nguồn lực ngoài nước về thuốc men

và thiết bị y tế, Sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác rấtquan trọng vì các tổ chức này có thể giúp Việt Nam có thể phát triển dịch vụ

Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS bằng cách tài trợ vật tư, trang thiết bị hoặccung ứng các thiết bị với giá ưu đãi, cho vay với lãi suất thấp và đào tạo nângcao chất lượng nguồn nhân lực

*

Dịch vụ y tế chăm sóc người có HIV/AIDS là hoạt động lao động, cungcấp dịch vụ giúp cho người bị nhiễm HIV/AIDS ổn định về sức khỏe tiến tớigiảm và khỏi bệnh HIV/AIDS là đại dịch toàn cầu, do vậy ngăn chặn sự lây lan

và chặn đứng đại dịch này là vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia Để đạt đượcmục tiêu đó thì cần phải phát triển phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người cóHIV/AIDS Phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS là sự gia tăng

cả về số lượng và chất lượng và cơ cấu của các dịch vụ y tế trong lĩnh vực chămsóc người có HIV/AIDS nhằm giúp người bệnh ổn định và bảo đảm sức khỏe.Nội dung của việc phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS baogồm: Phát triển về số lượng các dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS;Phát triển về chất lượng các dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS và pháttriển về cơ cấu các dịch vụ Y tế chăm sóc Y tế đối với người HIV/AIDS

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ CHĂM SÓC NGƯỜI

CÓ HIV/AIDS Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thành phố Hà Nội ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ Y tế chăm sóc người có HIV/AIDS

Hà Nội là thủ đô, trung tâm chính trị, văn hoá, xã hội của cả nước vàcũng tiêu biểu cho tình hình chung của cả nước trong lĩnh vực dịch vụ Y tếvới chăm sóc người có HIV/AIDS

Đặc điểm tự nhiên

Diện tích thành phố Hà Nội chưa đến 1000 km2, trong đó khu vựctrung tâm chỉ chiếm 1/10 tổng diện tích Theo số liệu thống kê chính thức,toàn thành phố Hà Nội có hơn 2,5 triệu người sinh sống với mật độ dân cưcao trung bình khoảng 2700 người/km2, có nơi lên tới 40.000 người/km2(như ở quận Hoàn Kiếm) Khu vực nội thành gồm 7 quận: Ba Đình, HoànKiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Tây Hồ Sau khi mởrộng địa giới hành chính, thành phố Hà Nội có diện tích lên tới hơn 2000 m2

Với diện tích tự nhiên được mở rộng, do đó nhu cầu phát triển về sốlượng, chất lượng và cơ cấu dịch vụ Y tế với chăm sóc người có HIV/AIDSngày càng gia tăng Việc phát triển dịch vụ này ngày càng cần nguồn lực tàichính lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển

Đặc điểm kinh tế

Kinh tế thành phố Hà Nội phát triển khá ổn định với tốc độ caotrong những năm qua và cao hơn nhiều so với mức chung của cả nước Đầu tưngân sách và các ngành kinh tế tiếp tục tăng, đồng thời tăng cường thuhút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã tạo nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhậpcho dân cư Hà Nội trong những năm vừa qua và những năm tới

Trang 40

Trên lĩnh vực công nghiệp, Thành phố đã từng bước xây dựng, sắpxếp lại sản xuất, đối mới cơ chế quản lý theo hướng đề cao vai trò tự chủ củadoanh nghiệp; đầu tư đối mới công nghệ, thiết bị, mặt hàng; tăng năng suất

và chất lượng sản phấm, mở rộng thị trường, công nghiệp Thủ đô ngàycàng khởi sắc Nhiều doanh nghiệp đã trụ vững trong cơ chế thị trường, làm

ăn có lãi

Theo Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng chín và 9 tháng năm Cục Thống kê TP Hà Nội Tổng sản phẩm nội địa (GDP) quý III năm 2012 dựkiến tăng 7,9% so cùng kỳ năm trước Trong đó: Giá trị tăng thêm ngành nông -lâm nghiệp - thuỷ sản giảm 0,6%; Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xâydựng 9 tháng đầu năm tăng 8%; Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng 8,9%

2012-Chỉ so sản xuất công nghiệp cộng dồn 9 tháng đầu năm 2012 tăng 4,4%

so cùng kỳ, trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 7,6%; công nghiệp chếbiến, chế tạo tăng 4%; sản xuất, phân phối điện tăng 10,8%; cung cấp nước,

xử lý nước thải và thu gom rác tăng 17,5%

Trong 9 tháng đầu năm 2012, vốn đầu tư phát trỉến thành phố Hà Nội(vốn đầu tư xã hội): đạt 146.080,9 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm

2011, trong đó: vốn nhà nước trên địa bàn đạt 42.470,7 tỷ đồng, tăng 11,5%;vốn ngoài nhà nước đạt 84.493,7 tỷ đồng, tăng 13,6%; vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài đạt 19.116,4 tỷ đồng, tăng 13,2% Chia theo khoản mục đầu tư:vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng 21,4% trong tống vốn đầu tư xãhội, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư mua sắm TSCĐ khôngqua XDCB chiếm tỷ trọng 43%, tăng 13,4%; vốn đầu tư sửa chừa lớn, nângcấp TSCĐ tỷ trọng 0,7%, tăng 10,9%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động tỷtrọng 33,4%, tăng 12,2%; vốn đầu tư khác tỷ trọng 1,5%, tăng 11,5%

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý III năm 2012: Hà Nội thuhút được 231 dự án đầu tư nước ngoài với tống số vốn đăng ký là 919 triệu

Ngày đăng: 21/06/2018, 17:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2002), Chỉ thị 06 của Ban Bí thư ngày 22/1/2002 về ‘‘Củng cố và hoàn thiện mạng lưới Y tế cơ sở” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 06 của Ban Bí thư ngày22/1/2002 về "‘‘"Củng cố và hoàn thiện mạng lưới Y tế cơ sở
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2002
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2003
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2005), Nghị quyết 46 NQ/TƯ của Bộ Chính trị về ‘‘Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 46 NQ/TƯ của BộChính trị về "‘‘"Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân trongtình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2005
6. Phùng Kim Bảng, Lê Quang Hoành, Hồ Hữu Anh (1997), Y tế công cộng và chăm sóc sức khoẻ ban đầu , Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y tế công cộng vàchăm sóc sức khoẻ ban đầu
Tác giả: Phùng Kim Bảng, Lê Quang Hoành, Hồ Hữu Anh
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1997
10. C.Mác, Ph. Anghen toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph. Anghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. Trần Thị Trung Chiến (2002), Xây dựng y tế Việt Nam công bằng và phát triển, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng y tế Việt Nam công bằng và pháttriển
Tác giả: Trần Thị Trung Chiến
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
13. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp năm 1992, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1992
Tác giả: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NxbThống kê
Năm: 1992
14. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1994), Bộ luật Lao động, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động
Tác giả: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NxbThống kê
Năm: 1994
15. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2000), Luật Hôn nhân và Gia đình, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hôn nhân và Gia đình
Tác giả: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
16. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2001), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 35/TTg ngày 19/3/2001 về phê duyệt ‘‘Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướngChính phủ số 35/TTg ngày 19/3/2001 về phê duyệt ‘‘Chiến lược chăm sócvà bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2001
20. Trương Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tâm (1995), Chất lượng các dịch vụ y tế công cộng và những quyết định của gia đình về chăm sóc sức khoẻ ở bốn xã tại Quảng Ninh, tháng 7 năm 1994, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng các dịch vụ y tếcông cộng và những quyết định của gia đình về chăm sóc sức khoẻ ở bốnxã tại Quảng Ninh, tháng 7 năm 1994
Tác giả: Trương Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tâm
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1995
21. Trương Việt Dũng, Nguyễn Duy Luật (chủ biên), Nguyễn Văn Hiến (2002), Bài giảng quản lý và chính sách y tế, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý và chính sách y tế
Tác giả: Trương Việt Dũng, Nguyễn Duy Luật (chủ biên), Nguyễn Văn Hiến
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
22. Đặng Đức Đạm (2005), Một số vấn đề về Đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam, Trung tâm Thông tin Tư liệu, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Đổi mới quản lý dịch vụ côngở Việt Nam
Tác giả: Đặng Đức Đạm
Năm: 2005
25. Trịnh Minh Hoan (2009), Vai trò y tế tư nhân qua nghiên cứu các trường hợp tại thành phố Đà Nang, Luận án tiến sỹ Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò y tế tư nhân qua nghiên cứu các trườnghợp tại thành phố Đà Nang
Tác giả: Trịnh Minh Hoan
Năm: 2009
26. Lam Hồng (2013), “Nhân rộng mô hình chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại gia đình và cộng đồng”, Báo Nam Định, số (234) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân rộng mô hình chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tạigia đình và cộng đồng"”, Báo Nam Định
Tác giả: Lam Hồng
Năm: 2013
27. Văn Khôi (2011), Việt Nam tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc nhiễm HIV/AIDS, Báo cáo khoa học tại Hội nghị Điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV/AIDS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng điều trịvà chăm sóc nhiễm HIV/AIDS
Tác giả: Văn Khôi
Năm: 2011
28. Lê Hùng Lâm (1992), Sức khoẻ công cộng, Trường Cán bộ Quản lý y tế, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khoẻ công cộng
Tác giả: Lê Hùng Lâm
Năm: 1992
29. Dương Huy Liệu (1996), Nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cơ sở vùng nông thôn phía Bắc và nguồn tài chính, Luận án PTS Khoa học Y Dược, Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cơ sở vùngnông thôn phía Bắc và nguồn tài chính
Tác giả: Dương Huy Liệu
Năm: 1996
30. Đào Thị Xuân Mỹ (2011), Phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, luân văn thạc sỹ kinh tế phát triển, Đại Học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền núi tỉnhQuảng Ngãi, luân văn thạc sỹ kinh tế phát triển
Tác giả: Đào Thị Xuân Mỹ
Năm: 2011
31. Nguyễn Thị Nguyệt Nga (1997), Sự phát triển của khu vực y tế và cải cách kinh tế trong một nền kinh tế đang chuyển đổi: Việt Nam 1989-1997, Luận án Phó tiến sỹ Khoa học Kinh tế, Trường Đại học Tổng hợp Manchester, Vương quốc Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của khu vực y tế và cải cáchkinh tế trong một nền kinh tế đang chuyển đổi: Việt Nam 1989-1997
Tác giả: Nguyễn Thị Nguyệt Nga
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w